1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long

78 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này một phần phụ thuộc vào tiềm lực của vùng, vì thế mà ở các nước, lãnh thổ đều được quy hoạch thành các vùng để tập trung đầu tư và khai thác tiềm năng sẵn có của vùng cho sự phát

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CẤN THỊ THU HUYỀN

TÌM HIỂU VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

CẤN THỊ THU HUYỀN

TÌM HIỂU VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Địa lí Kinh tế - Xã hội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Tòng Thị Quỳnh Hương

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này cùng với sự nỗ lực của bản thân, em xin

dành lời cảm ơn chân thành nhất đến cô giáo ThS Tòng Thị Quỳnh Hương,

người đã trực tiếp hướng dẫn hết sức tận tâm, tận tình cho em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Đại học Tây Bắc, phòng Quản lý khoa học, Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô giáo trong khoa Sử - Địa đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu

Em chân thành cảm ơn các cô, chú làm việc tại thư viện trường Đại học Tây Bắc, các bạn sinh viên lớp K51 ĐHSP Địa Lý, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình tìm tài liệu và nghiên cứu đề tài

Đề tài hoàn thành không tránh khỏi những khiếm khuyết, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo cùng các độc giả

Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Cấn Thị Thu Huyền

Trang 4

3 VKTTĐPB Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc

4 VKTTĐMT Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

5 VKTTĐPN Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

7 CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Trang 5

3 Bảng 2.2 Các vườn quốc gia của VKTTĐVĐBSCL năm 2012 31

4 Bảng 2.3 Diện tích, dân số, mật độ dân số trung bình của

5 Bảng 2.4 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy

sản của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 – 2012 43

6 Bảng 2.5 Một số tiêu chí về sản xuất lúa của VKTTĐVĐBSL

53

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 GDP của vùng phân theo khu vực kinh tế năm

2 Biểu đồ 2.2 GDP của các vùng kinh tế trọng điểm so với cả

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Cấu trúc đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VÙNG KINH TẾ VÀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM 6

1 Cơ sở lí luận 6

1.1 Quan niệm và đặc tính 6

1.2 Phân vùng 7

1.3 Các loại vùng kinh tế 8

1.3.1 Vùng hành chính 8

1.3.2 Vùng theo trình độ phát triển 9

1.3.3 Vùng kinh tế tổng hợp 9

1.3.4 Vùng kinh tế ngành 11

1.4 Vùng kinh tế trọng điểm 12

1.4.1 Quan niệm 12

1.4.2 Ý nghĩa 13

2 Cơ sở thực tiễn về phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam 14

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 18

1 Khái quát tiềm năng cho phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long 18

1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ 18

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 21

1.2.1 Địa hình 21

1.2.2 Đất 24

Trang 7

1.2.3 Nước 27

1.2.4 Khí hậu 29

1.2.5 Sinh vật 30

1.2.6 Khoáng sản 32

1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 33

1.3.1 Dân cư và lao động 33

1.3.2 Cơ sở hạ tầng 36

1.3.2.1 Giao thông vân tải 36

1.3.2.2 Mạng lưới điện 37

1.3.2.3 Bưu chính viễn thông 37

1.3.3 Đường lối, chính sách 38

1.3.4 Thị trường 39

1.4 Đánh giá tiềm năng phát triển của vùng 40

2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 41

2.1 Khái quát chung 41

2.2 Thực trạng phát triển các ngành 42

2.2.1 Nông – lâm – thủy sản……… 42

2.2.2 Công nghiệp – xây dựng 48

2.2.3 Dịch vụ 51

2.3 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế 54

3 Vai trò của VKTTĐVĐBSCL đối với nền kinh tế Việt Nam 55

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐẾN NĂM 2020 58

1 Định hướng chung 58

2 Định hướng từng ngành 59

2.1 Nông – lâm – thủy sản 59

2.2 Công nghiệp – xây dựng 61

2.3 Dịch vụ 64

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 PHỤ LỤC ẢNH

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế của một quốc gia không bao giờ có sự đồng đều trong một lãnh thổ, có nơi kinh tế phát triển rất nhanh, có nơi thì kém hoặc trì trệ Điều này một phần phụ thuộc vào tiềm lực của vùng, vì thế mà ở các nước, lãnh thổ đều được quy hoạch thành các vùng để tập trung đầu tư và khai thác tiềm năng sẵn có của vùng cho sự phát triển kinh tế

Với Việt Nam, kể từ khi bước vào công cuộc đổi mới cho đến nay, cùng với xu thế mở cửa nền kinh tế, giao lưu hợp tác với nước ngoài, Đảng và Nhà nước đã nhận thấy vai trò to lớn của một số vùng trên lãnh thổ, đó là 1 số vùng

có vai trò chủ đạo, đầu tàu trong sự phát triển kinh tế chung của cả nước

Đứng trước thực tiễn trên, Bộ kế hoạch và đầu tư đã xác định thành lập các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) Việc hình thành VKTTĐ với nước ta rất quan trọng VKTTĐ là vùng hội tụ nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế và đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế cả nước

Việt Nam có 4 VKTTĐ: Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (VKTTĐPB), vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT), vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN), vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (VKTTĐVĐBSCL) Mỗi vùng có tiềm năng phát triển riêng và đóng góp nhất định

Xác định được vai trò to lớn của VKTTĐ, nên việc nghiên cứu phân tích nguồn lực phát triển của các vùng đó để có những chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn là việc làm quan trọng mang ý nghĩa thực tiễn cao

VKTTĐVĐBSCL là vùng mới được thành lập nhưng đây là vùng có rất nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên, KT – XH và nhanh chóng trở thành 1

trong 4 VKTTĐ của cả nước Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long” làm khóa

luận tốt nghiệp

Trang 9

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở vận dụng có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về VKTTĐ, khóa luận nghiên cứu những nguồn lực phát triển kinh tế, thực trạng VKTTĐVĐBSCL Từ đó đưa ra định hướng khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực của vùng đến năm 2020

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được những mục tiêu đề ra trên đề tài có nhiệm vụ chính sau:

- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về VKTTĐ

- Phân tích, đánh giá nguồn lực tự nhiên và kinh tế – xã hội (KT – XH) của VKTTĐVĐBSCL

- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế và đánh giá vai trò của VKTTĐVĐBSCL đối với nền kinh tế cả nước Đưa ra định hướng trong việc phát triển KT – XH của vùng đến năm 2020

- Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 2000 – đến nay

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

VKTTĐ là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chính vì vậy

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

“Phân vùng kinh tế” của tác giả Nguyễn Văn Quang, NXB Giáo dục, năm

1981 đã đề cập đến vùng kinh tế mới, nhiệm vụ, ý nghĩa của phân vùng kinh tế, các nguyên tắc, quan điểm phân vùng kinh tế

“Việt Nam – lãnh thổ và các vùng địa lý” của tác giả Lê Bá Thảo, năm

1998 đã đề cập tới phạm vi lãnh thổ và ranh giới vùng địa lý ở Việt Nam

Trang 10

“Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam” của tác giả Lê Thông, NXB Giáo dục, năm 2009 đã đề cập tổng quan về vùng và vùng kinh tế trọng điểm Cụ thể là về phạm vi lãnh thổ và vai trò của vùng, nguồn lực để phát triển

KT – XH, hiện trạng và định hướng phát triển KT – XH ba VKTTĐ

“Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam” của tác giả Lê Thông, NXB Đại học sư phạm, năm 2011 đã nói đến vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, hiện trạng và triển vọng phát triển của 4 VKTTĐ

“Việt Nam – các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm” của tác giả Lê Thông – Nguyễn Qúy Thao, NXB Giáo dục, năm 2012 đã đề cập tổng quan về vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm Cụ thể là vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ, các nguồn lực để phát triển KT – XH, hiện trạng, định hướng phát triển của các vùng kinh tế và VKTTĐ

Ngoài ra, Viện Chiến lược Kế hoạch và Đầu tư đã xây dựng và quy hoạch phát triển kinh tế của các VKTTĐ

Những nghiên cứu trên của các tác giả có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là

cơ sở lí luận, định hướng để tác giả tổng hợp, nghiên cứu hoàn thành nội dung khóa luận tốt nghiệp của mình

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đây là quan điểm truyền thống của khoa học Địa lý, có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý KT – XH nói riêng Trong quá trình tìm hiểu VKTTĐVĐBSCL, các hiện tượng địa lý KT –

XH được tạo nên bởi nhiều yếu tố: Vị trí, điều kiện tự nhiên, lịch sử KT – XH Mặt khác ở mỗi tỉnh khác nhau có nét đặc trưng riêng Vì vậy nghiên cứu đặc điểm của VKTTĐVĐBSCL phải đặt từng tỉnh riêng rẽ trong mối quan hệ chung của khu vực Có như vậy nghiên cứu mới có sự khách quan chính xác

4.1.2 Quan điểm lịch sử

Các số liệu về địa lý KT – XH luôn biến động theo thời gian Nghiên cứu VKTTĐVĐBSCL để đánh giá sự phát triển của vùng phải thông qua các số

Trang 11

liệu thống kê hàng năm Vì thế, quan điểm lịch sử có ý nghĩa nhất định trong nghiên cứu Nó giúp cho người nghiên cứu đánh giá được quá khứ, hiện tại và định ra được định hướng phát triển trong tương lai

4.1.3 Quan điểm hệ thống cấu trúc

VKTTĐVĐBSCL là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của cả nước VKTTĐVĐBSCL có mối quan hệ với các vùng lân cận và với 3 VKTTĐ khác của cả nước

Quan điểm này cho phép phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ trong việc xác định ảnh hưởng của VKTTĐVĐBSCL đối với nền kinh

tế Việt Nam

Khi đánh giá tiềm năng và ảnh hưởng của nó phải xem xét trong mối quan

hệ với các tỉnh và các vùng kinh tế khác

4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Thực hiện mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế – xã hội – môi trường

là chiến lược phát triển kinh tế hàng đầu đất nước

Yêu cầu đặt ra cho VKTTĐVĐBSCL khi đề xuất việc phát triển kinh tế, nâng cao tốc độ phát triển kinh tế phải gắn với việc khai thác tài nguyên hợp lý

và đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu nhất Tránh tình trạng tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường bị suy thoái

4.1.5 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm thực tiễn được đưa ra vận dụng đánh giá quá trình phát triển

KT – XH và giải thích sự phát triển đó của vùng Quan điểm thực tiễn góp phần đảm bảo độ tin cậy, tính khoa học, tính chính xác của kết quả nghiên cứu

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích

Đây là phương pháp quan trọng trong việc tiếp cận vấn đề và quá trình nghiên cứu Việc thu thập tài liệu và phân tích tổng hợp giúp ta có cái nhìn cụ thể về VKTTĐVĐBSCL, từ đó có thể đưa ra những nhận định kết luận về hiện trạng phát triển kinh tế của vùng Trên cơ sở đó có thể so sánh được sự phát

Trang 12

triển của các VKTTĐ và đánh giá được vai trò của VKTTĐVĐBSCL đối với vùng kinh tế cả nước

4.2.2 Phương pháp phân tích số liệu thống kê

Đối với Địa lý kinh tế phương pháp phân tích số liệu thống kê có tầm quan trọng đặc biệt Phân tích số liệu giúp cho việc nhìn nhận vấn đề có cơ sở khoa học và rút ra được kết luận cần thiết Trong đề tài sử dụng rất nhiều số liệu thống kê, việc khai thác số liệu vào mục đích nghiên cứu để so sánh với sự phát triển của cả nước, thấy được đóng góp của vùng vào nền kinh tế chung cả nước

4.2.3 Phương pháp bản đồ và biểu đồ

Phương pháp bản đồ là một phương pháp rất đặc trưng cho các nghiên cứu về địa lý học nói chung và địa lý KT – XH nói riêng, bởi vì mọi nghiên cứu thuộc lĩnh vực này đều mở đầu bằng bản đồ và kết thúc bằng bản đồ

Đề tài sử dụng bản đồ, biểu đồ trong phạm vi nghiên cứu của VKTTĐVĐBSCL

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài hoàn thành có một số đóng góp sau:

- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn của VKTTĐ

- Khái quát nguồn lực, thực trạng phát triển kinh tế VKTTĐVĐBSCL Từ

đó phân tích được vai trò của vùng đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vùng kinh tế và VKTTĐ

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3: Định hướng phát triển vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VÙNG KINH TẾ

VÀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM

1 Cơ sở lí luận

1.1 Quan niệm và đặc tính

a Quan niệm

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vùng:

Theo cách hiểu của Địa lý học: “Vùng là một lãnh thổ (không gian) nhất định của bề mặt Trái Đất” Vùng là một lãnh thổ xác định có ranh giới (hoặc

“cứng”, hoặc “mềm”) trong đó có sự tác động của các yếu tố tự nhiên, môi trường và con người

Theo từ điển Bách khoa Địa lý Xôviết (1988): “Vùng là một lãnh thổ được tách ra trên cơ sở tập hợp các dấu hiệu có quan hệ mật thiết với nhau, là một cấp phân vị trong hệ thống phân chia lãnh thổ”

Dưới góc độ Địa lý, vùng là một lãnh thổ toàn vẹn được đặc trưng bởi sự đồng nhất về nguồn gốc, về các bộ phận có quan hệ qua lại với nhau của lớp vỏ Địa lý hoặc của nền sản xuất xã hội

Theo Lê Bá Thảo (1998), vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống có nhiều mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như mối quan hệ có chọn lọc với các không gian và các cấp bên ngoài

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu vùng là một lãnh thổ tương đối đồng nhất bao gồm các bộ phận cấu thành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của chính lãnh thổ đó cũng như giữa

Trang 14

- Vùng đều nằm trong một phạm vi xác định, ranh giới của vùng được ngăn cách với nhau bằng ranh giới cụ thể như hành chính, tự nhiên, hoặc cũng

có thể là ranh giới mang tính chất ước lệ như trung du và đồng bằng Tuy nhiên,

dù là ranh giới cụ thể hay ước lệ song thực tế đường ranh giới thường là một dải đất có chiều rộng nhất định

- Vùng có cấu trúc nếu xét trên quan điểm hệ thống Cấu trúc này có thể đơn giản hay phức tạp, bao gồm các cấp (hay các bậc) khác nhau, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết theo chiều dọc và theo chiều ngang Về nguyên tắc, mỗi vùng lớn là một tập hợp của các vùng nhỏ hơn

- Vùng tồn tại một cách khách quan Nó có quá trình phát sinh, phát triển

và suy tàn hay có thể nói vùng mang tính chất lịch sử Tuy là một thực thể khách quan, nhưng vùng lại được tồn tại thông qua nhận thức chủ quan của con người Các vùng được xác định nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống nên có thể khẳng định, vùng mang tính chất khách quan nhưng lại là sản phẩm nhận thức chủ quan của con người

Tùy theo từng mục tiêu cụ thể sẽ có các loại vùng được phân chia tương ứng với hàng loạt hệ thống tiêu chí và phương pháp phân vùng phù hợp

Có các cách phân vùng chủ yếu sau:

- Phân vùng tự nhiên gồm phân vùng tự nhiên tổng hợp (nước ta được chia làm 3 vùng địa lý tự nhiên: miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, miền Tây Bắc

và Bắc Trung Bộ, miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ) và phân vùng từng thành phần tự nhiên (vùng khí hậu, vùng thủy văn…)

Trang 15

- Phân vùng kinh tế gồm có phân vùng kinh tế tổng hợp và phân vùng kinh tế ngành (phân vùng nông nghiệp, phân vùng công nghiệp, phân vùng du lịch) Dưới góc độ kinh tế, các vùng được phân chia là cơ sở để xác định các chiến lược, kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế trên từng bộ phận lãnh thổ của mỗi quốc gia

- Phân vùng hành chính có ý nghĩa là chia đất nước ra thành các đơn vị hành chính thuộc các cấp khác nhau Về mặt hành chính, nước ta có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là huyện (quận) rồi đến xã (phường)

- Phân vùng văn hóa xã hội với nhiều cách phân vùng khác nhau như phân chia các vùng văn hóa, các vùng dịch bệnh (y tế)…

Phân vùng phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:

+ Tính đồng nhất tương đối của lãnh thổ (thường dùng để phân chia các vùng cảnh quan, vùng tự nhiên hoặc vùng văn hóa – lịch sử)

+ Tính tương đối về trình độ phát triển KT – XH trong đó nổi lên với vai trò của hệ thống đô thị với tư cách như trung tâm tạo vùng

+ Tính hiệu quả của các điều kiện đảm bảo cho việc quản lý lãnh thổ + Tính phù hợp về ranh giới hành chính (đối với các vùng kinh tế)

Phân chia hành chính là một công việc phức tạp Đó là sự kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội trong thời điểm hiện tại và tương lai, có tính đến trình độ phát triển kinh tế và khả năng quản lý Kết quả phân chia có tính pháp

lý và được thể hiện thông qua các quy định của hiến pháp và pháp luật

Trang 16

Việc phân chia hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý các hoạt động KT – XH của đất nước Nếu phân chia có cơ sở khoa học phù hợp với các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ quản lý thì sẽ có tác dụng thúc đẩy phát triển KT – XH Ngược lại nó sẽ gây những tốn kém không đáng có, mất nhiều thời gian để ổn định các hoạt động KT – XH

1.3.2 Vùng theo trình độ phát triển

Vùng phân theo trình độ phát triển là loại vùng tương đối phổ biến trên thế giới Nó được phân chia nhằm mục đích phục vụ cho công tác quản lý và điều khiển quá trình phát triển theo lãnh thổ của từng quốc gia

Hệ thống tiêu chí được sử dụng để phân vùng thường liên quan đến trình độ phát triển KT – XH Dựa vào hệ thống tiêu chí này, người ta phân chia lãnh thổ quốc gia thành 3 loại vùng: vùng phát triển, vùng chậm phát triển, vùng suy thoái

Vùng phát triển thường là các lãnh thổ tập trung nhiều thế mạnh (tự

nhiên, kinh tế, xã hội) cho sự phát triển và trên thực tế, đã thể hiện rõ tiềm lực

về mặt kinh tế của đất nước Đây là vùng có vai trò quyết định đối với nền kinh tế cả nước

Vùng chậm phát triển nói một cách đơn giản, là lãnh thổ mà nền kinh tế

chưa phát triển Các nguyên nhân chủ yếu thường là thiếu điều kiện để phát triển như mạng lưới giao thông ít về số lượng, kém về chất lượng; dân cư thưa thớt, trình độ dân trí chưa cao, tài nguyên thiên nhiên hạn chế hoặc khó khăn trong việc khai thác và sử dụng do địa hình

Vùng suy thoái là vùng mà nền kinh tế hưng thịnh trước đây đang rơi vào

tình trạng khủng hoảng, trì trệ Lí do chính là do khai thác tài nguyên quá mức, thiếu biện pháp bảo vệ dẫn đến cạn kiệt Lúc đầu, việc khai thác tài nguyên mạnh mẽ làm phát triển một số ngành kinh tế (thí dụ như ngành khai khoáng) Sau đó, tài nguyên cạn dần nên cả các ngành lẫn lãnh thổ gắn với tài nguyên này lâm vào cảnh trì trệ suy thoái

1.3.3 Vùng kinh tế tổng hợp

Vùng kinh tế – xã hội (hay gọi tắt là vùng kinh tế) với tư cách là vùng

Trang 17

kinh tế tổng hợp (để phân biệt với vùng kinh tế ngành, hoặc vùng ngành) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Theo từ điển Bách khoa Địa lý Xôviết (1988), vùng kinh tế là một bộ phận tương đối hoàn chỉnh về lãnh thổ và kinh tế của đất nước Nó được đặc trưng bởi các điều kiện tự nhiên, kinh tế và chuyên môn hóa sản xuất trên cơ sở phân công lao động địa lý cũng như bởi các mối liên hệ kinh tế nội vùng ổn định Vùng kinh tế còn là một khâu cơ bản trong việc tổ chức lãnh thổ nền sản xuất xã hội, là đối tượng chủ yếu của chính sách vùng và kế hoạch hóa lãnh thổ

Kế thừa thành quả của khoa học Địa lý Xôviết, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra những quan niệm về vùng kinh tế như các tác giả: Minh Chi, Trần Đình Gián, Nguyễn Văn Quang… ở thập niên 60 – 70 của thế kỉ XX và Ngô Doãn Vịnh vào những năm đầu của thế kỉ XXI

Vùng kinh tế là đơn vị lãnh thổ có vị trí địa lý rõ rệt, có ranh giới xác định (hoặc có tính pháp lý – theo địa giới hành chính hoặc có tính ước lệ – đường địa giới quy ước), trong đó chứa đựng các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất – kĩ thuật cũng như dân cư cùng các hoạt động KT – XH, dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và các dòng thông tin, vật chất ở bên ngoài, kể cả với các vùng khác và quốc tế Nó có thể được coi là một hệ thống KT – XH theo lãnh thổ, bao gồm các mối quan hệ nhiều chiều về địa lý, kĩ thuật, kinh tế, xã hội giữa các bộ phận cấu thành bên trong hệ thống cũng như giữa nó với các hệ thống khác

Đối với nền kinh tế điểm mấu chốt là chuyên môn hóa sản xuất Để đạt hiểu quả cao về KT – XH, chuyên môn hóa được coi là chức năng hàng đầu Vùng này khác vùng kia chính là ở chức năng chuyên môn hóa Bên cạnh chuyên môn hóa, việc phát triển tổng hợp có ý nghĩa quan trọng Như vậy chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp là hai mặt của một thể thống nhất vùng kinh tế

Trong cách phân vùng kinh tế của nước ta chịu ảnh hưởng nhiều bởi các nhà địa lý Xôviết Cách phân vùng kinh tế của các nhà địa lý dựa vào các đặc điểm chính sau:

- Hướng chuyên môn hóa

Trang 18

- Dựa vào mức độ phát triển tổng hợp

- Trình độ phát triển KT – XH trên hình thái tổ chức sản xuất theo lãnh thổ và cơ sở vật chất kĩ thuật, năng suất lao động số lượng và chất lượng hàng hóa được sản xuất ra phục vụ đời sống nhân dân

Phân vùng kinh tế là một hệ thống phân tầng thứ bậc với quy mô khác nhau, mỗi vùng kinh tế bao gồm một số vùng kinh tế cấp thấp hơn Trên cơ sở

đó, nước ta có 3 vùng kinh tế: vùng kinh tế lớn, vùng kinh tế hành chính tỉnh, vùng kinh tế hành chính huyện Ngoài ra còn có các cấp trung gian mang nhiều giá trị thực tiễn, đó là tiểu vùng trong các vùng kinh tế lớn, nghĩa là dưới cấp vùng kinh tế lớn và trên cấp vùng kinh tế hành chính tỉnh Một tiểu vùng được hình thành chủ yếu dựa vào những nét tương đồng về tự nhiên, dân cư, kinh tế, lịch sử phát triển với vai trò riêng nhưng lại không đủ điều kiện trở thành vùng kinh tế lớn

Trong giai đoạn này, với phương án phân vùng như trên về cơ bản đã thỏa mãn được các yêu cầu đặt ra với vùng kinh tế lớn, nó đảm bảo một vùng như một chỉnh thể có các bộ phận cấu thành là:

- Có cơ cấu tài nguyên nhất định trên lãnh thổ đảm bảo việc chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp nền kinh tế của vùng

- Có nguồn lao động đảm bảo việc kết hợp tài nguyên thiên nhiên với lực lượng lao động và tư liệu sản xuất

- Có vị trí chức năng nhất định trong nền kinh tế quốc dân trên cơ sở chuyên môn hóa phát triển kinh tế của vùng

- Có thành phố, trung tâm công nghiệp hoặc thể tổng hợp sản xuất – lãnh thổ là hạt nhân tạo vùng

- Có hệ thống giao thông đảm bảo mối liên hệ bên trong của mỗi vùng và mối liên hệ kinh tế giữa các vùng với nhau, cũng như giữa các vùng với các nước trong khu vực và trên thế giới

1.3.4 Vùng kinh tế ngành

Nếu như vùng KT – XH được coi là vùng kinh tế tổng hợp, nghĩa là nó bao trùm toàn bộ nền kinh tế với tất cả các ngành, thì vùng kinh tế ngành (hay

Trang 19

gọi tắt là vùng ngành) chỉ giới hạn trong phạm vi một ngành cụ thể Dựa vào các yếu tố tự nhiên, KT – XH, kĩ thuật và yêu cầu phát triển của ngành trong nền kinh tế, người ta chia lãnh thổ của các quốc gia thành các vùng ngành nhằm quản lý có hiệu quả ngành kinh tế đó

Ở Liên Xô trước đây và Nga hiện nay đã hình thành một hệ thống ngành công nghiệp, với mục đích tổ chức lãnh thổ và phát triển công nghiệp Ở Nhật Bản người ta đã phân thành vùng phía Bắc (6 tháng trong năm có tuyết) và vùng phía Nam Còn ở Hàn Quốc là 3 vùng công nghiệp: Bắc, Trung, Nam

Ở nước ta, phân vùng kinh tế ngành được tiến hành sớm hơn phân vùng kinh tế tổng hợp Trước năm 1975, công tác này diễn ra chủ yếu ở lãnh thổ phía Bắc và các ngành chính là nông nghiệp và công nghiệp Năm 1962, Ủy ban kế hoạch nhà nước phối hợp với Bộ nông nghiệp triển khai nghiên cứu phân vùng nông nghiệp và đến năm 1964 đã chia miền Bắc thành 4 vùng nông nghiệp (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Khu Bốn cũ) với 64 tiểu vùng Cũng trong thời gian trên, Bộ lâm nghiệp đã tổ chức và điều tra phân vùng lâm nghiệp miền Bắc để làm cơ sở cho việc phát triển ngành Sau khi đất nước thống nhất, phân vùng kinh tế ngành được triển khai trong phạm vi cả nước với quy mô lớn trên quan điểm tổng hợp, kết hợp phát triển ngành với lãnh thổ và được sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ Nhiều vùng ngành lần lượt được hình thành như 7 vùng nông nghiệp (nửa sau thập niên 70 của thế kỉ XX), 3 vùng du lịch (nửa đầu thập niên 90 của thế kỉ XX), 6 vùng công nghiệp (những năm đầu thế kỉ XXI)

1.4 Vùng kinh tế trọng điểm

1.4.1 Quan niệm

VKTTĐ hay vùng kinh tế động lực là một trong những loại vùng KT –

XH, được hình thành và phát triển ở nước ta từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX cho đến nay

VKTTĐ là vùng có ranh giới “cứng” và “mềm” Ranh giới cứng bao gồm một số đơn vị hành chính cấp tỉnh và ranh giới mềm là khu nhân, gồm các đô thị

và phạm vi ảnh hưởng của nó

Trang 20

Về nguyên tắc, VKTTĐ phải là vùng hội tụ đầy đủ nhất các nguồn lực để phát triển KT – XH và đóng vai trò quyết định đối với nền kinh tế cả nước Lãnh thổ được gọi là VKTTĐ phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

- Hội tụ đầy đủ các thế mạnh về vị trí địa lý, tự nhiên, KT – XH, tập trung tiềm lực mạnh về kinh tế và có khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước

- Có đóng góp lớn trong cơ cấu GDP của đất nước và tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh cho cả nước cũng như hỗ trợ cho các vùng khác nếu được đầu tư thỏa đáng

- Có khả năng tạo tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng, tạo nguồn thu ngân sách lớn cho nhà nước

- Có khả năng thu hút các ngành mới về công nghiệp, dịch vụ để từ đó nhân rộng ra các vùng khác và cả nước

Về lãnh thổ, VKTTĐ bao trùm phạm vi nhiều tỉnh, thành phố Ranh giới của nó không phải là bất biến mà có sự thay đổi theo thời gian Số lượng cũng như phạm vi của vùng thay đổi theo yêu cầu chiến lược phát triển KT – XH của đất nước trong từng thời kì lịch sử VKTTĐ là đối tượng trọng điểm về đầu tư nhằm tạo ra “cú hích” cho toàn bộ nền kinh tế của đất nước

Do đó, VKTTĐ là động lực để phát huy tổng hợp thế mạnh của vùng, góp phần phát triển KT – XH của đất nước, phù hợp với chiến lược CNH – HĐH đất nước, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

1.4.2 Ý nghĩa

Trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, tất cả các địa phương không thể

có khả năng phát triển kinh tế như nhau tại cùng một thời điểm mà luôn có sự phân hóa, một số địa phương có lợi thế về vị trí địa lý, tự nhiên, KT – XH nhưng không thể bứt lên được dù đã rất cố gắng Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để từ các địa phương có nhiều lợi thế tạo thành các vùng có ý nghĩa then chốt cho nền kinh tế cả nước

Liên quan đến vùng trọng điểm là lý thuyết phát biểu các cực của Francoi Perroux (Pháp) vào đầu thập niên 50 của thế kỉ XX Theo ông, trong một vùng

Trang 21

có nơi phát triển nhanh, nhưng có nơi lại trì trệ Vì thế, ông chú trọng vào lãnh thổ tăng trưởng Có 2 loại cực là cực phát triển và cực tăng trưởng

Cực phát triển là hệ thống trong đó hoạt động động lực cùng các hoạt

động khác xung quanh có tác động thu hút các vùng lãnh thổ lân cận

Cực tăng trưởng là hệ thống các hoạt động thụ động, chịu ảnh hưởng lôi

cuốn từ bên ngoài của một cực phát triển Trên cơ sở lực thu hút, lực đẩy của các cực đã tạo ra, nên vùng có ảnh hưởng đối với các lãnh thổ xung quanh

Nhìn chung, lý thuyết này đã được áp dụng ở nhiều nước Châu Á, đặc biệt trong khu vực ASEAN Qua thực tiễn, các nước đã có kinh nghiệm và bài học riêng cho mình trong quá trình kêu gọi đầu tư Đây cũng là lý thuyết giải thích

sự cần thiết phải phát triển lãnh thổ theo hướng có trọng điểm

Thực tiễn Việt Nam đã chỉ ra việc hình thành các VKTTĐ là một xu thế tất yếu Nước ta đi lên từ điểm xuất phát rất thấp, sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế tuy đã khởi sắc nhưng trình độ phát triển còn nhiều hạn chế Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, để tránh nguy cơ tụt hậu, việc hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới là nhu cầu cấp thiết

Nguồn lực để phát triển KT – XH ở nước ta có sự phân hóa rõ nét theo các vùng Mỗi vùng có thế mạnh riêng, để khai thác tối đa nguồn lực của các vùng này, hơn thế là để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Chính vì vậy, việc hình thành VKTTĐ có ý nghĩa rất lớn

VKTTĐ hình thành không chỉ có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế cả nước phát triển mà còn tạo nhiều cơ hội phát triển cho các vùng khác Hơn thế, VKTTĐ có điều kiện tập trung nguồn lực hình thành các trung tâm kinh tế của

cả nước và của các vùng trong nước

2 Cơ sở thực tiễn về phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam

Thực hiện chiến lược phát triển KT – XH của cả nước, kể từ giữa năm

1990 nước ta đã hình thành 3 VKTTĐ Đó là VKTTĐ phía Bắc (gồm TP Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Quảng Ninh); VKTTĐ miền Trung (gồm tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định); VKTTĐ phía Nam (gồm TP Hồ Chí Minh,

Trang 22

tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Long An, Tây Ninh, Bình Phước và Tiền Giang) Các VKTTĐ đã phát huy được vai trò đầu tàu tăng trưởng, có đóng góp lớn vào ngân sách, kim ngạch xuất khẩu, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn phát triến KT – XH của cả nước cũng như của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, VKTTĐVĐBSCL được thành lập theo Quyết định số 492/QĐ – TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ VKTTĐVĐBSCL bao gồm 4 tỉnh, thành phố là Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau

Các VKTTĐ ở Việt Nam đã phát huy được những lợi thế để phát triển kinh tế, có tốc độ phát triển kinh tế cao hơn trung bình cả nước, có nhiều ngành kinh tế động lực, xứng đáng là 4 trung tâm kinh tế của cả nước thể hiện ở một số tiêu chí sau:

Bảng 1.1: Một số tiêu chí về 4 VKTTĐ ở Việt Nam năm 2010

TT Các tiêu chí Cả nước Cộng 4

VKTTĐ

VKTTĐ Phía Bắc (7tỉnh, TP)

Trong đó

VKTTĐ Miền Trung (5 tỉnh, TP)

VKTTĐ phía Nam (8 tỉnh, TP)

VKTTĐV ĐBSCL (4 tỉnh, TP)

Trang 23

xây dựng

Dịch vụ

100 20,6

41,6

37,8

100 12,1

47,0

40,9

100 9,4

45,5

45,1

100 18,7

42,5

38,8

100 8,8

52,3

38,0

100 30,6

100

11383 148950,4

76,5

3184 37875,3

19,5

366 14139,1

7,2

7746 92572,8

47,6

87 4363,2

2,2

(Nguồn: [5])

Trang 24

LƢỢC ĐỒ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG

CỬU LONG

Trang 25

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1 Khái quát tiềm năng cho phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long

1.1 Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ

* Vị trí địa lý

VKTTĐVĐBSCL có vị trí địa lý kinh tế – chính trị quan trọng, thuận lợi cho việc phát triển KT – XH và giao thương với các vùng trong cả nước cũng như với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Phía Bắc, VKTTĐVĐBSCL giáp với Campuchia trên chiều dài đường biên giới 260,8 km, về phía Đông Bắc giáp 2 tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, phía Đông Nam giáp Hậu Giang và Bạc Liêu, về phía Đông trông ra vịnh Thái Lan với chiều dài đường bờ biển 347 km và phía Nam giáp với biển Đông với

107 km

Việc giáp các tỉnh trên bộ thuận lợi cho giao lưu buôn bán thì giáp biển và vịnh Thái Lan thuận lợi cho phát triển kinh tế biển (giao thông vận tải, đánh bắt

và nuôi trồng thủy hải sản, du lịch)

Vùng có thành phố Cần Thơ là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, 3 thành phố trực thuộc tỉnh (Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau), 3 thị xã (Châu Đốc, Tân Châu, Hà Tiên) và 33 huyện (trong đó có 2 huyện đảo là Kiên Hải và Phú Quốc)

VKTTĐVĐBSCL có vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển KT – XH của ĐBSCL và của cả nước Ở đây hội tụ các tiềm năng phát triển lớn, đầu mối giao thông quan trọng về đường thủy, đường bộ, đường hàng không, thuận lợi cho phát triển sản xuất, giao lưu, thúc đẩy thương mại và du lịch với các vùng trong cả nước và khu vực

Trên địa bàn của vùng có các trục giao thông quan trọng như quốc lộ 1 và tương lai có đường cao tốc Bắc Nam ở phía Đông, đường Hồ Chí Minh tuyến N1 ven biên giới Hành lang ven biển phía Nam, quốc lộ 91 nối vùng này với vùng khác trong cả nước và kết nối với Thái Lan và Campuchia

Trang 26

Địa bàn VKTTĐVĐBSCL có sân bay quốc tế Cần Thơ và sân bay Phú Quốc (Kiên Giang), Cà Mau, Rạch Giá Tất cả các sân bay hiện có ở ĐBSCL đều nằm trong vùng kinh tế trọng điểm này

VKTTĐVĐBSCL có sông Hậu chảy qua, là tuyến giao thông thủy rất thuận lợi Hiện nay đã hình thành cụm cảng biển Cần Thơ Cùng với cụm cảng Cần Thơ và các dự án luồng được hình thành trên sông Hậu (qua kênh quan Chánh Bố) sẽ cho phép tàu 1 – 2 vạn DWT ra vào dễ dàng

VKTTĐVĐBSCL là trung tâm kinh tế không chỉ có riêng khu vực Nam

Bộ mà còn của cả nước Nhất là trong lĩnh vực sản xuất và chế biến nông, lâm, thủy sản, năng lượng và du lịch Vùng này có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành dịch vụ như tài chính – ngân hàng, thương mại, giáo dục – đào tạo, y tế, chuyển giao công nghệ, vui chơi giải trí không chỉ cho các tỉnh, thành phố trong vùng, mà còn cho cả ĐBSCL

VKTTĐVĐBSCL còn nằm trong vùng kinh tế năng động và phát triển Nằm cạnh VKTTĐ phía Nam đất nước, gần các nước Đông Nam Á, giáp Campuchia Vùng được coi như chiếc cầu nối trong hội nhập kinh tế với các vùng của cả nước trong khu vực cũng như với thế giới

VKTTĐVĐBSCL có vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái của

cả ĐBSCL cũng như khu vực Nam Bộ Thuộc địa bàn của vùng có 4 vườn quốc gia: Mũi Cà Mau, U Minh Hạ (Cà Mau), U Minh Thượng, Phú Quốc (Kiên Giang) và 2 khu dự trữ sinh quyển thế giới: Mũi Cà Mau và khu ven biển và biển đảo Kiên Giang, trong đó các khu bảo tồn thiên nhiên: Đầm Dơi (Cà Mau), Hòn Chông – Kiên Lương (Kiên Giang) chứa đựng những đặc trưng về tự nhiên

và đa dạng sinh học với những loài sinh vật quý hiếm; có diện tích rừng phòng

hộ lớn, cửa sông Việc bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, khai thác và sử dụng hợp ý nguồn tài nguyên đất và nước có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn sinh thái cho vùng này nói riêng và cả ĐBSCL nói chung

Với lợi thế về vị trí địa lý, VKTTĐVĐBSCL có nhiều khả năng để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đồng thời có tiềm năng để phát triển kinh tế,

Trang 27

xứng đáng là vùng kinh tế động lực, góp phần tạo nên sự chuyển biến tích cực cho nền kinh tế của cả đất nước

*Phạm vi lãnh thổ

Thực hiện chiến lược phát triển KT – XH quốc gia, kể từ giữa năm 1990 nước ta đã hình thành 3 VKTTĐ, đó là VTTĐ phía Bắc, VKTTĐ phía Nam, VKTTĐ miền Trung Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn phát triển KT – XH của cả nước cũng như vùng ĐBSCL, vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL được thành lập theo quyết định số 492/QĐ – TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng chính phủ Theo quyết định này VKTTĐVĐBSCL gồm các tỉnh, thành phố Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau với diện tích tự nhiên là 16589,1 km2, chiếm 5% diện tích cả nước và 40,9% diện tích vùng ĐBSCL, dân số 6311,1 nghìn người, chiếm 7,2% dân số cả nước và 36,3% dân số vùng ĐBSCL (2012)

Bảng 2.1 Diện tích, dân số các tỉnh, thành phố VKTTĐVĐBSCL năm 2012 Tỉnh,

thành phố

Diện tích (km)

Dân số (nghìn người)

Đơn vị hành chính (thành phố, huyện, thị xã)

An Giang 3536,6 2153,7 1 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện Kiên

Về mặt lãnh thổ, VKTTĐVĐBSCL có vai trò lớn đối với vùng ĐBSCL

và cả nước

Trang 28

Là vùng mới được thành lập trong hệ thống 4 VKTTĐ của nước ta, có diện tích tự nhiên đứng thứ 3 trong 4 vùng của cả nước sau VKTTĐPN, VKTTĐMT Về dân số cũng đứng thứ 3, thời điểm năm 2012 hơn VKTTĐMT Còn về quy mô GDP và GDP bình quân đầu người cũng xếp thứ 3 trên VKTTĐMT

VKTTĐVĐBSCL đã, đang và sẽ trở thành vùng kinh tế năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, có vai trò to lớn trong việc xây dựng cả vùng ĐBSCL giàu mạnh, tiến kịp với mặt bằng chung của cả nước, đảm bảo ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vững chắc cho lãnh thổ phía Nam, đóng góp ngày càng lớn vào nền kinh tế của cả nước

1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Địa hình đồng bằng tập trung ở An Giang, Cà Mau, Cần Thơ và một phần

ở Kiên Giang Có các dạng đồng bằng như đồng bằng phù sa, đồng bằng ven núi, đồng bằng ven biển

a Đồng bằng

* Đồng bằng phù sa

Ở An Giang chia làm hai khu vực Một nằm kẹp giữa 2 sông Tiền và sông Hậu, thuộc một số huyện Tân Châu, An Phú, Phú Tân và Chợ Mới có dạng cù lao ở giữa, dạng lòng chảo ở hai gờ sông thấp dần ở giữa; độ cao trung bình ở 2 ven sông từ 3m – 4m, khu lòng chảo ở giữa 2 sông 1,5m – 3m; đất chủ yếu là cát pha đến thị nhẹ Hai đồng bằng sông Hậu gồm huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn…; địa hình hơi nghiêng cao từ bờ sông Hậu thấp dần vào nội đồng

đến tận ranh giới với Kiên Giang; đất thịt nhẹ đến đất sét

Đồng bằng Cần Thơ có đồng bằng bãi bồi Loại địa hình này kéo dài thành 1 dải dọc chạy theo sông Hậu bao gồm địa phận các quận Ninh Kiều, Bình

Trang 29

Thủy, Ô Môn, Cái Răng, huyện Thốt Nốt Phía sau bờ sông là cảnh quan đồng bằng phù sa rộng và bằng phẳng dạng địa hình bồn trũng ở xa sông Cần Thơ, nằm cạnh sông Hậu nên dạng địa hình này không nhiều, chủ yếu ở huyện Cờ

Đỏ, Vĩnh Thạch, một phần huyện Phong Điền Địa hình trũng thấp khó tiêu thoát nước

Đồng bằng Cà Mau là vùng đất thấp thường xuyên bị ngập nước, có tới 90% đất ngập mặn chứa phèn Năm 1929, một nhà nghiên cứu người Pháp đến đây đã mô tả đồng bằng này là “một trong những bồn trũng đen kịt rỉ ra tứ phía”

Dạng đồng bằng phù sa bồi tụ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt trồng lúa nước, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày

* Đồng bằng ven núi

Loại này tập trung với 2 kiểu Deluvi (sườn tích) và phù sa cổ Đồng bằng ven núi kiểu Deluvi hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, độ cao trung bình từ 5m – 10m, hẹp, độ dốc nhỏ

* Đồng bằng ven biển

Dạng này tập trung ở Cà Mau, đó chính là bờ biển sú vẹt phẳng và thấp, tiến ra biển khoảng từ 60m – 80m một năm, phần đất Cà Mau được bồi nhiều nhất mà người ta quen gọi là mũi Cà Mau nơi có 2 luồng hải lưu của biển Đông

và vịnh Rạch Giá giáp tiếp nhau

Do phần lớn lãnh thổ nằm ở vị trí trũng, thấp nên đất dễ bị lún và có nơi

bị ngập lũ hàng năm, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân

Vào thời kì lũ lớn, cạnh một số nơi ở phía trên thượng lưu của sông Tiền

và sông Hậu từ biên giới với Campuchia đến phía trên Cần Đơn bị ngập sâu có chỗ tới 4,5m Tác động qua lại giữa bồi tích của sông và biển đã hình thành nên một dải đất hơi cao ở ven biển nên mức độ ngập ít hơn Hiện tượng xói mòn đang xảy ra dọc bờ biển Đông, bặc biệt từ của sông Gành Hào xuôi về xóm Rạch Gốc

Nền đất của vùng thuộc dạng đất yếu (bùn sét, bùn sét pha, bùn cát pha), phân bố rộng rãi từ phía Nam sông Hậu đến tận mũi Cà Mau, ngoại trừ các núi sót ở vùng Tứ giác Long Xuyên

Trang 30

b Núi thấp

Nổi lên giữa khu vực đồng bằng rộng lớn, tương đối bằng phẳng là dạng địa hình núi thấp ở 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch

Địa hình đồi núi thấp là nét đặc sắc, nổi bật của An Giang giữa vùng đồng bằng mênh mông của miền Tây Nam Bộ Đồi núi gồm nhiều đỉnh có hình dạng,

độ cao và độ dốc khác nhau phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100

km từ đầu xã Phú Hữu tới xã Vọng Thê và Vọng Đông Khu vực Bảy núi (hay còn gọi là Thất Sơn, gồm các núi Năm Giềng, núi Kẹt, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Nước và núi Cô Tô) đã nối dài dãy Đăng Rếch với vùng núi Ba Thê, núi Sam, núi Sập nổi lên giữa cánh đồng lúa xanh rờn Các núi cao của tỉnh là núi Cấm (cao 710m), núi Cô Tô (cao 610m)… Đất đai vùng núi chủ yếu là đất xám, nghèo dinh dưỡng, thoát nước mạnh

Đồi núi thấp ở Kiên Giang tập trung tại ven biển phía Tây Bắc thuộc các huyện gồm: Hòn Đất, Kiên Lương ở độ cao trung bình dưới 200m Đồi núi cấu tạo bằng đá grannit gồm các núi Hòn Đất, Hòn Me, Hòn Sóc Núi đá vôi được hình thành trên nền móng gãy cổ xưa, có các núi Chùa Hang, Bình Trị… Núi đá phiến xen với núi mắcma phun trào, có các núi Bãi Ớt, Ông Cọp…

Địa hình vùng núi ven biển Hà Tiên và các đảo ở vùng biển này đã tạo cho Kiên Giang những thắng cảnh nổi tiếng như: Hòn Phụ Tử, hang Tiền, núi

Đá Dựng… Thi sĩ Đông Hồ đã từng ca ngợi Hà Tiên như một Việt Nam thu nhỏ: “Ở đó có kì thú thay, như gồm đủ hết Có một ít hang sâu động hiếm của Lạng Sơn Có một ít ngọn đá chơi vơi ngoài biển của Hạ Long Có một ít núi đá vôi của Ninh Bình Có một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích Có một ít Tây

Hồ, một ít Hương Giang Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, một ít lăng tẩm của Thuận Hóa Có một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng, một ít Nha Trang, Long Hải…”[2;327]

Tất cả các dạng đất đều có độ ẩm tự nhiên lớn với khuynh hướng tăng dần từ Bắc xuống Nam, khả năng chịu tải nhỏ Vì vậy, việc xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp trên vùng đòi hỏi việc đầu tư nhiều vào việc xử lí nền móng

Trang 31

Địa hình toàn vùng tương đối bằng phẳng thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản nhưng do độ cao địa hình thấp, có nhiều kênh rạch nên mùa mưa thoát nước chậm, mùa khô chịu sự xâm lấn của nước mặn ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất

c Địa hình đáy ven bờ

Địa hình đáy ven bờ cũng giống như vùng biển Đông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ có thềm lục địa rộng, đáy biển nông, độ dốc nhỏ, đáy là bùn và cát thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản

Địa hình đáy ven bờ từ mũi Cà Mau đến cửa sông Cái Lớn (Kiên Giang)

có địa hình khá bằng phẳng, độ dốc không lớn toàn bộ là bãi bùn dưới bùn là cát Đường đẳng sâu 10m cách bờ 7 – 10 km

Từ cửa sông Cái Lớn đến Hòn Chông, đặc biệt là khu vực mũi Nai (Kiên Giang) đến Hòn Chông có độ dốc tương đối lớn, đây chủ yếu là cát hoặc cát bùn Đường đẳng sâu 10m cách bờ 20 – 30m

Bờ biển bị chia cắt mạnh bởi nhiều cửa sông đổ ra biển như: cửa Bồ Đề, cửa Giành Hào Nhiều luồng lạch được hình thành, các bãi triều là môi trường nước lợ thuận lợi cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản

VKTTĐVĐBSCL có nhiều nhóm đất thích hợp cho nhiều loại cây trồng ,

từ cây lúa đến cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả Đây là một trong những lợi thế quan trọng để hình thành nền sản suất hàng hóa cũng như chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Trong vùng có 3 nhóm đất chính: nhóm đất phèn, nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn

Trang 32

Nhóm đất phèn: có diện tích lớn nhất, chiếm 42% diện tích đất tự nhiên,

tập trung ở Kiên Giang và Cà Mau Ở Cà Mau nhóm đất phèn có diện tích 284 nghìn ha, chiếm 54,6% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các huyện Thới Bình, U Minh và Trần Văn Thời Trong đó đất phèn tiềm tàng phân bố ở các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước; đất phèn hoạt động phân bố rải rác ở nhiều nơi

Đất phèn nhiễm mặn phân bố ở những vùng ven biển khoảng 30,4 nghìn

ha Đối với diện tích đất phèn không ngập mặn có thể trồng lúa trong mùa mưa, trồng các cây công nghiệp chịu phèn như mía, khóm, chuối, tràm Đối với diện tích phèn bị ngập mặn có thể trồng rừng ngập mặn nuôi thủy sản nước mặn

Kiên Giang có diện tích đất phèn 223 nghìn ha, chiếm 40% diện tích đất

tự nhiên của tỉnh Đất phèn phân bố chủ yếu ở Hà Tiên, Hòn Đất, An Biên, Vĩnh Thuận và rải rác ở các huyện khác Đất có thể trồng cây tràm, khóm sử dụng kĩ thuật lên liếp, ém phèn để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp…

Đặc trưng của nhóm đất này là ít được bồi tụ, nhiễm phèn nhiều, đất nặng, thành phần cơ giới chủ yếu là sét, cát mịn, có hàm lượng độc tố cáo, tính chất cơ

lí yếu, nứt nẻ nhanh bị khô

Hiện nay phần lớn đất phèn được khai thác để trồng lúa và đã trồng được hai vụ Phần còn lại nằm dưới vùng ngập nước và vùng rốn phèn sâu ở Tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, trong đó có một số diện tích có thảm rừng che phủ

Nhóm đất phù sa: chiếm 17,4% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở

các huyện nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, được bồi phù sa hàng năm, thích hợp cho việc trồng lúa, cây ăn quả và cây công nghiệp Trong nhóm đất phù sa này có đất phù sa ngọt, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa glây

Đất phù sa ngọt phân bố ở các huyện nằm giữa sông Tiền, sông Hậu và dải đất ven hữu ngạn sông Hậu, từ Châu Đốc tới Long Xuyên ở An Giang đất hình thành do sự bồi đắp phù sa hàng năm của sông Hậu Các loại đất này rất phì nhiêu, màu mỡ, nhiều chất hữu cơ, thành phần cơ giới tốt, tầng canh tác dày, thuận lợi trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả

Trang 33

Riêng đối với Kiên Giang, đất vùng đồng bằng này do phù sa sông Cửu Long bồi tụ, do nằm xa sông nên đất có thành phần cơ giới nặng, tỉ lệ sét từ 45 – 58%, tầng đất dày trên 70 cm, hàm lượng hữu cơ khá cao Đất phù sa ngọt phân

bố chủ yếu ở huyện Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng và rải rác ở Rạch Giá, Hòn Đất, Gò Quao Đất tốt thích hợp cho nhiều loại cây trồng

Nhóm đất mặn: chiếm 17,2 % diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở

Cà Mau và một phần ở Kiên Giang Ở Kiên Giang, đất mặn phân bố ở ven biển hoặc ven sông thuộc các huyện An Biên, An Minh… Đất mặn càng tăng cường vào mùa khô, ít trồng được lúa 2 vụ Đất mặn trung bình thường trồng lúa 1 vụ kết hợp nuôi thủy sản Đất mặn nhiều chủ yếu là đất rừng và nuôi thủy sản Đối với Cà Mau, đất mặn phân bố ở các huyện Đầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển, Năm Căn, Trần Văn Thời, U Minh, Cà Mau

Ngoài 3 nhóm đất chính nêu trên chiếm hơn 77% diện tích, trong vùng còn có 1 số loại đất khác như đất xám bạc màu, đất than bùn, đất xói mòn trơ sỏi

đá Đất xám bạc màu có hàm lượng dinh dưỡng thấp, phân bố chủ yếu ở An Giang, Kiên Giang, có thể sử dụng để trồng lúa hoa màu ở vùng thấp và hoa màu, cây ăn quả ở nơi có địa hình cao Đất than bùn là đất hữu cơ được phân giải từ cành rơi, lá rụng, giàu lưu huỳnh, nghèo lân và kali, tập trung ở Kiên Giang, Cà Mau (Rừng U Minh Thượng và Hạ) không thích hợp với cây lúa Đất xói mòn trơ sỏi đá chiếm diện tích nhỏ (0,3% diện tích đất tự nhiên), tập trung ở

An Giang (khu vực Bảy núi), Kiên Giang

Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Đất đai còn là địa bàn để phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất

và sinh hoạt Trong điều kiện hiện nay với xu thế dân số ngày càng đông, nhu cầu đất dành cho phát triển công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố chí các quan điểm quần cư ngày càng lớn Vì thế việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên đất nhằm đảm bảo cho việc phát triển bền vững trở nên cấp thiết Tuy nhiên, để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, cần phải cải tạo 2 nhóm đất phèn

và đất mặn

Trang 34

1.2.3 Nước

a Nước mặt

Tài nguyên nước mặt của vùng bao gồm hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt mang nguồn nước tới khắp nơi Các con sông lớn chảy qua vùng này phải kể đến sông Tiền và sông Hậu, sau đó là sông Ông Đốc, sông Cái Bé, sông Cái Lớn, sông Cửa Lớn, cùng với nhiều kênh nổi tiếng như Vĩnh Tế, Tri Ôn, Rạch Sỏi, Phùng Hiệp Hệ thống kênh đào nối thông sông Tiền với sông Vàm

Cỏ, nối sông Tiền sang sông Hậu và nối sông Hậu ra vịnh Thái Lan

Hệ thống sông ngòi có ý nghĩa to lớn về mặt thủy lợi, nuôi trồng thủy sản, phát triển giao thông và du lịch

- Sông Tiền và sông Hậu là 2 nhánh chính của hạ lưu sông Mê Công trước khi đổ ra biển

+ Sông Tiền chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua Tân Châu, Sa Đéc đến Vĩnh Long, Trà Vinh rồi đổ ra biển Đông bằng 6 cửa là cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu Đoạn chảy qua An Giang dài 82 km, lòng sông chỗ rộng nhất tới hơn 2000m ở phía trên sông Vàm Nao

+ Sông Hậu chảy song song với sông Tiền qua Thị xã Châu Đốc, các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thành phố Long Xuyên, Thành phố Cần Thơ, Tỉnh Sóc Trăng rồi đổ ra biển Đông bằng 3 cửa là Định An, Tranh Đề và Mỹ Thạnh Đoạn chảy qua An Giang dài 101 km, lòng sông chỗ rộng nhất từ 800m – 2000m Sông Hậu là tuyến giao thông thủy nối liền trung tâm tỉnh (Thành phố Long Xuyên) với vùng thượng và hạ lưu, đồng thời là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho vùng Tứ giác Long Xuyên Đoạn sông Hậu chảy qua Cần Thơ có chiều dài khoảng 60 km, chiều rộng khoảng 800 – 1500m Sông Hậu là sông có nhiều nước, tổng lượng nước đổ ra biển khoảng 200 tỷ m3

/năm, chiếm tới 41% tổng lượng nước của cả hệ thống sông Mê Công

- Kênh Vĩnh Tế là kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam – Campuchia, bắt đầu từ tản ngạn sông Châu Đốc tới Giang Thành ở Thị xã Hà Tiên (Kiên Giang), chiều dài kênh là 91km, rộng 25m, sâu 3m Nói về lợi ích

Trang 35

của sông Vĩnh Tế, Đại Nam Nhất Thống Chí viết: “Từ đây đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được mối lợi vô cùng”

Nước theo dòng chính từ thượng nguồn đổ về có sự biến thiên rõ rệt theo mùa Do chế độ thủy văn có tính chu kì hàng năm nên ở nhiều nơi thuộc các tỉnh

An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ bị ngập trong thời gian từ tháng VIII đến tháng XII với mức độ khác nhau Ngập lũ đã và đang gây ra những khó khăn nhất định cho sản xuất và đời sống dân sinh Tuy nhiên, lũ mang nguồn phù sa bồi đắp cho đồng ruộng Mặt khác, nguồn nước ngọt quan trọng này được cung cấp cho sản xuất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản, kinh tế dân sinh tạo nên một vùng sinh thái ngọt lớn cho vùng Trong khi đó, về mùa cạn, nước mặt từ biển theo các sông, rạch xâm nhập sâu vào trong vùng này nói riêng và cả ĐBSCL nói chung, ảnh hưởng lớn đến phần lớn diện tích từ Tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau Sự xâm nhập mặn vào mùa khô đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân và ven các sông rạch lớn

Chế độ thủy triều biển Đông theo sông Tiền và sông Hậu thâm nhập vào đồng bằng ảnh hưởng lớn đến phần lớn diện tích của vùng, vùng ven biển, cửa sông và dòng chính, thủy triều thường có biên độ lớn nhưng vào sâu trong nội địa giảm đi rất nhiều Sự thâm nhập của thủy triều kéo theo sự xâm nhập mặn đang ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của dân cư vùng ven biển và ven các cửa sông lớn

a Nước ngầm

Nước ngầm của vùng được đánh giá là có trữ lượng khá, có thể khai thác trên 5000 m3/ngày đêm, gồm nước ở tầng nông và nước ở tầng sâu So với mức khai thác hiện nay thì sản lượng khai thác vẫn ở mức an toàn Tuy nhiên quá trình phát triển dân số cũng như công nghiệp hóa, đô thị hóa sẽ dẫn tới việc gia tăng vượt bậc nhu cầu cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp thì nguồn nước dưới đất không thể cung cấp đủ Vì thế, nên vấn đề đặt ra là phải dành ưu tiên sử dụng nước dưới đất cho các vùng không có nước mặt chất lượng tốt

Với tài nguyên nước phong phú, đa dạng của vùng vấn đề khai thác và sử dụng hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế Khai tác tài

Trang 36

nguyên này phải phù hợp với điều kiện từng tỉnh, thành phố trong từng giai đoạn nhằm đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường

Chế độ mưa

Lượng mưa trung bình năm biến động theo không gian và thời gian tạo nên hai mùa tương phản là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng V đến tháng X, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng XI đến tháng IV, lượng mưa không đáng kể Lượng mưa trung bình năm của cả vùng đạt khoảng

1520 – 1580mm, phân bố không đều, khoảng 2400 mm tại Cà Mau, 2040 mm tại Rạch Giá, 1200 – 1600 mm tại Cần Thơ, Châu Đốc… Mưa theo mùa đã gây nhiều trở ngại cho sản xuất và đời sống, vì vậy thủy lợi có ý nghĩa hàng đầu

Hiện nay, tình trạng biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao đang và sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả ĐBSCL nói chung và vùng này nói riêng Hàng loạt các hiện tượng thời tiết cực đoan kéo đến với tần suất và cường độ ngày càng lớn như gia tăng tình trạng ngập úng sâu, kéo dài: bão, áp thấp nhiệt đới xâm nhập đến cả những nơi mà trước đây được coi là an toàn; hạn hán vào mùa khô, lũ lụt trở nên cực đoan… Điều đó đặt ra yêu cầu cho vùng phải có các biện pháp hợp lý để đẩy mạnh nền KT – XH trong giai đoạn hiện tại, đảm bảo sự phát triển bền vững, đối phó với biến đổi khí hậu trong tương lai

Trang 37

1.2.5 Sinh vật

Vùng có điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai màu mỡ, nguồn nước phong phú nên thảm thực vật của VKTTĐVĐBSCL phát triển khá đa dạng về chủng loại và mang những đặc trưng riêng

Diện tích đất lâm nghiệp của vùng là 186,8 nghìn ha, chủ yếu là rừng ngập mặn và chua phèn, phân bố tập trung ở hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang, chiếm 69,5% diện tích đất rừng của ĐBSCL

Rừng ngập mặn Cà Mau có năng suất sinh học cao, giá trị phòng hộ, môi trường và kinh tế lớn Diện tích và ý nghĩa của rừng ngập mặn Cà Mau có thể so sánh với nhiều khu rừng ngập mặn nổi tiếng trên thế giới Rừng ngập mặn Cà Mau chiếm 77% diện tích rừng ngập mặn của vùng ĐBSCL, dùng để phát triển nuôi trồng thủy sản, cân bằng sinh thái ven biển, bảo tồn tính đa dạng sinh học vùng rừng ngập mặn ven biển Hệ sinh thái của vùng rừng ngập mặn nội địa có vai trò quan trọng, là vùng đệm để ổn định đất, thủy văn, bảo tồn loài vật hoang

dã đặc trưng của sinh thái rừng ngập mặn, nuôi tôm, cá nước ngọt, ong, trăn…

Nói tới rừng Cà Mau còn phải kể tới rừng sác Rừng sác là rừng ngập mặn

ở vùng duyên hải, thành phần chủ yếu gồm cây mắm và cây đước, dừa nước, chà

là Do ảnh hưởng của thủy triều, rừng sác trở thành môi trường lý tưởng cho các loài tôm, cá, chim, cò

Rừng ngập mặn ở Kiên Giang tiêu biểu là vườn quốc gia U Minh Thượng,

có diện tích là 8053 ha với nhiều loại sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới

Rừng ngập nước ở Cà Mau và 1 phần ở Kiên Giang thuộc kiểu rừng đặc biệt thuộc loại quý hiếm trên thế giới Ở các khu rừng này có hai loài cây gỗ lớn chiếm ưu thế là cây đước và cây mắm Chính 2 loài này đã chi phối cấu trúc phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn Ngoài ra, còn có các loại cây sú, vẹt, bần được phân bố rộng rãi ở vùng ven biển, cửa sông, chịu ảnh hưởng của thủy triều

Rừng tràm có ở khu vực đất than bùn U Minh (171.000 ha) Rừng tràm rất quan trọng đối với việc ổn định đất, nước, bảo tồn các loài sinh vật Trồng tràm thích hợp nhất để cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất không phù hợp

Trang 38

với sản xuất nông nghiệp như vùng đầm lầy than bùn và đất phèn nặng, do cây tràm thích nghi với các điều kiện đất phèn và cũng có khả năng chịu được mặn

Hệ sinh thái rừng cây lá rộng thường xanh có thành phần loài cây khá phong phú như các loại thuộc họ Sao, họ Dầu, họ Đậu, nhưng chỉ chiếm diện tích nhỏ, tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi An Giang, Kiên Giang và trên đảo Phú Quốc

Vùng có 4 rừng quốc gia:

Bảng 2.2: Các vườn quốc gia của VKTTĐVĐBSCL năm 2012

Diện tích (ha)

Năm thành lập

Đặc điểm đặc trưng

và khai thác nguồn lợi, sản phẩm khác từ rừng

Rừng ngập mặn là cơ sở thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản Hệ sinh thái rừng ngập mặn Năm Căn (Cà Mau) có diện tích lớn thứ 2 ở Đông Nam

Á Có thể nói đây là “phòng thí nghiệm” sinh động về hệ sinh thái rừng ngập mặn lớn ở Việt Nam và khu vực với đặc thù rừng tràm đước và sân chim Hai sân chim tự nhiên nổi tiếng Vĩnh Thành (Vĩnh Lợi) và Tân Khánh (Ngọc Hiển)

là các điểm du lịch hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước Ở đây có thể xây

Trang 39

dựng cụm sinh thái Năm Căn (Cà Mau), phụ cận với rừng tràm U Minh và các sân chim nổi tiếng

Bên cạnh sự đa dạng của hệ thực vật trên cạn thì hệ thực vật dưới nước cũng rất phong phú, nhờ vào hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, vùng biển rộng Thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt rất phát triển

VKTTĐVĐBSCL tiếp giáp với ngư trường vùng biển phía Tây Nam (vịnh Thái Lan), là một trong những ngư trường trọng điểm của nước ta với trữ lượng lớn, chiếm 19,2% trữ lượng thủy sản của nước ta Trữ lượng cá đáy khoảng 600 nghìn tấn (chiếm 36% lượng cá đáy của cả nước), cá nổi khoảng

275 nghìn tấn (chiếm 20%) Về chất lượng có nhiều giống cá quý như cá bạc

má, cá mực, tôm he, tôm vỗ, mực nang, mực ống…

Vùng biển Đông Nam là vùng biển có trữ lượng thủy sản lớn nhất cả nước Trữ lượng thủy sản dự báo khoảng 2,1 triệu tấn, trữ lượng hàng năm có thể khai thác là 409 nghìn tấn Ước tính có 666 loài cá, 50 loài tôm, 23 loài mực…

Khó khăn lớn nhất đang đặt ra cho vùng là sự suy giảm nhanh chóng nguồn lợi thủy sản ven bờ Một số loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng Vì vây, việc khai thác cần đi đôi với việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phát triển nuôi trồng để bổ sung quỹ gen

1.2.6 Khoáng sản

VKTTĐVĐBSCL có khoáng sản không đáng kể, nhưng có một số loại có

ý nghĩa quan trọng với việc phát triển kinh tế của vùng Đó là dầu khí (80% trữ lượng về dầu và 70% trữ lượng về khí của ĐBCSL), đá (90%), sét chịu lửa (90%), than bùn…

Ở thềm lục địa Tây Nam thuộc vùng biển Cà Mau – Kiên Giang có tiềm năng lớn về dầu khí Một số bể trầm tích có triển vọng mà quan trọng nhất là bể Malay – Thổ Chu (khoảng 380 triệu m³ dầu quy đổi theo đánh giá của Pêtro Việt Nam) Với tiềm năng này, trên lãnh thổ của vùng đã hình thành cụm – khí – điện đạm Cà Mau và trung tâm điện lực Ô Môn

Ngày đăng: 03/10/2014, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Thị Hà, (2011), “Tìm hiểu về vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, Khóa luận, trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu về vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Tác giả: Trịnh Thị Hà
Năm: 2011
2. Lê Thông (chủ biên), (2009), Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, (tập 6), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, (tập 6)
Tác giả: Lê Thông (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
3. Lê Thông (chủ biên), (2009), Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thông (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
4. Lê Thông (chủ biên), (2011), Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Thông (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
5. Lê Thông – Nguyễn Quý Thao (chủ biên), (2012), Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm
Tác giả: Lê Thông – Nguyễn Quý Thao (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
6. Lê Thông (tổng chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên), (2013), Địa lý 12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý 12
Tác giả: Lê Thông (tổng chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
7. Ngô Đạt Tam – Nguyễn Quý Thao (chủ biên),(2010), Atlat địa lý Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlat địa lý Việt Nam
Tác giả: Ngô Đạt Tam – Nguyễn Quý Thao (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
8. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), (2011), Địa lý kinh tế - xã hội đại cương, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế - xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
9. Nguyễn Văn Quang, (1981), Phân vùng kinh tế, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
10. Ngần Thu Trang, (2010), “Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và những ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam”, Khóa luận, trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và những ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam”
Tác giả: Ngần Thu Trang
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT (Trang 4)
Bảng 1.1: Một số tiêu chí về 4 VKTTĐ ở Việt Nam năm 2010 - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 1.1 Một số tiêu chí về 4 VKTTĐ ở Việt Nam năm 2010 (Trang 22)
Bảng 2.3: Diện tích, dân số, mật độ dân số trung bình   của VKTTĐVĐBSCL, năm 2012 - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.3 Diện tích, dân số, mật độ dân số trung bình của VKTTĐVĐBSCL, năm 2012 (Trang 41)
Bảng 2.4: Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản  của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 - 2010 - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.4 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 50)
Bảng 2.5: Một số tiêu chí về sản xuất lúa của VKTTĐVĐBSCL   giai đoạn 2000 – 2012 - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.5 Một số tiêu chí về sản xuất lúa của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 – 2012 (Trang 51)
Bảng 2.7: Một số sản phẩm công nghiệp chính của VKTTĐVĐBSCL                                                                    năm 2010 - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.7 Một số sản phẩm công nghiệp chính của VKTTĐVĐBSCL năm 2010 (Trang 57)
Bảng 2.8: Tình hình vận tải của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 – 2011 - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.8 Tình hình vận tải của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 – 2011 (Trang 59)
Bảng 2.9: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 – 2012 theo giá thực tế - tìm hiểu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông cửu long
Bảng 2.9 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của VKTTĐVĐBSCL giai đoạn 2000 – 2012 theo giá thực tế (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w