1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án tiên sĩ con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn việt nam sau 1975

28 779 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 309,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu chung về con người cá nhân và vai trò, vị thế của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

CON NG-êi c¸ nh©n trong tiÓu thuyÕt

Vµ truyÖn ng¾n viÖt nam sau 1975

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 62.22.01.21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS Nguyễn Văn Long

- Thư viện Đại học Quốc gia

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

1 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2008), “Khai thác yếu tố ngôn ngữ trong giảng

dạy văn học Việt Nam sau 1975”, Tạp chí giáo dục, số 189, tr 40-42

2 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2008), “Cái hài và bi kịch của người trí thức trong

truyện ngắn Vũ điệu của cái bô”, Tạp chí nhà văn, số 4, tr 78-84

3 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2010), “Về người kể chuyện trong Cánh đồng bất tận”, Kỉ yếu Hội nghị khoa học Nghiên cứu sinh, Trường Đại học sư phạm

Hà Nội, lần thứ II, tập 1, tr 203-213

4 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Vài nét về con người tự vấn trong văn

xuôi Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Khoa học công nghệ, Trường Đại học Hùng Vương, số 22, tr 34-40

5 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Bản năng tính dục trong văn xuôi Việt Nam

sau 1975”, Tạp chí Khoa học công nghệ, Trường Đại học Hùng Vương, số 23,

tr 44-50

6 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Con người cô đơn trong văn xuôi Việt

Nam sau 1975”, Kỉ yếu Hội nghị khoa học trẻ, lần thứ VII, năm 2012, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, NXB Đại học sư phạm, tr 273-282

7 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Con người kiếm tìm trong văn xuôi Việt

Nam sau 1975”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, số

19, tr 18-29

8 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Chiếc thuyền ngoài xa – Con người cá

nhân trong cuộc mưu sinh”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, tháng 10.2012,

tr 46-49

9 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Thủ pháp phi điển hình hóa trong một số tiểu

thuyết Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Văn nghệ quân đội (761), tr 102-105

10 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Con người cá nhân trong văn xuôi Việt

Nam sau 1975 – từ điểm nhìn không gian”, Tạp chí Giáo dục (số đặc biệt, tháng 10.2012), tr 54-58

11 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Con người tâm linh trong văn xuôi Việt

Nam sau 1975”, Tạp chí Giáo dục (số đặc biệt, tháng 10.2012), tr 59-62

12 Nguyễn Thị Thúy Hằng (2012), “Kết cấu phân mảnh, một sáng tạo trong cách thức thể hiện con người (Khảo sát qua văn xuôi Việt Nam sau 1975)”, Kỉ yếu hội thảo khoa học các trường Cao đẳng, đại học cụm

Trung Bắc, lần thứ IX, tr 228-230

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, đất nước bước sang thời bình với những biến chuyển lớn lao về kinh tế, văn hóa, xã hội Đây cũng là một thời điểm quan trọng mở ra một giai đoạn phát triển mới của văn học dân tộc Sự phát triển vượt trội của hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn đưa văn xuôi lên vị trí “thống trị” văn đàn, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra gương mặt mới cho văn học sau 1975

1.2 Cuộc sống thời bình tạo điều kiện cho con người trở lại với nhu cầu tự nhiên, cùng với những chủ trương mở cửa, hội nhập về kinh tế và từng bước mở rộng giao lưu văn hóa với thế giới đã thúc đẩy sự xuất hiện trở lại của ý thức cá nhân, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng và sự sáng tạo của nhà văn Trong sự đổi mới ý thức nghệ thuật thì sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi Vượt qua nhận thức hạn hẹp, giản đơn về con người, văn học sau 1975 nhìn nhận nó như một thực thể phức tạp và còn đầy bí ẩn Con người được khám phá

ở nhiều vị thế, trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ, được soi chiếu dưới nhiều bình diện, tầng bậc khác nhau Con người được nhìn nhận như một cá thể, một số phận giữa cuộc sống đời thường

Sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người làm biến đổi mọi bình diện của sáng tác, từ cảm hứng, chủ đề, hệ thống nhân vật đến cơ cấu thể loại Mấu chốt của những đổi mới này suy cho cùng vẫn xuất phát từ ý thức về cá nhân

và quan niệm con người cá nhân, cá thể Con người cá nhân trong tiểu thuyết và

truyện ngắn Việt Nam sau 1975 vì vậy là một đối tượng khảo sát, nghiên cứu thực

sự cần thiết Đi sâu vào vấn đề này, luận án có cơ hội tiếp cận và lí giải đặc điểm

cơ bản chi phối sự biến đổi trên các phương diện nội dung và nghệ thuật của văn xuôi sau 1975

1.3 Sự trở lại của con người cá nhân ở văn học đương đại là tiếp nối tinh thần nhân bản của truyền thống văn học dân tộc, gắn với quá trình trưởng thành

ý thức cá nhân trong những điều kiện văn hóa, lịch sử mới

1.4 Văn xuôi sau 1975 ngày càng có vị trí đáng kể trong chương trình hầu hết các cấp học, bậc học Tìm hiểu những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này từ góc độ con người cá nhân là mở ra một hướng tiếp cận với những giá trị nền tảng

của nền văn học đang trên hành trình phát triển Việc nghiên cứu Con người cá

nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 do đó không chỉ có ý

nghĩa khoa học mà còn mang tính thời sự, tính thực tiễn đối với người học, người dạy

Trang 5

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn Con người cá nhân trong tiểu thuyết

và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 làm đề tài nghiên cứu của luận án này

2 Lịch sử nghiên cứu

Văn xuôi sau 1975 đã được nghiên cứu ở cấp độ tổng quan và nhiều hơn ở

cấp độ cụ thể, về mặt thi pháp tác gia, tác phẩm Con người cá nhân trong tiểu

thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975 là một định hướng nghiên cứu chuyên

biệt Đã có một số chuyên luận, bài báo và các tài liệu trong phạm vi nhà trường có đặt vấn đề về con người cá nhân hoặc trên phương diện đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, hoặc đi vào nghiên cứu hình tượng nhân vật cụ thể trong sáng tác của các nhà văn

2.1 Những nghiên cứu chung về con người cá nhân và vai trò, vị thế của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau

1975

Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975 đã được các nhà nghiên cứu quan tâm trên phương diện tổng quan, bắt đầu từ những năm tám mươi, thế kỉ XX Nhìn chung, các tác giả đều đồng thuận cho rằng: con người cá nhân được xem là hạt nhân trong sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Và sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết và truyện ngắn làm biến đổi mọi bình diện của sáng tác, từ cảm hứng, chủ đề, hệ thống nhân vật đến cấu trúc thể loại (Các công trình, bài viết của Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Bình, Bùi Việt Thắng, Vũ Tuấn Anh, Bích Thu…)

2.2 Về những phương diện biểu hiện của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975

Theo quan sát của chúng tôi, các nhà nghiên cứu gặp gỡ nhau ở cái nhìn nhiều chiều về con người, trong sự đa bội của chính nó, phong phú, phức tạp và sinh động, đúng như bản chất con người

Tác giả Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh đến các kiểu người: con người như sản phẩm của lịch sử, con người duy ý chí, ảo tưởng, con người mang thuộc tính nhân loại, con người là sản phẩm của tự nhiên và con người của đời sống tâm linh Nguyễn Văn Long chú ý đến vị thế, tính đa chiều trong cách khám phá và thể hiện con người của tiểu thuyết và truyện ngắn Mai Hải Oanh phân tích, lí giải các loại hình nhân vật chính trong tiểu thuyết sau 1975 như nhân vật tự ý thức, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa, nhân vật dị biệt Quan tâm đến con người trong cấu trúc bản thể, các tác giả khác

Trang 6

bước đầu đặt vấn đề về các loại hình nhân vật: con người tự thú, sám hối,

tự ý thức (Tôn Phương Lan, Mai Hải Oanh), con người tự nhiên, tâm linh

và con người xã hội (Bích Thu) Con người với cảm thức cô đơn, cảm thức

lạc loài thu hút nhiều sự quan tâm nhất của các nhà nghiên cứu (Bùi Việt Thắng, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu, Tôn Phương Lan, Lê Thị Hường, Trần Hạnh Mai …) Nhân vật tự nhiên bản năng, nhân vật kì ảo, nhân vật gắn liền với các yếu tố vô thức tiềm thức, tâm linh cũng được nhắc tới trong một số công trình chung về văn xuôi sau 1975 và ở một số chuyên đề, bài báo khác (Nguyễn Thị Bình, Võ Thị Thanh Hà, Mai Hải Oanh, Bùi Thanh Truyền) Các nhà nghiên cứu khẳng định tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1975

đã nhìn nhận con người với cả ở những khát vọng bản năng, tầng sâu vô thức

Thế giới nhân vật vô cùng đa dạng và mỗi nhà nghiên cứu đều có cách tiếp cận riêng ở những góc độ nhất định Trong phạm vi luận án, chúng tôi mới chỉ bao quát những ý kiến, những nhận định chung về tiểu thuyết và truyện ngắn Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu luận giải về thế giới nhân vật của những tác giả, tác phẩm cụ thể Sự quan tâm đến con người cá nhân trong các công trình nói trên là những gợi dẫn cần thiết cho chúng tôi khi đi sâu vào vấn đề này

2.3 Về các phương thức nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975

Đổi mới trên phương diện nghệ thuật thể hiện được rất nhiều bài báo, công trình, các chuyên luận quan tâm Tuy nhiên, nhìn nó như là kết quả của ý thức về con người cá nhân thì chưa có công trình nào trực tiếp luận giải Nguyễn Thị Bình khẳng định văn xuôi nước ta từ sau 1975 đã quan tâm đến “không gian mang tính cá nhân” và “thời gian sự kiện ngắn”; “thời gian tâm lí, thời gian hồi tưởng” Nguyễn Văn Long cho rằng: “Sự khám phá vào thế giới tiềm thức, vô thức, đời sống tâm linh đã dẫn đến nhiều phương thức biểu đạt mới, như dòng ý thức, huyền ảo hóa” Còn Mai Hải Oanh nhấn mạnh: “việc vận dụng kĩ thuật dòng ý thức, sử dụng huyền thoại, phi lí… nhằm miêu tả tính đa diện của nhân vật chính là những nỗ lực hiện đại hóa tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam” Bích Thu đặc biệt quan tâm đến thủ pháp độc thoại nội tâm với nhiều dạng thể hiện độc đáo…

Chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu, phê bình thể đã hiện mối quan tâm sâu sắc tới hình tượng con người cá nhân, coi con người cá nhân chính là cốt

Trang 7

lõi của sự đổi mới văn xuôi sau 1975 Các phương diện và phương tiện thể hiện con người cá nhân cũng đã được bàn đến, tuy nhiên mới chỉ ở mức độ khảo cứu ban đầu Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực

diện, hệ thống vấn đề Con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt

Nam sau 1975 Kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan tới đề tài, tập trung

nghiên cứu một cách có hệ thống các bình diện của con người cá nhân và những

phương thức nghệ thuật thể hiện là nhiệm vụ chúng tôi đặt ra trong luận án

3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi tư liệu khảo sát, nghiên cứu của đề tài là các tiểu thuyết, truyện ngắn từ sau 1975, đặc biệt là từ 1986 đến những năm gần đây Nhưng do số lượng tác phẩm của hai thể loại này từ sau 1975 là quá lớn, luận án dành sự ưu tiên cho những sáng tác nổi bật, có ý thức tự giác trong nhìn nhận và đánh giá con người cá nhân Sự lựa chọn này phù hợp với dung lượng, thời gian thực hiện

đề tài

Nhằm làm rõ con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn từ sau

1975, cần sự đối sánh với văn học đoạn trước đó Vì vậy, đề tài mở rộng phạm vi

tư liệu khảo sát đến văn xuôi trước 1975 trong những trường hợp cần thiết

4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án đề ra mục tiêu nhận diện, phân tích các dạng cơ bản của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975, từ đó khẳng định và lí giải sự xuất hiện trở lại của con người cá nhân, đồng thời chỉ ra những đổi mới nghệ thuật tự sự trên phương diện thể hiện con người cá nhân ở hai thể loại này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.2.1 Xây dựng cơ sở lí luận của đề tài, cụ thể là xác định khái niệm công

cụ: con người cá nhân

4.2.2 Tìm hiểu những tiền đề xuất hiện trở lại và sự vận động của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

4.2.3 Phân tích các dạng biểu hiện cơ bản của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Trang 8

4.2.4 Phân tích những đổi mới trong nghệ thuật thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau

đây: Phương pháp loại hình, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp

so sánh, phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại Ngoài ra,

chúng tôi còn vận dụng phương pháp liên ngành Sự phối kết hợp các phương

pháp xã hội học, văn hóa học, tâm lí học… trong quá trình nghiên cứu giúp

chúng tôi đáp ứng tốt hơn mục tiêu của luận án

6 Những đóng góp mới của luận án

6.1 Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên biệt và

tương đối toàn diện về con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt

Nam sau 1975; nhận diện và phân tích những dạng thức cơ bản của con người cá

nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975; chỉ ra những cách tân của nghệ thuật tự sự trên phương diện thể hiện con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

6.2 Từ việc nghiên cứu về con người cá nhân, luận án góp phần khẳng định sự đổi mới của văn xuôi sau 1975 ở một bình diện cơ bản trong quan niệm

và thế giới nghệ thuật

6.3 Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu

và giảng dạy văn học Việt Nam sau 1975 tại các trường phổ thông, cao đẳng và đại học

7 Giới thiệu bố cục luận án

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận án có 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Quan niệm Con người cá nhân - Tiền đề xuất hiện trở lại

và sự vận động của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Chương 2: Những kiểu con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Chương 3: Con người cá nhân và những đổi mới nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM CON NGƯỜI CÁ NHÂN - TIỀN ĐỀ XUẤT HIỆN

Trang 9

TRỞ LẠI VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG TIỂU THUYẾT VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975

1.1 Quan niệm “con người cá nhân”

1.1.1 “Con người” và bản chất của con người

Luận án điểm lại quan niệm con người trong những học thuyết triết học, Tâm lí học, từ đó đi đến khái quát: con người là một thực thể, một sản phẩm của tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, nhìn nhận về bản chất con người cũng có hai xu hướng chính: một đề cao yếu tố tự nhiên, bản chất tự nhiên; một nhấn mạnh vào bản chất xã hội, ý thức xã hội của con người

1.1.2 Quan niệm “con người cá nhân” và quá trình phát triển của con người cá nhân trong lịch sử

Con người cá nhân là con người được biểu hiện trong phẩm chất sinh lí

và tâm lí riêng biệt; gắn liền với ý thức về bản thể, về cá tính, về sự sống của bản thân Đó là ý thức về cái tôi với sự độc lập tương đối trong hành động, suy nghĩ, tình cảm, là ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ mà nó đặt ra cho chính bản thân mình Cái tôi ấy có khả năng phản tỉnh, phê phán, khả năng hành động, thực hiện khát vọng của riêng nó Cái tôi đó – với trải nghiệm riêng biệt, mang tính cá thể - nên nó cũng nhiều khả năng sai lầm, ấu trĩ hoặc vấp váp trong hành động, nhưng đó lại chính là động cơ thúc đẩy hành động tiếp theo của cái tôi

Và trong thế giới của riêng nó, cái tôi dễ rơi vào cảm thức cô đơn, trống trải

Con người cá nhân có lịch sử hình thành và quá trình phát triển của

nó Các nhà nghiên cứu cơ bản thống nhất trong quan điểm: cá nhân xuất hiện đã lâu Nó được thể hiện hết sức khác nhau và mang tính đặc thù trong mỗi thời đại lịch sử Tuy nhiên, phải đến thế kỉ Ánh sáng, nó mới thực sự được ý thức đầy đủ Từ đó về sau, ý thức cá nhân đã phát triển gắn liền với sự phát triển của xã hội Trong mỗi không quyển văn hóa đặc thù, ý thức cá nhân luôn có những đặc tính riêng nổi trội Điều đó được phản chiếu khá rõ trong văn học Thời hiện đại, quan niệm về con người cá nhân được mở rộng trong quá trình tiếp tục đào sâu khám phá bản thể, tạo ra những giá trị độc đáo hơn về con người

1.2 Con người cá nhân trong văn học Việt Nam trước 1975 – một cái nhìn khái quát

Luận án khái quát những đặc điểm cơ bản nhất về con người cá nhân trong văn học trước 1975 nhằm làm rõ một trong những tiền đề cho sự phát triển của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975

Trang 10

1.2.1 Con người cá nhân trong văn học cổ trung đại

Trong suốt 10 thế kỉ tồn tại, xã hội phong kiến Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khi hưng thịnh, khi khủng hoảng nhưng vẫn có một môi trường văn hóa đặc thù với sự hòa trộn của hai yếu tố nội sinh và ngoại nhập, chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Phật, Nho và Đạo, hình thành những quan niệm

vũ trụ, nhân sinh và thẩm mĩ đặc trưng Môi trường xã hội – lịch sử và văn hóa nói trên giúp chúng ta tìm hiểu và lí giải những biểu hiện cũng như đặc điểm của con người cá nhân trong hành trình văn học mười thế kỉ

Thời Lí - Trần, phổ biến nhất vẫn là con người trung nghĩa, yêu nước, con người bổn phận, trung quân ái quốc, chưa chịu sự ràng buộc chặt chẽ của Nho giáo, còn đầy tinh thần tự chủ, tiến thủ, tích cực kiểu Thiền Tông hoặc con người vô ngôn, vô ngã, tự do, phá chấp theo giáo lí nhà Phật Lí tưởng độc lập chủ quyền là cái đích của các cá nhân anh hùng thời đại Giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII, con người cá nhân xuất hiện dưới các hình thức chính: hoặc là công thần trung quân ái quốc, hoặc lìa bỏ công danh, thị phi, lánh đục về nhàn, hoặc đắm theo tiếng gọi của bản năng sắc dục (tiêu biểu là tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ) Thế kỉ XVIII

- XIX, con người cá nhân được khẳng định qua các nhu cầu sống, nhu cầu hạnh phúc, qua khát vọng công danh, hành lạc, phóng túng ngoài những khuôn khổ giáo điều (trong tác phẩm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát) Cái tôi bất lực, cười cợt, giễu nhại, tự trào đối với chính mình và thời cuộc (Nguyễn Khuyến, Tú Xương) là hai cái tôi điển hình nhất, biểu trưng cho tâm thế đổ

vỡ của con người giai đoạn lịch sử nhiều biến động cuối thế kỉ XIX, đầu thế

kỉ XX Có thể khẳng định, trong lịch sử văn học Việt Nam, con người xã hội - nghĩa vụ được ý thức trước, con người tự nhiên được ý thức sau và phải qua một quá trình vận động với nhiều giai đoạn để đi tới nhận thức đầy đủ về nó

1.2.2 Con người cá nhân trong văn học hiện đại

Bắt đầu từ thế kỉ XX, văn học Việt Nam đã chuyển dần từ phạm trù trung đại sang hiện đại Trong bối cảnh lịch sử mới, văn hóa mới, ý thức cá nhân phát triển mạnh mẽ và mang những sắc thái riêng biệt

1.2.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Trong giai đoạn này, xã hội Việt Nam với những biến động lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa đã dẫn đến sự xuất hiện kiểu con người cá nhân mang tính hiện đại với ý thức mới về cá nhân

Trang 11

Ở giai đoạn đầu, ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ, thể hiện khá đậm đặc trong các sáng tác thuộc khuynh hướng lãng mạn Đầu tiên là Tản Đà và sau

đó là phong trào Thơ Mới làm náo động thi đàn bởi cái tôi khao khát mãnh liệt được sống thực là mình, với mọi cảm xúc, mọi rung động trong tình yêu, trước

vẻ đẹp của tự nhiên Trong lĩnh vực văn xuôi, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn cũng thực hiện một cuộc “cách mạng” táo bạo trong tư tưởng và nghệ thuật Ý thức về con người cá nhân đã được nâng lên thành một vấn đề xã hội Đó là khát vọng bài trừ Nho giáo, vượt lên trên những ràng buộc của xã hội phong kiến; giương cao lá cờ tự do yêu đương và tự do hôn nhân; ý thức về sự bình đẳng giới, về quyền bảo vệ nhân phẩm và danh dự; tìm sự giải thoát trong tình yêu, trong những ước mơ cải cách xã hội Trong giai đoạn đầu của trào lưu văn học hiện thực, các nhà văn dành mối quan tâm cho con người giai cấp Đến Nam Cao, ý thức cá nhân đã thực sự phát triển Nhiều tác phẩm của Nam Cao thể hiện

sự bừng tỉnh sâu sắc về giá trị cá nhân trong thái độ nghiêm túc nhìn lại, mổ xẻ hành vi, nhìn nhận những gì mình đã làm được và những gì mình đang khao khát

Nhìn lại thòi kì văn học, có thể nhận thấy ý thức cá nhân được phát triển theo chiều hướng từ con người cá thể đến con người bản thể, đạt được đến chiều sâu của giá trị nhân bản

1.2.2.2 Giai đoạn từ 1945 – 1975

(*) Văn học cách mạng

Hai cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ đã cuốn dân tộc Việt Nam, muôn người như một vào mặt trận chống giặc ngoại xâm và xây dựng chủ nghĩa xã hội Chiến tranh tạo nên gương mặt mới cho lịch sử dân tộc: gương mặt chiến tranh với màu sắc sử thi bi tráng Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã tác động đến sự thức tỉnh của con người về sức mạnh và giá trị cộng đồng Cái tôi cá nhân – cá thể gần như bị phủ nhận Cái tôi đã hòa vào cái ta Con người tìm thấy mình trong tập thể Những dằn vặt, đau khổ, mất mát của cá nhân gần như được xếp lại sau nhiệm

vụ chung Mọi nguyên tắc ứng xử của mỗi người đều dựa trên lợi ích cách mạng Thời kì chống Mỹ, cái tôi cộng đồng đã phát triển thành cái tôi sử thi, kết tinh cao độ phẩm chất, khát vọng, ý chí, sức mạnh của dân tộc Con người trở thành những biểu tượng của cộng đồng, được ngưỡng vọng Đời sống riêng tư trở thành một phần của đời sống chung Con người quên bản thân để hi sinh cho cộng đồng một cách thanh thản, nhẹ nhõm Cũng đã có lúc các nhà văn “chạm

Trang 12

đến” cái riêng của con người cá nhân Tuy nhiên, đó chỉ là những biểu hiện khá mỏng manh so với những tượng đài sử thi bất tử Hơn thế nữa, cái riêng ấy đều được xem như là những biểu hiện tiêu cực, lạc lõng trước cái chung của cộng đồng Có thể nói, thì con người cá nhân đã không còn là mối quan tâm của văn học ba mươi năm vệ quốc, nó đã được thay thế bằng con người cộng đồng, con người sử thi

(*) Văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975

Văn học đô thị miền Nam trong giai đoạn này tồn tại trong một môi trường văn hóa xã hội, chính trị đặc thù, chịu sự tác động mạnh mẽ của cuộc chiến tranh, cùng với những ảnh hưởng trực tiếp của các hệ tư tưởng, văn hóa phương Tây nên có diện mạo không thuần nhất, phức tạp Ý thức

cá nhân được phát triển khá mạnh mẽ trong văn học với những biểu hiện đa dạng, vừa mang dấu ấn trực tiếp của hoàn cảnh xã hội, thời đại, vừa in đậm dấu ấn của các trào lưu tư tưởng trong văn học hiện đại phương Tây như chủ nghĩa hiện sinh, lý thuyết phân tâm học…

Viết về con người, các nhà văn đô thị miền Nam quan tâm phản ánh cái bé nhỏ, mong manh của kiếp người với muôn vàn đau khổ, cô đơn, chia lìa, những cái chết, sự vô nghĩa chán chường, nổi loạn… Có thể nhận ra con người cá nhân trong văn xuôi đô thị miền Nam 1954 – 1975 được khám phá dưới những dạng chính: con người cô độc, con người nổi loạn, con người bản năng và ý thức về nữ quyền

+) Con người cô độc:

Nhiều tác phẩm viết về nỗi cô đơn cùng cực khi con người bị chối bỏ trong gia đình, khi bị đổ vỡ niềm tin, rơi vào tình thế tuyệt vọng và luôn bị

ám ảnh bởi cái chết (Ngày qua bóng tối – Nguyễn Thị Hoàng; Chim hót

trong lồng - Nhật Tiến, Mưa trên cây sầu đông – Nhã Ca…)

+) Con người nổi loạn:

Sự hoài nghi, nỗi thất vọng tạo ra con người nổi loạn, nổi loạn trong

tư tưởng và nổi loạn trong hành động Con người luôn ngờ vực, thắc mắc,

dằn vặt, chán chường và bất tín với tất cả (Vực nước mắt – Nguyễn Thị Hoàng, Thú hoang – Nguyễn Thị Thụy Vũ) Con người có thể trốn chạy

khỏi gia đình, hoặc bất cần, hoặc phá phách, hoặc hành động ngược lại quan niệm thông thường mà không màng tới hậu quả, thậm chí sống bất

chấp, thác loạn, điên rồ (Con đường – Nguyễn Đình Toàn, Mù khơi –Thanh Tâm Tuyền, Sám hối – Minh Đức Hoài Trinh, Tóc mây – Lệ Hằng)

Trang 13

+) Con người bản năng:

Thể hiện con người trong yếu tố bản năng, nhiều tác giả tập trung khai thác những ham muốn, ẩn ức dục tình Một số tác giả nữ mạnh dạn thể hiện xúc cảm ái ân, đặc biệt là ý thức đả phá quan niệm “tòng thuộc”, khẳng định quyền được làm chủ, ngay cả trong những chuyện riêng tư nhất

(Ngày qua bóng tối, Vòng tay học trò – Nguyễn Thị Hoàng, Hơi thở rướn cong - Túy Hồng), Nhang tàn thắp khuya - Thụy Vũ)…

Nhìn tổng quát, con người cá nhân thể hiện khá rõ trong văn học

Việt Nam từ đầu thế kỉ XX Tùy vào từng giai thời cụ thể mà màu sắc cá nhân có những biểu hiện rất khác nhau Riêng giai đoạn 1945 – 1975, do đặc điểm của một nền văn học vệ quốc, sự thể hiện con người cá nhân trong văn học miền Bắc gần như “đứt gãy” bởi sự lấn át của con người sử thi Văn học đô thị miền Nam đã ít nhiều tái hiện chân dung con người cá nhân trong một thời kì đặc biệt của lịch sử

1.3 Bối cảnh lịch sử, văn hóa mới sau 1975 và sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người

1.3.1 Hoàn cảnh thời bình tạo điều kiện nảy sinh những nhu cầu mới,

những quan niệm thẩm mĩ mới hình thành nên những lớp công chúng mới Ý thức cá nhân đã được đánh thức trở lại với những đòi hỏi cụ thể, bình thường nhất Toàn cầu hóa đã mở ra nhận thức mới cho con người Việt Nam hôm nay Cái nhìn

về con người từ đó cũng thay đổi; sự mở rộng sự giao lưu, tiếp nhận ảnh hưởng của nhiều nền văn học trên thế giới; những định hướng phát triển văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước ta đã thực sự thúc đẩy công cuộc đổi mới văn học theo tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Tất cả những yếu tố nói trên đã làm biến đổi ý thức nghệ thuật của nhà văn, cả của công chúng văn học Trung tâm của sự đổi mới ý thức nghệ thuật đó chính là đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi Trên văn đàn, xuất hiện

ngày càng nhiều những tác phẩm mang cảm hứng nghiên cứu về con người, lấy con người làm tâm điểm quy chiếu lịch sử Văn xuôi đã thực sự có nhiều phát hiện phong phú về con người và điều đó khẳng định bước trưởng thành của tư duy nghệ thuật Con người đã được khám phá với muôn vàn

“khuôn mặt” sáng, tối; đa ngã, phức tạp, bí ẩn… Như vậy, văn học trong

tiến trình phát triển của nó, từ mối quan tâm trọng yếu là cuộc – sống – của

Trang 14

– con – người đã chuyển đổi thành mối quan tâm con - người – của – chính – con – người Văn học thực sự trở thành “khoa học của lòng người”

1.4 Khái quát về sự vận động của con người cá nhân trong tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Khảo sát trên những nét lớn về con người cá nhân, chúng tôi thấy sự vận động của con người cá nhân trong tiểu thuyết và truyện ngắn sau 1975 được thể hiện qua ba chặng đường lớn: từ 1975 đến 1985, từ 1986 đến đầu những năm 90, từ giữa những năm 90 đến nay

Từ 1975 đến 1985, về cơ bản tiểu thuyết và truyện ngắn vẫn gắn bó với

truyền thống, lịch sử vẫn là tiêu điểm quy chiếu Tuy nhiên đã bắt đầu có sự trở lại của con người cá nhân với sự thức tỉnh những nhu cầu của đời sống riêng tư, những trăn trở trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng (Tác phẩm của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Dương Thu Hương, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,

…)

Từ giữa những năm 80 đến những năm đầu của thập kỉ 90, tiểu thuyết

và truyện ngắn thể hiện những khám phá tự giác hướng vào chiều sâu bản thể con người Con người cá nhân hiện lên với nhiều phương diện, tầng bậc Bên cạnh việc tiếp tục chỉ ra một cách thấm thía bi kịch cá nhân dưới áp lực của lịch sử, cộng đồng, con người được thể hiện trong chiều sâu bản ngã: con người cô đơn, lạc loài; con người bản năng tự nhiên cùng với con người

tâm linh, vô thức (Một cõi nhân gian bé tí, Đám cưới không có giấy giá thú,

Tướng về hưu, Không có vua, Ăn mày dĩ vãng, Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma…)

Từ giữa những năm 90 đến nay con người cá nhân có thêm sắc thái mới:

con người được nhận thức ở sự phức tạp, tính đa trị và nhất là ở nguy cơ nhòe

mờ cá tính, ở sự cô độc, mất phương hướng, mất khả năng giao tiếp, giao cảm

Đó là cảnh báo về sự biến mất của cái tôi Điều này thể hiện khá rõ trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư, Đoàn Minh Phượng, Thuận,…

Không nằm ngoài lộ trình trưởng thành của văn xuôi, con người cá nhân cũng được thể hiện trong quá trình vận động phù hợp với từng giai đoạn lịch

sử Với cái nhìn linh hoạt và toàn diện về con người, văn xuôi sau 1975 đã minh chứng một điều: nhà văn không chỉ biết yêu, không chỉ hiểu con người

mà còn biết “buồn và đau cho con người, vì con người theo tinh thần “tôi là con người, và không cái gì thuộc về con người lại xa lạ với tôi”

Ngày đăng: 03/10/2014, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w