Đề tổng kết một chặng đường lịch sử suốt 10 năm Đảng lãnh đạo xây đựng và phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà tôi quyết định chọn đề tài:
Trang 1Với tắm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn Th.S Trần Thế Vĩnh đó tận tình giúp đỡ tôi về mặt chuyên môn, hướng nghiên cứu, cách tổ chức, triển khai và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tại Trường
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và người
thân đó giúp đỡ, tạo điều kiện giúp cho tôi rất nhiều mặt trong khóa học
của mình
Hà nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả Nguyễn Như Nguyệt
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Th.S Trần Thế Vĩnh Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi chưa được công bố trên bắt kỳ công trình nào
Hà nội, tháng 5 năm 2012
Tác giả Nguyễn Như Nguyệt
Trang 4MỞ ĐẦU 5c 5c SE 17111111111 11T1E 1111111111 T1 T1 cư rệt 1 NỘI DƯNG 5c St E2 E2 1211121112111211211211211111 1111111111111 11tr 9 Chuong 1 QUAN DIEM CUA CHU NGHIA MAC - LÊNIN VÀ TƯ TUONG HO CHi MINH VE XAY DUNG VA PHAT TRIEN KINH TE
Chuong 2 QUA TRINH DANG LANH DAO PHAT TRIEN KINH TE
TRONG NHUNG NAM TU 1996 DEN 2006 sscssssessssessssessssescsseceseceeseeesses 21
2.1 NHAN THUC CUA DANG VE LANH DAO SU PHAT TRIEN
2.2 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIEN KINH TE TRUGC NAM 1996 2-2¿©22+©c+eccxercrxeerrxee 22
2.2.1 Quá trình Đảng lãnh đạo phái triển kinh tế từ 1945- 1954 23 2.2.2 Quá trình Đảng lãnh đạo phái triển kinh tế từ 1954- 1975 2.2.3 Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1975 - 1985
2.2.4 Quá trình Đảng lãnh đạo phái triển kinh tế từ 1985 - 1995 2.3 CHU TRUONG, DUONG LOI CUA DANG DE LANH DAO
PHAT TRIEN KINH TE TRONG NHUNG NAM 1996 - 2006 37
2.4 MOT SO THANH TUU, HAN CHE QUA QUA TRINH DANG
LANH DAO PHAT TRIEN KINH TE TRONG NHUNG NAM (1996
P85 nốốốốỐốỐốẦỐ 56 24.2 Han CUE cerecceccvscressesssessessessusssessucsuseseceussusenessucsasesectucsussueerucsusenecsecens 61
2.4.3 Một số bài học kinh nghiệm về công tác lãnh đạo phát triển kinh tế
.ỀT4111111111111111 111111 TT TT TT TT TT TT TT TT TT TH ng re 63 KẾT LUẬN 6-Gc Set tk SE kE SE E171 11111111111111111 11211111111 Excr, 66
TAI LIEU THAM KHAO 70
Trang 51 Ly do chon dé tai
Đáng Cộng sản Việt Nam là một đảng cầm quyền, nghĩa là lãnh đạo nhà nước thực thi quyền lực chính trị nhằm hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của Đảng Trong quá trình Đảng cầm quyền thì lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trung
tâm trong toàn bộ sự nghiệp lãnh đạo của mình Kinh tế sẽ tạo ra cái cốt vật
chất để nâng đỡ toàn bộ các giá trị khác của xã hội, từ chính trị đến văn hóa,
xã hội Chính vì tầm quan trọng đó mà lãnh đạo kinh tế là một trách nhiệm nặng nè đối với Đảng ta, đòi hỏi Đảng ta phải có đủ bản lĩnh chính trị và tư duy thực tiễn đúng đắn để làm tròn sứ mệnh lịch sử to lớn của mình
Trong toàn bộ quá trình lãnh đạo kinh tế của Đảng đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn, làm thay đổi điện mạo kinh tế nước nhà Song bên cạnh đó, cũng bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập lớn Đề tổng kết một chặng đường lịch
sử suốt 10 năm Đảng lãnh đạo xây đựng và phát triển kinh tế Việt Nam trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà tôi quyết định chọn đề tài:
Đảng Công sản Viêt Nam — lãnh đạo sư nghiêp phát triển kinh tẾ trong những năm (1996 - 2006)” làm khóa luận tốt nghiệp hệ Cử nhân, chuyên ngành Lịch sử Đảng
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Lãnh đạo phát triển kinh tế ở Việt Nam là một đề tài khá rộng, đã được nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu ở nhiều phương diện, nhiều góc độ Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đã
có những tác phẩm, những bài viết về công cuộc lãnh đạo phát triển kinh tế như: “Đổi mới tư duy nông nghiệp phải thực sự là mặt trận kinh té hang dau” của Hữu Thọ (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987); “Mội số quan điểm về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý kinh tế” của GS TS Pham Văn Nghiêm (Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993); “Đối mới và thực hiện đồng bộ các chính
Trang 6Vũ Đình Bách, GS TS Ngô Đình Giao, GS TS Phạm Văn Nghiêm, GS
Hoàng Đạt (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Đổi mới chính sách và
cơ chế quản lý kinh tế bdo dam su tang trưởng kinh tế bền vững” của Vũ Đình Bách, Ngô Đình Giao (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); “Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tiêu dùng xã hội trong ngân sách nhà nước ” của Nguyễn Văn Châu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đối mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
của PGS Nguyễn Hải Hữu (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); “Đổi mới
kinh tẾ và phát triển” của Vũ Tuân Anh, Tạp chí Khoa học - xã hội, 1994;
“Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam” của Lê Đăng
Doanh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); “Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tẾ” của TS Hồ Sĩ Lộc, Tạp chí Khoa học - Công nghệ, 2001; “Quản lý thị trường đối với nên kinh tẾ nước ta” của Luật gia Nguyễn Đức Thịnh, Tạp chí Thương mại, 2001;
Các tác phẩm và bài viết trên đề cập đến nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau về quá trình Đảng lãnh đạo kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nhưng chưa tác phẩm, bài viết nào nghiên cứu một cách có
hệ thống, dưới góc độ lịch sử về quá trình lãnh đạo kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam suốt từ 1996 đến 2006 Bởi vậy, khóa luận là sự kế thừa với mong muốn được góp phần bố sung những khoảng trống còn lại đó
3 Các nguồn tài liệu
Khi nghiên cứu đề tài này, người viết dựa vào những nguồn tài liệu sau:
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Đại hội của Đảng
và Hội nghị Trung ương Đang
- Các công trình, các bài báo, các báo cáo của các tác giả nghiên cứu về đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 74 Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo kinh tế Việt Nam (1996 - 2006)
- Tìm hiểu về quá trình hiện thực hóa đường lối kinh tế của Đảng trong cuộc sống Thông qua các thành tựu và hạn chế của kinh tế nước ta trong 10
năm Đảng lãnh đạo Qua đó, rút ra được những bài học kinh nghiệm chỉ đạo
Đảng Xét những thành tựu đạt được cụ thể trên từng lĩnh vực kinh tế trong
10 năm Qua đó, góp phần khăng định đường lối kinh tế của Đảng ta là đúng đắn và sáng tạo
* Nhiệm vụ: Đề đạt được những mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu quá trình đưa đường lối và bố sung đường lối lãnh đạo kinh
tế của Đảng suốt từ 1996 - 2006 và quá trình đưa đường lối vào cuộc sống để đường lối đó đạt được những thành tựu cụ thê trên từng lĩnh vực
- Góp phần khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo kinh tế 10 năm, qua đo xây dưng niềm tin tưởng hơn nữa vào vai trò lãnh đạo của Đáng và con đường đổi mới kinh tế mà Đảng đang tiến hành
* Giới hạn đề tài
Lãnh đạo kinh tế là một lĩnh vực rộng và sâu, nó bao hàm rất nhiều những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng Nhưng do trình độ bản thân còn
hạn chế nên khóa luận chỉ giới hạn vấn đề ở việc Đảng lãnh đạo kinh tế trong
những năm 1996 đến 2006 Trong đó, tập trung chủ yếu nghiên cứu đường lối
Trang 8lĩnh vực khác có liên quan đến phát triển kinh tế cùng với quá trình hiện thực hóa đường lối đó trong cuộc sống
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề nghiên cứu đề tài này, người viết sử đụng những phương pháp sau: Kết hợp phương pháp logic với phương pháp lịch sử Kết hợp phương pháp khái quát, hệ thống với những phương pháp khác như: mô tả, phân tích, chứng minh
Ngoài ra, còn dùng những phương pháp thống kê, so sánh, sử dụng các biểu
đồ, biểu bang dé thay rõ quá trình phát triển đường lối lãnh đạo kinh tế của Đảng
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 2
8 Đóng góp của khoá luận
Khang đinh vi trò của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế đặc biệt là trong
thời kỳ đối mới đã đưa nền kinh tế nược tavượt qua khó khăn thử thách tiến lên theo
đinh hươngXHCN, tạo nền tảng tư tưởng để phát triển kinh tế cho những thời kỳ tiếp theo đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, làm tư
liệu tham khảo cho các sinh viên khoá sau.
Trang 9Chuong 1
QUAN DIEM CUA CHU NGHIA MAC - LENIN VA
TU TUONG HO CHi MINH VE XAY DUNG VA PHAT TRIEN
KINH TE
1.1 QUAN DIEM CUA C.MAC, PH.ANGGHEN, V.I LENIN
C.Mác cùng với Ph.Ăngghen, được V.I.Lênin kế tục một cách xuất sắc,
đã sáng lập ra Chủ nghĩa xã hội khoa học Học thuyết đó là kim chỉ nam cho
cương lĩnh cách mạng và hoạt động thực tiễn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong toàn bộ quá trình tiến lên chủ nghĩa cộng sản Học thuyết
đó tạo ra lý luận và phương pháp luận cho tư duy và hoạt động của giai cấp công nhân, nhân dân lao động các nước trong sự nghiệp lật đỗ chế độ cũ, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản
Từ ngày mới thành lập đến nay, qua nhiều giai đoạn cách mạng khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn trung thành với chủ nghĩa Mắc - Lênin, vận dụng sáng tạo và ngày càng sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin vào
điều kiện Việt Nam Xét trên lĩnh vực kinh tế, học thuyết của Mác - Lênin
luôn là ngọn đèn pha cho việc giải quyết các vấn đề phức tạp đặt ra trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế
Lãnh đạo kinh tế là một việc làm trung tâm và tối quan trọng của Đảng Kinh tế tạo ra cái cốt vật chất để nâng đỡ toàn bộ xã hội Mác luôn nhắn mạnh rằng: Để xây dựng được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vững mạnh phải có một nền đại công nghiệp cơ khí với trình độ khoa học và công nghệ hiện đại, có khả năng cải tạo nông nghiệp, tạo ra những năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản Các ông cũng nhân mạnh thêm, sau khi phá tan xiềng xích của chủ nghĩa tư bản, phải bắt tay vào xây dựng một nền đại công nghiệp cơ khí
Trang 10hóa hiện đại và nền đại công nghiệp cơ khí ấy phải được xây dựng có kế hoạch, phải tạo ra khá năng vô hạn sản xuất xã hội, phá bỏ lối phân công lao động xã hội, xóa bỏ cách biệt giữa nông thôn và thành thị, đào tạo ra những người phát triển toàn diện, thỏa mãn những nhu cầu phát triển về vật chất và tinh thần ngày càng tăng lên của con người Rõ ràng, quan điểm của Mác hoàn toàn không đơn thuần chỉ có tính chất kinh tế mà nó bao hàm cả kinh tế và xã hội, hướng vào phát triển nhiều mặt, trong đó con người là trung tâm
Nhắc đến những đóng góp của Mác-Ăngghen trong lĩnh vực kinh tế thì ta không thể không nhắc tới bộ “Tư bản” Tác phẩm nỗi tiếng này đã đóng góp những lý luận về kinh tế quan trọng cho cả thế giới cũng như ở Việt Nam
Trong đề tài này, tôi xin được đưa ra một số luận điểm của bộ “Tư bản” về
kinh tế mà nó có ý nghĩa với kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập mở cửa trong xu thé toàn cầu hóa
Quan tâm đầu tiên trong quản lý kinh tế ở Việt Nam là chú ý quán triệt sâu sắc quy luật tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quá của Mác Có thể coi đây là xu thế phát triển kinh tế của tất cả các nước XHCN Mác viết: “tiết kiệm thời gian, kế cả việc phân phối một cách có kế hoạch, thời gian lao động và những ngành sản xuất khác nhau vẫn là quy luật kinh tế hàng đầu trên cơ sở sản xuất cộng đồng Nó lại còn là quy luật ở một
A?
mức độ cao hơn nhiều” [2, tr.89] Tiết kiệm được Mác coi là một quy luật, là vấn đề trung tâm để phát triển kinh tế, phát triển xã hội và con người mới Mác vạch rõ mối quan hệ biện chứng giữa tiết kiệm thời gian với phát triển sức sản xuất thỏa mãn nhu cầu của con người một cách hợp lý nhất Trong thực tế thì Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng ta cũng đã khẳng định: Tiết kiệm là một quốc sách lớn, lâu dài phải được quy định thành chính sách, chế độ, chỉ tiêu, biện pháp cu thể,
Trang 11Quy luật thứ hai mà Mác-Ănghen nhắc tới trong quản lý kinh tế đó là phân phối phải theo lao động Đó là nguyên tắc phân phối chủ yếu của CNXH Mác khái quát nguyên tắc phân phối này như sau: “Vậy một khi đã khấu trừ các khoản đi rồi, người sản xuất còn được nhận cho cá nhân mình một phần vừa bằng với cái mà anh ta đã cống hiến cho xã hội Cái mà anh ta đã cống hiến cho xã hội là lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội đưới một hình thức này thì anh ta nhận được của xã hội dưới một hình thức khác” [5,
tr.19] Mác còn nói thêm: “Một mặt, sự phân phối một cách có kế hoạch thời
gian lao động trong xã hội quy định tỉ lệ đúng đắn giữa các thứ chức năng lao động và các thứ nhu cầu, mặt khác thời gian lao động dùng để đo phần lao động cá nhân của mỗi người sản xuất bỏ vào lao động chung đồng thời có đánh giá cái phần người đó được hưởng trong bộ phận sản phẩm chung dành
cho việc tiêu dùng cá nhân” [4, tr.114] Trong thực tế, Đảng ta lãnh đạo xây
dựng kinh tế thì nguyên tắc này cũng được vận dụng và coi là nguyên tắc chủ yếu trong nền kinh tế
Lý thuyết tái sản xuất của Mác về vấn đề phát triển và sắp xếp lại kinh tế làm cơ sở cho ta sắp xếp lại kinh tế làm cơ sở cho ta sắp xếp, bố trí lại nền kinh
tế quốc dân Mác đã xác định cơ cau nền kinh tế quốc dân là: “Một bậc thang về chất lượng và một tỉ lệ về số lượng trong những quá trình xã hội của nền sản xuất” [5, tr.77] Mác-Ănghen đã chỉ rõ tính ưu việt của CNXH là lần đầu tiên
trong lịch sử có điều kiện bố trí một cách chủ động và khoa học lao động xã hội
vào các ngành và các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội Trong
những điều kiện tái sản xuất nhất định, các tỉ lệ về chất lượng và số lượng của
sự phân bố lao động xã hội - bao gồm cả lao động sống và lao động vật hóa - tạo thành cơ cầu nền kinh tế quốc dân Trong thuyết nêu trên của Mác, đã tạo ra nhiều tiền đề cơ sở dé giúp Đảng ta điều chỉnh, sắp xếp lại cơ cấu nền kinh tế quốc dân nhằm chủ động thích ứng với những điều kiện tái sản xuất thay đổi, xây dựng một cơ cấu kinh tế quốc dân có hiệu quả hơn, không những đáp ứng
Trang 12tốt những nhu cầu trước mắt mà còn phù hợp với sự phát triển lâu dài của đất nước
Có thê nói gọn lại là học thuyết kinh tế của Mác-Ănghen chỉ ra sự gắn liền môi quan hê xa hôi với nền sản xuất lớn, nghĩa là: nền sản xuất lớn được hình thành và phát triển trong lòng chủ nghĩa tư bản với tất cả những mâu thuẫn gay gắt của nó, trước hết là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản
xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản, chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
khiến cho CNXH trở thành tất yếu Và chủ nghĩa xã hội chỉ có thể được xác lập và củng cố trên cơ sở một nền sản xuất tương ứng: nền sản xuất này là kết
quả của việc cải tạo hoàn chỉnh và phát triển thêm nền sản xuất lớn TBCN,
trong trường hợp cách mạng xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi ở một nước tư bản chủ nghĩa phát triển, hoặc nó là kết quả của một công cuộc xây dựng tự giác từ đầu, hoặc gần như từ đầu thông qua con đường công nghiệp hóa XHCN Trong học thuyết kinh tế của mình, Mác-Ănghen đã giành nhiều thời gian tâm huyết để bàn về nền sản xuất lớn cho tương lai
Tham nhuan sau sac va phat triển một cách toàn diện tư tưởng của Mác- Ănghen về mối liên hệ giữa nền sản xuất lớn với CNXH Lênin đã xác lập học thuyết về công nghiệp hóa XHCN, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của CNXH Bộ phận chủ đạo trong cái cơ sở vật chất, kỹ thuật này là nền đại công nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Lênin đã tuyên bố rằng: “Cơ sở kinh
tế duy nhất có thê có được của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí Ai quên điều đó, người đó không phải là người cộng sản” [38, tr.60] Lênin nhấn mạnh: công nghiệp hóa XHCN phải tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH
đó là đại công nghiệp cơ khí, có khả năng dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế quốc dân phát triển, người khẳng định: không có một nền đại công nghiệp được tổ chức cao thì không thể nói đến CNXH nói chung được mà lại càng không thể nói đến CNXH đối với một nước nông nghiệp Vì vậy, Lênin cho rằng: sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền phải chuyển trọng tâm vào xây đựng
Trang 13kinh tế, với nhiệm vụ hàng đầu xây dựng kinh tế là tiễn hành công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Tuy nhiên, ưu tiên công nghiệp nặng phải phù hợp với tình hình tài nguyên đất nước, phù hợp với nông nghiệp và các ngành kinh
tế quốc dân khác Sau này, Lênin không ngừng phát triển những luận điểm của mình về kinh tế XHCN và chỉ rõ công thức: CNCS là chính quyền xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc Luận điểm này sau đó lại được bổ sung và phát triển thêm những nội hàm mới cho phù hợp với hoàn cảnh
Song sẽ rất thiếu hụt khi đề cập tới những đóng góp về lý luận kinh tế của Lênin mà không nhắc đến chính sách “Kinh tế mới” của ông Có thể nói, những quan điểm về kinh tế mà Lênin đề cập trong NEP là quy luật kinh tế chỉ đạo cho suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH Bao gồm tất cả các biện pháp để phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới khác han vé
chất so với quan hệ sản xuất tư bản cũ Sau đây, tôi xin được nêu ra một số
quan điểm cơ bản trong “Chính sách kinh tế mới” làm cơ sở lý luận cho
tế qua đó để học tập kinh nghiệm quản lý của họ Tập trung cho cả phát triển nông nghiệp để đảm bảo an ninh về lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Khuyến khích tiêu dùng thông qua các chính sách: đối tiền, mở chợ, chính sách tiền tệ, chế độ lương thưởng khuyến khích người lao động
Trang 14Tiếp theo, là một loạt các chính sách mà Lênin đưa ra hướng vào xây dựng quan hệ sản xuất mới Đó là ở nước Nga cần duy trì nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thé, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân trong một thơi gian dai cua thời kỳ quá độ Chính sách kinh tế nhiều thành phần sẽ góp phần kích thích sức sản xuất, nâng cao chất lượng giá cả và mẫu mã, tăng cường sức cạnh tranh, tận dụng mọi tiềm năng lao động Tuy nhiên, hạn chế của nó sẽ là: có thể gây ra cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp, cộng với nó là lối sống hưởng thụ Tương ứng vơi từng thành phần kinh tế là các hình thức sở hữu:
sở hữu nhà nước, sở hữu tập thé, sở hữu cá thé, sở hữu hỗn hợp tạo điều kiện tận dụng mọi lợi thế về vật chất mà chủ sở hữu có trong tay đề tiến hành sản xuất, kinh doanh đồng thời phát huy năng lực chủ động sáng tạo của người sản xuất Hình thức phân phối chủ yếu mà NEP đề cập đến là phân phối theo lao
động, khuyến khích sức sản xuất, cải tiễn chế độ lương thưởng, tạo ra mối liên
hệ giữa nông thôn và thành thị Thực tế ở Việt Nam ta, đối mới kinh tế dần trở về với quan điểm của NEP, van dung bé sung va phát triển nó trong điều
kiện lịch sử mới Nhân loại và Việt Nam biết ơn Lênin Đây là những luận
điểm kinh tế quan trọng giúp cho Đảng ta hoạch định đường lối phát triển kinh
tế Việt Nam suốt thời kỳ quá độ lên CNXH
1⁄2 TƯ TƯỞNG HÒ CHÍ MINH VẺ XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIEN KINH TE
Sinh thời, Bác Hồ không có nhiều thời gian bàn nhiều về kinh tế, song những tư tưởng và quan điểm chỉ đạo của Người về kinh tế lại tương đối cụ thể và toàn diện Quan điểm về kinh tế của Hồ Chí Minh là sự quán triệt vận dụng sâu sắc nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam Bác Hồ cũng nhận thức tương đối đầy đủ về công nghiệp hóa XHCN, nhưng theo Bác công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của một nền kinh tế nhưng xuất phát từ điều kiện nước ta cho thấy là một nước nông nghiệp nên
Trang 15phải đi từ nông nghiệp vì muốn mở mang công nghiệp phải có lương thực và nguyên liệu nhưng công nghiệp hóa là mục tiêu phấn đấu chung, là con
đường no ấm thực sự của nhân dân ta
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây đựng CNXH ở miền Bắc, Bác nhắn mạnh: Muốn có CNXH phải làm gì? Người giải thích: “Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân Muốn có CNXH thì không có cách nào khác là phải đốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất Sản xuất là mặt trận
chính của chúng ta hiện nay ở miền Bắc” [27, tr.312]
Hồ Chủ tịch đã nói rõ: “Nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là một nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến” Trên cơ sở kinh tế XHCN ngày càng phát triển, cách bóc lột theo CNTB được xóa bỏ dần, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện Nền kinh tế XHCN phải được tạo lập trên cơ sở chế độ
sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Tuy nhiên, ở thời kỳ quá độ, nền kinh tế
đó còn tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân Sở hữu hợp tác xã tức là sở hữu của tập thể, của nhân đân lao động Sở hữu của người lao động riêng lẻ Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản
Trong đó, kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền
kinh tế quốc dân và Nhà nước phải đảm bảo nó phát triển ưu tiên
Bác nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phát triển kinh tế, song trong kinh tế thì nông nghiệp là quan trọng “Tất cả các ngành từ công nghiệp,
thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục,
y tế đều cần phải phát triển toàn diện nhưng các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trọng tâm”[25, tr.277] Đây là cơ sở lý luận ban đầu cho công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn sau này của Đảng ta Bác chỉ rõ mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp hóa: nếu muốn công nghiệp hóa
Trang 16gấp thì là chủ quan Cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp, rồi tiến đến thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng
Bàn về kinh tế, một mảng quan trọng khác của nó mà Bác đề cập tới đó
là lĩnh vực tài chính Người nói: “Muốn xây đựng kinh tế thì phải có tiền để làm vốn Muốn có vốn thì các nước tư bản dùng ba cách: vay mượn nước ngoài, ăn cướp của các thuộc địa, bóc lột công nhân - nông dân Những cách
đó chúng ta đều không thể làm được Chúng ta chỉ có cách là một mặt gia tăng sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ vốn cho công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế của của ta” [23, tr.485] Tư tưởng Hồ Chí Minh là xây dựng một
nền tài chính quốc gia, giảm bội chi ngân sách, không chế và kiếm soát lạm phát Xử lý đúng đắn các mối quan hệ tích lũy và tiêu dùng trong phạm vi cả
nước, giữa tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư,
giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, giữa chi thường xuyên
và chỉ đầu tư phát triển, giữa phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng Ngay sau khi nước nhà vừa giành được độc lập, Người cho rằng: “Cần thống nhất quán lý kinh tế tài chính, xây dựng một nền tài chính dân chủ, quản lý phải dân chú, tài chính phải công khai, số sách phải minh bạch” [24, tr.133] Bác luôn nhẫn mạnh phải cần kiệm mà xây dựng đất nước Lời nói luôn đi đôi với việc làm trong quá trình lãnh đạo xây đựng kinh tế từ những buổi đầu độc lập cho đến khi miền Bắc xây dựng CNXH, Bác cùng chính phủ luôn đi sâu đi sát việc phát triển kinh tế của nhân dân, đi về các miền quê tìm hiểu, động viên và chỉ đạo bà con nhân dân lao động sản xuất Hình ảnh và tư tưởng của vị cha già dân tộc là tắm gương sáng, là động lực, là niềm tin cho cả nước bắt tay và kiến thiết giang san
Hồ Chí Minh đã rất nhiều lần chỉ rõ nền kinh tế mà ta xây dựng là một nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Trên cơ sở kinh tế XHCN ngày càng phát triển, cách bóc lột
Trang 17theo chủ nghĩa tư bản được xóa bỏ dân, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện
CNXH chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra được một nền kinh
tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của sức sản xuất, của khoa học và công nghệ Không có một nền công nghiệp hiện đại thì không thể có CNXH Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì công nghiệp hóa, hiện dai hóa là một quy luật tat yếu và phố biến đến nay vẫn hoàn toàn đúng với tình hình nước ta, tuy công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thời đại
hiện nay có thể được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thắng lên CNXH không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm kinh tế có tính chất bao trùm: “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm ” Theo Người, đó “là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dần lên CNXH” [25, tr.349] Nhận thức về quan điểm này, có người cho rằng Hồ Chí Minh chỉ nhắn mạnh tăng gia sản xuất, tức là chỉ nói
về sản xuất nông nghiệp Thực tế thì “có thực mới vực được đạo”, nhưng
không chỉ là như vậy, bởi “tăng gia sản xuất” theo ý Người còn nói đến lĩnh vực sản xuất công nghiệp Hay nói một cách khái quát: “Tăng gia sản xuất” là một khái niệm hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc đân, trong đó hai lĩnh vực quan trọng nhất là nông nghiệp và công nghiệp Điều đó thể hiện ở lời giải thích sau đây của Hồ Chí Minh:
“Muốn tiến lên CNXH thì phải thế nào? Không phải cứ ngồi mà chờ Nước XHCN Liên Xô đang bước lên chủ nghĩa cộng sản, thế mà vẫn thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, huống chỉ ta, hòa bình mới lập lại chưa
được ba năm, kinh tế ta lạc hậu mà không lo tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì
không bao giờ tiến lên CNXH được” [25, tr.411] Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “tăng gia sản xuất” là phương sách đúng đắn nhất để phát triển tối
Trang 18đa lực lượng sản xuất, thúc đây nền kinh tế phát triển Chỉ có như thế, trước mắt và lâu dài mới giải quyết được sự nghèo đói của đân, đem lại hạnh phúc cho dân, bảo đảm thắng lợi cho công cuộc xây dựng chế độ mới
Còn thuật ngữ “tiết kiệm” cũng cần phải được hiểu theo nghĩa đen và
nghĩa bóng Trước hết, “tiết kiệm” theo tư tưởng của Người có hàm ý là “tích
lũy”, mà tích lũy là nguyên tắc của tái sản xuất mở rộng Tích lũy chính là quá trình thực hiện “thắt lưng buộc bụng” để xây dựng CNXH và đương nhiên, tiết kiệm còn có nghĩa là phải đúng mức trong chỉ tiêu ăn uống, chống lãng phí, tham ô Tiết kiệm còn có nghĩa là tiết kiệm thời giờ, tiết kiệm tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, máy móc Tiết kiệm không phải là hà tiện Với cách hiểu
trên, “tăng gia sản xuất và tiết kiệm” không chỉ là phạm trù kinh tế, mà còn là phạm trù thuộc lĩnh vực đạo đức, văn hóa, nhân văn
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Kẻ thù của “phát triển sản xuất và tiết kiệm” là tham ô và lãng phí Nạn tham ô là trộm cướp, lãng phí tuy không lấy của công đút túi nhưng rất tai hại cho nhân dân và Chính phủ Vì vậy cần quét sạch nạn tham ô, lãng phí, vì nó là mặt đối lập của phát triển sản xuất và tiết kiệm Người cũng chỉ rõ căn nguyên của tệ nạn tham ô, lăng phí là bệnh quan liêu Chúng ta
hãy nghe Hồ Chí Minh diễn giải một cách giản đơn, nhưng rất sâu sắc vé van dé
này như sau: Muốn cho cây lúa tốt thì phải nhỗ cỏ cho sạch, nếu không thì di cày bừa có kỹ, phân bón nhiều, lúa vẫn xấu, vì lúa bị cỏ át đi Muốn thành công trong công việc xây dựng CNXH thì phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đồng thời phải kiên quyết tay sạch tham 6, lãng phí, quan liêu
Từ quan điểm kinh tế bao trùm, Hồ Chí Minh đi đến việc lựa chọn co cau kinh tế hợp lý, đó là cơ cấu công nghiệp và nông nghiệp hiện đại: “Tiến lên CNXH phải đi bằng hai chân: công nghiệp và nông nghiệp” [27, tr.61] Người
lý giải quan hệ biện chứng giữa hai ngành này là: “công nghiệp và nông
Trang 19nghiệp là như hai chân của nền kinh tế nước nhà Cần phải thật vững, thật khỏe, thì kinh tế mới tiến bộ thuận lợi và nhanh chóng” [25, tr.84]
Ở hoàn cảnh nước ta, trong hai ngành kinh tế đó, Người xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Việc cung cấp đủ nguyên liệu và lương thực cho
sự phát triển công nghiệp hóa và ngược lại sự trang bị khoa học kỹ thuật cho
nông nghiệp là điều đảm bảo vững chắc cho nền kinh tế phát triển Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi chúng ta phải ra sức phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp Người khẳng định: “Nông nghiệp phải cung cấp
đủ lương thực và nguyên liệu để phát triển, để đảm bảo công nghiệp hóa XHCN” [27, tr.379], “Công nghiệp phát triển lại thúc đây nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nước mạnh” [27, tr.406] Thiết nghĩ, đấy là những quan điểm về kinh tế rất cơ bản, mang tính khoa học và thực tiễn sâu sắc, nó quyết định phương hướng đầu tư, phương hướng phát triển, phương hướng cải tạo và xây dựng nền kinh tế XHCN lâu đài ở nước ta Đồng thời, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Chỉ có công
nghiệp hóa mới xây dựng được cơ sở vật chất và kỹ thuật cho CNXH Chỉ có
công nghiệp hóa mới là đòn bây thúc đây lực lượng sản xuất phát triển, tạo ra
năng suất lao động xã hội cao, đem lại nhiều của cải vật chất và tinh than cho
xã hội, làm cho đời sống của nhân dân ngày càng “ấm no, hạnh phúc” Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh thêm: Muốn tăng gia sản xuất tốt, thực hành tiết kiệm tốt phải quản lý tốt Chế độ quản lý, cần hiểu với nội dung toàn diện: Quản lý trong sản xuất kinh đoanh, quản lý trong lưu thông phân phối, đặc biệt lưu ý quản lý tài chính tiền tệ Về quan điểm này cần lưu ý dường như giữa quan điểm của Lênin và Hồ Chí Minh tương hợp với nhau Lênin cho rằng, CNXH trước hết phải là sự kiếm kê, kiểm soát mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt
là trong lĩnh vực kinh tế Còn Hồ Chí Minh khẳng định, chế độ quản lý (chủ yếu là quản lý kinh tế) là điều kiện của CNXH.
Trang 20Tóm lại, tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh đề cập tới nhiều vấn đề: Nông
nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, quản lý kinh tế, phân phối Trong từng vấn đề, Người lại đề cập tới nhiều mặt Về nông nghiệp: vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế, quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp, cải tiến
kỹ thuật, thủy lợi Về quản lý kinh tế: có quản lý kinh tế, hạch toán kinh tế trong nông nghiệp, công nghiệp, khoán , đồng thời gắn liền với việc chống
tham ô, lãng phí, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền Trên đây chỉ là một 36
quan điểm cụ thể trong hệ thống các quan điểm về kinh tế của Người mà thôi
Có thể nói, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế là
cơ sở lý luận quan trọng của Đảng, trên nền tảng lý luận về kinh tế đó mà
Đảng ta đưa ra đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế đúng đắn, phù hợp với
yêu cầu của thực tiễn Đó là nguồn gốc quan trọng để dẫn đến thắng lợi
Trang 21Chuong 2
QUA TRINH DANG LANH DAO PHAT TRIEN KINH TE
TRONG NHUNG NAM TU 1996 DEN 2006
2.1 NHAN THUC CUA DANG VE LANH DAO SU PHAT TRIEN
KINH TE
Kinh tế là một trong những lĩnh vực vô cùng quan trọng cấu thành nên đời sống xã hội Đây là một thuật ngữ mà chúng ta bắt gặp vô cùng nhiều trong cuộc sống Đã có rất nhiều những quan niệm khác nhau về thuật ngữ kinh tế, sau đây tôi xin đưa ra một số quan niệm về nó để làm cơ sở lý luận và khái niệm công cụ khi đi vào lý giải đề tài
Kinh tế theo gốc ngôn ngữ Latinh của nó là Economy nghĩa là tiết kiệm, làm sao bỏ ra chi phi ít nhất dé thu lại hiệu quả cao nhất, tối ưu hóa hoạt động sản xuất kinh doanh cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô
Quan niệm khác lại cho rằng: kinh tế là tổng thể nói chung những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất Hay kinh tế là tổng thé những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định trong lịch sử: cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội, chế độ hoạt động kinh doanh của một nước nhất định, bao gồm các ngành và các loại hình sản xuất tương ứng Các nhân tố quyết định nền kinh tế của một nước là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, mục đích phát triển của sản xuất, hình thức và phương pháp kinh doanh Các nhân tố này dựa trên nền tảng vật chất là lực lượng sản xuất Ngày nay, người ta đề cập đến một nhân tố mới có ý nghĩa thời đại của nên kinh tế hiện đại là con người, là trí tuệ của con người Mỗi nền kinh tế xã hội đều bao gồm lĩnh vực sản xuất tương ứng và những điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước,
như vị trí địa lý, truyền thống lịch sử và một trình độ của lực lượng sản xuất
nhất định Nền kinh tế xã hội thường được hiểu là đồng nghĩa với nền sản xuất
xã hội Ngày nay, thuật ngữ kinh tế lại được bố sung bằng những thuật ngữ
Trang 22gần với nó như: kinh thé thị trường định hướng XHCN, những nét nghĩa mới
sẽ bổ sung sâu sắc hơn thuật ngữ về kinh tế trong thời kỳ hội nhập và
mở cửa
Đảng lãnh đạo kinh tế thực chất là việc Đảng hoạch định xây dựng đường
lối, chính sách phát triển kinh tế quốc dân và đôn đốc chỉ đạo quá trình tổ
chức thực hiện đảm bảo sự thắng lợi của đường lối, chính sách ay trong thuc
tién
Nắm lấy việc lãnh đạo kinh tế là tất yếu lịch sử của một Đảng cằm quyền
vì xét đến cùng mọi cuộc cách mạng được tiến hành từ trước đến nay vì lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế là một nguyên tắc cơ bản, điều tiết các hoạt động khác Mọi thành tựu chính trị của Đảng đều phải dựa trên cơ sở kinh tế nhất định Lãnh đạo kinh tế luôn là lĩnh vực đầy khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có một tô chức chính trị tiên phong, có đủ năng lực và được sự tín nhiệm của lịch
sử, của quần chúng nhân dân
Bằng tất cả kinh nghiệm thành công và that bại trong lãnh đạo kinh tế của các Đảng cộng sản trên thé giới, dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa Mác - Lênin va
tư tương Hồ chỉ minh Đang ta đa năm bãtthưc tiễn và sáng tạo thực tiễn để lãnh đạo nền kinh tế Việt Nam Công cuộc đó được chính thức bắt đầu từ năm
1945 trở đi, khi Đảng nắm chính quyền
2.2 KHAI QUAT VE QUA TRINH DANG LANH DAO PHAT
TRIEN KINH TE TRUOC NAM 1996
Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng là quá trình vận dụng lí luân cua chu nghĩa Mac - Lênin vao thưc tiền cach mang Viêt Nam_, kê thưa
nhưng thanh tưu đa đat đươc cua ca c giai đoan truoc, bam sat thực tiễn và kịp
thơi tông kêt thưc tiền dé rut ra nhưng bài hoc kinh nghiêm , trên cơ sơ đo mà
đề ra những chính sách phát triển.
Trang 23Trong qua trinh fanh dao su phat trién kinh tê cua đât nươc giai đoan 1996-2006 Đang ta đa kê thưa va kip thoi rut ra những kinh nghiêm quy bau của giai đoạn trước đó Chúng ta sẽ nghiên cứu khái quát quá trình lãnh đạo kinh tê cua Đang trược 1996
2.2.1 Quá trình Đáng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1945 - 1954
Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng lên nắm chính quyền, trong tay Đảng lúc này là một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu Hậu quả của chính sách kìm hãm kinh tế của thực dan Pháp rat nang nề, chính sách “nhồ lúa trồng đay” của phát xít Nhật làm hơn 2 triệu người chết đói, đất nước nông nghiệp nhưng nông nghiệp thì tiêu điều, xơ xác, vỡ đê, lũ lụt thường xuyên xảy ra Bên cạnh đó, ngân hàng Đông Dương nơi điều tiết nền kinh tế của ba nước Đông Dương thì ta không thu được, tài chính bi ling đoạn Quân Tưởng lại đem tiền quan kim, quốc tệ vào tiêu nên càng khó quản
lý kinh tế Ngân sách quốc gia còn hơn một triệu đồng thì quá nửa bị rách nát không tiêu được Các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp, nhà máy, hầm mỏ đều bị đình đốn dẫn đến hàng vạn công nhân không có việc làm Hàng hóa tiêu dùng trên thị trường khan hiếm, việc buôn bán trao đổi, đi lại vô cùng khó khăn Khó khăn về kinh tế cộng với các khó khăn về chính trị - xã hội - văn hóa đã đưa cách mạng Việt Nam lâm vào hoàn cảnh “ngàn cân treo
sợi tóc”
Trước tình hinh đó, Đảng non trẻ phải gánh vác cái vốn kinh tế eo hẹp của đất nước, phát triển và làm hưng thịnh nó lên Giải pháp tổng thê đầu tiên cho nền kinh tế là phải bãi bỏ những thứ thuế vô lý đánh vào nhân dân lao động, giảm thuế 20% và miễn thuế hoàn toàn cho các vùng bị bão lụt, tạm chia ruộng đất công cho dân cày nghèo theo nguyên tắc đân chủ Những biện pháp trên nhằm đây mạnh phát triển nông nghiệp hướng vào cứu đói cho nhân dân Chủ trương cứu đói còn được Hồ Chí Minh đề nghị: “Cứ mười ngày
Trang 24nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa Đem gạo đó để cứu dân nghèo” [20, tr.31] Sau đó, liên tiếp các phong trào “tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa”, “tắc đất tắc vàng” Cả nước rầm rộ tiến quân vào mặt trận lao động sản xuất Với chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc của Đảng trong đó kiến quốc được tập trung vào xây dựng chế độ kinh tế dân chủ nhân dân vững mạnh đảm bảo cơ sở kinh tế cho kháng chiến
Lãnh đạo kinh tế của Đảng trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào việc duy trì và đây mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân lao động Đấu tranh kinh tế với địch, tịch thu ruộng đất, của cải của bọn để quốc và bọn việt gian phản động chia cho nông dân nghèo, triệt để thực hiện giảm tô, chia lại công điền hợp lý, công bằng cho nông dân Đảng tô chức thực hiện phát triển kinh tế bằng các phong trào thi đua ái quốc theo sáng kiến của Hồ Chí Minh Phong trào thi đua yêu nước này đã nhanh chóng chuyển hóa vào đời sống kinh tế - xã hội trong kháng chiến Trên mặt trận nông nghiệp, nhân dân ở các vùng còn bị địch tạm chiếm tranh thủ cày cấy, thu hoạch ngày đêm, chiến đấu bảo vệ mùa màng để góp phần lương thực cho kháng chiến Phong trào tăng gia sản xuất lúa và hoa màu, trồng bông dệt vải được phát triển mạnh mẽ Phong trào đổi công đã xuất hiện trong nông dân Cuối cuộc kháng chiến chống Pháp thì có cuộc cải cách ruộng đất thực hiện “người cày có ruộng” đã đem lại nguồn động viên lớn lao cho những người nông dân cầm súng Bên cạnh đó công nghiệp quốc phòng, tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng phát triển, thương nghiệp đảm bảo hàng hóa và nhu yếu phẩm phục vụ cho sinh hoạt và chiến đấu Những mầm mống kinh tế XHCN cũng bắt đầu được hình thành trong giai đoạn này tiêu biểu là sự ra đời của công tư hợp doanh (1951) Sự đóng góp về kinh tế đã giúp cho công cuộc kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi to lớn.
Trang 25Để bồi đưỡng sức dân củng cố hậu phương kháng chiến năm 1952 Dang
phát động cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiêt kiêm đạt kết quả tốt.Chỉ tính từ liên khu V trở ra, Sản lượng lương thực năm 1953 đạt 2, 7 triệu
tấn Nhà nước đã ban hành một số sắc lệnh về thuế nông nghiệp, thuế công thương, xuất khẩu, nhập khẩu Tháng 6 năm 1951 ngân hàng Quốc gia được thành lập và sau đó mậu dịch quốc doanh ra đời Thực hiện chính sách ruộng đất, từ năm 1949 đến 1953 nông dân đã được tạm cấp gần 180.000ha ruộng đất của thực dân, địa chủ việt gian, ruộng bỏ hoang, ruộng vắng chủ Ngay
từ giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến Đảng đã chủ trương không tịch thu
ruộng đất của địa chủ mà chỉ tịch thu ruộng đất và tài sản của để quốc, việt
gian phản quốc chia cho dân cày Từ năm 1947 đến 1953 đã thực hiện giảm tô 25%, chia ruộng đất cho nông đân, ban hành chính sách thuế nông nghiệp, hoãn nợ, xoá nợ nhằm hạn chế sự bóc lột của bọn địa chủ Tháng 1 năm 1953 hội nghị TW lần thứ IV của Đảng đã kiểm điểm tình hình thực hiện chính sách ruộng đất, đề ra chủ trương thực hiện triệt để giảm tô, chuẩn bị tiễn tới cải cách ruộng đất, Tháng II năm 1953 Hội nghị TW lần thứ V của Đảng quyết định phát động triệt để giảm tô và phải thực hiện cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến Sau đó tháng 12 năm 1953 Quốc hội thông qua luật cải cách ruộng đất, tiến hành cải cách ruộng đất ở vùng tự do nhằm đây mạnh kháng chiến đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Trong gần 1 năm từ
1953-1954 chúng ta đã thực hiện 5 đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất
ở một số xã vùng tự do Chính sách triệt để giám tô và chia ruộng đất cho dân cày đã động viên tinh thần của nhân dân hậu phương khơi dậy một luồng sinh khí mới trong nhân đân lao động, đông đảo nhân dân hăng hái sản xuất đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến cuộc Đông - Xuân 1953 - 1954 với đỉnh cao là chiến thắng Điện biên phủ.
Trang 262.2.2 Quá trình Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1954 - 1975
Sau hiệp định Giơnevơ 1954, hòa bình được lập lại ở miền Bắc, nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH với những đặc điểm: kinh tế nông nghiệp lạc hậu chủ yếu trên nền sản xuất nhỏ, cơ sở kinh tế còn non yếu “Công nghiệp mới phôi thai, nông nghiệp và thủ công nghiệp có tính phân tán chiếm
bộ phận lớn trong nền kinh tế quốc dân” [4, tr.529] Đất nước tạm thời bị chia
cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau Cán cân so sánh lực lượng
giữa phe XHCN và TBCN có phần nghiêng về CNXH Đặc điểm đó chỉ phối đến nội dung và con đường quá độ lên CNXH ở miền Bắc nước ta.Vì vậy quá trình xây dựng CNXH ở miền bắc nước ta lúc này là: “Quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu
cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế XHCN dựa trên sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất lớn XHCN,
từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành một nền kinh tế cân đối
và hiện đại, làm cho miền Bắc tiến bộ mau chóng thành cơ sở ngày càng vững chắc cho sự nghiệp thống nhất nước nhà” [4, tr.131]
Trong nền kinh tế quốc dân miền Bắc, nông nghiệp là bộ phận tối quan
trọng trong cơ cấu nền kinh tế, nhân dân lao động là lực lượng sản xuất
chính Do đó “muốn đưa miền Bắc tiến lên CNXH, chúng ta phải đi từ nông nghiệp, phải dựa vào lực lượng của nông dân lao động và phát huy tính
tích cực cách mạng của họ Vì thế, cải tạo nông nghiệp là khâu chính của
toàn bộ công cuộc cải tạo XHCN Chúng ta dùng con đường hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp với cải tạo quan hệ sản xuất với cải tiến kỹ thuật và giáo dục tư tưởng, đi từ tổ đổi công đến hợp tác xã sản xuất bậc thấp đến hợp tác
xã bậc cao, từ hợp tác xã quy mô nhỏ đến hợp tác xã quy mô lớn” [4, tr.537] Thực hiện ba nguyên tắc của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp là “tự nguyện - cùng có lợi - quản lý dân chủ”
Trang 27Đại hội III nhận định: thủ công nghiệp, mặc dù có mặt lạc hậu song vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Do đó, cải tạo thủ công nghiệp
theo CNXH là tạo điều kiện cơ bản cho thủ công nghiệp có thể xóa bỏ dần mặt
lạc hậu, phát huy mặt tích cực của nó Còn kinh tế tư bản tư doanh và giai cấp tư sản dân tộc thì dùng phương pháp hòa bình dé cải tạo Nhìn chung, muốn cải tạo chung nền kinh tế miền Bắc thì không còn con đường nào khác là: công nghiệp hóa XHCN coi đây là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở nước ta Điểm mau chét trong công nghiệp hóa XHCN là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý sẽ có thé cung cấp những tư liệu sản xuất cho công nghiệp và nông nghiệp, bảo đảm thực hiện không ngừng tái sản xuất mở rộng xã hội, phát triển cao độ nền kinh tế quốc dân, cải thiện không ngừng đời sống nhân dân lao động
Như V.I Lênin đã từng vạch rõ, đối với một chế độ mới như chế độ hợp tác
xã ở nông thôn, nếu không có sự giúp đỡ tích cực của nhà nước do giai cấp công nhân lãnh đạo thì không thể phát triển mạnh mẽ được Vì vậy, trong quá trình hợp tác hoá nông nghiệp nhà nước dân chủ nhân dân của ta cần tích cực giúp đỡ các hợp tác xã về mọi mặt, tiếp sức cho các hợp tác xã đứng vững và dần dần tăng cường Đó là một biện pháp rất quan trọng đề củng có khối liên minh công nông, cơ sở của chế độ XHCN
Thủ công nghiệp mặc dù có mặt lạc hậu, vẫn có một vị trí quan trọng trong
nền kinh tế nước ta Nó bao gồm 17 ngành, có 150 nghề khác nhau và sản xuất trên 1000 loại hàng khác nhau
Thương nghiệp nhỏ trên miền bắc có một tỷ lệ quan trong trong số người lao động ở thành thị và nông thôn Chúng ta chủ trương dùng các hình thức hợp tác như: Tổ hợp tác mua và bán, Tổ hợp tác vừa mua bán vừa san xuất, cửa hàng hợp tác Đề thực hiện cải tạo XHCN đối với thương nghiệp nhỏ và chuyền dần
bộ phận lớn những người buôn bán nhỏ sang sản xuất
Trang 28Chủ trương của Đảng ta về công nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc là:
“Thực hiện công nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc nước ta là xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp và nông nghiệp lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý; đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhằm biến
nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện
đại và nông nghiệp hiện đại”[4, tr.546]
Qua đại hội III thì mô hình kinh tế công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
với một thành phần kinh tế và với hai hình thức sở hữu ra đời Tư duy của mô
hình này là càng quốc đoanh sớm thì càng sớm có CNXH Toàn bộ cấu trúc và cách quản lý là nền kinh tế kế hoạch hóa, hành chính tập trung, quan liêu, bao cấp Cơ chế quản lý kinh tế này tuy bộc lộ những hạn chế nhưng nó lại phù
hợp với hoàn cảnh đặc biệt là đất nước có chiến tranh Mặc dù còn có hạn chế
song cơ chế quản lý kinh tế này vẫn giúp ta có được sức mạnh kinh tế để giành chiến thắng trong “cuộc đụng đầu lịch sử” với đế quốc Mỹ xâm lược
2.2.3 Quá trình Đáng lãnh dạo phát triển kinh tẾ từ 1975 - 1985
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, hòa bình lập lại trên hai miền Nam -
Bắc Cả nước bắt tay xây dựng CNXH với không khí hòa bình, độc lập, hăng
hái thi đua Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thé giới đang diễn ra mạnh
mẽ tác động đến tất cả các quốc gia, dân tộc Song song với thuận lợi nêu trên là
những khó khăn mà chúng ta gặp phải như: nền kinh tế phổ biến vẫn là sản xuất
nhỏ, biểu hiện ở cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, đại bộ phận là lao động thủ công, phân công lao động chưa cao, năng suất lao động thấp, tổ chức và quản lý kinh tế thiếu chặt chẽ, nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng Tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới và hai cuộc xung đột biên giới đang gây cản trở cho phát triển kinh tế nước ta Mỹ đang tìm cách bao vây, cắm vận về mọi mặt
Trang 29Đề giải đáp cho tình hình trước mắt thì Đại hội IV của Đảng đã đưa ra đường lối xây dựng kinh tế cho đất nước như sau: “Đây mạnh công nghiệp hóa XHCN, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp, vừa xây đựng kinh tế trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập
và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng”
[1, tr.67]
Trên cơ sở đó Đại hội nêu phương hướng và nội dung của kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) là: vừa phải giải quyết những hậu quả nặng nề của ba mươi năm chiến tranh và của chủ nghĩa thực dân mới, vừa phải tổ chức lại nền kinh
tế vốn nghèo nàn lạc hậu, xây đựng một bước nền sản xuất XHCN trong cả nước, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước
Nhiệm vụ cụ thể của kế hoạch 5 năm lần thứ hai này là:
Tập trung cao độ lực lượng của cả nước tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp, ra sức đây mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, tạo tích lũy cho công nghiệp hóa XHCN
Phát huy năng lực sẵn có và xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí, tích cực mở mang giao thông vận tải tăng nhanh năng lực xây đựng cơ bản, đây mạnh công tác khoa học kỹ thuật
Sử dụng hết lực lượng lao động xã hội, hình thành bước đầu cơ cấu kinh
tế mới công - nông nghiệp Kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương, từng bước xây đựng huyện thành đơn vị kinh tế nông - công nghiệp, kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Trang 30Hoan thanh vé co ban cai tao XHCN 6 mién Nam, cung cố và hoàn thiện
quan hệ sản xuất XHCN ở miền Bắc
Tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu, mở rộng mối quan hệ sản xuất kinh tế voi nude ngoai
Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hóa, xã hội, tiến hành cái cách giáo dục, đây mạnh đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật
Thực hiện một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và quản lý kinh tế,
phần đầu đến năm 1980 đạt các chỉ tiêu: 2l triệu tấn lương thực; l triệu tấn cá biển; 1 triệu ha khoai lang; 16,5 triệu con lợn; cơ khí tăng 2,5 lần so với năm 1975; 10 triệu tấn than sạch; 5 tỉ KWh điện; 2 triệu tấn phân hóa học; 250 -
300 nghìn tấn thép; 450 triệu mét vải; I4 triệu mỶ nhà ở
Đến Đại hội lần thứ V của Dang (3/1982) lại tiếp tục khẳng định đường lối chung và đường lối kinh tế do Đại hội IV của Đảng là đúng đắn và tiếp tục đưa nó vào cuộc sống Đại hội lần này xác định nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH Và mục tiêu tổng quát của những năm
Đáp ứng các nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, củng cố quốc phòng và giữ vững an ninh trật tự
Trang 31Con số cụ thể cần đạt được trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba này là: Phấn
đấu để đến cuối năm 1985 dat khoảng 19 - 20 triệu tấn lương thực; 70 vạn tấn
cá biển và cá nuôi; 13 triệu con lợn; 8 - 9 triệu tấn than; 5.5 - 6 tỉ KWh điện; 2
triệu tấn xi măng: thép năm 1985 tăng gấp 2 lần so với năm 1981; 380 - 400
triệu mét vải; khai thác 8 triệu mì gỗ trong 5 năm (1981 - 1985)
Nghị quyết của hai đại hội IV và V đã có những chuyên biến tích cực
trong cuộc sống Quan hệ sản xuất mới XHCN được hoàn thiện và củng cỗ ở miền Bắc, cải tạo xã hội cũ ở miền Nam, lực lượng sản xuất cả nước được phát triển hơn một bước, hàng trăm công trình lớn được xây dựng trong các mặt công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa, xã hội Do đó, tài sản có định của nền kinh tế quốc dân tăng lên đáng kể So với năm 1976 thì năm 1980 là 129.2% và năm 1985 là 205.3% (tính theo giá của năm 1982) Tổng sản phâm xã hội năm
1980 so với năm 1976 là 105.8% (bình quân hàng năm tăng 1.4%) năm 1985 so với năm 1980 bằng 142.3% (bình quân hàng năm tăng 7.0%) Thu nhập quốc dân sản xuất tương ứng là 11.6% (tốc độ 0.4%) và 136.6% (tốc độ 6.4%)
Đi vào thành tựu cụ thể của các ngành kinh tế quốc dân ta thấy: Đối với nông nghiệp thì diện tích gieo trồng tăng lên 1.5 triệu ha, đã cung ứng thêm cho nông nghiệp 10 nghìn máy kéo các loại, điện tích trồng rừng 5 trăm nghìn ha Nhờ đó, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp năm 1980 đạt 108.2% so với
năm 1976 bình quân hàng năm tăng 1.9%, lương thực năm 1980 đạt 14.4 triệu
tấn, bình quân đầu người đạt 284 kg Năm 1985 giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đạt 126.9% so với năm 1980, bình quân hàng năm tăng 4.9%, lương thực đạt 18.2 triệu tấn, bình quân đầu người đạt 304 kg
Trong lĩnh vực công nghiệp, đáp ứng chủ trương công nghiệp hóa XHCN, công nghiệp được nhiều sự quan tâm lớn và thành tựu đạt được là nhiều công trình lớn được xây dựng: nhà máy nhiệt điện Phá Lại, thủy điện Hòa Bình, thủy điện Trị An, dầu khí Vũng Tàu, xi măng Bim Sơn, Hoàng
Trang 32Thạch, Hà Tiên, nhà máy phân lân Lâm Thao, nhà máy sợi Hà Nội, Vinh,
Huế, Nha Trang, nhà máy giấy Bãi Bằng, Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1980 so với năm 1976 là 102, 5% va nam 1985 so với năm 1980
là 157, 4% Về nhịp độ tăng hằng nằm của công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần hai là 0, 6% và lần ba là 9, 5%
Bên cạnh những thành tựu trong hai lĩnh vực chủ yếu nêu trên thì giao thông vận tải cũng có những thành tựu lớn, phân phối lưu thông có chuyến biến tích cực, thị trường trong nước thống nhất và củng có mở rộng từng bước, quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng hơn
Tuy nhiên, còn một số tồn tại cụ thé 1a: chỉ tiêu của hai kế hoạch 5 năm lần thứ hai và lần thứ ba không thực hiện được Quan hệ sản xuất XHCN chưa thực sự được củng có, lực lượng sản xuất còn nhiều yếu kém, kinh tế mắt cân đối nghiêm trọng, phân công lao động xã hội kém, phân phối lưu thong roi rac
Nguyên nhân của những tình trạng nêu trên có cả chủ quan lẫn khách quan Song chủ quan vẫn là chính như đại hội VI chỉ ra là sai lầm trong xác định mục tiêu bước đi, trong bố trí cơ cấu kinh tế, trong cải tạo XHCN, trong cải cách quản lý kinh tế, trong phân phối lưu thông và trong cả thực hiện chuyên chính vô sản Sai lầm này của Đảng bắt nguồn từ chỉ đạo chiến lược Đến thời điểm này thì nước ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội khá sâu sắc
2.2.4 Quá trình Đáng lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1985 - 1995
Sau 10 năm xây dựng CNXH đất nước lại lâm vào khủng hoảng kinh tế -
xã hội ngày càng trầm trọng hơn Tình hình đó đặt ra cho Đảng nhiệm vụ là
phải tìm ra một lối thoát hữu hiệu cho thực tế này Thực hiện đổi mới toàn
diện là đáp án duy nhất cho lời giải khủng hoảng kinh tế - xã hội Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng được thông qua trong Đại hội VI (12/1986) lấy
Trang 33đổi mới kinh tế làm trọng tâm trên cơ sở đó từng bước đổi mới chính trị Đến các hội nghị lần hai (4/1987), lan ba (8/1987) và lần sáu (4/1989) Ban chấp
hành Trung ương lại cụ thể hóa một bước những quan điểm mới về kinh tế của
Đảng ta Một số quan điểm đó là:
Về cải tạo XHCN: Trong cách mạng XHCN, đi đôi với việc ra xức xây dựng những cơ sỏ và lực lượng kinh tế mới, phải rất coi trọng cải tạo và sử dụng tốt các cơ sở lực lượng kinh tế sẵn có bằng những hình thức và bước đi thích hợp Nhưng chúng ta chưa xác định rõ ràng, nhất quán những quan điểm,
chủ trương và chính sách chỉ đạo công cuộc cải tạo XHCN Đã có những biểu
hiện nóng vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành Quốc doanh Đối với kinh tế kiểu sản xuất hàng hoá, ít chú ý những đặc điểm về tính chất của từng ngành, từng nghề, để lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp, có xu hướng muốn tổ chức ngay các hợp tác xã quy mô lớn, không tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực của cán bộ
Việc chưa sắp xếp lại các ngành và các cơ sở sản xuất chậm thay đôi cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn tới làm suy yếu vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, làm cho kinh tế tập thể chậm được củng cố, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Về cơ chế quản by kinh tế: chuyển từ cơ chễ quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng với nguyên tắc tập trung dân chủ
Trang 34Về kinh tế đối ngoạii: chuyên dần từ đối ngoại chính trị sang đối ngoại kinh tế Kết hợp sức mạnh đân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới Đại hội VI (6/1991) của Đảng lại tiếp tục khẳng định và hoàn thiện thêm đường lối đối mới do Đại hội VI đề ra, cụ thể là:
Về cơ cấu ngành và vùng: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế
- xã hội Đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu đa dạng, chất lượng ngày càng cao, phục vụ tốt tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng thêm việc làm Phát triển một số ngành công nghiệp nặng, trước hết phục vụ cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Phát triển kết cấu hạ tầng, sớm khắc phục tình trạng xuống cấp,
mở rộng và hiện đại hóa có trọng điểm mạng lưới giao thông vận tải, chú
trọng phát triển vận tải đường biển, đường sông, đường sắt và hàng không quốc tế, phát triển giao thông nông thôn và miền núi Sắp xếp và phát triển các loại hình dịch vụ kinh tế - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và hợp tác quốc tế
Tiếp tục xây dựng nên kinh tế hàng hóa nhiều thành phan và đổi mới quản lý kinh tế Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bố sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Công tác cần tập trung tiến hành là: sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh tế Từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các loại thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ, thị trường vốn, tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trường sức lao động Đối mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của nhà nước Tiếp tục đổi mới, bố sung và đồng bộ hóa hệ thống pháp luật kinh
tế Cải tiễn công tác điều hành của nhà nước về kinh tế theo hướng đảm bảo cho sự nhất quán trong các quyết định, phối hợp theo hướng bảo đảm sự nhất
Trang 35quán trong các quyết định, phối hợp đồng bộ giữa các cấp quản lý, tắng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, tiếp tục phân định rõ quản lý nhà nước về kinh tế
và quán lý kinh doanh của các đơn vị cơ sở, cải tiến phân cấp quản lý kinh tế giữa trung ương và các cấp chính quyền địa phương
Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, với hai kế hoạch 5 năm
từ 1986 đến 1995 nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa quan trọng, cụ thể như sau:
Nhịp độ phát triển kinh tế khá nhanh và ổn định, đặc biệt 5 năm (1991 -
1995) nền kinh tế nước ta đạt được nhiều mục tiêu vượt mức kế hoạch 5 năm:
Trong 5 năm (199Ị - 1995) hàng năm nông nghiệp tăng 4, 5%, công
nghiệp 13, 5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 20, 0%
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ Tỉ trọng công nghiệp và xây dựng cơ bản trong GDP đã tăng từ 22, 6% (năm 1990) lên 30, 3% (năm 1995) Tỉ trọng dịch vụ từ 38, 6% lên 42, 5%, tỉ trọng nông nghiệp
đã giảm từ 40, 6% (năm 1990) xuống còn 36, 2% (năm 1994) Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP cũng có sự chuyên đổi từ quốc doanh, hợp tác xã sang
đa thành phần nhưng vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh vẫn được tăng cường Tỷ trong kinh tế quốc doanh trong GDP từ 29, 4% (năm 1990) lên 40, 4% (năm 1994)
Trang 36Kiềm chế và đây lùi được nạn siêu lạm phát trong những năm 1986 -
1988 đã tăng với 3 con số giảm xuống còn 2 con số (riêng năm 1993 xuống còn | con số) trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát (%)
bộ nền kinh tế và đầu tư phát triển thấp Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng và hiệu quả còn thấp Vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu, khả năng kiềm chế lạm phát chưa vững chắc, thu không đủ chi, tỷ lệ bội chỉ ngân sách còn cao Tình trạng bất công xã hội, tham nhũng, buôn lậu, vi phạm kỷ cương còn nặng Song thuận