Trong sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay, mặc dù do sự thay đổi của lịch sử, hai dân tộc Việt Nam và Liên Bang Nga đã không
Trang 1Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
2s ag 2s ae 2s he 2s 2k 2s 2s 2s he 2
NGO THUY CAM
QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG GIAI DOAN 1991 — 2000 THEO
DUONG LOI DOI NGOAI CUA DANG CONG
SAN VIET NAM
KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng
Người hướng dẫn khoa học
GV Lê Trung Nghĩa
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
Trang 3
Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
xã hội, giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội đã hoàn
thành, tạo cơ sở để cách mạng bước vào thời kì đây mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá Những thắng lợi bước đầu đó có ý nghĩa hết sức to lớn đối với
sự nghiệp cách mạng của dân tộc nói chung và đường lối đối ngoại của Đảng nói riêng
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, kinh tế tri thức xuất
hiện, sự bùng nỗ của cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới, thúc đây
xã hội hoá sản xuất vật chất, đây mạnh lại việc cơ cấu nền kinh tế, tạo ra
nhiều ngành kinh tế mới, lúc này cải cách mở cửa xuất hiện như một trào lưu trên thế giới Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế mang lại những cơ hội lớn cho quá trình phát triển, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn đối với tất cả các nước, trước hết là các nước đang phát triển và chậm phát triển
Cuối những năm 80, đầu năm 90 của thế kỷ XX cục diện chính trị thế giới có nhiều biến động lớn và phức tạp Các nước lớn điều chỉnh chiến lược
đây mạnh hoà hoãn và cải thiện quan hệ với nhau Năm 1989 Liên Xô - Hoa
Kỳ chấm dứt chiến tranh lạnh Trung Quốc bình thường hoá quan hệ Năm
1991, Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu bị sụp đỗ, Liên Xô tan rã, trật tự thế giới hai cực chấm dứt, Tất cả những biến động đó đã dẫn tới yêu cầu khách quan cho sự xuất hiện của xu hướng đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế
Châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN là khu vực phát triển kinh tế với
tốc độ cao, chính trị ổn định được dự báo là sẽ trở thành một trong những
Trang 4Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
trung tâm kinh tế của thế giới trong thế kỷ tới Muốn vậy, các nước đều phải
có chính sách điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của mình phù hợp với xu thế chung đang diễn ra trên thế giới
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam bằng bản lĩnh chính trị và
kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng đã thực hiện sự nghiệp đổi mới, đưa nước ta
tiễn vào hội nhập kinh tế thế giới mà trước hết là hội nhập với các nước trong
khu vực Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương và các nước Đông Âu Đặc biệt là đối với Liên Xô nay là Liên Bang Nga
Quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga (trước đây là Liên Xô) vốn
đã là một mối quan hệ tốt đẹp và mật thiết Kể từ sau khi công nhận nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (đầu năm 1950), Liên Xô đã có những sự giúp đỡ và
hỗ trợ không nhỏ đối với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của
Việt Nam Trong suốt hai cuộc kháng chiến vệ quốc trường kỳ của đân tộc ta,
Liên Xô, với tư cách là đồng minh, là người bạn lớn của dân tộc Việt Nam đã
đóng góp cho chúng ta cả về sức người và sức của Thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam in đậm dấu ấn của những người bạn Liên Xô tuy xa xôi về địa lý nhưng lại rất gần gũi về tắm lòng Trong sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay, mặc dù do sự thay đổi của lịch sử, hai dân tộc Việt Nam và Liên Bang Nga đã không cùng chung một thé chế chính trị nữa, tuy nhiên tình bằng hữu giữa hai nước vẫn còn nguyên vẹn Trong sự nghiệp xây đựng đất nước của cả hai dân tộc, tình bằng hữu đó vẫn cần phải được thắt chặt và củng cố
hơn bao giờ hết
Nghiên cứu một cách có hệ thống mối quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga theo đường lối đối ngoại của Đảng từ năm 1991 đến năm 2000, trên cơ
sở đó có những nhận xét đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm là việc làm có ý nghĩa và lý luận thực tiễn Xuất phát từ lý do trên tôi đã quyết định
Trang 5Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
chọn đề tài: "Quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga trong giai đoạn 1991 -
2000 theo đường lỗi đỗi ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam"' làm khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, nghiên cứu “quan hệ Việt Nam và Liên Bang Nga”
đã trở thành mối quan tâm của không ít người, có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu đã được công bố như: sách “quan hệ Việt - Nga trong bối cảnh
quốc tế mới” của tác giả Võ Đại Lược - Lê Bộ Lĩnh, NXB Thế giới (2005)
Với công trình này, tác giả đã đi vào tìm hiểu quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trên nhiều lĩnh vực dưới tác động của bối cảnh thế giới và khu vực Ngoài ra, tác giả cũng đã nêu ra triển vọng và một số biện pháp thúc đây mối quan hệ này trong thời gian kế tiếp, hay "Nền ngoại giao đổi mới" của thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn báo quan hệ quốc tế đầu xuân 1994;
"Ngoại giao thời kì đổi mới - một giai đoạn phát triển quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại" (Nguồn: Nguyễn Mạnh Cầm tháng 10/2005) Các sách đã xuất bản của các tác giả trong nước "Đôi mới hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam", nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2002 - Nguyễn Thanh Uẫn; “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000", nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2002 Bài “Quan hệ song phương Việt - Nga: thực trạng và triển vọng” của Thạc sĩ Phạm Quỳnh Hương (số 1/2010) Bên cạnh đó còn có luận án, luận văn đã bảo vệ đề cập chủ đề này Ngoài ra còn có nhiều bài viết có liên
quan được đăng trên các báo, tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Đông Nam A,
Tap chí nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, các báo Dân trí, báo Nhân
dân, báo Tuổi trẻ
Tất cả các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một khía cạnh đường lối đối ngoại của Đảng từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên
Trang 6Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
các công trình nghiên cứu chưa đề cập một cách trực tiếp về quan hệ Việt
Nam - Liên Bang Nga trong giai đoạn 1991 - 2000 theo đường lối đối ngoại
của Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga giai đoạn
1991 - 2000 theo đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm làm
rõ bản chất của mối quan hệ này
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga trong giai đoạn 1991 - 2000, bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm của công tác đối ngoại
3.2 NIiệm vụ nghiên cứu
- Với khoá luận này, trước tiên tôi phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực để làm rõ các nhân tô tác động đến quan hệ Việt nam - Liên Bang Nga
- Tiếp đó đi tìm hiểu khái quát tình hình Việt Nam và đường lối đổi
mới đối ngoại của Việt Nam
- Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2000 theo đường lối đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, văn hoá - giáo dục - khoa học kỹ thuật về những
thành tựu đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại
4 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn tôi đã sử dụng các phương pháp: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử và phương pháp logíc,
Trang 7Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga giai đoạn 1991 - 2000 theo đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
5 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khoá luận
gồm có 2 chương và 6 tiết:
- Chương 1: Khái quát quan hệ Việt Nam - Liên Xô trước năm 19091
- Chương 2: Quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga theo đường lối đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam (1991 - 2000)
Trang 8Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
PHAN NOI DUNG
CHUONG 1 KHAI QUAT QUAN HE VIET NAM - LIEN XO
TRUOC NAM 1991
1.1 Giai doan (1951- 1975)
Quan hệ Liên Bang Nga và Việt Nam đã có từ lâu, vào giữa thế kỷ XIX, khi tàu thuỷ của Nga cập cảng Sài Gòn Cách mạng tháng Mười thắng
lợi, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người và ảnh hưởng trực tiếp đến
phong trào cách mạng Việt Nam Đi theo đường lối của chủ nghĩa Mác -
Lênin, của cách mạng tháng Mười, cách mạng Việt Nam đã giành được thắng lợi
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ
nước Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sức tiến hành các
hoạt động ngoại giao để các nước trên thế giới, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa công nhận Việt Nam Do chính sách ngoại giao khôn khéo của Hồ Chủ Tịch nên ngày 30/1/1950, Liên Xô đã tuyên bố công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Sự kiện này mở ra một bước ngoặt lịch sử trong quan hệ ngoại giao của hai nước
Từ đó, quan hệ Xô - Việt ngày càng được củng cô và phát triển về tất cả
các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quân sự, trên cơ sở nguyên
tắc Mác - Lênin và cả chủ nghĩa quốc tế vô sản Chính phủ và nhân dân Liên
Xô đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ cứu nước Liên Xô đã ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam một cách toàn
diện, hiệu quả Liên Xô gửi tới Việt Nam các thiết bị công nghiệp, viễn thông,
Trang 9Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
xe tai, trang bi y tế, công cụ máy móc, quặng sắt và các kim loại không chứa
sắt Từ năm 1953, Liên Xô bắt đầu viện trợ cho đồng minh Việt Nam vũ khí
và các trang bị quân sự Liên Xô đào tạo giúp Việt Nam những cán bộ quân
sự có khả năng vận hành các vũ khí hiện đại Hợp tác quân sự giữa hai nước được sự chú ý của các nhà lãnh đạo ở Matxcova và Hà Nội
Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, Liên Xô đã
đứng đầu danh sách những nước cung cấp viện trợ cho Việt Nam Theo một báo cáo của Bộ ngoại giao Nga (26/10/1965), từ năm 1962, Matxcơva đã cung cấp cho Hà Nội gần 200 triệu USD trang thiết bị quân sự kế cả máy bay
[8, tr.126] Tính chất của viện trợ kinh tế, quân sự của Liên Xô cho Việt Nam
chính thức được xác định vào năm 1965 Khối lượng hàng viện trợ của Liên
Xô tăng đều đặn từ năm 1965 đến năm 1968 Đến năm 1968, viện trợ của Liên Xô đạt tỷ lệ 524 triệu rúp (582,2 triệu USD) chiếm khoảng 50% tổng số
viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam [8, tr.125] Trong đó viện trợ quân sự chiếm khoảng 2/3 tổng số viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khoảng 357 triệu rúp tương đương 369,7 triệu USD) Nếu tính từ năm 1953 đến năm 1968 thì trị giá hàng quân sự Liên Xô viện trợ cho Việt Nam lên tới 1,1 tỷ rúp [8, tr.126] Liên Xô đào tạo cho Việt
Nam một đội ngũ cán bộ quân sự tài giỏi, có kinh nghiệm vận hành những vũ
khí do Liên Xô cung cấp Trong giai đoạn này, mỗi năm có hàng ngàn chiến
sĩ và sĩ quan Việt Nam được đảo tạo tại các trường quân sự của Liên Xô Riêng năm 1966, theo một báo cáo của Đại sự quán Liên Xô, đã có 2600
người Việt Nam được gửi tới đào tạo tại Liên Xô để phục vụ cho ngành
không quân và phòng không [8, tr.I2§] Trong số những người được đào tạo tại Liên Xô, có những người sau này đã giữ vai trò chỉ huy quan trọng các đơn vị của quân đội Việt Nam Từ năm 1969 đến năm 1971, Matxcơva đã ký với Hà Nội 7 hiệp nghị viện trợ và tăng cường hợp tác kinh tế Trong đó, có
Trang 10Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
hiệp nghị hỗ trợ phát triển kinh tế và quốc phòng [8, tr.405] Những viện trợ
to lớn của Liên Xô đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm cho Việt Nam
trở thành một đối tác và là vị trí tiền tiêu của Liên Xô ở Đông Nam Á Từ đó,
giúp Liên Xô xúc tiến mạnh mẽ một chính sách đối với khu vực Đông Nam
A
Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại, ngày 18 thang 7 nam 1955 Lién X6
và Việt Nam ký Hiệp định kinh tế - thương mại Xô - Việt , mở đầu cho quan
hệ chính thức về hợp tác kinh tế giữa hai nước Trong 3 năm (1955 - 1957) trao đôi hàng hoá giữa hai nước đạt I 1,6 triệu rúp (theo hệ thống giá cả năm 1977) Phần lớn trong cán cân xuất nhập khẩu của Liên Xô sang Việt Nam là
máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu và các mặt hàng tiêu dùng công
nghiệp [12, tr.3] Ngày 12/3/1958, Hiệp định thương mại và hàng hải Liên Xô
- Việt Nam được ký kết Theo hiệp định này, hai bên quyết định giành cho
nhau chế độ nước được ưu đãi nhất trong lĩnh vực thương mại và hàng hải Khác với buôn bán thông thường, quan hệ thương mại Xô - Việt là quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, xuất phát từ nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản Liên Xô đã giành cho Việt Nam những ưu đãi trên nhiều mặt về cơ cấu mặt hàng, giá cả, thanh toán, giao nhận và vận tải, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, mở rộng xuất khẩu Góp phần khai thác và sử dụng hợp
lý, có hiệu quả tài nguyên của Việt Nam Sau khi ký Hiệp định thương mại và hàng hải, quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước ngày càng được đây
mạnh Trên cơ sở hiệp định này, hiệp định dài hạn đầu tiên về trao đổi hàng
hoá cần thiết trong những năm 1961 -1965 được ký kết Trong những năm tháng còn lại của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965 - 1975), quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước Xô - Việt ngày càng được tăng cường
Trang 11Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
Quan hệ trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục cũng được hai nước Xô - Việt quan tâm và ngày càng phát triển Nền văn hoá Nga có từ lịch sử lâu đời, nhưng thời kỳ văn hoá Nga có ảnh hưởng mạnh mẽ tới Việt Nam chính là thời gian 7 thập kỷ tồn tại của nước Nga Xô Viết Tinh thần cách mạng, chủ nghĩa anh hing, tinh thần nhân đạo, chủ nghĩa quốc tế trong văn học, nghệ thuật và
văn hoá Nga đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến văn hoá Việt Nam
Đặc biệt, sau khi Việt Nam và Liên Xô ký kết “Hiệp định trao đổi văn
hoá song phương” (1957), quan hệ hợp tác văn hoá Nga - Việt đã phát triển
rất hiệu quả Văn học, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh của Liên Xô đã tác
động, gây ảnh hưởng sâu xa trong văn hoá nghệ thuật Việt Nam Những diễn viên, đạo diễn, các nhà làm phim đầu tiên của Việt Nam đều do các chuyên gia Xô Viết đào tạo Nhà điện ảnh người Nga Karmen và Ibragimov là những
người đã quay các thước phim lịch sử đầu tiên về cuộc kháng chiến chống
Pháp của nhân dân Việt Nam, nhờ đó thế giới biết đến và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
Ngoài ra, Liên Xô cũng đã giúp đỡ Việt Nam trong việc đào tạo cán bộ
khoa học và công nhân kỹ thuật Năm 1951, Liên Xô đã nhận đào tạo cho
Việt Nam đoàn sinh viên đầu tiên là 21 người [3, tr.7] Các trường Đại học,
Cao Đắng, Viện nghiên cứu của Liên Xô đã giúp Việt Nam đào tạo các nhà nghiên cứu, chuyên gia, kỹ thuật viên tay nghề cao, cán bộ quản lý nhà nước
và kinh tế,
Hợp tác Xô - Việt trên lĩnh vực khoa học - kỹ thuật đã cách đây nửa thế
kỷ Ngày 7/3/1959, Liên Xô và Việt Nam đã chính thức ký kết hiệp định về
hợp tác khoa học - kỹ thuật Từ đó, quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực này
ngày càng phát triển Thời gian đầu (1959 -1975), Liên Xô giúp đỡ Việt Nam
chủ yếu trong lĩnh vực đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ, công nhân,
Trang 12Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên giao các tài liệu kỹ thuật, phụ tùng máy móc, gửi các chuyên gia sang giúp Việt Nam trong công tác khoa học - kỹ thuật và quản lý sản xuất
1.2 Giai đoạn (1975- 1986)
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tổ quốc hòa bình, thống
nhất, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa
giành được thắng lợi vĩ đại Trong quan hệ với các nước, Đảng Cộng sản Việt
Nam cũng chủ trương củng cô và tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan
hệ hợp tác với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Việt Nam thống nhất, quan hệ Xô -
Việt phát triển lên một mức độ cao hơn, trở thành quan hệ đồng minh hợp tác
toàn diện Trong quan hệ với Việt Nam, Liên Xô luôn coi: hợp tác chặt chẽ
trong lĩnh vực kinh tế, khoa học và kỹ thuật, phục vụ có hiệu quả cho việc
củng cổ các tiềm lực kinh tế quốc dân của hai nước, cho các nhiệm vụ lao động sáng tạo của nhân dân Xô Viết và Việt Nam là vấn đề có tính nguyên
tắc Về phía Việt Nam, Đại hội Đáng Cộng sản Việt Nam lần thứ V đã khẳng
định: “Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn là hòn đá tảng
trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam” {4, tr.144]
Những quan điểm chiến lược này thấm nhuần trong toàn bộ quá trình lịch sử
hợp tác Xô - Việt Nhờ đó, suốt một thời gian dài, quan hệ giữa hai nước Liên
Xô và Việt Nam đã đạt được những kết qua to lớn trên tất cả các lĩnh vực
Từ năm 1978 Đảng Cộng sản Việt Nam đã điều chỉnh một số chủ
trương, chính sách trong đường lối đối ngoại Khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đang ngày càng diễn biến căng thắng, Đảng đã khẳng đinh: chú trọng củng cố, tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô — coi quan hệ với
Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; ra sức bảo
vệ mối quan hệ Việt — Lào trong bối cảnh vấn đề Capuchia đang diễn biến
Trang 13Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
phức tạp; góp phần xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, tự do, trung lập
và ôn định; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Trên cơ sở đó, nhiều đoàn Đại biểu cấp cao của hai Đáng, hai Nhà nước
Xô - Việt đã qua lại thăm viếng lẫn nhau Trong thời gian này, nhiều văn kiện, hiệp định được ký kết Ngày 3/11/1978, hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác tại Matxcơva Hiệp ước quy định: “hai nước sẽ tiếp tục củng cố quan
hệ hữu nghị đoàn kết không gì lay chuyển được và sự giúp đỡ lẫn nhau trong tinh thần anh em, không ngừng phát triển quan hệ chính trị và hợp tác về mọi mặt, mở rộng sự hợp tác kinh tế và khoa học - kỹ thuật trên cơ sở cùng có lợi nhằm đây mạnh sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản Hiệp ước nhắn mạnh rằng: trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công hoặc bị đe dọa tấn công, hai bên sẽ trao đôi với nhau nhằm loại trừ mối đe dọa
đó và áp dụng những biện pháp thích đáng, có hiệu lực để đảm bảo hòa bình
va an ninh của hai nước” [25, tr.212] Cùng với Hiệp ước này, lực lượng hải quân Liên Xô tăng cường sự có mặt tại vịnh Cam Ranh và Biến Đông Việt
Nam trở thành một trọng điểm trong chiến lược Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Xô
Năm 1975, Việt Nam thống nhất đất nước, quan hệ Xô - Việt bước vào
giai đoạn phát triển mới Nét đặc trưng của quan hệ Xô - Việt giai đoạn này là: mối quan hệ hợp tác toàn diện Ngày 30/10/1975, Hiệp định dài hạn thứ hai về trao đổi hàng hóa và trả tiền trong những năm 1976 - 1980 giữa Liên
Xô và Việt Nam đã được ký kết Trong quá trình thực hiện Hiệp định này,
khối lượng hàng hóa trao đổi giữa Liên Xô và Việt Nam trị giá 2 tỷ 364 triệu
100 nghìn rúp, tăng gấp 2,6 lần so với mức đạt được trong những năm 1971 -
1975 [12, tr.3]
Trang 14Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
Trong giai đoạn này, quan hệ Liên Xô - Việt Nam trên lĩnh vực khoa
học - kỹ thuật cũng chuyên sang một giai đoạn mới Từ hình thức hợp tác một chiều chủ yếu là phía Liên xô giúp đỡ Việt Nam, chuyển sang hợp tác hai chiều phục vụ lợi ích chung của cả hai nước Ví dụ như, hai nước đã triển khai thực hiện chương trình hợp tác khoa học phối hợp dài hạn (1981 - 1985),
ký kết 60 đề tài thuộc 23 lĩnh vực khác nhau, thu hút hàng trăm nhà khoa học, chuyên gia của hàng chục viện nghiên cứu, viện thiết kế, trường đại học, trạm thí nghiệm của hai nước cùng tham gia Hàng năm, các chuyên gia Liên Xô sang Việt Nam giúp đỡ kỹ thuật Viện khoa học Liên Xô giúp đỡ Việt Nam nhiều tài liệu khoa học, sách báo, Nhiều chuyên gia Việt Nam cũng đã sang Liên Xô nghiên cứu, học hỏi những thành tựu công nghệ tiên tiến Hai nước
Xô - Việt đã xây dựng được 72 chương trình về phát triển khoa học - kỹ thuật,
triển khai thành công kết quả nghiên cứu của chuyến bay vũ trụ quốc tế Xô -
Việt (7/1980) Ngoài ra, Liên Xô còn giúp đỡ Việt Nam cá về vật chất lẫn
chuyên gia kỹ thuật để xây dựng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia (trước đây là Viện nghiên cứu
về khoa học, sau trở thành Viện khoa học Việt Nam), bệnh viện Việt - Xô, cầu Thăng long,
Nhìn chung, quan hệ Liên xô và Việt Nam giai đoạn này ngày càng
phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, dựa trên sự hiểu biết lẫn nhau và đã
trải qua sự thách thức trong một thời gian dài là cơ sở để hai nước tăng cường
hợp tác trong mọi lĩnh vực, phục vụ lợi ích của cả hai dân tộc Đại hội lần thứ
V của Đảng xác định: “công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ
động, tích cực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của các thế lực
thù địch mưu toan chống phá nhà nước ta”
Đáng ta tiếp tục nhắn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô
là nguyên tắc, là chiến lược và luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối
Trang 15Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngoại của Việt Nam Trong giai đoạn 1975 — 1986 Việt Nam xây dựng quan
hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa; củng cố tăng cường đoàn kết và hợp tác với Lào và Capuchia; mở rộng quan hệ hữu nghị với các nước không liên kết và các nước đang phát triển
1.3 Giai đoạn (1986 - 1991)
Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, vững chắc đi lên con đường Xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng
cộng sản Việt Nam là mốc quan trọng mở ra thời kỳ phát triển mới trên con
đường phát triển
Đại hội đánh giá đúng tình hình đất nước, đã đề ra chủ trương đổi mới
Trong công cuộc đổi mới, Đại hội nhấn mạnh phải lay đổi mới kinh tế làm
trung tâm Thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh” sự phát triển kinh tế đòi
hỏi mở cửa, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hợp tác kinh tế quốc tế, tích cực khai thác nguồn vốn, công nghệ thị trường với nhiều nước đặc biệt là
Liên Xô Từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới kinh tế trong mỗi nước,
nâng cao vai trò của các đơn vị kinh tế cơ sở, quan hệ trực tiếp giữa các bạn
hàng của hai nước được khuyến khích phát triển Năm 1989 đã có 127 đơn vị
kinh tế của Việt Nam và Liên Xô ký kết hợp đồng quan hệ trao đổi hàng hóa
trực tiếp, trị giá 83 triệu rúp và 1,6 triệu USD Tuy nhiên, trên thực tế kết quả
thực hiện quan hệ này chưa cao Kim ngạch trao đối hàng hóa trực tiếp năm
1988 khoảng 10 triệu rúp, năm 1989: 30 triệu rúp Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do các vướng mắc về thủ tục xuất khẩu, về chính sách,
chế độ quản lý, [22, tr.357 - 358] Tổng cộng từ năm 1986 đến năm 1990
trao đối hàng hóa giữa hai nước đạt: 7800 triệu rúp Ở những năm cuối thập
kỷ 80, Liên Xô chiếm khoảng 40% xuất khẩu và 60% nhập khẩu của Việt
Trang 16Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
Nam (khoảng 50% tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu của Việt Nam [22, tr.356]
Nhìn chung, trong suốt thời gian quan hệ buôn bán Xô - Việt , Liên Xô
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
sang thị trường Liên Xô, cho hưởng chế độ ưu đãi nhất, giúp tố chức nguồn hàng, khai thác mọi tiềm năng của nền nông nghiệp nhiệt đới với nguồn lao động dồi dào, tài nguyên phong phú
Trong quan hệ kinh tế Xô - Việt, đạt được hiệu quả cao nhất là lĩnh vực
dầu khí và năng lượng điện Ngày 19/6/1981 (tại Matxcơva), xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro được thành lập do việc ký Hiệp định giữa hai nước Việt Nam - Liên Xô Đến năm năm sau, ngày 26/6/1986, Vietsovpetro
khai thác tấn dầu đầu tiên tại mỏ Bạch Hồ ở thềm lục địa Việt Nam, mở đầu
một thời kỳ mới trong lịch sử phát triển công nghiệp khai thác dầu khí Việt Nam Liên Xô còn giúp đỡ Việt Nam xây dựng các nhà máy điện: thủy điện Hòa Bình, Trị An, nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí
Trong những năm sau đó, quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô đang được đôi mới phù hợp với lợi ích của nhân đân mỗi nước
Đại hội VII (6/1991), đã đề ra nhiệm vụ đối ngoại, thực hiện phương
châm “Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước trên thế giới” Trước sau như một tăng cường đoàn kết và hợp tác với Liên Xô, đổi mới phương thức
và nâng cao hiệu quả hợp tác Việt Nam và Liên Xô nhằm đáp ứng lợi ích của mỗi nước
Như vậy, kế từ năm 1986, đặc biệt là từ Đại hội VI, chúng ta đã biết cách vận đụng các sách lược ngoại giao để từng bước tháo gỡ khó khăn Chúng ta cần phải biết đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ với các đối tác khác nhau đề tìm ra những lợi ích tối đa cho dân tộc
Trang 17Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
CHƯƠNG 2 QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA THEO ĐƯỜNG LOI ĐÓI NGOẠI CUA DANG CONG SAN VIET NAM (1991- 2000)
2.1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam — Liên Bang Nga 2.1.1 Bỗi cảnh quốc tế và khu vực Đông Nam Á sau khi Liên Xô tan rã Sau khi Liên Xô tan rã (12/1991), cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn 4 thập kỷ không còn cơ sở để tồn tại Tương quan lực lượng thế giới và cơ cấu địa - chính trị toàn cầu bị đảo lộn Trên thế giới diễn ra những thay đổi phức
tạp
Trước hết, trên bình diện an nỉnh - chính trị, xu thế hòa dịu - hòa hoãn
và hợp tác tỏ ra chiếm ưu thế hơn trong các quan hệ quốc tế, hình thành mối quan hệ hợp tác - liên kết mới trên các lĩnh vực theo xu hướng chú trọng mục tiêu phát triển Tuy vậy, những mâu thuẫn tiềm ấn về sắc tộc, tôn giáo trên thé giới lại bùng phát
Cùng với những biến đối về an ninh - chính trị, tình hình quốc tế trên
bình điện kinh tế cũng trở nên sôi động Dưới tác động của cuộc cách mạng
Khoa học và Công nghệ hiện đại, nền kinh tế thế giới đạt tốc độ và qui mô
thay đổi nhanh chóng chưa từng thấy
Quá trình quốc tế hóa về kinh tế thâm nhập vào mọi khu vực thế giới
làm nảy sinh xu thế nhất thể hóa toàn cầu — xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế
Mặt khác, tiến trình khu vực hoá cũng được thúc đây mạnh mẽ với sự hình
thành rất nhiều các tổ chức hợp tác, liên kết kinh tế - thương mại ở khắp các
châu lục
Bối cảnh quốc tế với các sự kiện trọng đại và phức tạp sau chiến tranh
lạnh đã ảnh hưởng đến cục diện chính trị và quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á
Trang 18Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chiến tranh lạnh kết thúc, các nước Đông Nam Á đứng trước vận hội mới của tiến trình hợp tác, liên kết vì mục tiêu phát triển Sự cải thiện quan hệ giữa các
nước lớn sau chiến tranh lạnh đã tạo điều kiện thuận lợi để các nước Đông
Nam Á không chỉ phá bỏ bức tường vô hình ngăn cách giữa họ đo chiến tranh lạnh dựng lên, mà còn thúc đây bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước lớn
Những chuyên biến tích cực trong đời sống an ninh, chính trị và kinh tế của Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh đã khiến các nước lớn phải điều chỉnh
lại chính sách đối ngoại với khu vực này, nhằm củng cố và nâng cao ảnh
hưởng tại khu vực, tạo cơ sở hỗ trợ đắc lực cho việc thực thi chính sách Châu
Á - Thái Bình Dương của mỗi nước Tình hình đó ảnh hưởng đến quan hệ của Liên Bang Nga đối với Việt Nam
Sau khi Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới,
tiễn hành điều chỉnh lại chiến lược toàn cầu nhằm xây dựng “trật tự thế giới”
mà Mỹ giữ vai trò lãnh đạo Trong quá trình điều chỉnh chiến lược toàn cầu,
Mỹ chú trọng hơn đến Châu Á - Thái Bình Dương
Đông Nam Á là bộ phận hữu cơ trong chính sách Châu Á - Thái Bình
Dương của Mỹ Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, những điều chỉnh chính sách của Mỹ ở đây ngày càng trở nên rõ ràng, cụ thể hơn nhằm tăng cường vai trò của Mỹ ở Đông Nam Á Về an ninh - chính trị, Mỹ tham gia mang tính chất xây dựng hơn vào việc thảo luận các vấn đề an ninh khu vực do ASEAN khởi xướng, Mỹ quay trở lại củng cố các quan hệ song phương Cái thiện quan hệ với các nước Đông Dương là một trong những hướng điều chỉnh chính sách quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á Tháng 12/1994, Mỹ bãi bỏ
lệnh cắm vận kinh tế với Việt Nam Đầu năm 1995, Mỹ và Việt Nam đã lập văn phòng đại diện ở thủ đô mỗi nước Về kinh tế, Mỹ chú trọng mở rộng thị
trường cho hàng hóa, đầu tư và dịch vụ tại các nước Đông Nam Á vốn là bạn
Trang 19Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
hàng truyền thống Mỹ trở thành đối tác kinh tế lớn nhất của các nước
ASEAN Ngày 13/7/2000, Mỹ và Việt Nam chính thức ký kết Hiệp định kinh
tế - thương mại, bình thường hóa toàn diện quan hệ Việt - Mỹ
Như vậy, chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh đã
được điều chỉnh khá rõ nét Việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và
các nước Đông Dương tạo điều kiện cho Mỹ mở rộng ảnh hưởng trên toàn khu vực Đông Nam Á
Trong số các nước lớn, chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh được điều chỉnh sớm nhất và rõ nét nhất Hướng điều chỉnh nỗi bật trong chính sách của Nhật Bản với khu vực là tăng cường vai trò chính trị cho tương xứng với lĩnh vực kinh tế Sự điều chỉnh chính sách của
Nhật Bản tương đối toàn diện với học thuyết Miadaoa được công bố nhân
chuyến thăm các nước ASEAN của thủ tướng Miadaoa (1/1993) và học
thuyết Hisamôtô với 5 nước ASEAN, trong đó có Việt Nam (1/1997)
Nhìn chung, sự điều chỉnh chính sách thường xuyên của Nhật Bản ở Đông Nam Á trong những năm gần đây cho thấy những nỗ lực to lớn của Nhật trong quyết tâm phát huy ảnh hưởng hàng đầu ở khu vực
Trung Quốc là một nước lớn, cũng tiến hành điều chỉnh chính sách với
Đông Nam A nhằm khống chế khu vực trong tầm ảnh hưởng của mình Một
trong những biểu hiện cụ thể của việc điều chỉnh trong chính sách của Trung
Quốc là tìm cách cải thiện quan hệ với các nước khu vực Năm 1990, Trung Quốc đã góp phần khai thông Campuchia, đồng thời bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Inđônêxia và Xingapo Năm 1991, bình thường hóa quan hệ với Brunây và Việt Nam
Khối liên minh Châu Âu (EU) cũng nỗ lực nhằm mở rộng và tăng cường quan hệ một cách toàn diện với khu vực Các nước EU cũng ngày càng quan tâm đến hợp tác với Việt Nam Bước phát triển mới trong quan hệ Việt
Trang 20Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
Nam - EU được đánh dấu bằng sự kiện ký kết Hiệp định hợp tác giữa Việt
Nam - EU (7/1995) Sự kiện này mở ra triển vọng thúc đây quan hệ nhiều mặt giữa hai bên
Như vậy, bối cảnh quốc tế và khu vực sau chiến tranh lạnh có nhiều
thay đôi cùng với sự điều chỉnh chính sách cúa các nước lớn nhằm tạo ảnh hưởng mạnh ở khu vực Đông Nam Á đã tác động lớn đến quan hệ Liên Bang Nga và Việt Nam từ năm 1991 — 2000
2.1.2 Sự ra đời và điều chính định hướng dỗi ngoại cúa Liên Bang Nga Tháng 8/1991, một cuộc chính biến nhằm lật đổ Goocbachôp nỗ ra
nhưng thất bại Sau đó, Goocbachôp tuyên bố từ chức Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Liên Xô, yêu cầu giải tán Ủy ban Trung ương Đảng Ngày 21/12/1991, những người lãnh đạo I1 nước cộng hòa trong Liên bang ký Hiệp định thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) Nhà nước Liên bang
Xô viết tan rã Ngày 25/12/1991, Goocbachôp từ chức Tổng thống, đánh dấu
sự chấm đứt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
Sau khi Liên Xô tan rã, Liên Bang Nga là “quốc gia kế tục Liên Xô”, được kế thừa địa vị pháp lý của Liên Xô và thừa hưởng phần lớn tiềm lực kinh tế, quân sự của Liên Xô Hiện nay, Nga có dân số khoảng trên 150 triệu
người, với diện tích: 17,I triệu km” trải rộng trên hai lục dia Au - A (1/3 nam
ở Châu Âu và 2/3 nằm ở Châu Á) [2, tr.26] Tuy nhiên, nước Nga bước ra vũ đài quốc tế với muôn vàn khó khăn về tất cả các mặt
Về kinh tế, kế thừa nền kinh tế Liên xô thời kỳ cải tổ, kinh tế Nga tiếp
tục khủng hoảng, suy thoái Năm 1991, nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Nga là: âm 15% Năm 1992 là: âm 19% [19, tr.13] Năm 1996, GDP của Nga thấp hơn Mỹ 10 lần,Trung Quốc 5 lần, Đức 2 lần
Trang 21Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
Về chính trị - xã hội trong nội bộ cuộc đấu tranh giành chính quyền
giữa các phe phái, các lực lượng chính trị, trong xã hội Nga có nhiều vấn đề bức xúc: tham nhũng, buôn lậu, ma túy, khủng bố gia tăng,
Đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, mặc dù có nhiều khó khăn,
song về cơ bản tình hình kinh tế, chính trị, xã hội dần đi vào ổn định Về kinh
tế, năm 2000 Nga đạt được thành tựu vượt bậc, GDP tăng trên 7%, sản xuất
công nghiệp tăng hơn 10%, nông nghiệp tăng 4%, vốn đầu tư tăng 9%, ngoại
tệ tăng 2 lần, đạt 28 tỷ USD, [17, tr.5] Xã hội nước Nga dan đi vào én định,
đời sông của nhân dân được cải thiện
Những năm đầu sau khi trở thành một nước độc lập, chính sách đối ngoại của Nga về cơ bản vẫn tồn tại trên nền tảng tư duy đối ngoại của Liên
Xô thời kỳ cải tổ (1985 - 1991): "thân Phương Tây", coi nhẹ Phương Đông nói chung, Đông Nam Á nói riêng trong đó có Việt Nam Sở dĩ như vậy vì các
nhà lãnh đạo của Nga, đứng đầu là B.Elxin lên nắm quyền đều nhờ hậu thuẫn
của Phương Tây Hơn nữa, khi vừa trở thành nước độc lập Nga phái đối mặt
với nhiều khó khăn, đặc biệt khó khăn về kinh tế Thực hiện đường lối “thân
Phương Tây”, Nga hi vọng được Phương Tây ủng hộ về chính trị và viện trợ
về kinh tế Nhưng thực tế chính sách đối ngoại này không mang lại kết quả như mong đợi Về chính trị, Nga bị Phương Tây khống chế Trong lĩnh vực kinh tế, Phương Tây viện trợ cho Nga kèm theo nhiều điều kiện hà khắc làm cho nền kinh tế Nga chẳng những không tăng lên mà ngày càng sa sút Trước tình hình đó, những người lãnh đạo Nga buộc phải xét lại đường lối đối ngoại của mình
Sau cuộc bầu cử Quốc hội Nga (12/1993) chính sách đối ngoại của Nga
đã có những chuyển hướng quan trọng: "Chú trọng hơn tới khu vực Châu Á, coi trọng khu vực Châu Á — TBD nói chung, Đông Nam Á nói riêng trong đó
có Việt Nam Nga chú ý tới việc đây mạnh mối quan hệ với Việt Nam vì Nga
Trang 22Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
muốn Việt Nam trở thành đầu cầu nối để Nga đi vào khu vực Đông Nam Á, tiếp cận các nước ASEAN Điều này được thể hiện rõ qua việc hàng loạt các đoàn đại biểu cấp cao Liên Bang Nga sang thăm chính thức Việt Nam Từ đó kinh tế Nga có điều kiện phục hồi và phát triển Đặc biệt sau khi V.Putin lên làm tổng thống (3/2000), Nga thi hành chính sách ngoại giao tích cực có kế thừa và điều chỉnh theo hướng cân bằng Đông - Tây hơn, tiếp tục coi trọng quan hệ với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
Như vậy, đường lối đối ngoại của Liên Bang Nga từ năm 1991 — 2000
chia làm hai thời kỳ Giai đoạn từ năm 1991 — 1993, Nga thực hiện đường lối
đối ngoại “thân Phương Tây” nên đã lăng quên các quan hệ đồng minh truyền thống Giai đoạn từ năm 1994 — 2000 Nga đã điều chỉnh đường lối đối ngoại theo hướng “cân bằng Đông — Tây”, đây mạnh quan hệ đối tác truyền thống,
trong đó có Việt Nam Đường lối đối ngoại đó đã ảnh hưởng lớn đến quan hệ
Liên Bang Nga - Việt Nam giai đoạn 1991 - 2000
2.2 Tình hình Việt Nam và đường lối đối ngoại đỗi mới của Việt Nam
2.2.1 Tình hình Việt Nam
Sau khi giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản
Việt Nam bắt đầu sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Xã hội chủ nghĩa trên phạm
vi cả nước Do tâm lý chủ quan nóng vội, duy ý chí, Đảng đã mắc phải một số sai lầm trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Với những nhận thức sai lầm đó nên Đảng đã tiếp tục duy trì mô hình kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp trong khi mô hình này vốn đã trở nên lỗi thời và lạc hậu Hậu quả là đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế, xã hội Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới với thái độ
nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 23Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
lần thứ VI (tháng 12 /1986) đã đề ra đường lối đổi mới đất nước Trong quá
trình thực hiện đổi mới, Đảng và Nhà nước chủ trương lấy đối mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời coi trọng đôi mới chính trị, xã hội văn hóa với những bước đi và hình thức thích hợp Sau một thời gian tiến hành đối
mới, đến năm 1991 Việt Nam đã thu được những thành tựu đáng kẻ Tốc độ
tăng trưởng bình quân năm của tông sản phẩm quốc nội (GDP) thời kỳ 1986 —
1990 đạt 3,9%; trong đó công nghiệp tăng 5,9%; nông nghiệp 3,6% [11,
tr.13] Trong thời kỳ năm 1991 - 1995, tốc độ tăng GDP bình quân của Việt
Nam là 8§,I§%/năm; trong đó công nghiệp tăng 12%; nông nghiệp tăng
4,09%; dịch vụ tăng 8,6% năm 1996 - 2000, GDP bình quân là 6,94%/năm;
trong đó công nghiệp tăng 10%; nông nghiệp tăng 4,35; dịch vụ tăng 5,75% [20, tr.7] Từ nước phải nhập khẩu lương thực mỗi năm trên dưới I triệu tấn, đến năm 1989 Việt Nam đã xuất khâu được 1.4 triệu tan gạo, đứng thứ ba trên
thé giới Năm 2000 xuất khẩu lên tới 4 triệu tan và trở thành nước xuất khẩu
gạo đứng thứ hai trên thế giới, sau Thái Lan [11, tr.12] Nhìn chung đến năm
2000, tổng sản phẩm trong nước tăng liên tục, đã gấp 2,07 lần năm 1990 [20, tr.6] Việt Nam đứng vào hàng các nước trong khu vực có nền kinh tế tăng trưởng cao của thập niên 90 thế kỷ XX
Như vậy, Trong thời gian từ năm 1991 đến năm 2000 Việt Nam đã tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới thành công, kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ làm cho bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân chuyền biến tích cực Giáo dục - Dao tao tăng trưởng về chất lượng, quy mô và cơ sở vật chất Trình độ dân trí
và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên, Văn hoá - Xã hội tiến bộ, đời
sống của nhân dân được cải thiện Tình hình Chính trị - Xã hội cơ bản ổn
định, Quốc phòng - An ninh được giữ vững Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường Địa vị, uy tín của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc
tế
Trang 24Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Việt Nam vẫn còn nhiều yếu
kém cần khắc phục Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp Một số vấn đề văn hóa xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống còn rất nghiêm trọng
2.2.2 Đường lỗi đối mới đỗi ngoại của Việt Nam
Đổi mới chính sách đối ngoại và hoạt động đối ngoại là một quá trình liên tục Trong những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta đứng trước rất nhiều khó khăn Ở trong nước chúng ta phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội trầm trọng, kéo dài Về đối ngoại, Việt Nam phải đương đầu với tình
trạng bị cô lập về chính trị, cắm vận về kinh tế Trong khi đó, trên thế giới,
cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra như vũ bão, xu thế khu vực hóa,
toàn cầu hóa nối lên, đặt ra những cơ hội và thách thức cho nhiều quốc gia,
mà Việt Nam nằm trong số đó Xu thế chung của thời đại đã đặt Đảng và nhân dân Việt Nam trước một nhiệm vụ khó khăn nhưng mang tính tất yếu: phải đổi mới Và một trong những nội dung quan trọng nhất của nhiệm vụ này
chính là đổi mới đường lối đối ngoại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã nêu ra quan điểm: Thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá,
đa phương hoá Đáng chủ trương phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới và đề ra yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa
Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khoá VI (5/1988) đề ra phương châm đối ngoại: “thêm bạn, bớt thu”, khang dinh mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập
trung sức xây dựng và phát triển kinh tế Nghị quyết này đánh dấu sự đổi mới
tư duy quan hệ quốc tế và chuyến hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của
Đảng ta Sự chuyên hướng này đã đặt nền móng hình thành đường lối đối
Trang 25Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế
Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã cụ thể hóa phương châm “thêm bạn, bớt thù” bằng chủ trương "hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác
nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình", với phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phân đấu vì
hoà bình, độc lập và phát triển" [ 6, tr.146-147]
Đại hội VII đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể Với
Lào và Campuchia, ta thực hiện đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả trên tỉnh thần bình đẳng Với Trung Quốc, Đảng chủ trương thúc đây bình thường hoá quan hệ, từng bước mở rộng hợp tác Việt - Trung Trong quan hệ với khu vực, chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các nước Đông Nam
Á và Châu Á - Thái Bình Dương Đối với Hoa Kỳ, Đại hội nhắn mạnh yêu
cầu thúc đây quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Sau khi
Liên Xô sụp đồ (12/1991), cục điện thế giới và khu vực có nhiều thay đổi, đã
đặt nước ta trước những thách thức mới cam go Tuy nhiên những kết quả bước đầu trong việc triển khai chính sách đối ngoại mới đã tạo tiền đề để Đảng đưa ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế với tinh thần “ Việt Nam muốn làm bạn với tất
cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp Hội nghị Trung ương lần thứ ba khoá VII (6/1992) bàn về chính sách đối ngoại nhân
mạnh yêu cầu đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế Mở rộng cửa để tiếp thu vốn và công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài, tiếp cận thị trường thế giới trên cơ sở bảo đảm an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên, môi
Trang 26Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp dai hoc
trường, hạn chế đến mức tối thiểu những mặt tiêu cực phát sinh trong quá
trình mở cửa
Đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) và Đại hội IX (4/2000)
khẳng định "tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, mở rộng,
đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tỉnh thần “Việt Nam
sẵn sàng làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” hợp tác nhiều mặt, đa phương và song phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh
chấp bằng thương lượng" [7, tr.120] Đồng thời chủ trương “xây đựng nền
kinh tế mở” và “đây nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”
Trong chính sách đối ngoại, Đảng xác định: tăng cường quan hệ với các nước láng giềng, các nước trong tổ chức ASEAN, củng cố quan hệ với các nước bạn truyền thống, trong đó có Liên Bang Nga, các nước Liên Xô cũ và Đông
Âu Riêng với Liên Bang Nga, Đảng chủ trương: coi quan hệ đó là một trong những hướng ưu tiên Việt Nam muốn khai thác tốt mọi điều kiện trong quan
hệ đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi để đây mạnh công cuộc đổi
mới đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội VIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VIII (tháng 12/1997), chỉ rõ trên cơ sở phát
huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên
ngoài Nghị quyết đề ra chủ trương tiến hành khân trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định Thương mại với Mỹ, gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Trang 27Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
Có thê nói, Đường lối đối ngoại đổi mới của Việt Nam nói chung va định hướng đối ngoại với Liên Bang Nga nói riêng được nêu lên trong các
Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI,VII,VIII và những nghị quyết
Trung ương khác đã thể hiện một bước chuyên biến căn bản trong hoạt động
đối ngoại của Việt Nam Nhờ có đường lối đối ngoại đổi mới, rộng mở đó,
Việt Nam vẫn tiếp tục duy tri và đây mạnh quan hệ với Liên Bang Nga
Như vậy,quan hệ Việt - Xô trước năm 1991 đã phát triển toàn điện và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Những thành tựu mà quan hệ Xô - Việt đạt được là nền tảng, là cơ sở vững chắc trong quan hệ Liên Bang Nga - Việt Nam (1991 - 2000)
2.3 Quan hệ Việt Nam - Liên Bang Nga 1991 - 2000 theo đường lối đối
ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
2.3.1 Trên lĩnh vực Chính Trị - An nình
* Quan hệ Liên Bang Nga - Viét Nam (1991 - 1993)
Sau khi Liên Bang Nga trở thành một nước độc lập (12/1991), những
người đứng đầu nhà nước thực hiện đường lối "thân Phương Tây", nên đã lãng quên các đối tác đồng minh truyền thống, trong đó có Việt Nam Trên
lĩnh vực chính trị, từ năm 1991 - 1993 không có bất kỳ một cuộc tiếp xúc cao
cấp nào giữa hai nước Trên lĩnh vực an ninh quan hệ giữa Liên Bang Nga và Việt Nam có sự hang hut rất lớn so với trước Từ năm 1989, quan hệ quân sự giữa hai bên giảm sút, Nga cắt viện trợ quân sự cho Việt Nam và giảm dần sự
có mặt ở Cam Ranh Tuy nhiên trong thời kỳ này giữa hai nước vẫn còn có những cuộc tiếp xúc, viếng thăm lẫn nhau Tháng 7 năm 1992, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Đức Lương sang thăm Liên Bang Nga nhằm nối lại và thúc
đây sự hợp tác trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, Tại
các cuộc đàm phán và tiếp xúc, Nga vẫn đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại khu vực Nhưng do vướng mắc trong việc giải quyết nợ, nên hai bên đã không
Trang 28Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khoá luận tốt nghiệp đại học
thê ký kết được Hiệp định cụ thể Mặc dù vậy, hai bên đã nhất trí thành lập
Uỷ ban Liên Chính Phủ về hợp tác kinh tế - thương mại và khoa học kỹ thuật Cuối tháng 7 năm 1992 Phó thủ tướng Nga V.A.Makharatde sang Việt Nam
để tham dự khoá họp đầu tiên của Uỷ ban Liên Chính Phủ đã khăng định:
Liên Bang Nga không từ bỏ lợi ích của mình trong quan hệ với Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một nước có quan hệ truyền thống lâu đời Tháng 10 năm 1993, Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm sang thăm Nga Tại các cuộc tiếp xúc và hội đàm, phía Nga khẳng định chủ trương tiếp tục củng cố và tăng cường quan hệ truyền thống Nga - Việt Về phía Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cường nêu rõ: Việt Nam luôn coi trọng giữ gìn và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác truyền thống với Liên Bang Nga trên cơ Sở mdi
Nhìn chung, quan hệ Việt - Nga trên lĩnh vực Chính trị - An ninh từ
năm 1991 - 1993 có sự hãng hụt rất lớn so với thời kỳ trước Tuy nhiên càng
về cuối càng ghi nhận những có gắng từ cả hai phía nhằm đưa quan hệ Nga - Việt ra khỏi tình trạng trì trệ
* Quan hệ Liên Bang Nga - Việt Nam (1994 - 2000)
Từ năm 1994, chính sách đối ngoại của Nga ngày càng quan tâm tới
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á, với sự có mặt
của Việt Nam Nga cho rằng: đây mạnh quan hệ với Việt Nam sẽ tạo điều
kiện cho họ tăng cường vi thế chiến lược ở Đông Nam Á, nhất là sau khi Việt
Nam gia nhập tổ chức ASEAN Việt Nam xem quan hệ với Nga là một "tiềm
tàng" trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng
của mình
Sự kiện có ý nghĩa quan trọng chính thức đánh dấu bước chuyến biến của quan hệ Việt - Nga sang thời kỳ mới là chuyến thăm Liên Bang Nga của Thủ tướng Chính Phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt (6/1994) Tại cuộc tiếp xúc hai