1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5

61 795 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu thực tế tôi thấy các em HS còn gặp khó khăn khi làm những dạng toán về chuyển đổi đơn vị đo, các bài toán có liên quan đến đo đại lượng nên tôi mạnh dạn làm khóa luận: “Rèn kĩ n

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn khóa luận 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của khóa luận 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lí luận Error! Bookmark not defined 1.2 Cơ sở thực tiễn 20

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI CÁC DẠNG TOÁN VỀ ĐẠI LƯỢNG VÀ CÁC PHÉP ĐO ĐẠI LƯỢNG TRONG TOÁN 5 23

2.1 Dạng toán về chuyển đổi đơn vị đo 23

2.2 Dạng toán về so sánh hai số đo 29

2.3 Dạng toán thực hiện phép tính trên số đo đại lượng 31

2.4 Dạng toán chuyển động đều 33

2.5 Một số bài luyện tập 41

CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44

3.1 Mục đích thực nghiệm 44

3.2 Nội dung thực nghiệm 44

3.3 Phương pháp thực nghiệm 44

3.4 Tiến hành thực nghiệm 44

3.5 Kết quả thực nghiệm 45

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 2

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh NXB: Nhà xuất bản SGK: Sách giáo khoa SGV: Sách giáo viên

TH : Tiểu học

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn khóa luận

Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, giáo dục đóng một vai trò rất quan trọng nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài Đảng và nhà nước ta đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục – đào tạo là xây dựng con người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội “Vừa hồng, vừa chuyên” Phải giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung phương pháp giáo dục Thực sự coi trọng giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội Theo nghị quyết trung ương lần thứ IV “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo” chỉ rõ: phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dục đào tạo Vì vậy những đổi mới giáo dục Tiểu học đòi hỏi phải đổi mới giáo dục môn Toán nhằm phục vụ mục tiêu giáo dục ở Tiểu học vừa phải chuẩn bị cho học sinh học lên Trung học, vừa phải chuẩn bị cho một bộ phận HS đã học tập thành công ở bậc Tiểu học có thể bước vào cuộc sống lao động

Nội dung giảng dạy của Tiểu học luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộc sống Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh Cùng với các môn học khác môn Toán là một trong những môn học bắt buộc ở Tiểu học Môn Toán có vị trí vô cùng quan trọng, nó góp phần quan trọng trong việc rèn luyện tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, Việc giúp học sinh hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng về môn Toán sẽ giúp cho các em định hướng trong không gian, gắn liền việc học tập với cuộc sống xung quanh và hỗ trợ học sinh học tốt các môn học khác ở Tiểu học như: Mĩ thuật, Tập viết, Tự nhiên – xã hội, Thủ công Mặt khác chương trình Toán 5 có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Toán Tiểu học Nếu coi Toán 4 là sự mở đầu thì Toán 5 là sự phát triển tiếp theo và ở mức cao hơn, hoàn thiện hơn ở mức sâu hơn, trừu tượng và khái quát hơn, tường

Trang 4

minh hơn so với giai đoạn các lớp 1, 2, 3 Do đó, cơ hội hình thành và phát triển các năng lực duy, trí tưởng tượng không gian, khả năng diễn đạt (bằng ngôn ngữ nói và viết ở dạng khái quát và trừu tượng) cho học sinh sẽ nhiều hơn, phong phú hơn và vững chắc hơn so với các lớp trước Như vậy, Toán 5 sẽ giúp học sinh đạt được những mục tiêu dạy học Toán không chỉ ở Toán 5 mà toàn cấp Tiểu học

Như chúng ta đã biết: Tiểu học là bậc học nền tảng đặt cơ sở cho việc hình thành phát triển toàn diện nhân cách của con người tạo nền móng vững chắc cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Môn Toán là “chìa khóa” mở cửa cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại công nghiệp tiên tiến Vì vậy, môn Toán là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, nó giúp con người phát triển toàn diện, nó góp phần giáo dục tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đất nước

Tất cả các kiến thức kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học đều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống và rất cần thiết cho người lao động Đối với học sinh môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập và giải quyết vấn đề, góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó còn góp phần vào việc hình thành phát các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như tính cẩn thận, sáng tạo làm việc, cần cù cẩn thận, có chí vượt khó, kế hoạch nề nếp và tác phong khoa học Đối với nội dung giảng dạy về đo lường các em đã làm quen từ lớp 1 và hoàn chỉnh ở lớp 5 Các bài tập về chuyển đổi đơn vị đo lường mang tính khái quát cao, nó là một thuộc tính trừu tượng của các sự vật và hiện tượng Đó là một trong những bài tập có tác dụng rèn luyện tư duy tốt

Đối với lứa tuổi Tiểu học, hoạt động nhận thức chủ yếu dựa vào hình dạng bên ngoài, chưa nhận thức rõ thuộc tính đặc trưng của sự vật Do đó HS rất khó khăn trong việc nhận thức đại lượng Tìm hiểu thực tế tôi thấy các em HS còn gặp khó khăn khi làm những dạng toán về chuyển đổi đơn vị đo, các bài toán có liên quan

đến đo đại lượng nên tôi mạnh dạn làm khóa luận: “Rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lượng và các phép đo đại lượng cho học sinh lớp 5” góp phần

Trang 5

khắc phục khó khăn, ngăn ngừa những sai lầm mà các em thường gặp phải khi làm dạng toán này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong cuốn Dạy học phép đo đại lượng ở bậc Tiểu học của tác giả Nguyễn

Phụ Hy (chủ biên) – Bùi Thị Hường đã giới thiệu khá chi tiết những vấn đề chung về dạy học phép đo đại lượng, dạy học một số dạng toán thường gặp về phép đo đại lượng Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến những sai lầm thường gặp khi giải toán về phép đo đại lượng

Tài liệu Phương pháp dạy học môn Toán - Dự án phát triển giáo viên

Tiểu học giúp giáo viên và học sinh nắm bắt được chương trình, nội dung,

phương pháp của môn học từ đó sẽ có những phương pháp dạy – học phù hợp để đạt được hiệu quả cao trong giáo dục

Ngoài ra các tài liệu trên mạng internet còn cung cấp cho người giáo viên nhiều kiến thức về dạy học phép đo đại lượng, giúp cho giáo viên hiểu sâu hơn

về lĩnh vực này và áp dụng nó trong giảng dạy môn Toán cũng như nhiều môn học khác một cách linh hoạt sáng tạo

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lượng và các phép đo đại lượng cho học sinh lớp 5 để đạt hiệu quả cao, góp phần khắc phục khó khăn, ngăn ngừa những sai lầm mà các em thường gặp phải khi làm dạng toán này

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lượng và các phép đo đại lượng cho

Trang 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của bài tập toán trong quá trình dạy học, phương pháp chung để giải toán, mục đích của việc dạy học yếu tố đại lượng và các phép

đo đại lượng và một số vấn đề về đại lượng và các phép đo đại lượng trong chương trình môn Toán Tiểu học nói chung và của lớp 5 nói riêng để làm cơ sở

lý luận cho khóa luận

- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn với những thuận lợi và khó khăn mà học sinh có thể gặp phải trong quá trình học, sau đó đưa ra những giải pháp khắc phục

- Thực nghiệm sư phạm minh họa tính khả thi và tính hiệu quả của biện pháp rèn

kĩ năng giải các dạng toán có nội dung đại lượng và các phép đo đại lượng cho học sinh lớp 5

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra, quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo khóa luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng giải các dạng toán về đại lượng và các phép đo đại lượng

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Vai trò, ý nghĩa của bài tập toán trong quá trình dạy học

a/ Vai trò của bài tập toán trong quá trình dạy học

Ở trường phổ thông, dạy toán là dạy hoạt động toán học Đối với học sinh

có thể xem hoạt động giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học, thông thường giải bài toán học sinh có thể thực hiện những hoạt động nhất định bao gồm cả nhận dạng và thể hiện quy tắc, phương pháp những hoạt động phù hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học và hoạt động ngôn ngữ Vai trò của bài tập toán được thể hiện trên 3 bình diện sau:

Trên bình diện mục tiêu dạy học, bài tập toán học ở phổ thông có những chức năng sau:

- Chức năng dạy học: Bài tập nhằm củng cố, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học, kể cả kĩ năng ứng dụng vào thực tiễn

- Chức năng phát triển: Bài tập nhằm phát triển năng lực trí tuệ, rèn luyện những năng lực, tư duy lôgic của học sinh

- Chức năng giáo dục: Bài tập nhằm hình thành, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của người lao động mới cho học sinh

- Chức năng kiểm tra: Bài tập nhằm đánh giá mức độ kết quả dạy và học của học sinh

Trên bình diện nội dung dạy học, bài tập có vai trò là một phương tiện để cài đặt nội dung dưới dạng tri thức hoàn chỉnh hay những yếu tố bổ xung cho nhiều tri thức nào đó đã được trình bày trong phần l ý thuyết

Trên bình diện phương pháp dạy học: Bài tập nhằm hình thành cho học sinh những phương pháp giải bài tập, phương pháp học toán linh hoạt, hiệu quả b/ Ý nghĩa của việc dạy giải bài tập toán học

Trong quá trình dạy giải bài tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học một cách sinh động phong phú là yếu tố rất cần thiết Chỉ có vận dụng kiến thức đã

Trang 8

học vào giải bài tập thì học sinh mới có thể nắm kiến thức một cách sâu sắc Việc dạy giải bài tập là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức tốt nhất Đòi hỏi học sinh phải tư duy và tập trung trí óc vào việc nhớ lại hệ thống kiến thức đã học

Việc dạy giải bài tập toán còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển nhận thức, rèn luyện trí thông minh cho học sinh Một số bài toán có nhiều cách giải khác nhau Vì vậy trong quá trình giải bài tập, giáo viên cần yêu cầu học sinh giải bài tập theo nhiều cách, từ đó học sinh sẽ tìm ra được cách giải ngắn nhất, hay nhất Qua đó làm cho khả năng tư duy của học sinh được phát triển

Dạy giải bài tập toán còn giúp giáo viên kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh một cách chính xác

Việc dạy giải bài tập toán còn mang ý nghĩa giáo dục phẩm chất đạo đức , tác phong như: rèn luyện tính cẩn thận, kiên nhẫn, chính xác, sáng tạo,…

1.1.2 Phương pháp chung để giải toán

Để giải các bài tập toán, ngoài việc cần nắm vững các kiến thức liên quan, học sinh cần phải có phương pháp suy nghĩ khoa học cùng với những kinh nghiệm cá nhân tích lũy được trong quá trình học tập, rèn luyện Trong môn Toán ở trường phổ thông có rất nhiều bài toán chưa có hoặc không có thuật để giải toán Đối với những bài toán đó, giáo viên cố gắng hướng dẫn học sinh cách suy nghĩ, cách tìm lời giải Đây là cách tốt nhất để giáo viên trang bị cho học sinh một số tri thức, phương pháp giải toán nhằm phát triển năng lực và tư duy khoa học của học sinh Biết đề ra cho học sinh đúng lúc, đúng chỗ những câu hỏi, gợi ý sâu sắc phù hợp với trình độ của đối tượng nhằm trang bị những hướng dẫn chung, gợi ý cách suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện cách giải bài toán là có thể và cần thiết

Theo Pôlya thì phương pháp chung để giải bài toán gồm bốn bước Đó là:

- Tìm hiểu nội dung bài toán

- Tìm cách giải

- Trình bày lời giải

- Kiểm tra, nghiên cứu sâu lời giải

Cụ thể từng bước như sau:

Trang 9

Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán

Việc tìm hiểu nội dung bài toán thường thông qua việc đọc bài toán (dù bài toán cho dưới dạng lời văn hoàn chỉnh hay là dạng tóm tắt, hình vẽ) học sinh cần phải đọc kĩ, xác định được đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm Khi đọc bài toán phải tìm hiểu thật kĩ một số từ, thuật ngữ quan trọng của đề toán Từ nào học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa thì giáo viên cần phải hướng dẫn để học sinh hiểu được ý nghĩa của từ đó trong bài đang làm Sau đó học sinh thuật lại vắn tắt bài toán mà không cần đọc lại nguyên văn bài toán đó

Trong các bài tập hình học nói chung phải có hình vẽ Có những bài tập cần đưa vào những kí hiệu Điều này cũng có nghĩa giúp ta hiểu rõ đề bài hơn

a/ Hình vẽ:

Hình vẽ của bài tập hình học làm hiện lên đồng thời các yếu tố cũng như các chi tiết cùng với mối quan hệ giữa các chi tiết đã cho trong bài Vì thế, thường sau khi vẽ hình đúng, đề bài được hiểu rõ ràng cụ thể hơn

b/ Kí hiệu:

Khi nghiên cứu đề toán, nhiều trường hợp ta chọn kí hiệu và đưa kí hiệu vào một cách thích hợp Dùng kí hiệu toán học có thể ghi lại các đối tượng và mối quan hệ giữa chúng trong bài toán một cách ngắn gọn, dễ nhớ, dễ quan sát Khi dùng kí hiệu cần lưu ý: Mỗi kí hiệu phải có nội dung dễ nhớ, tránh nhầm lẫn

và nhiều nghĩa

Trang 10

Bước 2: Tìm cách giải

Tìm lời giải là một bước quan trọng trong hoạt động giải toán Nó quyết định sự thành công hay không thành công của việc giải toán Ở bước này điều cơ bản học sinh biết định hướng, tìm lời giải đúng, đơn giản cho bài giải Muốn thực hiện được điều này, giáo viên cần truyền đạt kiến thức một cách có hệ thống, giúp học sinh có kiến thức tổng quát về các phần toán đã học, mối quan hệ qua lại giữa các thành phần trong bài rồi thực hiện tìm lời giải Hoạt động tìm lời giải gắn liền với việc phân tích các điều kiện bài cho và yêu cầu của bài toán, nhằm xác định mối liên hệ và các phép tính số học thích hợp

Bước 3: Trình bày lời giải

Hoạt động này bao gồm việc thực hiện các phép tính đã nêu trong kế hoạch giải bài tập và trình tự lời giải

Theo chương trình hiện hành ở trường Tiểu học học sinh có thể áp dụng một trong những cách trình bày phép tính như: Trình bày từng phép tính riêng biệt, trình bày dưới dạng biểu thức nhiều phép tính Mô hình trình bày bài giải đối với toán Tiểu học là mỗi phép tính, mỗi biểu thức kèm theo câu trả lời, ghi đáp số khi đã tìm ra kết quả bài toán Một việc quan trọng trong trình bày lời giải

là trình tự các phép tính, nhất là đối với những bài toán phức tạp phải trình bày sao cho tường minh mối liên hệ giữa các dữ kiện của đề bài

Bước 4: Kiểm tra, nghiên cứu sâu lời giải

Kiểm tra là bước thực hiện sau khi giải xong bài toán Trong quá trình thực hiện chương trình giải rất có thể học sinh mắc phải những sai sót, dẫn tới nhầm lẫn ở chỗ nào đó Việc kiểm tra bài toán giúp học sinh phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai lầm đáng tiếc đó Có những hình thức kiểm tra như sau:

- Thiết lập tương ứng các phép tính giữa các số tìm được trong quá trình giải với các số liệu đã cho

- Tạo ra bài toán ngược với bài toán đã cho rồi giải bài toán đó

- Giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau và so sánh kết quả thu được

Trang 11

1.1.3 Mục đích của việc dạy học yếu tố đại lượng và các phép đo đại lượng

Dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng nhằm giới thiệu cho học sinh những khái niệm ban đầu, đơn giản nhất về các đại lượng thường gặp trong đời sống, học sinh nắm được các kiến thức thực hành về phép đo đại lượng: hệ thống đơn vị đo các đại lượng (tên gọi, kí hiệu), sử dụng các công cụ đo, biểu diễn kết quả đo, chuyển đổi các số đo (đổi số đo hỗn hợp thành số đo thập phân và ngược lại), kĩ năng thực hiện các phép tính số học trên các số đo đại lượng

Đồng thời dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng nhằm củng cố các kiến thức có liên quan trong môn Toán, phát triển năng lực thực hành, năng lực

tư duy của học sinh

Các bài toán về đại lượng và các phép đo đại lượng giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố các kiến thức về đại lượng và các phép đo đại lượng đối với học sinh Tiểu học một cách cụ thể Các bài toán về đại lượng và các phép đo đại lượng nhằm:

- Củng cố các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về đại lượng và các phép đo đại lượng, các kiến thức về số học, đại số, về tập hợp và những kiến thức khác

- Hình thành cho học sinh Tiểu học thế giới quan duy vật biện chứng, ý thức khám phá các sự vật và hiện tượng khách quan, tạo hứng thú học tập, hình thành phẩm chất đạo đức con người mới

Dưới đây là một số dạng toán về đại lượng và các phép đo đại lượng thường gặp:

- Dạng toán chuyển đổi đơn vị đo

- Dạng toán về so sánh hai số đo

- Dạng toán thực hiện phép tính trên số đo đại lượng

- Dạng toán chuyển động đều

1.1.4 Một số vấn đề về đại lượng và các phép đo đại lượng trong chương trình môn Toán Tiểu học nói chung và của lớp 5 nói riêng

1.1.4.1 Một số vấn đề về dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng trong chương trình môn Toán ở Tiểu học

Trang 12

Các kiến thức về đại lượng và các phép đo đại lượng trong chương trình toán ở bậc Tiểu học được trình bày dưới dạng hình thành khái niệm phép đo trước, sau đó hình thành khái niệm về đại lượng Cách trình bày không tuân theo

sự phát triển logic của khái niệm nhưng thuận lợi về mặt sư phạm vì nó phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học

Xuất phát từ mục đích, nguyên tắc chung của giáo dục, nội dung chương trình dạy học các đại lượng dạy học không xếp thành từng chương riêng mà sắp xếp xen kẽ với các vòng số và được mở rộng cùng với sự mở rộng các vòng số Điều này thuận lợi cho việc dạy và củng cố các kiến thức số học

Đại lượng là một khái niệm trừu tượng, để nhận thức được khái niệm đòi hỏi học sinh phải có khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa cao nhưng học sinh Tiểu học còn hạn chế về khả năng này Vì thế việc lĩnh hội khái niệm đại lượng phải qua một quá trình với các mức độ khác nhau và bằng nhiều cách khác nhau Dạy học đo đại lượng nhằm làm cho học sinh nắm được bản chất của phép

đo đại lượng, từ đó biểu diễn giá trị của đại lượng bằng số, nhận biết được độ đo

và số đo Giá trị của đại lượng là duy nhất và số đo không duy nhất mà phụ thuộc vào việc chọn đơn vị đo trong từng phép đo

Các kiến thức về đại lượng và các phép đo đại lượng được đưa vào chương trình từ đơn giản đến phức tạp thông qua các ví dụ cụ thể và dựa vào vốn hiểu biết của học sinh Bắt đầu từ lớp 1 học sinh được học các phép đo độ dài với đơn vị là cm, số đo không vượt quá 10 Sang lớp 2 các đơn vị khác cũng được giới thiệu dần Càng về cuối cấp học sinh được học các đại lượng trừu tượng hơn như diện tích, thể tích, thời gian với những đơn vị đo khác nhau

1.1.4.2 Vai trò của dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng trong chương tình toán 5

Dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng nhằm giới thiệu cho học sinh những khái niệm ban đầu, đơn giản nhất về các đại lượng: hệ thống đơn vị đo các đại lượng (tên gọi, kí hiệu) sử dụng các công cụ đo, biểu diễn kết quả đo, chuyển đổi các số đo (đổi số đo hỗn hợp thành số đo thập phân và ngược lại), kĩ năng thực hiện các phép tính số học trên các số đo đại lượng

Trang 13

Đồng thời dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng nhằm củng cố các kiến thức có liên quan trong môn Toán, phát triển năng lực thực hành, năng lực

tư duy của học sinh Như vậy, nội dung dạy học đại lượng và số đo đại lượng được triển khai theo định hướng tăng cường thực hành, vận dụng, gắn liền với thực tiễn đời sống Đó chính là cầu nối giữa các kiến thức toán học với thực tế đời sống Thông qua việc giải các bài toán, học sinh không chỉ rèn luyện các kĩ năng môn Toán mà còn cung cấp thêm nhiều tri thức bổ ích Qua đó thấy được ứng dụng thực tiễn của toán học

Nhận thức về đại lượng, thực hành đo đại lượng kết hợp với số học, hình học sẽ góp phần phát triển trí tưởng tượng không gian, khả năng phân tích – tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, tác phong làm việc khoa học

1.1.4.3 Nội dung dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng trong chương trình toán 5

Nội dung dạy học đại lượng và các phép đo đại lượng trong SGK toán 5 được tóm tắt bằng bảng sau:

Diện tích 14 Đềcamét vuông (dam2

) Héctômét vuông (hm2) Hécta ha)

Kilômét vuông (km2), bảng đơn vị diện tích Diện tích tam giác

Diện tích Diện tích hình tròn Diện tích xung quanh, diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật

Diện tích hình trụ

Trang 14

Thể tích 5 Thể tích của một hình

Xăngtimét khối (cm3), đềximét khối (dm3

)Mét khối (m3), bảng đơn vị đo diện tích Thể tích hình hộp chữ nhật

Hình lập phương Khối lượng 2 Đềcagam, héctôgam

Chuyển đổi đơn vị khối lượng về dạng thập phân Thời gian 14 Bảng đơn vị đo thời gian

Các phép toán về số đo thời gian Các phép toán về chuyển động vận tốc Quãng đường

Thời gian

1.1.4.4 Mức độ cần đạt

Học về nội dung đại lượng và các phép đo đại lượng toán 5, học sinh cần nắm được các kiến thức thực hành về phép đo đại lượng, hệ thống đơn vị đo các đại lượng, sử dụng các công cụ đo, biểu diễn kết quả đo, chuyển đổi các số đo (đổi số đo hỗn hợp thành số đo thập phân và ngược lại), kĩ năng thực hiện các phép tính số học trên các số đo đại lượng Cụ thể như sau:

a/ bảng đơn vị đo độ dài, đo khối lượng

- Biết tên gọi, kí hiệu, mối quan hệ của các đơn vị đo trong bảng;

- Biết chuyển đổi các đơn vị đo;

- Biết thực hiện các phép tính với các số đo độ dài, số đo khối lượng

b/ Bảng đơn vị đo diện tích

- Biết tên gọi, kí hiệu của đềcamét vuông, héctômét vuông, milimet vuông;

- Biết đọc, viết các số đo diện tích theo đơn vị đo đã học;

- Biết tên gọi, kí hiệu, mối quan hệ của các đơn vị đo diện tích;

- Biết chuyển đổi các đơn vị đo diện tích;

- Biết thực hiện các phép tính với số đo diện tích

Trang 15

c/ Thể tích

- Biết tên gọi, kí hiệu của xăngtimét khối, đềximét khối, mét khối;

- Biết đọc, viết, mối quan hệ giữa các đơn vị đo thể tích thông dụng;

- Biết chuyển đổi đơn vị đo thể tích trong trường hợp đơn giản

d/ Thời gian

- Biết mối quan hệ, đổi đơn vị đo thời gian;

- Biết cách thực hiện các phép tính, số đo thời gian

e/ vận tốc

- Nhận biết vận tốc của một chuyển động;

- Biết tên gọi, kí hiệu của một số đơn vị đo vận tốc;

- Biết tính vận tốc của một chuyển động đều

1.1.5 Một số yêu cầu đối với giáo viên khi dạy về đại lượng và các phép đo đại lượng

Giáo viên cần thực hiện theo quy trình sau:

- Lựa chọn phép đo thích hợp

Ta có thể lựa chọn một trong hai phép đo: đo trực tiếp hoặc đo gián tiếp Phép đo trực tiếp là đặt trực tiếp dụng cụ đo vào vật cần đo, phép đo gián tiếp được sử dụng khi phép đo trực tiếp không thể hoặc khó thực hiện Chẳng hạn: Khi đo một đoạn thẳng người ta có thể sử dụng thước đo hoặc chọn một đoạn thẳng khác làm đơn vị đo, đó là phép đo trực tiếp Đo thể tích của hình hộp thông qua việc đo chiều dài, chiều rộng và chiều cao và suy ra số đo thể tích của hình hộp, đó là phép đo gián tiếp

- Giới thiệu đơn vị đo và hình thành khái niệm đơn vị đo

Các đơn vị đo đại lượng được đưa ra dần dần theo sự mở rộng các vòng số

từ đơn giản đến phức tạp và phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh

- Thực hành đo, đọc và biểu diễn kết quả đo bằng số kèm theo đơn vị

Các thao tác kĩ thuật thực hành đo phụ thuộc vào việc chọn đơn vị đo như:

đo chiều dài dùng thước có vạch milimet, xăngtimet, đềximet, đo khối lượng dùng cân, đo thời gian dùng đồng hồ Khi hướng dẫn thao tác kĩ thuật giáo viên kết hợp việc làm mẫu với giảng giải và cần dự kiến những sai lầm học sinh có

Trang 16

thể mắc phải Khi đọc và biểu diễn kết quả đo, giáo viên cho học sinh đọc kết quả của mỗi lần đo, cách xử lí kết quả của phép đo phải được thực hiện nhiều lần Khi số đo là một số gần đúng, giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng từ “xấp xỉ” hoặc gần bằng khi đọc và biểu diễn số đo

- Dạy hệ thống đơn vị đo, cách chuyển đổi đơn vị đo

Giáo viên cần làm cho học sinh thấy được sự cần thiết của việc xây dựng

hệ thống đơn vị đo, mối quan hệ giữa các đơn vị đo

Khi dạy mối quan hệ giữa các đơn vị đo, giáo viên cần cho học sinh thấy được mối quan hệ của đơn vị mới với đơn vị cũ, lập bảng hệ thống đơn vị đo và cho học sinh giải các bài toán về chuyển đổi đơn vị đo

- Dạy tính toán trên số đo và rèn khả năng ước lượng số đo

Giáo viên cần cho học sinh thấy mỗi cách chọn đơn vị đo nhận được một

số đo khác nhau trên cùng một giá trị đại lượng Do đó trước khi thực hiện các phép tính học sinh phải kiểm tra các số đo có đơn vị đo phù hợp hay không

Giá trị của đại lượng là duy nhất và số đo không duy nhất mà phụ thuộc vào việc chọn đơn vị đo trong từng phép đo

1.1.6 Những sai lầm thường gặp khi giải toán về các phép đo đại lượng

Khi giải các bài toán về đại lượng và phép đo đại lượng HS thường mắc một

số sai lầm Bởi thế GV cần phân tích, tìm biện pháp khắc phục những sai lầm đó dựa trên những hiểu biết sâu sắc và những kiến thức liên quan về toán học HS thường mắc những sai lầm sau:

a Sai lầm khi sử dụng thuật ngữ

* Phân biệt khái niệm đại lượng và vật mang đại lượng

Ví dụ: Một số HS cho cái bút chì là độ dài, cái mặt bàn là diện tích, cái chai

là dung tích,…

- Nguyên nhân: Do HS chưa nắm chắc bản chất khái niệm đại lượng, nhận thức của các em còn phụ thuộc hình dạng bên ngoài của đối tượng quan sát nên chưa tách được những thuộc tính riêng lẻ của đối tượng để giữ lại thuộc tính chung

Trang 17

- Lưu ý: GV đưa ra nhiều đối tượng khác nhau, nhưng có cùng một giá trị đại lượng để HS so sánh và nhận ra thuộc tính chung Đồng thời GV thường xuyên uốn nắn cách nói, cách viết hàng ngày của HS

* Phân biệt thời điểm và thời gian

Ví dụ: Một HS nói: “Thời gian em thức dậy là 6 giờ, thời gian em ăn cơm trưa là 10 giờ, các thời gian trong tuần là thứ 2, thứ 3….”

- Nguyên nhân: Câu nói trên là không chính xác do HS không biệt được thời điểm và thời gian HS cần phải nói là: “Em thức dậy lúc 6 giờ, em ăn cơm trưa lúc 10 giờ….”

- Lưu ý: GV nên phân tích nguyên nhân của những sai lầm đó là HS chưa hiểu thời gian là đại lượng vô hướng cộng lượng, còn thời điểm chỉ đơn thuần là đại lượng vô hướng Vì vậy GV phải biết gắn chuyển động với khoảng thời gian, gắn không gian với thời điểm; kết hợp khai thác vốn sống của HS trên cơ sở từng bước nâng cao và chính xác hoá khi hình thành khái niệm thời gian cho HS Để hình thành cho HS khái niệm khoảng thời gian 1 ngày GV cần chỉ cho HS các mốc thời điểm của mặt trời kết hợp với các đồ dùng dạy học như quả địa cầu, mô hình mặt đồng hồ, GV cần phân biệt cho HS thấy các ngày trong một tuần lễ: Thứ 2, thứ 3, thứ 4, không phải là nói đến khoảng thời gian mà chỉ thứ tự sắp xếp tên gọi các ngày trong một tuần lễ

+ Để HS thấy được những tính chất quan trọng nhất của thời gian là đại lượng đo được, cộng được, so sánh được, GV tổ chức nhiều hình thức hoạt động được cho HS như cho HS quan sát chuyển động nào đó của vật chất, đưa ra các

sơ đồ, các biểu bảng biểu diễn thời gian, các bài toán gắn với thời gian

+ Để HS hiểu thời điểm là đại lượng vô hướng so sánh được, nhưng không cộng được, GV cho HS kể các mốc thời điểm trong một ngày: Buổi sáng dậy lúc nào, đi học lúc nào, ăn cơm trưa lúc nào, đi ngủ lúc nào Hoặc cho HS xem lịch

và đánh dấu những ngày lễ, ngày kỷ niệm trong một năm GV cũng có thể đưa ra phản ví dụ

* Phân biệt chu vi và diện tích

Trang 18

Ví dụ: Một hình vuông có cạnh dài 4cm, một HS phát hiện một điều thú vị: Chu vi của hình vuông: 4  4 = 16 Diện tích của hình vuông : 4 4 = 16 HS

đó kết luận : Hình vuông có chu vi bằng diện tích

- Lưu ý : Khi phân tích sai lầm này GV cần chỉ rõ chu vi là đại lượng độ dài, còn diện tích là đại lượng diện tích, hai đại lượng này không thể so sánh được với nhau

Mặt khác GV cũng cần chỉ rõ phép đo mỗi đại lượng

Để đo chu vi hình vuông này, ta lấy đơn vị đo độ dài 1cm (đoạn thẳng có độ dài 1cm) và đặt dọc theo một cạnh, được bốn đơn vị độ dài vì hình vuông có bốn cạnh bằng nhau, nên tổng độ dài của bốn cạnh xác định bằng phép tính: 4  4 và chu vi hình vuông là 16 cm

Để đo diện tích hình vuông này, ta lấy đơn vị đo diện tích 1cm (hình vuông

có hai cạnh 1cm) và đặt dọc theo một cạnh được bốn đơn vị diện tích: Vì hình vuông có bốn cạnh bằng nhau nên đặt được bốn hàng như thế, tổng diện tích của hình vuông được xác định bằng phép tính: 4  4 = 16 và diện tích của hình vuông là 16cm2 Vì thế không thể nói hình vuông trên đây có chu vi và diện tích bằng nhau

b Sai lầm khi suy luận

- 1kg sắt phải nặng hơn 1kg bông

- Hai hình có diện tích bằng nhau thì bằng nhau

Cách suy luận như HS B không phải là cá biệt

- Nguyên nhân: Do HS chưa hiểu bản chất khái niệm đại lượng và phép đo đại lượng, nhận thức còn cảm tính

- Lưu ý: GV nên đưa ra ví dụ hoặc cho HS thực hành đo trực tiếp Chẳng hạn

để phủ định khẳng định thứ nhất GV có thể cho HS cân trực tiếp bằng cân đĩa Để

Trang 19

phủ định khẳng định thứ hai GV đưa ra một tam giác và một hình vuông có diện tích bằng nhau nhưng không trùng khít lên nhau

c Sai lầm trong thực hành đo

Ví dụ: Khi đo độ dài ta thường thấy các hiện tượng:

- HS không đặt một đầu vật cần đo trùng với số 0 của thước mà vẫn đọc kết quả dựa vào đầu kia của vật ở trên thước

- Trường hợp phải đặt thước nhiều lần HS không đánh dấu điểm cuối của thước trong mỗi lần đo trên vật cần đo dẫn đến kết quả đo có sai số lớn

- Nguyên nhân: Do HS chưa hiểu và chưa nắm chắc các thao tác kỹ thuật đo

- Lưu ý: GV chú ý làm mẫu, kịp thời phát hiện những hiện tượng sai lầm, uốn nắn và giải thích lý do sai cho HS

d Sai lầm khi thực hiện phép tính, so sánh chuyển đổi đơn vị đo trên số đo đại lượng:

* Sai lầm do không hiểu phép tính

Ví dụ: Từ địa điểm A đến địa điểm B, một người đi xe đạp mất 12 giờ, một người đi xe máy mất 3 giờ Hỏi thời gian của người đi xe đạp gấp mấy lần của người đi xe máy?

4 lần thời gian người đi xe máy

Vì vậy, HS phải trình bày như sau:

Thời gian người đi xe đạp so với thời gian người đi xe máy nhiều gấp:

12 : 3 = 4 (lần)

- Nguyên nhân : Do HS không hiểu bản chất các khái niệm độ dài, diện tích, thời gian … và bản chất các phép toán trên các số đo đại lượng

Trang 20

- Lưu ý: GV cần cho HS làm nhiều bài tập về các phép tính trên các số đo đại lượng, chỉ cho HS thấy rõ bản chất của các phép tính trên các số đo đại lượng Chẳng hạn trong ví dụ trên, thực chất của phép tính là tìm tỷ số giữa hai khoảng thời gian chứ không phải tỷ số của hai đại lượng thời gian

GV cũng cần lưu ý HS: Trên các số đo đại lượng có thể thực hiện đủ bốn phép tính + , - ,  , : còn đại lượng chỉ có tính chất cộng được, so sánh được

- Nguyên nhân: Do HS không chú ý quan sát GV làm mẫu hoặc HS có quan

sát nhưng lại quên vì không hiểu nghĩa của việc đặt đúng phép tính

- Lưu ý: GV cần giúp HS biết đặt tính đúng cột dọc, các số đo trong mỗi cột dọc phải cùng đơn vị và lưu ý HS: Phép cộng, phép trừ chỉ thực hiện được đối

với hai đại lượng với số đo cùng một đơn vị

Với ví dụ trên HS cần đặt tính như sau:

Trang 21

Các kết quả trong hai ví dụ trên đều không đúng

- Nguyên nhân: Do HS đã coi số đo thời gian được viết trong hệ thập phân như các số thực và không thuộc quy tắc thực hiện dãy các phép tính

- Lưu ý: GV cần cho HS nắm vững mối quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian, cách chuyển đổi số đo thời gian về số thập phân và ngược lại, nắm vững quy tắc thực hiện một dãy các phép tính

Với 2 ví dụ trên HS cần phải làm như sau:

A = 5 giờ 30 phút + 2,5 giờ – 4 giờ 15 phút – 1,2 giờ

Phân tích: 5 giờ 30 phút = 5,5 giờ

4giờ 15 phút = 4,25 giờ

Cách ghi:

A = 5,5 giờ + 2,5 giờ – 4,25 giờ – 1,2 giờ

A= 8 giờ – 4,25 giờ – 1,2 giờ

A = 3,75 giờ – 1,2 giờ

A = 2,55 giờ

Trang 22

Ví dụ 3: Khi chuyển đổi các số đo

Các kết quả trên đều không đúng:

- Nguyên nhân: Do HS không nắm vững mối quan hệ giữa các đơn vị đo diện tích, thể tích HS đã coi quan hệ giữa các đơn vị đo diện tích cũng như quan hệ giữa các đơn vị đo thể tích và giống quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài

- Lưu ý: GV cần cho HS nắm vững mối quan hệ giữa các đơn vị đo diện tích

(hai đơn vị đo diện tích kề nhau gấp kém nhau 100 lần, mỗi đơn vị đo diện tích ứng với hai chữ số)

Mối quan hệ giữa các đơn vị đo thể tích (hai đơn vị đo thể tích kề nhau gấp kém nhau 1000 lần Mỗi đơn vị đo thể tích ứng với ba chữ số) Cho HS so sánh mối quan hệ giữa các đơn vị đo diện tích, đo thể tích với quan hệ giữa các đơn vị

đo độ dài Ra nhiều bài tập về phần này để HS làm và ghi nhớ

Như vậy kết quả đúng của ví dụ 3 phải là:

Trang 23

- Nội dung, phương pháp dạy học có tính khả thi, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

- Kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực phù hợp với trình độ và điều kiện học tập của HS, quán triệt được quan điểm phổ cập giáo dục Thuận lợi cho việc giảng dạy của GV và HS dễ tiếp thu bài

- Thiết bị dạy học tương đối đầy đủ

* Khó khăn

- Việc nắm bắt phương pháp dạy học mới ít nhiều còn gặp khó khăn, còn phụ thuộc khá nhiều vào tài liệu hướng dẫn

- Trong dạy học một số GV còn chưa tập trung vào rèn kĩ năng cho HS

- Đồ dùng học tập của HS còn chưa đầy đủ

- HS tiếp thu bài còn chưa nhanh, hiệu quả học tập chưa cao

1.2.2 Thực trạng về dạy - học đại lượng và các phép đo đại lượng trong toán 5

a/ Mục đích: Nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học đại lượng và các phép

đo đại lượng trong toán 5 Trường Tiểu học Tử Nê – Tân Lạc – Hòa Bình

b/ Điều tra đối với GV

Cao đẳng

Trung cấp Giỏi Khá

Trung bình

Qua điều tra thực trạng đối với 8 GV trường Tiểu học Tử Nê cho thấy: độ tuổi của GV là từ 33 đến trên 44 tuổi, có thâm niên công tác từ 10 năm trở lên nên đã có kinh nghiệm trong giảng dạy, đặc biệt đa số GV đều là GV dạy giỏi nên vững vàng trong chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ nhưng khi được hỏi về dạy

và học đại lượng và các phép đo đại lượng trong toán 5 thì đa số GV lại cho rằng

đó là tuyến kiến thức khó, họ chưa thực sự hứng thú cao khi dạy tuyến kiến thức

Trang 24

này, lý do là họ còn gặp khó khăn khi rèn kĩ năng giải dạng toán liên quan đại lượng và các phép đo đại lượng cho HS

* Điều tra đối với HS:

TIỂU KẾT

Ở chương 1, tôi nghiên cứu vai trò, ý nghĩa của bài tập toán trong quá trình dạy học, phương pháp chung để giải toán, mục đích của việc dạy học yếu tố đại lượng và các phép đo đại lượng và một số vấn đề về đại lượng và các phép

đo đại lượng trong chương trình môn Toán Tiểu học nói chung và của lớp 5 nói riêng Tiếp theo là đề cập đến một số yêu cầu đối với giáo vên khi dạy về đại lượng và các phép đo đại lượng và những sai lầm thường gặp khi giải toán về phép đo đại lượng để làm cơ sở lý luận cho khóa luận

Sau đó là tìm hiểu thực trạng về dạy học toán 5 và dạy - học đại lượng và các phép đo đại lượng trong toán 5

Trang 25

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI CÁC DẠNG TOÁN

VỀ ĐẠI LƯỢNG VÀ CÁC PHÉP ĐO ĐẠI LƯỢNG TRONG TOÁN 5 2.1 Dạng toán về chuyển đổi đơn vị đo

a/ Nội dung:

- Đổi số đo có tên đơn vị này sang số đo có tên đơn vị khác

- Đổi số đo có hai hay ba tên đơn vị sang số đo có một tên đơn vị và ngược lại

- Đổi số đo dạng thập phân sang dạng không thập phân và ngược lại

- Đổi số đo dạng thập phân có tên đơn vị này sang số đo thập phân có tên đơn vị khác

- Đổi số đo thập phân sang dạng khác và ngược lại

b/ Biện pháp:

- Để dạy các bài toán về chuyển đổi đơn vị đo, GV yêu cầu HS phải nắm chắc (thuộc) bảng hệ thống đơn vị đo, hiểu được mối quan hệ giữa các đơn vị đo Quan tâm rèn kĩ năng thực hiện phép tính trên số tự nhiên và số đo đại lượng

- Các giải pháp thường dùng khi chuyển đổi là: thực hiện các phép tính, sử dụng bảng hệ thống đơn vị đo

- Các thao tác thường thực hiện khi chuyển đổi đơn vị đo là: viết thêm hoặc xóa bớt số 0, chuyển dịch dấu phẩy sang trái hoặc sang phải 1,2,3, chữ số

c/ Các bước thực hiện dạng toán chuyển đổi đơn vị đo

Như chúng ta đã biết các dạng bài tập về đơn vị đo lường lớp 5 được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, từ các bài dạng đổi đơn vị đo lường đơn giản để củng cố lý thuyết rồi nâng cao dần đến các bài tập đổi đơn vị đo phức tạp vì vậy muốn nâng cao chất lượng đổi đơn vị đo lường GV phải giúp HS:

- Nắm vững từng bảng đơn vị đo Thuộc thứ tự bảng đó từ nhỏ đến lớn và ngược lại từ lớn sang nhỏ

- Nắm vững được quan hệ giữa hai đơn vị đo lường liền nhau và giữa các đơn vị khác nhau

- Xác định yêu cầu bài tập loại bài tập đổi từ bé ra lớn

- Thực hành chuyển đổi đơn vị đo

Trang 26

Muốn vậy đòi hỏi GV phải căn cứ vào đặc điểm nhận thức của HS Tiểu học để lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung và đối tượng HS, tạo hứng thú học tập cho HS, giúp các em phát huy trí lực, chủ động lĩnh hội kiến thức, năng động, linh hoạt trong việc luyện tập đổi đơn vị đo

Các phương pháp thường vận dụng để dạy các bài toán về đo lường là: trực quan, đàm thoại, thảo luận nhóm, trò chơi,

d/ Phân nhóm bài tập

- Dạng 1: Đổi số đo đại lượng có một tên đơn vị đo

+ Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé

+ Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn

- Dạng 2: Đổi số đo đại lượng có hai tên đơn vị đo

+ Đổi số đo có hai tên đơn vị đo sang số đo có một tên đơn vị đo

+ Đổi số đo có một tên đơn vị đo sang số đo có hai tên đơn vị đo

Dạng 1: Đổi số đo đại lượng có một tên đơn vị đo

- Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé

Ví dụ 1: Điền vào chỗ chấm

a/ 135m = … dm (Bài tập 2, trang 23 - SGK Toán 5)

b/ 35 tấn = … kg (Bài tập 2, trang 24 - SGK Toán 5)

GV hướng dẫn HS hiểu bản chất của phép đổi là 1m = 10dm nên:

135m = 135 × 10 (dm) = 1350dm

Như vậy là ta chỉ việc dịch chuyển sang phải một chữ số tương ứng với một đơn vị đo độ dài là dm Hoặc 1 tấn = 1000kg, vì từ tấn đến kg phải qua ba lần chuyển đổi đơn vị đo (khối lượng) liền sau (tấn, tạ, yến) nên:

35 tấn = 35 × 1000 (kg) = 35000 kg

Khi HS đã hiểu rõ bản chất phép đổi thì chỉ cần dịch chuyển dấu phẩy sang phải mỗi đơn vị đo liền sau nó là một chữ số hoặc thêm một chữ số 0 ứng với một đơn vị đo (vừa viết vừa nhẩm tên đơn vị đo) Để HS dễ hiểu, dễ nhớ GV biểu thị cho HS bằng lược đồ phân tích sau :

Trang 27

đo diện tích ta chuyển dấu phẩy sang phải 2 × 3 = 6 (chữ số).)

0,405hm2 = 0,4050 × 10000 = 4050 m2 (Nhẩm từ hm2 đến m2 là hai đơn vị đo diện tích ta chuyển dấu phẩy sang phải 2 × 2 = 4 (chữ số).)

53,6dam2 = 53,6 × 100 = 5360m2 (Nhẩm từ dam2 đến m2 là một đơn vị đo diện tích ta chuyển dấu phẩy sang phải 2 × 1 = 2 (chữ số).)

- Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn

Ví dụ 1: Điền vào chỗ chấm

16 kg =… tạ 25000m = … km

Trang 28

Bài này không những HS phải nắm vững quan hệ giữa các đơn vị đo mà còn cần phải nắm vững kiến thức về phân số, số thập phân vì HS cần phải hiểu

Còn với 25000 m = … km Khi chuyển đổi đơn vị từ m sang đơn vị km thì

số đo theo đơn vị mới phải giảm đi 1000 lần so với đơn vị cũ (vì từ m đến km phải qua 3 lần chuyển đổi đơn vị đo (khối lượng) liền trước (dam, hm, km) nên : 25000m = 25000 : 1000 = 25km

Ví dụ 2: 90 phút = giờ

GV gợi ý HS nhẩm 1 giờ = 60 phút ; nên ta lấy 90: 60 = 1,5 giờ Vậy 90 phút = 1,5 giờ

* Lưu ý khi đổi số đo đại lượng có một tên đơn vị đo:

- Đối với các đơn vị đo khối lượng, độ dài, diện tích, thể tích:

+ Hướng dẫn HS rút ra cách đổi bằng cách nhân nhẩm với số tròn trục, tròn trăm, tròn nghìn… khi đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé, chia nhẩm cho số tròn trục, tròn trăm, tròn nghìn… khi đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn

+ Giúp cho HS rút ra cách đổi số đo đại lượng bằng cách chuyển đổi dấu phẩy (khi HS đã học xong về phần số thập phân): Cứ mỗi lần chuyển sang hàng đơn

vị liền sau (liền trước) thì ta dời dấu phẩy sang phải (sang trái) một chữ số (đối với số đo độ dài và khối lượng); hai chữ số (đối với số đo diện tích); ba chữ số (đối với số đo thể tích)

+ Lưu ý HS sau khi đã chuyển đổi đơn vị đo cần kiểm tra lại: Mỗi chữ số ứng với một đơn vị đo (đối với số đo độ dài và khối lượng); hai chữ số ứng với một đơn vị đo (đối với số đo diện tích); ba chữ số ứng với một đơn vị đo (đối với số

đo thể tích)

- Đối với các đơn vị đo thời gian: thực hiện nhân (hay chia) theo mối quan hệ của từng cặp đơn vị đo

Trang 29

Dạng 2: Đổi số đo đại lượng có hai tên đơn vị đo

- Đổi số đo có hai tên đơn vị đo sang số đo có một tên đơn vị đo

Tương tự như vậy với 13m 45mm = … cm, ta đổi 13m 45mm được:

Lưu ý: Chữ số hàng đơn vị bao giờ cũng gắn với tên đơn vị của số đó

Trang 30

*Lưu ý khi lập bảng:

- Xác định đúng yêu cầu bài tập cần đổi ra đơn vị nào

- Có thể lập cả bảng đơn vị đo diện tích hoặc tuỳ theo đơn vị đo trong bài tập lớn nhất là gì, nhỏ nhất là gì mà chọn số cột dọc cho phù hợp

- Giá trị của đơn vị theo đề bài phải viết đúng cột

- Trong bảng phân tích mỗi cột phải đủ hai chữ số

- Tuỳ theo đề bài yêu cầu đổi ra đơn vị nào thì phải đánh dấu phẩy sau chữ số của đơn vị ấy hoặc chọn giá trị số phù hợp với đơn vị cần đổi

- Đối với bài tập đổi từ đơn vị nhỏ ra đơn vị lớn thì chữ số hàng đơn vị của nó luôn gắn với tên đơn vị của số đó, sau đó cứ mỗi chữ số hàng tiếp theo gắn với một chữ số (hoặc hai chữ số đối với đơn vị đo diện tích, ba chữ số với đơn vị đo thể tích), nếu thiếu chữ số thì tiếp tục viết số 0 cho đến đơn vị cần đổi

- Đối với đơn vị đo thời gian:

Đối với các đơn vị đo thời gian thì các đơn vị tiếp liền không hơn không kém nhau cùng một số lần nên GV cần hướng dẫn cho HS hệ thống hóa các mối quan hệ thông dụng như:

1thế kỉ = 100 năm; 1 năm = 12 tháng; 1 tháng = 4 tuần;

1tuần lễ = 7 ngày; 1 ngày = 24 giờ; 1 giờ = 60 phút; 1 phút = 60 giây Đây là đơn vị đo lường mà HS hay đổi Vì quan hệ giữa các đơn vị của chúng không đồng nhất nên khi đổi đơn vị thời gian chỉ có cách duy nhất là thuộc các quan hệ của đơn vị đo thời gian rồi đổi lần lượt từng đơn vị đo bằng cách suy luận và tính toán Đổi đơn vị đo thời gian là sự kết hợp tổng hoà các kiến thức về số tự nhiên, phân số, số thập phân và kỹ năng tính toán

- Đổi số đo có một tên đơn vị đo sang số đo có hai tên đơn vị đo

Ngày đăng: 30/09/2014, 19:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Diên Hiển- Thực hành giải toán Tiểu học tập 2, NXB Đại học sƣ phạm, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành giải toán Tiểu học tập 2
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
2. Đỗ Trung Hiệu; Đỗ Đình Hoan; Vũ Dương Thụy; Vũ Quốc Hùng – Giáo trình phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học; NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
3. Nguyễn Phụ Hy (chủ biên) - Bùi Thị Hường – Dạy học phép đo đại lượng ở bậc Tiểu học; NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phép đo đại lượng ở bậc Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Vũ Dương Thụy, Đỗ Trung Hiệu – Các phương pháp giải toán ở Tiểu học, NXB Giáo Dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: – Các phương pháp giải toán ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo Dục
5. Vũ Quốc Trung (chủ biên); Đào Thái Lai; Đỗ Tiến Đạt; Trần Ngọc Lan; Lê Ngọc Sơn – Phương pháp dạy học ở Tiểu học (Tài liệu đào tạo giáo viên của dự án phát triển giáo viên Tiểu học); NXB Đại học sƣ phạm;2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học ở Tiểu học (Tài liệu đào tạo giáo viên của dự án phát triển giáo viên Tiểu học)
Tác giả: Vũ Quốc Trung, Đào Thái Lai, Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Lê Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2007
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển giáo viên Tiểu học; Tài liệu bồi dƣỡng giáo viên; NXB Đại học sƣ phạm – NXB Giáo dục; 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm – NXB Giáo dục; 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo – SGV; SGK Toán 5; NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Toán 5
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Độ dài  3  Hình tròn - rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5
d ài 3 Hình tròn (Trang 13)
Hình lập phương  Khối lƣợng  2  Đềcagam, héctôgam - rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5
Hình l ập phương Khối lƣợng 2 Đềcagam, héctôgam (Trang 14)
Bảng đơn vị đơn vị đo khối lƣợng. - rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5
ng đơn vị đơn vị đo khối lƣợng (Trang 54)
Hình  minh  hoạ - rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5
nh minh hoạ (Trang 55)
Hình vuông 1mm 2 . Từ đó, HS tự phát - rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5
Hình vu ông 1mm 2 . Từ đó, HS tự phát (Trang 55)
Bảng đo đơn vị diện tích giống nhƣ - rèn kĩ năng giải toán có nội dung đại lựợng và các phép đo đại lựợng cho học sinh lớp 5
ng đo đơn vị diện tích giống nhƣ (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w