1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu địa lí kinh tế xã hội việt nam để giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5

68 591 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 882,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vị trí địa lí thuận lợi của nước ta có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các ngành kimh tế, các vùng lãnh thổ, tạo điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập với các nước

Trang 1

Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm

và đối chứng tại trường Tiểu học Quyết Thắng

Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm

và đối chứng tại trường Tiểu học Quyết Thắng

Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp thực nghiệm

và đối chứng tại trường Tiểu học Quyết Thắng

50

52

54

Trang 2

Bảng thống kê điểm thực nghiệm

Tỉ lệ điểm của các lớp thực nghiệm và đối chứng qua 3 bài kiểm tra

Bảng tổng hợp phiếu điều tra

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu 2

2.2 Nhiệm vụ 2

2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 2

3.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh 3

3.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê 3

3.4 Phương pháp thực nghiệm 3

4 Đóng góp của khóa luận 4

5 Cấu trúc của đề tài 4

CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5 5

1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 5

1.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 5

1.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 7

1.2 Địa lý dân cư – dân tộc 10

1.2.1 Đặc điểm dân số Việt Nam 10

1.2.2 Dân tộc 11

1.2.3 Sự phân bố dân cư 12

1.3 Sự phát triển kinh tế 13

1.3.1 Nông nghiệp 13

1.3.2 Lâm nghiệp và thủy sản 22

1.3.3 Công nghiệp 26

1.3.4 Giao thông vận tải 31

1.3.5 Thương mại và du lịch 34

Trang 4

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NHỮNG KIẾN THỨC ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM ĐỂ THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN VÀO GIẢNG DẠY

CHỦ ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 5 39

Bài 8: Dân số nước ta 39

Bài 10 : Nông nghiệp 42

Bài 14: Giao thông vận tải 44

Bài 15: Thương mại và du lịch 46

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM 48

3.1 Mục đích thực nghiệm 48

3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 48

3.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 48

3.4 Tổ chức thực nghiệm 48

3.5 Nội dung thực nghiệm 49

3.6 Kiểm tra và đánh giá kết quả thực nghiệm 49

3.7 Tiến hành thực nghiệm 49

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu dạy học ở bậc tiểu học nhằm bước đầu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của con người, là nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn hệ thống giáo dục quốc dân Để đạt được mục tiêu này cần phải đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh Một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp đó là giáo viên phải nắm chắc kiến thức để có thể giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng và đầy đủ nhất

Trong bộ môn Tự nhiên - Xã hội lớp 4 và lớp 5 phân môn địa lí chiếm vai trò quan trọng, cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản, ban đầu về tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam và các châu lục trên thế giới Trên cơ sở đó giúp học sinh vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống và

là cơ sở để học sinh học tập môn địa lí ở các bậc học tiếp theo Phần địa lí Việt Nam chiếm đa số trong chủ đề địa lí ở tiểu học hiện nay Trong chương trình lớp

4, phần địa lí cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản, những đặc điểm tiêu biểu về thiên nhiên, con người của các vùng trên nước ta Địa lí lớp 5 cung cấp cho các em kiến thức cơ bản, những đặc điểm tiêu biểu về các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam, một số hiện tượng địa lí châu lục, của khu vực Đông Nam Á và một số nước điển hình ở các châu lục trên thế giới

Trong thực tế hiện nay ở các trường tiểu học, nhất là các trường vùng sâu, vùng xa do điều kiện còn khó khăn nên giáo viên chỉ chú trọng dạy 2 môn Toán

và Tiếng Việt mà chưa chú trọng nhiều tới việc giảng dạy tự nhiên – xã hội Chính vì vậy mà hiệu quả dạy và học tự nhiên – xã hội chưa cao

Hơn nữa, trong chương trình đào tạo giáo viên ở trường Cao đẳng và Đại học, phần địa lí chỉ được học rất ít Khối lượng kiến thức nhiều, thời gian nghiên cứu ít, bởi thế nhiều nội dung chưa được tìm hiểu kĩ Để trang bị cho mình lượng kiến thức cần thiết và để dạy học tốt hơn môn địa lí sau này, đồng thời giúp cho nhiều sinh viên tiểu học có thể tham khảo những nội dung kiến thức

Trang 6

chuyên sâu, nên chúng tôi chọn đề tài ‘‘Tìm hiểu địa lí kinh tế - xã hội Việt

Nam để giảng dạy chủ địa lí lớp 5’’ là nội dung khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Tổng hợp những kiến thức cơ bản nhất về địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam

có liên quan đến chủ đề địa lý lớp 5

- Thông qua những kiến thức chung khái quát được, thiết kế một số giáo án trong chương trình lớp 5

- Tiến hành thực nghiệm tại trường tiểu học, phân tích kết quả thực nghiệm rút ra kết luận cần thiết

2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn về điều kiện và thời gian nghiên cứu nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề địa lí kinh tế - xã hội có liên quan đến chương trình địa lí lớp 5 để thiết kế và vận dụng chúng vào giảng dạy phần địa lí Việt Nam trong chủ đề địa lí lớp 5

Địa bàn nghiên cứu chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Quyết Thắng – Thành phố Sơn La

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu

Phương pháp nghiên cứu này giúp chúng ta tiếp cận vấn đề nhanh hơn Việc thu thập tài liệu về mặt lí luận giúp chúng ta hiểu kĩ hơn, sâu hơn và cắt nghĩa được các hiện tượng, sự vật và các mối quan hệ địa lí ở Việt Nam

Sau khi thu thập được những tài liệu cần thiết tiến hành hệ thống hóa, sắp xếp các tài liệu, thông tin thu được có liên quan tới nội dung nghiên cứu theo một cấu trúc khoa học với kết cấu chặt chẽ, các nguồn tài liệu được lựa chọn

Trang 7

theo từng nội dung cụ thể để có hệ thống khái quát giải thích cho chúng ta hiểu những vấn đề cơ bản về địa lí Việt Nam

3.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh

Bản đồ, biểu đồ tranh ảnh là nguồn tài liệu hết sức quan trọng trong việc khai thác vấn đề địa lí Việt Nam cho giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn địa lí cũng như những người muốn tìm hiểu tới môn địa lí

Nghiên cứu biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh nhằm tìm hiểu về lí thuyết từ đó vận dụng vào thực tiễn giảng dạy để đạt dược hiểu quả dạy học, giúp học sinh hiểu bài nhanh hơn, nhớ bài lâu và kĩ hơn

3.3 Phương pháp phân tích số liệu thống kê

Các số liệu thống kê có ý nghĩa quan trọng cho việc hình thành các tri thức

về khái quát đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các vùng miền, quốc gia, khu vực và thế giới, phân tích các số liệu thống kê để có thể nhận xét đánh giá đúng đắn

Trong phân môn địa lí cho học sinh làm quen với phương pháp sử dụng và phân tích số liệu là một trong những biện pháp làm tăng vốn hiểu biết về thực tiễn của các em bởi vì các số liệu thống kê không chỉ có trong các tài liệu địa lí

mà chúng còn được giới thiệu rộng rãi trên các báo cáo, tạp chí, tài liệu thông tin đại chúng

Trong khóa luận chương thực nghiệm, tôi đã sử dụng rất nhiều phương pháp phân tích số liệu thống kê như: thống kê kết quả học tập của học sinh, số lượng học sinh… Qua các số liệu thống kê được, phân tích và đưa ra những nhận xét, đánh giá một cách khoa học, chính xác hơn về thực tiễn của đề tài

3.4 Phương pháp thực nghiệm

Đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài Để kiểm nghiệm các giáo án đã soạn xem có thực sự phù hợp, chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Quyết Thắng – TP Sơn La Trên cơ sở những kết quả thu được sẽ khẳng định kết quả của đề tài Phương pháp này được tiến hành qua việc kiểm tra đánh giá sau khi học và qua việc thăm dò qua phiếu điều tra

Trang 8

4 Đóng góp của khóa luận

- Đề tài hoàn thành là tư liệu tham khảo, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về kinh tế - xã hội Việt Nam có liên quan đến chủ đề địa lí lớp 5 Cho bản thân người nghiên cứu, cho các sinh viên sư phạm ngành tiểu học và những người muốn nghiên cứu về vấn đề đó

- Đề tài còn cung cấp cho sinh viên sư phạm phương pháp cách vận dụng chúng vào giảng dạy ở trường tiểu học

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Tìm hiểu địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam có liên quan đến chủ

đề địa lí lớp 5;

Chương 2: Vận dụng những kiến thức địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam để thiết kế một số giáo án vào giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5;

Chương 3: Thực nghiệm

Trang 9

CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN

Hệ tọa độ địa lí trên đất liền được xác định như sau:

- Điểm cực Bắc ở vĩ độ 23023’B, tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh

6050’B và từ khoảng kinh độ 1010Đ đến 117020’Đ tại Biển Đông

Đất nước Việt Nam là khối thống nhất bao gồm lãnh thổ trên đất liền, vùng trời và vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền tài sản quốc gia, trong đó có rất nhiều đảo và quần đảo

Diện tích lãnh thổ đất liền của nước ta là 331212 km2 (Niên giám thống kê 2009) Nếu tính đến đường cơ sở, thì tổng diện tích đất liền và nội thủy là khoảng 560 nghìn km2

Nhà nước ta tuyên bố lãnh thổ hải Việt Nam rộng khoảng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là biên giới của nước ta Vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý hợp với lãnh hải thành vùng biển 24 hải

lý Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở Ở vùng biển này, nước ta có quyền hoàn toàn riêng biệt về mặt kinh tế như: có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ, sử dụng và bảo vệ tất cả các tài nguyên

Trang 10

thiên nhiên, quyền riêng biệt về thiết lập các công trình, đảo nhân tạo, quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học và bảo vệ, chống ô nhiễm môi trường

Thềm lục địa Việt Nam gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của lục địa Nơi nào bờ ngoài rìa lục địa cách đường cơ sở chưa đến 200 hải lý thì thềm lục địa được mở rộng ra cách đường cơ sở 200 hải lý Nước ta có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác và bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam

Dọc theo bờ biển nước ta suốt từ Bắc vào Nam có khoảng 4000 nghìn đảo lớn nhỏ, tập trung nhiều nhất ở vùng biển thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng (vịnh Bắc bộ) và các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau thuộc vùng biển Tây Nam nước

ta (trong vịnh Thái Lan) Cách bờ tương đối xa, từ 170 đến 250 hải lý là huyện

Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và huyện Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa)

Nước ta nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến, nóng ẩm, ở giữa vùng Châu Âu gió mùa, lại ở rìa phía đông bán đảo Trung - Ấn, thông ra Thái Bình Dương qua Biển Đông Chính điều này tạo nên nền tảng của tự nhiên nước ta là thiên nhiên nhiệt đới gió mùa ẩm, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển Với lãnh thổ trải gần 15 vĩ tuyến, sự phân hóa không gian của thiên nhiên Việt Nam khá lớn Nước ta nằm ở vị trí giao nhau của vành đai sinh khoáng Địa Trung Hải Những hoạt động mác ma ứng với các vành đai sinh khoáng này đã làm cho tài nguyên khoáng sản của nước ta rất đa dạng

Nước ta còn nằm ở nơi giao thoa giữa các luồng di cư của thực vật thuộc các khu hệ Hymalaya Malaixia – Inđônêxia và Ấn Độ Mianma Những luồng di

cư này chủ yếu diễn ra vào thời kỳ tân kiến tạo và làm phong phú thêm các khu

hệ thực, động vật ở nước ta bên cạnh các loài đặc hữu

Chính các đặc điểm này làm cho thiên nhiên nước ta trở nên đa dạng, phong phú mà nhiều nơi trên thế giới không có được

Việt Nam có mối quan hệ qua lại thuận lợi với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và với các nước khác trên thế giới nhờ có vị trí địa lí khá đặc biệt

Trang 11

Về kinh tế, Việt Nam nằm trên ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc

tế quan trọng với nhiều cảng biển như: Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn… và các sân bay quốc tế: Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất… cùng các tuyến đường bộ, đường sắt xuyên Á, đường biển hàng không nối liền nước ta với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới, tạo điều kiện cho nước ta giao lưu thuận lợi với các nước Hơn thế nữa, nước ta còn là cửa ngõ mở nối ra biển, thuận tiện cho nước Lào, các khu vực Đông bắc Thái Lan và Campuchia, Tây Nam Trung Quốc

Vị trí địa lí thuận lợi của nước ta có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các ngành kimh tế, các vùng lãnh thổ, tạo điều kiện thực hiện chính sách

mở cửa, hội nhập với các nước trên thế giới, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài

Về văn hóa – xã hội, vị trí liền kề cùng với nhiều nét tương đồng về lịch sử, văn hóa xã hội và mối giao lưu lâu đời đã tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á

Theo quan điểm địa lí chính trị và địa lý quân sự, nước ta có vị trí đặc biệt quan trọng ở vùng Đông Nam Á, một khu vực kinh tế năng động và nhạy cảm với những biến động chính trị trên thế giới Đặc biệt Biển Đông đối với nước ta

là một hướng chiến lược quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế

Trang 12

Sự phân hóa của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên giữa đồng bằng và miền núi, trung du đã tạo ra những tiền đề tự nhiên cho sự hình thành những cấu trúc kinh tế khác nhau, bổ sung cho nhau

1.1.2.2 Điều kiện khí hậu

Khí hậu nước ta là nhiệt đới ẩm gió mùa Tính chất nhiệt đới thể hiện ở tổng xạ ở miền Bắc trên 120 kcal/cm2

/năm, còn ở miền Nam 130 kcal/cm2/năm Cân bằng bức xạ quanh năm dương ở miền Bắc là 86 kcal/cm2/năm, còn ở miền Nam là 112 kcal/cm2/năm Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 270C Tổng nhiệt độ hoạt động là từ 8000 – 100000C Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo điều kiện cho nước ta trồng từ các loại cây ưa nhiệt của vùng nhiệt đới (bông, lúa gạo…), cho đến các cây của xứ cận nhiệt hay ôn đới

Tính chất ẩm thể hiện ở lượng mưa trung bình năm từ 1500 – 2000 mm Độ

ẩm không khí thường xuyên trên 80% Lượng mưa, ẩm trong năm ở hầu hết các vùng nước ta đáp ứng được nhu cầu của cây trồng, vật nuôi

Sự phân hóa khá mạnh mẽ của các loại hình khí hậu và của mùa khí hậu làm cho nước ta diện tích tuy không lớn, nhưng mùa nào thức ấy, nông sản rất phong phú nhờ việc bổ sung của các nông sản theo các mùa thu hoạch khác nhau từ Bắc vào Nam

Tuy nhiên, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với lượng mưa và độ ẩm lớn cũng gây ra những khó khăn trở ngại: các thiên tai như mưa bão, lũ lụt, hạn hán gây tổn thất cho sản xuất; gây khó khăn cho các hoạt động giao thông vận tải, du lịch, công nghiệp khai thác

1.1.2.3 Tài nguyên nước

Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc trung bình khoảng 0,5 – 1,0 km/km2 Dọc bờ biển, trung bình cứ 20 km lại gặp một cửa sông Cả nước có

2360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên Hệ thống sông ngòi nước ta có ý nghĩa kinh tế rất lớn Các hệ thống sông tạo nên các đồng bằng lớn như đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, dải đồng bằng hẹp duyên hải miền Trung, các cánh đồng giữa núi Điều kiện thủy lợi thuận lợi, cho phép các đồng bằng này phát triển nền nông nghiệp lúa nước và các ngành kinh tế khác Ven

Trang 13

sông có nhiều địa điểm thuận lợi cho việc lập làng, phát triển các đô thị Nhiều trung tâm công nghiệp, dịch vụ đều được phân bố ven sông Ven sông có các cảng sông, thậm chí có cảng ý nghĩa quốc tế như cảng Cần Thơ Ngoài ra, sông ngòi nước ta còn có giá trị rất lớn về thủy điện

Đất bazan được tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ Đây là loại đất rất thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp (đặc biệt cao su, cà phê…) trên quy mô lớn

Ở các châu thổ dọc theo các thung lũng, đất phù sa chiếm ưu thế Hai đồng bằng rộng nhất đồng thời là hai vựa lúa lớn nhất của nước ta có nhiều diện tích đất phù sa Đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất thích hợp cho việc trồng lúa nước

Ngoài đất phù sa, ở vùng đồng bằng tồn tại các loại đất khác (đất mặn, đất chua mặn ven biển, đất cát, đất gây hóa trong các vùng trũng, đất lầy thụt than bùn), nhưng giá trị đối với sản xuất nông nghiệp bị hạn chế rất nhiều

1.1.2.5 Hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật

Các hệ sinh thái ở nước ta rất đa dạng và phong phú, gồm có các hệ sinh thái: hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa; hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới; hệ sinh thái rừng thưa nhiệt đới và xavan; hệ sinh thái trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt;

hệ sinh thái do ảnh hưởng của độ cao

Sự đa dạng sinh học ở nước ta nổi bật so với các nước khác có cùng quy

mô lãnh thổ, và ngay cả các nước lân cận Trên cả nước có tới 14.624 loài thực vật thuộc gần 300 họ Về động vật có tới 11.217 loài và phân loài Về cây trồng,

Trang 14

nước ta cũng có hơn 200 loài Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học là nguồn gen quý giá mà chúng ta còn chưa hiểu hết, đồng thời cũng là nguồn đạm động vật to lớn, nguồn nguyên liệu cho công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dược phẩm và công nghiệp nhẹ

1.1.2.6 Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản nước ta khá phong phú về thể loại: các khoáng sản nhiên liệu – năng lượng, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim loại, nước khoáng Đến nay đã phát hiện được hơn 3500 mỏ và điểm quặng của hơn 80 loại khoáng sản, nhưng mới có 300 mỏ của 30 loại khoáng sản được đưa vào khai thác

Nước ta có một số khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng tốt, là điều kiện vật chất cho việc xây dựng một số ngành công nghiệp trọng điểm, đồng thời tạo

ra nguồn hàng xuất khẩu khoáng sản chủ lực của đất nước

1.2 Địa lý dân cƣ – dân tộc

1.2.1 Đặc điểm dân số Việt Nam

1.2.1.1 Việt Nam là một nước đông dân

Nước ta có diện tích vào loại trung bình đứng thứ 58 trên thế giới, nhưng dân số lại thuộc hàng các nước đông dân trên thế giới Theo số liệu điều tra dân

số toàn quốc lần thứ nhất (1/4/1979) dân số nước ta có 52,46 triệu người Đến thời điểm tổng điều tra dân số lần thứ 2 (1/4/1989), dân số Việt Nam đã tăng lên 64,41 triệu người, tại cuộc tổng điều tra dân số cả nước lần thứ 3 vừa qua (1/4/1999), dân số Việt Nam đã đạt 76,34 triệu người và tại cuộc tổng điều tra dân số lần thứ 4 dân số nước ta là 85,78 triệu người Đến năm 2004, dân số nước ta có 82,0 triệu người Năm 2012 có 89,0 triệu người Với số dân này, nước ta đứng hàng thứ 13 trong tổng số hơn 220 quốc gia trên thế giới

Trong khu vực Đông Nam Á, dân số nước ta đứng hàng thứ 3 sau Inđônêxia (vào năm 2012: 241,0 triệu người) và Philippin (năm 2012: 96,2 triệu người)

Dân số là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế Với dân số đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào Đồng thời đây còn là thị trường tiêu thụ rộng lớn Tuy nhiên, trong điều kiện của nước ta hiện nay, dân số đang là một trở ngại

Trang 15

lớn cho việc phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống tinh thần

và vật chất cho nhân dân

1.2.1.2 Dân số tăng nhanh

Dân số nước ta tăng nhanh, đặc biệt là nửa cuối thế kỉ XX, đã dẫn đến hiện tượng bùng nổ dân số Trong 70 năm (1921 – 1990), dân số nước ta tăng thêm 50,7 triệu người, trong 35 năm đầu (1921 – 1955) chỉ tăng thêm 9,4 triệu, còn 35 năm sau (1956 – 1990) đã tăng thêm 41,3 triệu người

Do kết quả của việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình nên thời gian qua mức gia tăng dân số ở nước ta có giảm đi (1989 – 1999) tỉ lệ gia tăng dân số là 1,7%, giai đoạn (2002 – 2005) là 1,32%, tuy giảm nhưng còn chậm, mỗi năm dân số nước ta vẫn tăng thêm trung bình hơn 1 triệu người So với khả năng kinh tế của đất nước, nhất là trong điều kiện mức gia tăng dân số cao Nước ta vẫn tiếp tục phải duy trì mức gia tăng dân số thấp hơn nữa để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước

Gia tăng dân số nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước, với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã hội

1.2.2 Dân tộc

1.2.2.1 Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc

Theo tổng cục thống kê công bố ngày 2/3/1979 đã xác định 54 dân tộc khác nhau đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Đại đa số các dân tộc có nguồn gốc bản địa, có quá trình hình thành và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước, cùng sống chung dưới mái nhà của Việt Nam thống nhất

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Việt (Kinh) chiếm đa số (86,2% dân số cả nước), các thành phần dân tộc còn lại sinh sống rải rác suốt từ bắc vào nam, nhưng chỉ chiếm 13,8% dân số cả nước

Về mặt số lượng, sau người Việt là người Tày, Thái, Khơme Mỗi tộc người có số dân trên một triệu, tổng cộng chiếm 4,3% dân số cả nước Các tộc người có số dân từ 50 vạn đến gần 1 triệu, là người Hoa, Mường, Nùng,

Trang 16

H’Mông, Dao Các tộc người khác có số lượng ít hơn, dao động từ hai ba chục vạn tới vài trăm người

Về ngôn ngữ, ở nước ta tồn tại bốn ngữ hệ phân bố ở Đông Nam Á, trong

đó ngữ hệ Nam Á là lớn nhất Ngữ hệ này bao gồm ngôn ngữ của các cư dân có địa bàn cư trú từ miền núi đến đồng bằng, từ Nam vào Bắc Ngữ hệ Thái và Hán – Tạng, về mặt lịch sử chủ yếu phân bố ở miền Bắc, ngữ hệ Nam Đảo gồm một

số ngôn ngữ ở miền Trung và Tây Nguyên

1.2.2.2 Sự phân bố các dân tộc ở nước ta

Dân tộc Kinh (Việt) có số dân đông nhất, sống tập trung ở các đồng bằng, ven biển Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở vùng núi và cao nguyên, có thể chia ra thành các khu vực có đặc điểm riêng

Khu vực miền núi phía Bắc (từ đèo ngang trở ra) tập trung 31 trong 54 dân tộc, thuộc 7 trong 8 nhóm ngôn ngữ và 2 trong 3 ngữ hệ trong cả nước Trong số các dân tộc ở phía Bắc, đông đảo hơn cả là người Tày, người Nùng, người H’Mông, Dao

Khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, đây là khu vực có rất nhiều tộc người, gồm các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á với nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (người Chứt), nhóm ngôn ngữ Môn – Khơme (Bana, Xơđăng, Bru – Vân kiều, Cơtu…) và ngữ hệ Nam Đảo với các nhóm ngôn ngữ Giarai, Êđê… Đông nhất trong số các tộc người này là người Giarai, Êđê, Bana, Bru – Vân kiều

Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có các tộc người Chăm, Khơme cư trú thành từng vệt riêng hoặc xen kẽ, hòa nhập văn hóa với người Kinh Riêng người Hoa cư trú chủ yếu ở các thành phố lớn, nhất là ở Thành phố

Trang 17

Năm 2004 với số dân 82,0 triệu người sống trên diện tích hơn 33 vạn km2, mật độ dân số trung bình toàn quốc là 249 người/km2 So với năm 1989, mật độ dân số tăng thêm 53 người/km2 Mật độ dân số nước ta cao hơn mật độ dân số thế giới cũng năm 2004 là 5,2 lần và vượt xa các nước láng giềng trong khu vực (Lào 24 người/km2, Campuchia 72 người/km2, Trung Quốc 135 người/km2

)

1.2.3.2 Dân cư nước ta phân bố không đồng đều

Các vùng đồng bằng chiếm 38% diện tích cả nước, nhưng lại có hơn 80% dân số Ngược lại, trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm 1/2 diện tích cả nước nhưng chỉ có gần 20% dân số

Có những tỉnh mật độ dân số chỉ dưới 40 người/km2 như Lai Châu, Kon Tum, lại có những vùng nông thôn của Đồng bằng sông Hồng mật độ dân số trên 1000 người/km2 Các vùng nằm dọc hai con sông lớn sông Hồng và sông Cửu Long có mật độ dân số cao: các tỉnh Hưng Yên 1205 người/km2

, Thái Bình

1158 người/km2, Nam Định 1181 người/km2

ở Đồng bằng sông Hồng; các tỉnh Vĩnh Long 702 người/km2, Tiền Giang 701 người/km2, Cần Thơ 628 người/km2

ở vùng phù sa ngọt của đồng bằng sông Cửu Long Các vùng vên biển có mật độ dân số 100 – 200 người/km2, còn các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có mật độ dân số dưới 100 người/km2 Các vùng thành phố lớn có mật độ dân số rất cao: Thủ đô Hà Nội 3265 người/km2

, Thành phố Hồ Chí Minh 2651 người/km2 Dân cư nước ta phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn khoảng 3/4 dân số nước ta sống ở nông thôn, chỉ có khoảng 1/4 dân số sống ở thành thị

Sự phân bố dân cư chưa hợp lí làm ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng lao động, khai thác tài nguyên Vì vậy, thực hiện chính sách chuyển cư phù hợp, thúc đẩy sự phân bố dân cư và lao động trên phạm vi cả nước là rất cần thiết

1.3 Sự phát triển kinh tế

1.3.1 Nông nghiệp

1.3.1.1 Điều kiện phát triển ngành nông nghiệp ở nước ta

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Nông nghiệp có những đặc điểm đặc thù khác hẳn với ngành kinh tế khác

Từ những đặc điểm đó, có thể thấy sự phát triển và phân bố của ngành này phụ

Trang 18

thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Chính vì thế, các nhân tố quan trọng hàng đầu là đất đai, khí hậu và nguồn nước

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phần lớn diện tích đồi núi của nước ta là đất ferarit loại đất này thích hợp cho trồng cây công nghiệp ngoài đất ferarit còn một số loại đất khác Đất xám phù sa cổ ở rìa Đồng bằng sông Hồng và tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Bộ, có khả năng phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả Đất đen (macgalit) phát triển trên đá bazơ (đá bazan, đá vôi) thường gặp ở các thung lũng đá vôi, phân bố nhiều ở miền núi phía Bắc Loại đất này rất thích hợp để trồng các loại cây có giá trị (quế, chè, thuốc lá…) Đất bazan được tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ Đây là loại đất rất thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp (đặc biệt cao su, cà phê…) trên quy mô lớn

Ở các châu thổ dọc theo các thung lũng, đất phù sa chiếm ưu thế Hai đồng bằng rộng nhất đồng thời là hai vựa lúa lớn nhất của nước ta có nhiều diện tích đất phù sa Đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất thích hợp cho việc trồng lúa nước

Ngoài đất phù sa, ở vùng đồng bằng tồn tại các loại đất khác (đất mặn, đất chua mặn ven biển, đất cát, đất glây hóa trong các vùng trũng, đất lầy thụt than bùn), nhưng giá trị đối với sản xuất nông nghiệp bị hạn chế rất nhiều

Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, nhưng không phải là vô hạn Trước thực trạng nguồn đất đang bị thoái hóa, việc khai thác cần phải đi đôi với việc bảo vệ nhằm phát triển một nền nông nghiệp biền vững, hiệu quả

Trang 19

Khí hậu

Nằm trong vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, khí hậu của nước ta cơ bản

là nhiệt đới Do hình thể kéo dài theo chiều kinh tuyến ở rìa Đông Nam lục địa châu Á nên chế độ nhiệt có sự khác giữa các vùng Từ đèo Hải Vân trở ra chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh cực đới phía Bắc tràn xuống nên hàng năm

có một mùa đông lạnh và một mùa hè nóng Từ đèo Hải Vân trở vào nóng quanh năm với một mùa khô và một mùa mưa

Tính chất nhiệt đới làm cho tổng lượng bức xạ mặt trời rất lớn Chế độ mưa phong phú, trung bình năm đạt 1.500 - 2000 mm Khí hậu nước ta còn có sự phân hóa đa dạng theo chiều Bắc Nam, theo mùa và theo độ cao Miền Bắc có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa đông lạnh Ở vùng núi cao vào mùa này rét đậm và có sương giá Miền Nam có khí hậu nhiệt đới điển hình với mùa khô

và mùa mưa rõ rệt Miền Trung là nơi giao thoa khí hậu giữa hai miền Bắc Nam Tác động của khí hậu với nông nghiệp nước ta trước hết là việc cung cấp bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt phong phú cho cây trồng sinh trưởng, phát triển quanh năm và năng suất cao hơn Hơn nữa, độ ẩm không khí cao, lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng có sức tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy

nở hoa kết trái Điều kiện sinh thái nóng ẩm giúp cho cây ngắn ngày có thể tăng thêm từ một đến hai vụ trong năm Đối với cây dài ngày, có thể khai thác nhiều đợt, nhiều vụ

Trên bình diện cả nước, các đặc trưng về khí hậu tạo điều kiện bố trí được một tập đoàn cây trồng vật nuôi bao gồm cả nhiệt đới và ôn đới phù hợp với hệ sinh thái theo hướng phát triển bền vững ở vùng núi cao trên 1.500m khí hậu quanh năm mát mẻ cho phép có thể hình thành tập đoàn cây trồng vật nuôi có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới Lượng tích ôn đới thuận lợi cho việc tạo ra nhiều

vụ Riêng miền Bắc, mùa đông lạnh là tiền đề để phát triển cây vụ đông

Bên cạnh những thuận lợi, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cũng gây ra nhiều trở ngại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp Tính chất biến động và sự phân hóa

về khí hậu có những mặt trái của nó như bão, lũ lụt, hạn hán … mà trong những năm gần đây, cường độ có chiều hướng gia tăng Vùng này đang bị úng lụt trong

Trang 20

khi các vùng khác lại thiếu nước nghiêm trọng Sâu bệnh hại cây trồng, vật nuôi

dễ dàng phát triển thành dịch lớn Điều này làm tăng thêm tính chất bấp bênh vốn có của một nền nông nghiệp nhiệt đới và đòi hỏi phải có phương sách hữu hiệu và đầu tư thích đáng để giảm thiểu thiên tai

Nguồn nước

Nằm trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có nguồn nước phong phú Do các hệ thống sông lớn của nước ta bắt nguồn từ các nước láng giềng (hệ thống sông Hồng từ Trung Quốc, hệ thống sông Mã, sông Cả từ Lào, sông Cửu Long thuộc

hệ thống sông Mê Công từ Mianma …) nên khối lượng nước mặt lớn hơn nước mưa Lượng nước mưa hàng năm tương đối lớn càng tạo điều kiện cho sự phong phú của nguồn nước mặt

Mạng lưới sông ngòi phân bố rộng khắp và tương đối dầy đặc Các vùng nông nghiệp trù phú gắn liền các hệ thống sông lớn Lưu vực sông Hồng - Thái Bình bao trùm toàn bộ không gian nông nghiệp Bắc Bộ Các lưu vực sông miền Trung (sông Mã, Cả, Gianh, Hương, Thu Bồn, Trà Khúc, sông Ba …) đồng thời cũng là vùng lúa Hệ thống sông Đồng Nai, Cửu Long bao phủ lên không gian nông nghiệp Đông, Tây Nam Bộ Ngoài nguồn nước sông ngòi còn bồi đắp một khối lượng phù sa khổng lồ cho nông nghiệp

Bên cạnh nước mặt, nguồn nước ngầm nước ta cũng rất phong phú Tài nguyên nước ngầm cũng góp phần quan trọng cho nông nghiệp, đối với các vùng có mùa khô khắc nghiệt (Tây Nguyên), nước ngầm được khai thác để tưới tiêu và phục vụ sinh hoạt

Tài nguyên nước phong phú, song lại phân bố không đều về thời gian và không gian Đây là khó khăn với hoạt động nông nghiệp

Điều kiện kinh tế - xã hội

Nguồn lao động

Số dân nước ta đông và tốc độ gia tăng dân số còn cao Vì thế, nguồn lao động dồi dào thường xuyên được bổ sung và chất lượng lao động (trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) bước đầu được cải thiện, tuy chưa đáp ứng kịp yêu cầu của nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng trước công cuộc đổi mới

Trang 21

Trong điều kiện như vậy, nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển nông nghiệp theo chiều rộng (khai hoang, mở rộng diện tích) và theo chiều sâu (thâm canh)

Tuy nhiên, nguồn lao động đông cũng là một khó khăn cho nông nghiệp

Số lao động hàng năm tăng lên với nhịp độ nhanh, mà phần đông là kĩ thuật thấp, hay là lao động phổ thông, đã làm nóng thêm tình hình việc làm ở khu vực này Hơn nữa, nguồn lao động chưa được sử dụng hợp lí và phân bố không đều giữa các ngành và các vùng trong cả nước Phần lớn lao động tập trung ở các vùng đồng bằng, nhất là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long,

và chủ yếu trong ngành trồng trọt

Như vậy, nguồn lao động với tính chất hai mặt của nó đã tạo ra những thuận lợi và khó khăn đối với sản xuất nông nghiệp

Đường lối chính sách phát triển nông nghiệp

Việt Nam là một nước nông nghiệp Vì thế, từ lâu nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước coi là mặt trận hàng đầu

Liên tục từ năm 1986, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp Đường lối đổi mới trong nông nghiệp

là nguyên nhân quan trọng nhất của những thành tựu to lớn mà nông nghiệp đã đạt được trong những năm qua Đại hội VI của Đảng (1986) đã vạch ra đường lối đổi mới, đã xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Các hộ gia đình có quyền tự quyết trong các hoạt động sản xuất của họ Nhờ vậy

mà người nông dân phấn khởi đầu tư nâng cao năng suất Từ năm 2000, chính phủ có quyết định về trang trại, tạo ra giai đoạn mới trong phát triển kinh tế trang trại ở nước ta Chính sách nông nghiệp bao gồm các chính sách giá, chính sách đất đai, chính sách tín dụng nông thôn và chính sách đầu tư

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ nông nghiệp

Cơ sở hạ tầng nông thôn tuy còn thiếu và chất lượng còn hạn chế nhưng đã tạo được những điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế nông thôn Hầu hết các

xã có thể giao lưu bằng ôtô nhờ hệ thống giao thông nông thôn; các tuyến đường quốc lộ huyết mạch đã nối các vùng kinh tế của cả nước, miền núi với đồng bằng,

Trang 22

nông thôn với các trung tâm kinh tế lớn và với các cửa khẩu Những tiến bộ trong việc điện khí hóa nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, đưa công nghệ mới vào công nghiệp hóa nông thôn Cơ khí hóa trong nông nghiệp đã có những bước tiến mới

Ngoài những nhân tố kể trên còn nhiều nhân tố khác nữa như thị trường tiêu thụ sản phẩm (trong nước và quốc tế), tiến bộ khoa học kĩ thuật nông nghiệp… Tất cả tạo thành một hệ thống thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế vào loại quan trọng hàng đầu này của đất nước

1.3.1.2 Địa lí các ngành nông nghiệp

Ngành trồng trọt

Sản xuất lương thực

Ở nước ta, việc đẩy mạnh sản xuất lương thực có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm đảm bảo lương thực cho trên 80 triệu dân, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi

và nguồn hàng cho xuất khẩu Việc đảm bảo an ninh lương thực còn là cơ sở để

đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp

Điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước, khí hậu của nước ta cho phép phát triển sản xuất lương thực phù hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp Tuy nhiên, thiên tai (bão lụt, hạn hán…) và sâu bệnh vẫn thường xuyên đe dọa sản xuất lương thực; có năm thiên tai diễn ra trên diện rộng

Tình hình sản xuất lương thực ở nước ta trong những năm qua là:

Bằng cách tăng vụ và khai hoang mở rộng diện tích nên diện tích gieo trồng lúa đã tăng mạnh, từ 5,6 triệu ha (năm 1980) lên 6,04 triệu ha (năm 1990), 7,5 triệu ha (năm 2002), sau đó giảm nhẹ còn hơn 3,7 triệu ha (năm 2005) Bình quân lương thực trên đầu người không ngừng tăng, năm 2003 đạt 466 kg/người, trong đó riêng thóc là 427kg

Do áp dụng rộng rãi các biện pháp thâm canh nông nghiệp, đưa vào sử dụng đại trà các giống mới, nên năng suất và sản lượng lúa tăng mạnh, nhất là vụ đông xuân Hiện nay, năng suất lúa đã đạt 49 tạ/ha/năm (năm 1980 mới đạt 21 tạ/ha/năm, năm 1990 là 31,8 tạ/ha/năm) Sản lượng lúa cũng tăng mạnh từ 19,2 triệu tấn năm

1990 và hiện nay đạt trên dưới 36 triệu tấn

Trang 23

Việt Nam từ chỗ sản xuất không đảm bảo đủ nhu cầu lương thực trong nước, đã trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới Hiện nay bình quân lương thực có hạt trên đầu người của nước ta là 470 kg/năm Lượng gạo xuất khẩu ở mức 3 – 4 triệu tấn/năm

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lương thực lớn nhất cả nước, chiếm trên 50% diện tích và 50% sản lượng lúa cả nước, bình quân sản lượng lương thực trên đầu người nhiều năm nay là trên 1000 kg/năm Đồng bằng sông Hồng là vùng sản xuất lương thực lớn thứ hai chỉ chiếm 15,8% diện tích, 20,2% sản lượng lúa cả nước

Điều kiện khí hậu đa dạng cho phép trồng được quanh năm nhiều loại rau đậu Vụ đông xuân có bắp cải, su hào, súp lơ, cải củ, cà chua, đậu, cô – ve, đậu

bở, khoai tây… Vụ hè thu có rau muống, bầu bí, mướp, ớt, tỏi, dưa chuột…

Sản xuất cây công nghiệp và cây ăn quả

Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển cây công nghiệp: Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có nhiều loại đất thích hợp với nhiều cây công nghiệp, có thể phát triển cây công nghiệp tập trung; nguồn lao động dồi dào; đã có mạng lưới

cơ sở chế biến nguyên liệu cây công nghiệp Tuy nhiên, khó khăn là ở chỗ thị trường thế giới về sản phẩm cây công nghiệp có nhiều biến động, hàng của ta chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường khó tính

Cây công nghiệp ở nước ta gồm có cây công nghiệp lâu năm và cây công nghiệp hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây công nghiệp năm 2005 là khoảng 2,5 triệu ha, trong đó diện tích cây công nghiệp lâu năm là hơn 1,6 triệu

ha (chiếm hơn 65%)

Trang 24

Cây công nghiệp nước ta chủ yếu là cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, dừa, chè

Sự phát triển mạnh sản xuất các cây công nghiệp chủ lực đã đưa Việt Nam lên vị trí hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu cà phê, điều và hồ tiêu Cà phê chủ yếu được trồng trên đất badan ở Tây Nguyên Ngoài ra, còn trồng ở Đông Nam Bộ

và rải rác ở Bắc Trung Bộ Cao su được trồng chủ yếu trên đất badan và đất xám bạc màu trên phù sa cổ ở Đông Nam Bộ, ngoài ra còn được trồng ở Tây Nguyên, một số tỉnh ở Duyên hải miền Trung Hồ tiêu được trồng chủ yếu trên đất badan

ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung Điều được trồng nhiều nhất ở Đông Nam Bộ Dừa được trồng nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long Chè được trồng nhiều ở Trung du và miền núi Bắc Bộ, Tây nguyên

Các cây công nghiệp hàng năm ở nước ta chủ yếu là mía, lạc, đậu tương, bông, đay, cói, dâu tằm, thuốc lá Các vùng chuyên canh mía đường được phát triển ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Duyên hải miền Trung Lạc được trồng nhiều trên các đồng bằng Thanh – Nghệ - Tĩnh, trên đất xám bạc màu ở Đông Nam Bộ và ở Đắk Lắk Đậu tương được trồng nhiều ở Trung du và miền núi Bắc Bộ, những năm gần đây được phát triển mạnh ở Đắk Lắk, Đồng Tháp Vùng trồng đay truyền thống là ở Đồng bằng sông Hồng, còn vùng trồng cói lớn nhất là ven biển Ninh Bình, Thanh Hóa

Nước ta có nhiều tiềm năng về tự nhiên để phát triển các loại cây ăn quả Nhiều sản phẩm đã nổi tiếng từ xưa như cam Xã Đoài; bưởi Đoan Hùng, Phúc Trạch, Biên Hòa; nhãn Hưng Yên; xoài Lái Thiêu, Cao Lãnh; đào Sa Pa; mận Lạng Sơn…

Tuy nhiên sự phát triển của ngành này chậm và thiếu ổn định Năm 2002 cả nước có khoảng 643,5 nghìn ha cây ăn quả các loại Tỉ trọng của nó trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt dao động từ 9% năm 1990 xuống 7,5% năm

1995 và 7,1% năm 2002

Trong tương lai cần chú trọng đầu tư và phát triển một số vùng sản xuất có tính hàng hóa lớn như vùng xoài tập trung ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Phủ Quỳ (Nghệ An), vùng vải thiều tập trung ở Lục Ngạn

Trang 25

(Bắc Giang), vùng mận ở Bắc Hà (Lào Cai), …, đồng thời chú ý đến khâu chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Ngành chăn nuôi

Tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp của nước

ta từng bước tăng khá vững chắc Xu hướng nổi bật là ngành chăn nuôi đang tiến mạnh lên sản xuất hàng hóa, trang trại theo hình thức công nghiệp Các sản phẩm không qua giết thịt (trứng, sữa) chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi

Những điều kiện thúc đẩy chăn nuôi phát triển là: cơ sở thức ăn cho chăn nuôi được đảm bảo tốt hơn nhiều, từ hoa màu lương thực, đồng cỏ, phụ phẩm của ngành thủy sản, thức ăn chế biến công nghiệp; các dịch vụ về giống, thú y

đã có nhiều tiến bộ và phát triển rộng khắp

Mặc dù có nhiều tiềm năng về tự nhiên, kinh tế - hội, nhưng hiện nay ngành chăn nuôi của nước ta phát triển chưa mạnh Tỷ trọng của nó trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp mới đạt sấp xỉ 1/5 (trong thập kỉ 90, năm cao nhất đạt 20,7%) Sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành chăn nuôi đã có song còn chậm

Chăn nuôi lợn và gia cầm

Lợn và gia cầm là hai nguồn cung cấp thịt chủ yếu Đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con (năm 2005), cung cấp trên 3/4 sản lượng thịt các loại Chăn nuôi gia cầm tăng mạnh với tổng đàn 250 triệu con (năm 2003), nhưng do dịch bệnh nên năm 2005 tổng đàn gia cầm còn khoảng 220 triệu con Chăn nuôi gà công nghiệp đã phát triển mạnh ở các tỉnh giáp các thành phố lớn (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh) và ở các địa phương có các cơ sở công nghiệp chế biến thịt Chăn nuôi lợn và gia cầm tập trung nhiều nhất ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long

Chăn nuôi gia súc ăn cỏ

Chăn nuôi gia súc ăn cỏ dựa vào các đồng cỏ tự nhiên Đàn trâu ổn định ở mức 2,9 triệu con, trong khi đàn bò từ chỗ chỉ bằng 2/3 đàn trâu (đầu thập niên

80 của thế kỉ XX), đến năm 2005 đã là 5,5 triệu con và có xu hướng tăng mạnh Trâu được nuôi nhiều nhất ở Trung du miền núi Bắc Bộ (hơn 1/2 đàn trâu cả

Trang 26

nước) và Bắc Trung Bộ Bò được nuôi nhiều ở Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Chăn nuôi bò sữa đã phát triển khá mạnh ở ven Tp

Hồ Chí Minh, Hà Nội… với tổng đàn khoảng 50 nghìn con Chăn nuôi dê cừu cũng tăng mạnh trong những năm gần đây (540 nghìn con, năm 2000; tăng lên

1314 nghìn con, năm 2005)

1.3.2 Lâm nghiệp và thủy sản

1.3.2.1 Lâm nghiệp

Vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Lâm nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là môi trường sinh thái

Hiện nay môi trường đã và đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu trên bình diện thế giới Một trong những nguyên nhân làm suy thoái môi trường là lớp phủ rừng bị tàn phá nghiêm trọng Mất rừng dẫn đến sự phá vỡ cân bằng sinh thái Mất rừng có nghĩa là không còn khả năng bảo vệ nguồn nước, vốn đất cho hệ sinh thái và nguồn gien Mất rừng ảnh hưởng lớn đến việc phòng hộ (chắn sóng, chặn cát bay, chống lũ…), làm giảm tuổi thọ của các hồ chứa nước (phục vụ thủy lợi, thủy điện) và gây ra nhiều hậu quả khác

Về mặt kinh tế - xã hội, rừng là nguồn cung cấp gỗ và lâm sản cho nhu cầu của đời sống và sản xuất Đối với các vùng núi, lâm nghiệp còn là nguồn sống chủ yếu của đồng bào dân tộc ít người Ngoài ra, các mặt hàng lâm sản còn có giá trị xuất khẩu (176 triệu USD, năm 2001)

Hiện trạng phát triển và phân bố ngành lâm nghiệp

Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá trị thực tế) năm 2004 là gần 9 nghìn tỷ đồng, trong đó khai thác lâm sản chiếm 79,8%, trồng và nuôi rừng chiếm 14,5%, dịch vụ và các hoạt động lâm nghiệp khác chiếm 5,7%

Lâm nghiệp gồm có các hoạt động khai thác, trồng và bảo vệ rừng gỗ và các lâm sản khác

Khai thác gỗ

Gỗ là sản phẩm chính của ngành lâm nghiệp Trong vòng hai chục năm qua, sản lượng gỗ khai thác lớn nhất là vào năm 1987 (hơn 3,7 triệu m3

)

Trang 27

Nhờ đẩy mạnh trồng rừng, diện tích rừng trồng đã bước vào tuổi khai thác nên sản lượng gỗ khai thác lại tăng lên rõ rệt 5251 nghìn m3, tăng 11,9%, trong

đó gỗ khai thác từ rừng trồng chiếm trên 80% Một số địa phương có sản lượng

gỗ khai thác tăng cao là Đồng Nai tăng 64,1%; Bắc Kạn tăng 51,6%; Thái Nguyên tăng 48,6%; Quảng Bình tăng 48%; Yên Bái tăng 47,2% Kon Tum tăng 42,5%; Thanh Hóa tăng 42%; Lâm Đồng tăng 25,6%; Lào Cai tăng 17,6%; Bắc Giang tăng 14% Sản lượng củi khai thác đạt 27,4 triệu m3

Trồng và bảo vệ rừng

Nhà nước đã có những chương trình quốc gia về trồng rừng như chương trình 327 (phủ xanh đất trống đồi núi trọc), sau này là chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Diện tích rừng trồng tập trung cả năm đạt 187 nghìn ha, bằng 88,2% năm 2011; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 169,5 triệu cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 34,8%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ tăng 12,6%

Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, khô hạn kéo dài nên sảy ra hiện tượng cháy rừng ở một số địa phương, chủ yếu các tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2012 là 3225 ha, giảm 18% so với năm 2011, bao gồm: diện tích rừng bị cháy 2091 ha, tăng 19,8%; diện tích rừng bị chặt, phá

1134 ha, giảm 48,2%

1.3.2.2 Ngành thủy sản

Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành thủy sản

Nước ta có bờ biển dài 3260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản phong phú Tổng trữ lượng hải sản khoáng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 1,9 triệu tấn Biển nước ta

có hơn 200 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế; 1647 loài giáp sát, trong đó có hơn 100 loài tôm, nhiều loài có giá trị xuất khẩu cao; nhuyễn thể

có hơn 2500 loài, rong biển có hơn 600 loài Ngoài ra còn nhiều loại đặc sản như hải sâm, bào ngư, sò, điệp…

Trang 28

Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó có 4 ngư trường trọng điểm đã được xác định: Ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận - Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Dọc bờ biển nước ta có những bãi triều đầm phá, các cánh rừng ngập mặn

Đó là những khu vực thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ Ở một số hải đảo có các rạn đá, là nơi tập trung của nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế Ven

bờ có nhiều đảo và vụng, vịnh tạo điều kiện hình thành các bãi cho cá đẻ

Nước ta có nhiều sông suối, kênh rạch, ao hồ, các ô trũng ở vùng đồng bằng có thể nuôi thả cá, tôm nước ngọt Cả nước đã sử dụng hơn 850 nghìn ha diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản, trong đó hơn 45% thuộc các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu

Nhân dân có kinh nghiệm truyền thống đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Các phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn Hoạt động khai thác và nuôi trồng thuận lợi hơn nhờ phát triển các dịch vụ thủy sản và mở rộng chế biến thủy sản

Cùng với sự gia tăng dân số thế giới và trong nước, nhu cầu về các mặt hàng thủy sản tăng nhiều trong những năm gần đây Các mặt hàng thủy sản nước

ta cũng đã thâm nhập vào thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kì…

Những đổi mới trong chính sách của nhà nước đã và đang có tác động tích cực tới sự phát triển thủy sản: nghề cá ngày càng được chú trọng; khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi và giữ vững chủ quyền vùng biển, hải đảo

Tuy nhiên việc phát triển ngành thủy sản nước ta gặp không ít khó khăn Hằng năm có từ 9 đến 10 cơn bão xuất hiện ở biển đông và khoảng 30 đến

35 đợt gió mùa đông Bắc, nhiều khi gây thiệt hại về người và tài sản của ngư dân và hạn chế số ngày ra khơi

Tàu thuyền và các phương tiện đánh bắt nói chung còn chậm được đổi mới,

do vậy năng suất lao động còn thấp Hệ thống các cảng cá còn chưa đáp ứng được yêu cầu Việc chế biến thủy sản, nâng cao chất lượng thương phẩm còn

Trang 29

nhiều hạn chế Ở một số vùng ven biển, môi trường bị suy thoái và nguồn lợi thủy sản giảm

Sự phát triển và phân bố ngành thủy sản

Trong những năm gần đây, ngành thủy sản đã có bước phát triển đột phá Sản lượng thủy sản năm 2012 ước tính đạt 5732,9 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm 2011, trong đó cá đạt 4343,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 632,7 nghìn tấn, tăng 0,3% Tỉ trọng của nuôi trồng thủy hải sản ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu sản xuất và giá trị sản lượng thủy sản

Nuôi trồng thủy sản

Từ thập niên 90 trở lại đây, diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng mạnh Năm 2012 ước tính đạt 1059 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm trước Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2012 đạt 3110,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm 2011 Hiện nay nhiều loại thủy sản đã trở thành đối tượng nuôi trồng, nhưng quan trọng hơn là tôm Sản lượng nuôi trồng tôm năm 2012 đạt 473,9 nghìn tấn Kĩ thuật nuôi tôm từ quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh công nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi tôm lớn nhất, nổi bật là các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng và Kiên Giang

Nghề nuôi cá nước ngọt cũng phát triển, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng Tỉnh An Giang nổi tiếng về nghề nuôi cá tra, cá

ba sa trong lồng bè trên sông Tiền, sông Hậu, với diện tích là 927 ha, giảm 18%, sản lượng 186 nghìn tấn (năm 2012)

Nhờ phát triển nuôi trồng thủy sản mà cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều vùng đã chuyển đổi theo hướng tiến bộ, tài nguyên được sử dụng hợp lí hơn, thu thập của người nông dân tăng lên nhiều

Khai thác thủy sản

Sản lượng khai thác thủy sản năm 2012 đạt 2622,2 nghìn tấn, tăng 4,3% so với năm 1011, trong đó khai thác biển đạt 2418 nghìn tấn Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có vai trò lớn hơn cả Các tỉnh dẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận và Cà Mau

Trang 30

1.3.3 Công nghiệp

1.3.3.1 Vai trò của công nghiệp

Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước công nghiệp có vai trò to lớn đối với mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, quốc phòng và đời sống của toàn xã hội

Trước hết công nghiệp giữ vai trò động lực trong guồng máy của nền kinh

tế quốc dân, kích thích nhu cầu sử dụng nguyên liệu và máy móc, trang thiết bị; nuôi dưỡng các hoạt động thương mại và vận tải, khai thác triệt để và có hiệu quả các nguồn đầu tư tài chính và kĩ thuật

Từ đó, công nghiệp là tác nhân quyết định đối với sự nghiệp công nghiệp hóa

và hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội Ngoài ra, công nghiệp hóa cũng là quá trình thúc đẩy việc mở rộng thị trường để áp dụng rộng rãi nền sản xuất lớn với dây chuyền sản xuất hàng loạt, nhằm nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm

Công nghiệp biến đổi sâu sắc không gian kinh tế tạo dựng các trung tâm kinh tế mới, chuyển hóa chức năng của nhiều đô thị, nhất là các đô thị chỉ có chức năng hành chính sang hướng kinh tế và dịch vụ hiện đại Về lĩnh vực này công nghiệp đóng vai trò hạt nhân trong sự phát triển vùng, khai thác có hiệu quả nội lực, đặc biệt là nguồn lao động và chất xám của từng lãnh thổ và trong phạm vi cả nước

Công nghiệp là động lực để cải tạo xã hội theo nghĩa làm thay đổi từ nề nếp sản xuất đến lề lối làm việc, từ cách suy nghĩ cho đến tác phong của người lao động theo hướng hài hòa giữa hiện đại hóa và bảo tồn những đặc trưng quý báu truyền thống của dân tộc

Mặc dù mới chỉ là những bước đi ban đầu của quá trình công nghiệp hóa, nhưng công nghiệp nước ta ngày càng có vị trí đáng kể trong nền kinh tế quốc dân

1.3.3.2 Đặc điểm phát triển công nghiệp

* Sự tăng trưởng công nghiệp

Trong cơ cấu GDP của nước ta, công nghiệp ngày càng chiếm tỉ trọng cao

và thực sự có vai trò động lực cho sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cùng với ngành xây dựng, khu vực công nghiệp đã chiếm tỉ trọng hơn 40%

Trang 31

trong cơ cấu GDP, và tốc độ tăng trưởng từ năm 1992 trở lại đây luôn ở mức hai con số (nhiều năm liên tục ở mức 13 – 14%/năm)

Tốc độ tăng trưởng khá cao của công nghiệp trong khoảng hơn thập kỉ qua khẳng định thành tựu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền chủ yếu với đường lối đổi mới và các chính sách trong công nghiệp, với việc thu hút

có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn đầu tư từ nước ngoài

* Nền công nghiệp nước ta đang có sự chuyển dịch về cơ cấu (ngành, thành phần kinh tế )

Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta tương đối đa dạng Hiện nay nước ta có

29 ngành công nghiệp được tập hợp lại theo 3 nhóm: nhóm công nghiệp khai thác (than, dầu – khí, quặng kim loại, khai thác đá và các mỏ khác); nhóm công nghiệp chế biến (sản xuất thực phẩm và đồ uống, sản xuất thuốc lá, sản xuất sản phẩm dệt ); nhóm điện, ga và nước (sản xuất và phân phối điện, ga; sản xuất và phân phối nước)

Trong những năm qua, cơ cấu ngành công nghiệp nước ta có sự chuyển dịch rõ rệt nhằm thích ứng với tình hình mới và có thể hội nhập vào thị trường thế giới và khu vực Một số ngành công nghiệp như nhiên liệu, hóa chất, vật liệu xây dựng có xu hướng tăng tỉ trọng trong cơ cấu Đây cũng là những ngành có tốc độ tăng trưởng tương đối cao

Trong cơ cấu ngành công nghiệp của nước ta nổi lên một số ngành trọng điểm do có những thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ Đó là các ngành chế biến nông, lâm, thủy, hải sản; sản xuất hàng tiêu dùng, khai thác dầu khí, điện, vật liệu xây dựng

Cơ cấu công nghiệp phân theo thành phần kinh tế cũng có nhiều thay đổi

Tỉ trọng của kinh tế trong nước sẽ giảm xuống mức nhất định Tuy nhiên nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong công nghiệp Khu vực ngoài Nhà nước đang tăng tỉ trọng khá rõ nét, tuy không thật nhanh Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tỉ trọng tăng rất nhanh

Trang 32

1.3.3.3 Các ngành công nghiệp chủ yếu

Công nghiệp năng lượng

Theo kết quả nghiên cứu địa chất, trữ lượng than nước ta khoảng 7 tỉ tấn tập trung chủ yếu ở miền Bắc, lớn nhất là bể than Đông Bắc Các mỏ than ở nước ta được khai thác dưới hai hình thức khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò Gần đây do tổ chức lại ngành than, nhu cầu tiêu thụ than trên thị trường thế giới đang tăng lên và do phát triển các nhà may nhiệt điện lớn nên sản lượng than đã tăng mạnh, năm 1998, sản lượng khai thác than đạt mức 11,6 triệu tấn, đến năm

2004 tăng lên trên 26 triệu tấn

Tiềm năng dầu khí nước ta chủ yếu được tạo thành trong các trầm tích Đệ Tam Ở nước ta có các mỏ dầu lớn đang được khai thác như: mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng, mỏ Rạng Đông, mỏ Ruby, mỏ Đại Hùng, mỏ dầu khí Bunga Kekawa Hiện nay, sản lượng khai thác trên 1,5 tỉ m3

khí một năm

Công nghiệp luyện kim

Công nghiệp luyện kim bao gồm luyện kim đen (thép) và luyện kim màu (thiếc, crômit) Trong mấy năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu rất lớn của xã hội

về các sản phẩm của luyện kim (đặc biệt là thép), việc phát triển sản xuất thép từ các nguồn đầu tư trong nước và liên doanh nước ngoài tăng, nên giá trị sản xuất công nghiệp luyện kim đã tăng gấp hơn 5,6 lần từ năm 1996 đến năm 2003 Ngành luyện kim đen hiện nay tập trung chủ yếu ở một số thành phố lớn, trung tâm công nghiệp lớn Ở phía Bắc là Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, ở phía Nam là TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu

Trong số các hoạt động khai thác và luyện kim loại màu, đáng chú ý là công nghiệp khai thác và luyện thiếc, crômit Hai mỏ thiếc chính là Tĩnh Túc (Cao Bằng) và Quỳ Hợp (Nghệ An) Mỏ crômi ở Cổ Định (Thanh Hóa)

Công nghiệp chế tạo

Đây là một tập hợp khá phong phú các ngành công nghiệp: ngành sản xuất thiết bị, máy móc; ngành công nghiệp kĩ thuật điện; chế tạo các thiết bị văn phòng; máy tính, rađiô, tivi và các thiết bị truyền thông, chế tạo và sửa chữa các phương tiện giao thông vận tải

Trang 33

Trong cơ cấu công nghiệp, công nghiệp chế tạo có vai trò đặc biệt, vì nó tạo

ra các công cụ sản xuất, các thiết bị, đồng thời cả nhiều mặt hàng tiêu dùng

Tổ chức lãnh thổ công nghiệp chế tạo đã hình thành một số trung tâm khá mạnh Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm công nghiệp chế tạo hàng đầu của cả nước, với cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm đa dạng Các trung tâm chuyên môn hóa về một số sản phẩm chuyên môn hóa tiêu biểu là Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hạ Long, Hưng Yên, Vinh, Đà Nẵng, Biên Hòa, Cần Thơ…

Công nghiệp hóa chất

Cơ cấu ngành công nghiệp hóa chất được xác định dựa trên các thế mạnh

về nguyên liệu, cơ sở vật chất kĩ thuật, khả năng liên doanh liên kết với nước ngoài, cũng như nhu cầu trong nước về các sản phẩm công nghiệp hóa chất (hóa chất cơ bản, phân bón hóa học, cao su, thuốc chữa bệnh…)

Công nghiệp hóa chất, phân bón và cao su là một ngành công nghiệp trọng điểm, chiếm tỉ trọng khá cao về giá trị sản xuất trong toàn bộ hệ thống ngành công nghiệp cả nước Ngoài ra còn sản xuất axit sunphuric (H2SO4), sút (NaOH); hóa chất phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật …

Các trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Việt Trì – Lâm Thao, Hải Phòng, Mĩ Xuân – Phú Mỹ, Đà Nẵng

Công nghiệp vật liệu xây dựng

Nước ta có nhiều tài nguyên thiên nhiên để sản xuất vật liệu xây dựng Trước hết là ngành sản xuất xi măng Ngoài ra, còn có cao – lanh để làm gốm, sứ, cát làm thủy tinh, các loại đá xây dựng như đá hoa, granit, cát kết… Vùng sản xuất vật liệu xây dựng lớn nhất cả nước là Đồng Bằng sông Hồng

và vùng phụ cận Ở Trung Bộ, vùng sản xuất gạch, gốm và sứ tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận thuộc các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Long An Ở Trung Bộ, các xí nghiệp vật liệu xây dựng chủ yếu đáp ứng nhu cầu của địa phương Đà Nẵng và Huế là trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng lớn của vùng

Trang 34

Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm

Công nghiệp chế biến lương thực, Công nghiệp xay xát được phân bố rộng

rãi, các nhà máy xay lớn được phân bố trước hết ở giữa các vùng chuyên canh lúa ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long Các nhà máy xay lớn cũng được đặt ở các thành phố lớn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng…

Công nghiệp chế biến thực phẩm

Công nghiệp chế biến sản phẩm ngành trồng trọt gồm: công nghiệp mía đường; công nghiệp sản xuất rượu, bia, nước ngọt; công nghiệp chế biến chè, thuốc lá, cà phê; công nghiệp chế biến dầu thực vật

Công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi, ngành công nghiệp này còn chậm phát triển do cơ sở nguyên liệu còn hạn chế Hiện nay các nhà máy làm thịt hộp phân bố ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các xí nghiệp sản xuất sữa hộp ở

TP Hồ Chí Minh, Đức Trọng, Mộc Châu, Ba Vì… Các xí nghiệp thịt đông lạnh phân bố chủ yếu ở các thành phố cảng để xuất khẩu (Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…)

Công nghiệp chế biến thủy hải sản gồm: chế biến nước mắm; chế biến hải sản khô (tôm khô, mực khô…); công nghiệp chế biến, đóng hộp thủy hải sản Phần lớn các cơ sở sản xuất, chế biến thủy hải sản tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, từ Khánh Hòa trở vào

Các ngành công nghiệp tiêu dùng

Công nghiệp dệt là ngành công nghiệp truyền thống của nước ta, dựa trên các thế mạnh chủ yếu về nguồn nhân lực, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ rộng lớn Các trung tâm công nghiệp dệt lớn ở phía Bắc là Hà Nội, Nam Định Phú Thọ, ở miền Trung là Đà Nẵng, Khánh Hòa, còn ở Đông Nam Bộ là Thành phố

Hồ Chí Minh và Đồng Nai

Công nghiệp may, trong những năm gần đây các công ty may đã đổi mới thiết bị, thay đổi mẫu mã sản phẩm Hàng may Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, công nghiệp may đã có tốc độ tăng trưởng khá cao Đông Nam

Bộ là nơi tập trung lớn nhất năng lực của ngành may cả nước Vùng tập trung

Ngày đăng: 30/09/2014, 19:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Khổng Diễn, (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
6. Lê Thông (chủ biên), (2007), Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
11. Phan Huy Xu, Mai Phú Thanh, (1998), Tìm hiểu địa lí kinh tế Việt Nam để giảng dạy trong nhà trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu địa lí kinh tế Việt Nam để giảng dạy trong nhà trường
Tác giả: Phan Huy Xu, Mai Phú Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
1. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng, (2004), phương pháp dạy học theo hướng tích cực, NXB Đại học Sư phạm Khác
2. Đặng Văn Phan, Trần Văn Thông, (1995), Địa lí kinh tế Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
3. Đặng Vũ Hoạt, (1988), Giáo dục tiểu học, NXB Giáo dục Khác
4. Đỗ Minh Đức, (2011), Giáo trình địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Khác
7. Lê Văn Trưởng (chủ biên), (2007), Tự nhiên – xã hội và phương pháp dạy học tự nhiên – xã hội tập 1 (dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXB Giáo dục Khác
8. Nguyễn Anh Dũng (chủ biên), (2010), sách giáo khoa Lịch sử và Địa lí lớp 5, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
9. Nguyễn Anh Dũng (chủ biên), (2010), sách giáo viên Lịch sử và Địa lí lớp 5, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
10. Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thị Bích Hạnh, (2007), Giáo dục học (Dự án phát triển giáo viên tiểu học), NXB Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu này có tác dụng gì? - tìm hiểu địa lí kinh tế  xã hội việt nam để giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5
Bảng s ố liệu này có tác dụng gì? (Trang 44)
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường - tìm hiểu địa lí kinh tế  xã hội việt nam để giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường (Trang 54)
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường - tìm hiểu địa lí kinh tế  xã hội việt nam để giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường (Trang 56)
Bảng 3. 2 Kết quả kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC - tìm hiểu địa lí kinh tế  xã hội việt nam để giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5
Bảng 3. 2 Kết quả kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC (Trang 56)
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường - tìm hiểu địa lí kinh tế  xã hội việt nam để giảng dạy chủ đề địa lí lớp 5
Hình 3.3 Biểu đồ so sánh kết quả học tập của 2 lớp TN và ĐC tại trường (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w