Trên cơ sở đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn ở huyện Đông Anh phát hiện những mặt hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm QLCTR có hiệu quả hơn, bảo vệ môi trường. 1.2.2. Yêu cầu. + Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. + Xác định thành phần rác thải hộ gia đình, lượng rác thải bình quân trên đầu người theo ngày (kgngườingày) trên địa bàn xã. + Thống kê lượng rác chợ trên địa bàn huyện trung bình (tấnngày). + Nhận thức của người dân về công tác quản lý, thu gom, mức độ quan tâm, ý thức và mong muốn của họ về vấn đề vệ sinh môi trường. + Đề xuất một số giải pháp về QLCTR, bảo vệ môi trường.
Trang 1PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Bước sang thế kỉ 21, cùng với sự biến đổi của nền kinh tế toàn cầu, con người cũng đang phải đối đầu với những thảm họa thiên nhiên khốc liệt mànguyên nhân chủ yếu là sự phát triển thiếu bền vững “Dân giàu, nước mạnh, chống nghèo đói, phát triển bền vững và bảo vệ môi trường” đã trở thành mục tiêu của mọi Quốc gia Mục tiêu đó đã được ghi vào hiến pháp của nhiều nước Mặc dù, ở một số nước phát triển đã cơ bản giải quyết xong nạn nghèo đói nhưng chưa có nước nào giải quyết vấn đề môi trường một cách trọn vẹn
Nằm trong khung cảnh chung của thế giới đặc biệt là khu vực Châu Á Thái Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấp nghiêm trọng gâynên mất cân bằng sinh thái, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước Những năm gầnđây nền kinh tế Việt Nam đang chuyển hướng mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường Quá trình sản xuất, công nghiệp hoá – đô thị hoá, dân số tăng nhanh gây sức ép lớn về môi trường, trong đó là gây ô nhiễm môi trường
do rác thải ngày càng nghiêm trọng Rác thải không chỉ gây ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm nguồn nước (nước mặt, nước ngầm….), ô nhiễm môi trường đất, ô nhiễm môi trường không khí mà còn là nơi lý tưởng cho mầm bệnh phát sinh, phát triển gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống con người, vật nuôi và cây trồng Thu gom chất thải không triệt để và đổ bỏ chưa hợp vệ sinh đang làm mất cảnh quan văn hoá của nhiều đô thị và nông thôn Việt Nam hiện nay
Rác thải là vấn đề bức xúc của toàn xã hội trong bối cảnh công nghiệp hoá - đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay
Trang 2Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường tỷ lệ thu gom rác hiện nay chỉ đạt từ 60 – 85% phần còn lại được thải tự do ra môi trường và tích
tụ trong khu đất trống, khu dân cư, ven kênh rạch… khi có mưa lớn nước mưa cuốn theo rác thải làm tắc nghẽn giảm hiệu quả của hệ thống thoát nước và việc khắc phục thường rất tốn kém Mặt khác, rác thải chủ yếu được xử lý theo hình thức chôn lấp hoặc tập trung tại các bãi lộ thiên, phầnrác thải được phân loại và xử lý làm phân compost còn ít Vì vậy, lượng rác này gây ảnh hưởng lớn đến môi trường đặc biệt là môi trường xung quanh bãi rác và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
Đông Anh là 1 huyện ngoại thành, ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô
Hà Nội, nằm trong vùng qui hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ
và du lịch đã được Chính Phủ và Thành phố phê duyệt, là đầu mối giao thông quan trọng nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc Đời sống nhân dân được nâng cấp và cải thiện 1 cách đáng kể Nhưng điều đáng lo ngại làchất lượng môi trường ngày càng giảm, đặc biệt là ô nhiễm môi trường do rác Nhiều hộ gia đình trong khu dân cư vứt rác bừa bãi Rác ở cơ quan, xínghiệp trên địa bàn xã chưa được thu gom triệt để, thói quen ném các loại
vỏ, chai thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử ngay bên lề đường,kênh mương… của người dân trong xãcòn khá phổ biến Đổ bỏ rác thải bừa bãi cùng với thải bỏ nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý làm cho đa số các kênh mương dẫn thải có màu đen, mùi hôi thối bốc lên gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường xung quanh Mặc dù vậy, sự can thiệp kịp thời của
cơ quan chức năng trên địa bàn còn thiếu và chưa đồng bộ giữa các ban ngành Công tác quản lý môi trường của cơ quan chuyên môn trên địa bàn phường còn bộc lộ những hạn chế Hiện nay trên địa bàn xã đã có 2 trạm cung cấp nước sạch song chất lượng nước vẫn chưa đạt quy chuẩn môi trường, tỷ lệ thu gom rác mới chỉ đạt 60 - 70% quy trình thu gom và công nghệ xử lý rác chưa đáp ứng được yêu cầu vệ sinh môi trường
Trang 3Xuất phát từ thực trạng ô nhiễm môi trường, công tác quản lý rác thải tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Đánh giá hiện trạng quản lý Chất Thải Rắn (QLCTR) và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả QLCTR và giảm thiểu ô nhiêm môi trường ở huyện Đông Anh Thành Phố Hà Nội".
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn ở huyện Đông Anh phát hiện những mặt hạn chế để đề xuất các giải pháp nhằm QLCTR có hiệu quả hơn, bảo vệ môi trường
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
- Chất thải rắn (hay còn gọi là rác thải) là chất thải không ở dạng lỏng, không hoà tan được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt , công nghiệp Chất thải rắn còn bao gồm bùn cặn, phế phẩm trong nông nghiệp, xây dựng - -
Trang 4Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) là tất các loại chất thải không nguy hại có khả năng phân huỷ tự nhiên theo thời gian, bao gồm:+ Chất thải sinh hoạt gia đình : rau quả, đồ ăn thừa, các loại bao bì chứa thức ăn.
+ Chất thải từ các nơi công cộng :
+ Chất thải chợ, đường phố
+ Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây
+ Tro, củi, gỗ mục, vải, đồ da (trừ phế thải ra có chứa crôm)
+ Chất thải văn phòng, khách sạn, nhà hàng, ăn uống
+ Phế thải sản xuất không nằm trong danh mục chất thải nguy hại từ các nghành công nghiệp (chế biến lương thực - thực phẩm, thuỷ sản, rượu bia -giải khát, giấy, giầy da)
+ Bùn sệt thu được từ các trạm xử lý nước, (đô thị và công nghiệp có cặn khô với tỷ lệ là 20% chất rắn)
2.2.1 Các công đoạn quản lý chất thải rắn
- Quản lý CTR là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ, thải loại chất thải Hoạt động quản lý CTR thực hiện tối ưu hoá 6 yếu tố bao gồm:
Trang 5quản lý CTR tại nguồn phát sinh, quản lý việc lưu giữ CTR tại chỗ (lưu chứa tạm thời), quản lý thu gom, trung chuyển và vận chuyển quản lý sự tiêu huỷ CTR
- Quản lý CTR bao gồm các công đoạn chính sau :
+ Quản lý tại nguồn phát sinh: Áp dụng chính sách, biện pháp kinh tế và
kỹ thuật…để giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn phát sinh
+ Thu gom chất thải : Chất thải từ nguồn phát sinh được tập trung về một địa điểm bằng các phương tiện chuyên chở thô sơ hay cơ giới Việc thu gom có thể được tiến hành sau khi đã qua công đoạn phân loại sơ bộ hay chưa được phân loại Sau khi thu gom, rác có thể được chuyển trực tiếp đến nơi xử lý hay qua các trạm trung chuyển
+ Trung chuyển, vận chuyển: Sau khi thu gom, rác có thể được chuyển các trạm trung chuyển hoặc chuyển trực tiếp đến nơi xử lý Việc trung chuyển thường áp dụng đối với các thành phố lớn để giảm chi phí vận chuyển
+ Tái sử dụng (reuse) và tái chế (recycle) chất thải: Công đoạn này còn được tiến hành ngay tại nơi phát sinh hoặc sau quá trình phân loại, tuyển lựa Tái sử dụng là sử dụng lại nguyên dạng CTR, không qua tái chế (chẳng hạn sử dụng chai, lọ…) Tái chế là sử dụng chất thải làm nguyên liệu để sản xuất ra các sản phẩm khác (chẳng hạn tái sinh nhựa, tái sinh kim loại…)
+ Xử lý chất thải: Lựa chọn và áp dụng các công nghệ phù hợp để xử lý chất thải Các công nghệ này có thể là đốt thu hồi năng lượng hoặc chôn lấp
Trang 62.2.2 Các điều luật về quản lý chất thải rắn
- Theo điều 66, Luật bảo vệ môi trường Việt Nam (2005) về trách nhiệmQLCTR qui định:
+ Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ
+ Chất thải phải được xác định nguồn thải, khối lượng, tính chất để có phương pháp và qui trình sử lý thích hợp với từng loại chất thải
+ Tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực hiện tốt việc quản
lý chất thải được cấp giấy phép chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường
- Theo điều 69 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 về trách nhiệm của
Ủỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải rắn:
+ Lập quy hoạch, bố trí mặt bằng cho việc tập kết CTR sinh hoạt, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, khu chôn lấp chất thải
+ Đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng phục vụ quản lý chất thải thuộc phạm vi quản lý của mình
+ Kiểm tra, giám định các công trình quản lý chất thải của tổ chức, cá nhân trước khi đưa vào sử dụng
+ Ban hành và thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật
2.2.3 Hệ thống quản lý chất thải rắn
2.2.3.1 Các nguồn phát sinh chất thải rắn
- Quá trình phát sinh rác thải rắn ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau tuỳ theo hoạt động kinh tế và mức sống của người dân, nguồn phát sinh chủ yếu :
Trang 7+ Nguồn phát sinh từ hộ gia đình: đây là nguồn phát sinh thường xuyên và lớn nhất, ít biến động về khối lượng phát sinh Nguồn này được thu gom thường xuyên (hàng ngày hoặc định kỳ).
+ Nguồn phát sinh từ nơi sinh hoạt công cộng: Công viên, chợ, cửu hàng, nhà hàng, khách sạn, từ cơ quan, trường học, bệnh viện,
doanh nghiệp…
+ Nguồn phát sinh trên đường phố: do hoạt động của con nguời tạo ra như đi lại, chuyên chở, xây dựng… nguồn này tương đối ổn định và cũng được thu gom thường xuyên bởi các xí nghiệp môi trường
Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn
Trang 82.2.3.2 Thành phần chất thải rắn
- Thành phần chất thải rắn biến động rất lớn theo thời gian cũng như sự khác nhau giữa các nguồn phát sinh Bên cạnh đó thành phần chất thải đô thị còn phụ thuộc vào phong tục tập quán sinh hoạt của nhân dân Những nhân tố chính ảnh hưởng tới lượng thải và thành phần chất thải rắn sinh hoạt là mức thu nhập, phong tục tập quán, trình độ sản xuất và thị trường
Về tổng quát có thể nói rằng trong nhóm có mức thu nhập cao thì lượng chất thải rắn phát sinh theo đầu người cũng nhiều hơn và thành phần chất thải cũng khác so với nhóm có mức thu nhập thấp
- Thành phần chất thải rắn có xu thế thay đổi do tốc độ tăng trưởng đô thị hoá nhanh chóng, đặc biệt ở các nước Châu Á Nhìn chung, chất hữu cơ vẫn là thành phần chính trong các dòng chất thải rắn đô thị Tỷ lệ thành phần hữu cơ chiếm khoảng 34 đến 70% cao hơn hẳn hầu hết các nước Châu Âu là 20 – 50 % ( OECD, 2002)
- Đối với các nước có nền công nghiệp phát triển thì thành phần các chất
vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và lượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế Như tại các nước Châu Âu, thành phầnchất thải rắn đô thị cũng khác nhau giữa các nước theo vùng địa lý Các nước Nam Âu như Tây Ban Nha, Italia và Bồ Đào Nha có tỷ lệ thức ăn, chất thải vườn cao hơn các nước Bắc Âu như Phần Lan, Đan Mạch, Pháp, Anh
Trang 9Bảng 2.1 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt ở một số nước
Thành phần (%
khối lượng )
Quốc gia
có thu nhập thấp
Quốc gia
có thu nhập trung bình
Quốc gia
có thu nhập cao
Nguồn:GS.TSKH Bùi Văn Ga Mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn và
qui hoạch bãi chôn lấp rác ở Miền Trung Việt Nam (2005)
Bảng 2.2 Thành phần hoá học của chất thải đô thị
Trang 10huỳnhThực
Nguồn: Viện Công nghệ Môi trường(2005)
- Qua bảng số liệu 2.2 cho thấy: Các thành phần trong rác thải sinh hoạt được tạo thành chủ yếu từ cacbon và oxy Tỷ lệ cacbon rất lớn từ 41,0% -
78%, còn oxy là 11,6 – 42,7%, còn lại là thành phần các chất khác Các
chất khác nhau sẽ có thành phần hoá học khác nhau
- Như vậy chúng ta thấy rằng rác thải sinh hoạt là một hỗn hợp không đồng
nhất và mỗi thành phần trong đó có thành phần hoá học, cấu trúc hoá học
khác nhau Do việc xử lý chúng cũng sẽ rất khác nhau, bởi vậy mà công
việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn là khâu quan trọng để giảm chi
phí cho hoạt động xử lý rác Qua đó cho thấy nếu rác thải sinh hoạt không
được quản lý, xử lý tốt thì nguy cơ ô nhiễm môi trường là không thể tránh
khỏi
Trang 112.2.3.3 Quản lý chất thải rắn ở một số nước trên thế giới
+ Ở Anh: Công nghệ tái chế và tái sử dụng chất thải rất phát triển Điều đó làm giảm đáng kể lượng rác thải chôn lấp (đổ bỏ) Rác được phân loại sơ
bộ tại nguồn, sau đó thu gom và vận chuyển đến trung tâm phân loại rác Rác ở đây được phân loại thành các thành phần có thể tái chế (kim loại, nhựa, vải, giấy,…) thành phần cháy được và thành phần không cháy được Những chất cháy được chuyển tới nhà máy đốt rác, những chất không cháyđược chở đến cảng trung chuyển, đổ lên xà lan và chở tới khu chôn lấp rác Semakau ngoài biển
+ Ở Nhật Bản : Đã sử dụng và phát huy có hiệu quả phương pháp Bảo vệ Môi trường (BVMT) cộng đồng Chủ trương động viên toàn thể nhân dân thu gom chất thải và xây dựng xã hội tái chế trong thế kỉ 21 Chính phủ nước này đã có những chính sách thúc đẩy và khuyến khích việc QLCTR trên cơ sở sự tham gia tích cực và tình nguyện của các cộng đồng dân cư khác nhau Hệ thống quản lý chất thải sinh hoạt của Nhật Bản nhận được
sự trợ lực của hệ thống tổ chức thu gom hình thành trên cơ sở các tổ chức của khu vực (hội nông dân, hội thiếu nhi và hội cha mẹ học sinh…) Các tổchức hội này tiến hành thu gom và bán các chất thải có thể sử dụng cho cáccông ty tái chế chất thải
Kết quả làm cho đường phố sạch sẽ, các dịch vụ vệ sinh môi trường được cải thiện và chi phí cho công tác QLCTR sinh hoạt giảm đi nhiều lần Bên cạnh đó Nhật Bản đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải sinh hoạt rất hiệu quả Các hộ gia đình đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc theo quy định: rác hữu cơ; rác vô cơ và giấy vải; thuỷ tinh; rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải, thuỷ tinh, kim loại,… đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hoá
Trang 12Một điều rất quan trọng nữa là Nhật Bản đã thực hiện rất có hiệu quả chính sách quản lý chất thải bao gồm:
- Giảm thiểu chất thải
- Thành lập các cơ sở huỷ bỏ chất thải
- Xúc tiến sử dụng các nguồn vật liệu có thể tái tạ
+ Ở Hà Lan :đã đã áp dụng các mô hình phân loại rác và thu gom rác thải sinh hoạt rất có hiệu quả Ở đây người dân phân loại rác thải và những
gì có thể tái chế được tách riêng Những thùng rác với kiểu dáng, màu sắc khác nhau được sử dụng trong thành phố.Thùng lớn màu vàng ở gần siêu thị để chứa các đồ kính thuỷ tinh, thùng màu xanh nhạt dùng để chứa giấy Tại các nơi đông dân cư sinh sống thường đặt 2 thùng rác màu khác nhau, loại chứa rác có thể phân huỷ và loại không phân huỷ
+ Ở Thái Lan: Phân loại rác được thực hiện ngay từ nguồn người ta chia
ra 3 loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng : những chất có thể tái chế, thực phẩm
và các chất độc hại Các loại rác này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sơn khác nhau
- Rác tái chế sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau
sử dụng trong tái sản xuất.Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh Những chất thải còn lại sau khi tái chế hay chế biến phân vi sinh được xử lý chôn lấp, chất thải độc hại được xử lý bằng phương pháp đốt Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặt chẽ Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như xe ép rác được sử dụng trên
Trang 13các đường phố chính, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến các điểm tập kết Rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của
cơ quan quản lý môi trường Rác thải được thu gom và vận chuyển đến cáctrung tâm xử lý rác hằng ngày từ 18h00 hôm trước đến 3h00sau Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố ít nhất là 30km
2.2.4 Quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
2.2.4.1 Nguồn phát sinh
- CTR đô thị phát sinh từ các hoạt động đa dạng trong đô thị đó là:
- Chất thải sinh hoạt hộ gia đình,
- Chất thải đường phố, công viên
- Chất thải từ hoạt động thương mại,
- Chất thải công sở, bệnh viện
- Chất thải công nghiệp không nguy hại
Trang 14- Theo báo cáo Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - chất thải rắn thì hầuhết các loại chất thải rắn phát sinh chủ yếu ở các đô thị.
Bảng 2.3 Tình hình phát sinh chất thải rắn ở Việt Nam
quốc
Đô thị
Nông thônTổng lượng phát sinh chất thải sinh
6.400.000
Chất thải nguy hại từ công nghiệp
Chất thải không nguy hại từ công
Chất thải y tế lây nhiễm ( tấn/ ngày) 21.000 -
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung
Nguồn: Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam (2004)
- Ở hầu hết các đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm tới 60% 70% tổng lượng chất thải rắn đô thị Một số đô thị chất thải rắn sinh hoạt lên tới 90% - Theo nghiên cứu năm 2005 của Bộ Xây Dựng về lượng phát sinh chất thải rắn ở các đô thị cho thấy tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị có xu hướng tăng dần đều từ 10% đến 16% mỗi
năm
2.2.4.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Sơ đồ tổng thể của hệ thống QLCTR ở một số đô thị lớn:
14Nguồn phát sinh chất thải
Trang 15Hình 2.2 Những hợp phần chức năng của hệ thống quản lý rác thải
- Một hệ thống quản lý rác thải tại các đô thị thường có 6 hợp phần, được minh hoạ ở hình 2.2 Rác thải sinh hoạt được tạo ra từ các hoạt động sống hàng ngày của người dân Rác thải sau khi được thải ra sẽ được phân loại, lưu trữ và xử lý tại nguồn trước khi thu gom Đây là khâu thứ 2 của hệ thống quản lý rác thải, là khâu có ý nghĩa quan trọng nó ảnh hưởng đến đặc tính rác thải, đến hoạt động của khâu tiếp theo, đến sức khoẻ cộng đồng và quan điểm của quần chúng về vận hành hệ thống quản lý rác Kế tiếp là đến khâu thu gom rác thải, công việc này bao gồm việc thu luợm từ nhiều nguồn khác nhau và việc chuyên chở rác thải đó đến nơi đổ bỏ Việc
Phân loại, lưu trữ, tái sử dụng tại
Đổ bỏ
Trang 16đổ bỏ các xe rác cũng được coi là một phần của công việc thu gom Có 2 phương thức thu gom chính là thu gom theo khối và thu gom bên lề đường.
- Thu gom theo khối: Trong hệ thống này các xe thu gom chạy theo một quy trình đều đặn theo tần suất đã được định trước, người dân sẽ mang rác đến đổ vào xe tại vị trí quy định Sau khi được thu gom rác thải sẽ được trung chuyển và vận chuyển Hoạt động trung chuyển là rất cần thiết khi khoảng cách từ thành phố đến trung tâm xử lý hoặc bãi chôn lấp xa làm cho việc vận chuyển trực tiếp không kinh tế Hiện nay nhiều biện pháp xử
lý rác thải, từ các biện pháp lâu đời nhất như ủ phân rác hữu cơ làm phân đến công nghệ tiên tiến như ép chế biến phân Compost, Seraphin… và chôn lấpSau đó Hoạt động tái chế rác thải được thực hiện thông qua hệ thống thu gom theo mạng lưới 3 cấp gồm: người thu gom, đồng nát và buôn bán phế liệu Sau đó rác thải được mang chon lấp Đây là khâu cuối cùng của hệ thống quản lý rác thải sinh hoạt, rác thải sau khi được tái chế, một phần được xử lý phần còn lại được đem đi chôn lấp
- Phần lớn rác thải sinh hoạt ở các thành phố lớn nước ta đang được chôn lấp, phần tái sử dụng, tái chể chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Ở rất nhiều địa phương trong cả nước, bãi rác đều ở trong tình trạng quá tải Chôn lấp rác chưa hợp vệ sinh đã gây ô nhiễm môi trường có nơi đang ở trong tình trạngrất trầm trọng Để khắc phục nhược điểm này, các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu và tìm phương pháp xử lý rác bằng công nghệ sinh học với sự tham gia của vi sinh vật Đó là một quy trình khép kín, các kết quả sau khi tiến hành xử lý rác tại một số nhà máy ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã cho thấy, mỗi tấn rác hữu cơ sau khi sử lý sẽ thu được khoảng
Trang 17300kg phân vi sinh và 5m3 khí sinh học
- Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), Đà Nẵng và Đồng Nai là những tỉnhthành nằm trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Với tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá nhanh chóng nên việc hình thành nhiều khu công nghiệp trên địa bàn các tỉnh đó đã làm lượng chất thải phát sinh càng nhiều
- Theo thống kê, trên địa bàn TP HCM lượng rác thải sinh hoạt năm 1,2 triệu tấn, trong số đó rác thải nguy hại chiếm khoảng 20% (57000 tấn/năm)
đa số là xỉ kim loại Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tổng lượng chất thải rắn công nghiệp chiếm 5,3÷6,1% , chất thải bệnh viện chiếm tỷ lệ rất nhỏ 0,7% Đồng Nai với số lượng nhà máy hoạt động chính thức 136, có khối lượng rác công nghiệp năm 1997 là 19.300 tấn Ước tính, khối lượng rác thải công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 sẽ lên tới 65.100 tấn / năm Đứng trước thực trạng thực tế trên, theo dự định, ở TP HCM đến năm 2020, đất dự kiến dành cho các bãi rác và khu xử lý rác khoảng 300ha
Thành phố đang khuyến khích hoạt động thu gom rác, tái chế các phế thải công nghiệp còn giá trị thương mại
- Ở Phú Thọ: Do cấp độ đô thị hoá nhanh nên lượng rác thải hàng ngày tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đang ở mức quá tải Theo điều tra của Công ty cổ phần Môi Trường và Dịch vụ đô thị Việt Trì, hàng ngàychất thải rắn sinh hoạt được quét, thu gom từ các đường phố, nơi công cộng để vận chuyển tới nhà máy chế biến phế thải đô thị Việt Trì để xử
lý là hơn 76 tấn/ngày (163m3/ngày) tương đương với 28 tấn/năm (trên
59 nghìn m3/năm)
2.2.5 Quản lý CTR ở Hà Nội
Trang 182.2.5.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn ở Hà Nội
- Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người Hàng ngày chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị được phát sinh từcác nguồn sau :
- Chất thải sinh hoạt của dân cư: Thực phẩm dư thừa nilon, giấy, carton, nhựa, vải, rác vườn, gỗ, thuỷ tinh, lon đồ hộp, tro, các chất thải nguy hại
- Chất thải sinh hoạt của khách vãng lai, du lịch, thực phẩm dư thừa, nilon, giấy, carton, nhựa, vải, rác vườn, gỗ, thuỷ tinh, lon, đồ hộp, tro, các chất thải nguy hại
- Chất thải rắn từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu văn hoá: Thực phẩm dư thừa, giấy, cacton, nhựa, gỗ,thuỷ tinh, kim loại, các chất thải độc hại,…
- Chất thải rắn sinh hoạt từ công sở, trường học: Giấy, bao bì các loại, thựcphẩm dư thừa…
- Chất thải rắn sinh hoạt của công nhân trong các công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp khắp quận; công nhân trong nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp;…
- Tuy nhiên lượng phát sinh chính vẫn là rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải bệnh viện Hà Nội trung bình mỗi ngày lượng chất thải
đô thị phát sinh khoảng 4700m3, trong đó chất thải sinh hoạt khoảng 3.490m3, chất thải công nghiệp 345m3, chất thải rắn khác là 620m3/ngày Theo dự báo của công ty NIPPONKOEI (Nhật Bản) thì mức độ phát sinh chất thải đô thị giai đoạn 2006÷2010 có mức tăng trưởng 4,68% năm và dựbáo lượng chất thải đô thị phát sinh cho giai đoạn này như sau
Trang 19Bảng 2.4 Dự báo lượngchất thải phát sinh Hà Nội giai đoạn 2010
Lượng CTR (tấn/ngày) 2.118 2.221 2.328 2.442 2.560
Nguồn: Viện khoa học Công nghệ Môi trường( 2005 )
2560 2442
2328 2221
cơ trong chất thải cao, tỷ lệ giấy và hàng dệt may trong chất thải thấp
Trang 20- Kết quả phân tích thành phần chất thải sinh hoạt giai đoạn 1997 – 2000 chỉ ra rằng thành phần hữu cơ dao động từ 47÷51 %, tính đến năm 2008 thành phần hữu cơ dao động từ 40÷60% Qua quan sát hiện trường cho thấy những vật dụng có kích thước lớn xa lông, giường, tủ hỏng… có xu hướng gia tăng và loại chất thải này chưa được chú ý thu gom xử lý Số lượng chất thải rắn tăng từ 866.440 m3 năm 1995 lên 1.850.819 m3 năm
2010 Việc tăng này do cả việc tăng về số lượng dân trong nội thành, do cảviệc một số khu vực ngoại thành trở thành nội thành và tăng dân số tự nhiên và cơ học Bởi vậy, thành phần chất thải rắn có thể thay đổi số với sốliệu này do có sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế sử dụng hàng hoá của dân Như vậy,diện tích lượng chất thải rắn của nội thành Hà Nội năm 2010 là 2,822 người/ngày tương đương 1,04kg/người/ngày Tỷ trọng trong chất thải là 0,45 tấn/m3 hiện nay, thay đổi là 0,37tấn/m3 vào 2010 lượng chất thải ngoại thành là 0,8kg/người/ngày
- Có thể mô tả dòng vận chuyển của rác thải ở Hà Nội theo sơ đồ (hình 2.4)dưới đây
Trang 21Điểm tập kết rác, - Chai, lọ thu tái chế
Hình 2.3 Sơ đồ dòng vận chuyển chất thải đô thị
2.2.5.3 Hệ thống quản lý chất thải rắn ở Hà Nội
- Ở Hà Nội, công ty môi trường đô thị (Urenco) là cơ quan trực tiếp quản
lý chất thải đô thị Công ty Urenco là một trong những thành viên dưới sự quản lý của sở giao thông công chính, như vậy,chịu sự quản lý gián tiếp của UBND thành phố Hà Nội
Trang 22Hình 2.4 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải rắn ở Hà Nội
- UBND thành phố Hà Nội là cơ quan quản lý nhà nước có vai trò lớn nhất
trong công tác quản lý môi trường của thành phố Ban hành theo thẩm
quyền các văn bản pháp luật môi trườg, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật môi truờng của thành phố
Tiếp nhận, giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo và kiến nghị bảo vệ môi trường trong quyền hạn được giao hoặc chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền để xử lý UBND các quận/huyện chịu trách nhiệm quản lý nhà nước
về chất thải rắn trong phạm vi quyền hạn cho phép Quy hoạch, quản lý cáckhu đô thị, cc phường(xã) và việc thu các loại phí, lập chương trình và tổ chức tuyên truyền giáo dục
- Sở giao thông Công Chính Hà Nội: Xây dựng và triển khai công tác thu
UBND
quận/huyện
Sở giao thông Công Chính Hà Nội
Phòng quản lý môi trường
Các đơn vị làm dịch vụ
thu gom Chất thải rắn
Trang 23gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Sở GTCC đóng vai trò là sở chủ quản, kết hợp với Sở Tài nguyên Môi truờng soạn thảo hướng dẫn các quy trình công nghệ chuyên nghành về vệ sinh môi trường, Nâng cao nhận thứccộng đồng
- Sở TN&MT Hà Nội: Có chức năng quản lý nhà nước về chất thải rắn ở các đơn vị môi trường, cơ quan, xí nghiệp, trường học, các khu trên địa bàn thành phố Thanh tra, giám sát chất lượng môi trường, nâng cao nhận thức cộng đồng
2.2.5.4 Các biện pháp xử lý chất thải rắn ở Hà Nội
- Phân loại, thu gom, tái chế
Hoạt động thu gom tái chế, tái sử dụng hoạt động hiện vẫn mang tính tự phát nhiều hơn và phụ thuộc rất lớn vào thị trường vật tư phế thải Các chấtthải hiện được thu nhặt là giấy các loại, các sản phẩm nhựa, kim loại phế thải, vỏ đồ hộp và túi nilon để tái chế Dù chưa có một hình thức phổ biến trong kinh doanh nhưng kinh tế chất thải của Hà Nội nói riêng và quy mô toàn quốc nói chung đã có từ lâu và trở thành một kinh tế hàng hoá Sản xuất phân compost hoạt động này được thực hiện tại nhà máy chế biến rác Cầu Diễn Năm 2001 có 7.445 tấn phân compost được sản xuất từ nhà máy
Trang 24Cầu Diễn Rác thải có thành phần các chất hữu cơ cao thu gom từ chợ, rau xanh được sử dụng chế biến thành phân compost và lượng rác thải sử dụngcho sản xuất phân compost mới chiếm khoảng 1,6% lượng rác thải sinh hoạt toàn thành phố
- Phương pháp đốt: được áp dụng cho xử lý chất thải y tế và một phần chấtthải công nghiệp Hoạt động đốt rác y tế được thực hiện tại Cầu Diễn và chất thải công nghiệp tại lò đốt ở khu xử lý chất thải Nam Sơn – Sóc Sơn –
Hà Nội
- Chôn lấp: là giải pháp truyền thống có lịch sử lâu đời và cũng đang được
áp dụng để xử lý chất thải sinh hoạt của Hà nội và cũng chính vì vậy mà
Hà Nội cũng là nơi nhiều bãi chôn lấp rác nhất [13]
2.2.5.5 Những vấn đề môi trường đang phải đối mặt trong hoạt động QLCTR ở Hà Nội
- Chất thải rắn sinh hoạt hiện nay hầu như chưa được phân loại dẫn đến khối lượng phải chôn lấp quá lớn trong khi quỹ đất dành cho chôn lấp hạn hẹp và không tận dụng được thành phần có ích trong chất thải Chất thải quá nhiều túi nilon gây khó khăn trong quá trình xử lý Tỷ lệ thu gom khu vực nội thành chỉ đạt 95% vẫn còn tồn đọng 5% chưa được thu gom xử