Trong các nghị quyết của Đảng cũng như của luật giáo dục đã xác định mục đích của quá trình đổi mới phương pháp dạy học là tích cực hóa hoạt động của học sinh.. Chính từ những lí do trên
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh SGV : Sách giáo viên SGK : Sách giáo khoa NXB : Nhà xuất bản NXBGD : Nhà xuất bản giáo dục
TH : Tiểu học TTC : Tính tích cực
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích 2
3 Nhiệm vụ 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1.Tìm hiểu tính tích cực trong học tập của học sinh 4
1.2 Thực trạng dạy học môn Toán ở Tiểu học 15
CHƯƠNG 2 DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ TẬP HỢP SỐ TỰ NHIÊN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH LỚP 1 27
2.1 Vận dụng trò chơi học tập vào dạy học một số nội dung về tập hợp số tự nhiên trong Toán 1 27
2.2 Vận dụng đồ dùng trực quan vào dạy học một số nội dung về tập hợp số tự nhiên trong Toán 1 32
2.3 Thiết kế một số bài soạn dạy học nội dung số tự nhiên theo phương pháp dạy học tích cực 38
2.4 Kết luận chương 2 50
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51
3.1 Mục đích thực nghiệm 51
3.2 Nội dung thực nghiệm 51
3.3 Tổ chức thực nghiệm 51
3.4 Kết quả thực nghiệm 52
3.5 Kết luận rút ra từ thực nghiệm 53
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mục tiêu giáo dục Tiểu học được xác định trong điều 27 của luật giáo dục:
"Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở" Chính vì thế, giáo dục Tiểu học là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội đang diễn ra từng ngày từng giờ trên khắp đất nước, đòi hỏi những lớp người lao động mới có bản lĩnh có năng lực hoạt động sáng tạo, dám nghĩ dám làm thích ứng được với thực tiễn cuộc sống xã hội luôn luôn phát triển Nhu cầu này làm cho mục tiêu đào tạo của nhà trường phải được điều chỉnh một cách thích hợp dẫn đến sự thay đổi tất yếu về nội dung và phương pháp dạy học
Với phương châm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, điều đó đã được Đảng và nhà nước Việt Nam coi đó là một chiến lược giáo dục mà mục tiêu của
nó là xây dựng một hệ thống giáo dục đào tạo phát triển đi trước một bước so với phát triển kinh tế Muốn làm được điều đó thì ngành giáo dục và đào tạo nhất thiết phải có những đổi mới về hệ thống giáo dục về nội dung và phương pháp dạy học Trong các nghị quyết của Đảng cũng như của luật giáo dục đã xác định mục đích của quá trình đổi mới phương pháp dạy học là tích cực hóa hoạt động của học sinh Thực chất là tính tích cực nhận thức được đặc trưng ở sự hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong toàn bộ quá trình giáo dục Giáo dục tiểu học là quá trình tiếp nối của bậc học mầm non hoàn thành cơ sở ban đầu tạo đà cho sự phát triển tiếp theo về trí tuệ cũng như tình cảm của các em Đặc biệt ở tiểu học thì điều kiện thiết yếu nhất là phát triển trí tuệ và trau dồi học vấn cho các em Và trong những năm vừa qua, trong phong trào đổi mới phương pháp dạy học, một thầy cô có tâm huyết với nghề, có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, có tay nghề khá và nhạy cảm trước yêu cầu của xã hội đã thực hiện nhiều giờ dạy tốt, phản ánh được tinh thần của xu thế mới Hiện nay đã có sự thay đổi về cách dạy và học song chủ yếu vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có sẵn, dạy học theo phương pháp “thuyết trình có kết hợp với đàm thoại”, về thực chất vẫn là “thầy truyền đạt, trò tiếp nhận và ghi nhớ”
Một nét nổi bật hiện nay là nhìn chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa
Trang 4đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trong cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học
Môn Toán ở Tiểu học nói chung và nội dung về số tự nhiên nói riêng có một
vị trí quan trọng, nó góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết để học các môn học khác ở Tiểu học Môn Toán còn góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề;
nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo,
nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học
Đặc điểm của học sinh Tiểu học là tư duy chóng mệt mỏi khi phải nghe thầy
cô giáo giảng bài một cách đơn điệu Các em thích được hoạt động, được vui chơi xen kẽ với học tập Mặt khác tuổi thiếu niên luôn thích tò mò, tìm tòi những điều mới lạ những bài toán có nội dung vui, lời giải độc đáo gây cho các
em hứng thú say mê với môn Toán đặc biệt là HS ở đầu cấp Vì vậy việc sử dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh là rất cần thiết Chính từ những lí do trên cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Triệu Sơn em quyết định lựa chọn đề tài: "Dạy học một số kiến thức về tập hợp số tự nhiên theo hướng phát huy tính tích cực cho học sinh lớp 1" để mong có thể góp phần nào đó trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán trong bậc Tiểu học nói chung và dạy học
về tập hợp số tự nhiên ở lớp Một nói riêng
2 Mục đích
Tìm hiểu khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy và học về tập hợp số số
tự nhiên cho học sinh lớp 1 Trên cơ sở đó đưa ra một số phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của các em, thiết kế một số bài giảng theo hướng phát huy tính tích cực cho học sinh và đưa ra một số giải pháp khắc phục
Xây dựng tài liệu tham khảo cho sinh viên đại học sư phạm giáo dục tiểu học
và giáo viên tiểu học
Nâng cao hiểu biết và hiệu quả cá nhân
Trang 53 Nhiệm vụ
Tìm hiểu cơ sở lí luận về tính tích cực trong học tập của học sinh
Tìm hiểu các phương pháp phát huy tính tích cực cho học sinh tiểu học
Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học về tập hợp số tự nhiên ở lớp 1 trong trường Tiểu học của giáo viên và học sinh
Thiết kế bài giảng về tập hợp số tự nhiên ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực
Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh Tiểu học
4 Đối tượng nghiên cứu
Lí luận về phương pháp phát huy tính tích cực cho học sinh Tiểu học
Chương trình về nội dung số tự nhiên ở lớp 1
Giáo viên và học sinh một số trường Tiểu học
5 Phạm vi nghiên cứu
Trường Tiểu học mùng 8/4 – Thị trấn nông trường Mộc Châu – Sơn La
Trường Tiểu học Thái Hà – Huyện Thái Thụy – Thái Bình
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp thực nghiệm
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Tìm hiểu tính tích cực trong học tập của học sinh
1.1.1 Tính tích cực
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người Con người không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả các tác động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu Con người sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau như ăn uống, và sau đó xuất hiện nhu cầu xã hội Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động Khi nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó xuất hiện hoạt động học tập và học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học
TTC trong hoạt động học tập là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm, khám phá ra những hiểu biết của bản thân Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì đã nắm được qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình
TTC nhận thức trong học tập liên quan với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu
tố tâm lí tạo nên TTC TTC sản sinh ra nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo và ngược lại
TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái, chủ động, tự giác tham gia các hoạt động học tập, thích tìm tòi khám phá những điều chưa biết dự trên những cái đã biết Sáng tạo vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống
Trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng kĩ xảo ở học sinh, TTC được thể hiện từ cấp độ thấp đến cấp độ cao nhất:
Bắt trước: TTC thể hiện ở sự cố gắng làm theo mẫu hành động, thao tác, cử chỉ hành vi của thầy của bạn hay nhắc lại những gì trải qua
Tìm hiểu và khám phá: TTC thể hiện ở sự chủ động hoặc ý muốn hiểu thấu đáo vấn đề nào đó để sau đó có thể tự giải quyết vấn đề
Sáng tạo: TTC thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong giải quyết vấn
đề một cách độc đáo
Trang 71.1.2 Phương pháp phát huy tính tích cực cho học sinh
Phương pháp phát huy tính tích cực hay còn gọi là phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp là cách thức, con đường hoạt động có hiệu quả
Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của GV, dưới sự tổ chức của giáo viên giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức để hình thành nhân cách
Phương pháp dạy học Toán ở trường Tiểu học là sự vận dụng phương pháp dạy học nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và các điều kiện dạy học Phương pháp dạy học tích cực là các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học Đó là một hệ thống các phương pháp tác động liên tục của GV nhằm khơi gợi cho HS tư duy, tổ chức hoạt động nhận thức của HS theo quy trình Nó không chỉ giáo dục cho HS tư duy tích cực mà chủ yếu là tư duy độc lập, chuẩn bị cho tư tưởng sáng tạo, HS tiếp cận kiến thức qua các hoạt động nhận thức, qua làm việc cá nhân và phân nhóm trao đổi hợp tác với bạn bè
1.1.2.1 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực
Trong dạy học, GV và HS là chủ thể trực tiếp quyết định tới chất lượng dạy
và học GV là chủ thể tổ chức, điều khiển tiến trình dạy học, HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể tự giác tích cực trong quá trình nhận thức và rèn luyện kĩ năng Hai chủ thể này tồn tại song song hoạt động phối hợp nhịp nhàng với nhau, thiếu một trong hai thì hệ thống giáo dục sẽ bị phá vỡ, GV cần tạo điều kiện thuận lợi nhất cho HS học tập, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với nhu cầu năng lực và điều kiện cụ thể của cá nhân HS Lấy mục tiêu cuối cùng là chất lượng học tập của học sinh để phấn đấu
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS là tổ chức dạy học trên sức lực và trí tuệ của HS để mỗi HS tự nghiên cứu, thực hành và tìm ra kiến thức, hình thành các kĩ năng trong nhận thức cũng như trong hoạt động TTC ở đây là tích cực một cách chủ động, nghĩa là người học chủ động trong toàn bộ quá trình khám phá, phát hiện và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức hướng dẫn của GV
TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan mật thiết với động cơ học tập Động cơ học tập tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tính tự giác thường được biểu hiện như: hăng hái, đề nghị giải thích những vấn đề chưa rõ, chủ động vận
Trang 8dụng kiến thức kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, tập trung chú ý vào những vấn đề đang học kiên trì không nản trí trước những vấn đề khó khăn
1.1.2.1.1 Dạy và học thông qua các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết
hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
1.1.2.1.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu
óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
1.1.2.1.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự
Trang 9phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường
sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất
là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
1.1.2.1.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống
mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Trang 10Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học
mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo
án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học truyền thống và dạy học tích cực như sau:
Học là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất
Truyền thụ tri thức, truyền thụ và chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm ra chân lí
Mục tiêu
Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Học
để đối phó với thi cử Sau
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp
và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách
Trang 11khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến
học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội
Nội dung
Từ sách giáo khoa, sách giáo viên
Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK,
GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế, internet hay trên những phương tiện thông tin đại chúng… gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề, dạy học tương tác
Hình thức
tổ chức
Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp
Cơ động, linh hoạt: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế…, học cá nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên
Đế vận dụng được những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực thì GV phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau :
+ Mọi đối tượng HS giỏi, khá, trung bình, yếu điều được tích cực hoạt động
tư duy trong
+ HS tự lực tiếp cận kiến thức với các mức độ khác nhau
+ HS được hướng dẫn hoạt động nhận thức, giải quyết vấn đề theo quy định
+ GV phải giữ vai trò chủ đạo, tổ chức các tình huống học tập hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề, khẳng định vốn kiến thức mới trong vốn tri thức của HS
Trang 12+ HS là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động trí óc, biết tự học, tự chiếm lĩnh tri thức từ các nguồn cung cấp thông tin khác nhau
1.1.3 Một số phương pháp dạy nhằm phát huy tính tích cực cho học sinh trong dạy Toán ở Tiểu học
1.1.3.1 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Các yếu tố chứa đựng vấn đề:
+ Chứa điều mà HS chưa biết
+ Chứa yếu tố đã biết, đã cho hoặc có thể tìm được
+ Chứa mối liên hệ giữa các yếu tố chưa biết với các yếu tố đã biết
Tình huống có vấn đề là tình huống gợi cho HS những khó khăn về lí thuyết hay thực hành mà họ thấy cần thiết phải vượt qua, không phải một tính chất, một quy tắc hay một phép toán…mà trải qua quá trình tư duy tích cực biến đổi đối tượng hoặc điều chỉnh kiến thức, kĩ năng đã có
b Yêu cầu khi sử dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề GV đưa ra các tình huống có vấn đề và tổ chức cho HS hoạt động, phát hiện vấn đề
Vấn đề mà HS thấy cần giải quyết, mong muốn giải quyết nó nhưng không thể giải quyết ngay được vấn đề đó bằng sự cố gắng trí lực, với sự cố gắng của mình, HS sẽ giải quyết được vấn đề đặt ra
Khi giải quyết được vấn đề đó HS được những tri thức kĩ năng mới
Do đặc điểm của HS Tiểu học, các vấn đề được hướng tới là những vấn đề đơn giản (để giải quyết nó không cần tới một quá trình suy luận dài, phức tạp)
Mà phần lớn các vấn đề được phát hiện và được giải quyết trên cơ sở dựa vào
Trang 13trực quan (thông qua quan sát các số, các hình ảnh thực, thông qua việc thử nghiệm với các trường hợp cụ thể để rút ra các kết luận khái quát)
Các bài tập có chứa vấn đề cần đa dạng, gồm các mức độ thích hợp với HS
có trình độ học tập khác nhau giỏi, khá, trung bình, yếu, kém…
1.1.3.2 Phương pháp kiến tạo
Theo quan điểm của lí thuyết kiến tạo thì HS phải là chủ thể tích cực xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình chứ không phải chỉ thu nhận một cách thụ động từ môi trường bên ngoài
Quá trình kiến tạo tri thức là một quá trình vận động, phát triển và tiến hóa chứ không phải là một quá trình tĩnh tại, đứng im Mỗi người xây dựng nên kiến thức cho bản thân mình theo những cách khác nhau, thậm chí trong cùng một hoàn cảnh như nhau nhưng mỗi người kiến tạo tri thức cho bản thân mình là không giống nhau
b Đặc điểm dạy học theo phương pháp dạy học kiến tạo
HS phải là chủ thể tích cực kiến tạo nên kiến thức của bản thân mình dựa trên tri thức hoặc kinh nghiệm có từ trước Chỉ khi nào tạo nên mối liên hệ hữu cơ giữa kiến thức mới và cũ sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc (hiện có hoặc thay đổi cho phù hợp) thì quá trình học tập mới có ý nghĩa
Quá trình kiến tạo tri thức mang tính chất cá thể, ngay trong cùng một hoàn cảnh thì kiến tạo tri thức của mỗi HS cũng khác nhau Vì vậy đòi hỏi phải tổ chức quá trình dạy học sao cho mỗi HS đều có thể phát huy tốt nhất khả năng của mình
Cần xây dựng môi trường học tập trong đó luôn khuyến khích HS trao đổi - thảo luận, tìm tòi - phát hiện và giải quyết vấn đề
Vai trò của GV trong dạy học kiến tạo là tổ chức môi trường học tập mang tính kiến tạo, thay vì cố gắng làm cho HS nắm nội dung toán học bằng giải thích, minh họa hay truyền đạt các thuật toán có sẵn và áp dụng một cách
Trang 14Mục đích của dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là làm thay đổi hoặc phát triển các quan niệm của HS, qua đó HS kiến tạo kiến thức mới, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình
b Đặc điểm của trò chơi học tập
Việc tổ chức hoạt động trò chơi trong dạy học Toán ở Tiểu học được xuất phát từ luận điểm cơ bản sau:
+ Nếu trẻ không sợ việc chúng làm, chúng sẽ dùng hết khả năng của mình để làm tốt nhất trong chừng mực có thể
+ Nếu trẻ thực sự quan tâm đến nội dung của chủ đề, chúng sẽ tự học
+ Nếu trẻ có thái độ tích cực hướng tới tài liệu học tập, chúng sẽ tự tìm đọc tài liệu
+ Nếu trẻ có cơ hội trao đổi những điều chúng hiểu về tài liệu học tập với bạn
bè cùng lứa tuổi thì chúng có dịp tốt để nhận thức về việc chúng đang làm Nếu trẻ thực sự quan tâm, hứng thú đến nội dung của chủ đề, chúng sẽ tìm cách tiếm cận, tự học, và bộc lộ hết khả năng một cách tự nhiên
Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động học tập, tạo ra bầu không khí trong lớp học trở nên dễ chịu, thoải mái hơn Học sinh tiếp thu kiến thức tự giác và tích cực hơn.Học sinh thấy vui hơn, cởi mở hơn, thư thái hơn, dễ chịu và khỏe mạnh hơn
Giúp học sinh rèn luyện củng cố tiếp thu kiến thức, đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em đã được tích lũy thông qua hoạt động chơi
Rèn luyện các kĩ năng kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy và học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn Đối với học sinh, không có phương tiện nào giúp các em phát triển một cách
tự nhiên có hiệu quả rèn luyện tính tự chủ bằng trò chơi học tập Qua chơi, các
Trang 15em biết tự kiềm chế, được tham gia hoạt động học tập tích cực Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục
Như vậy trò chơi học tập nói chung và rò chơi học toán nói riêng đảm bảo được những tiền đề nói trên vì thế có tác dụng tốt trong việc củng cố kiến thức rèn luyện kĩ năng và tạo cơ hội để HS ứng dụng vào giải quyết một vấn đề cụ thể thiết thực mà các em đang quan tâm Giúp cho học sinh phát triển toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần Trò chơi làm cho học sinh được phát triển các năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ
đó các em tiếp thu kiến thức được dễ dàng
1.1.3.4 Phương pháp dạy học bằng phiếu giao việc
a Khái niệm
Phiếu giao việc là một hệ thống những công việc mà HS phải tiến hành để có thể
tự mình chiếm lĩnh kiến thức mới, tự mình hình thành kiến thức mới Những công việc này đã được viết trước ra giấy có chừa sẵn chỗ trống để HS làm
b Đặc điểm của phương pháp dạy học bằng phiếu giao việc
- Chống lại được thói quen ỷ lại dựa dẫm vào đa số của những HS kém và trung bình
- Trong lúc HS tiến hành các hoạt động học tập bằng tay các biến đổi sinh hóa được diễn ra một cách mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn trong não của các em, giúp các em hiểu sâu và nhớ bài lâu hơn
Bản thân phiếu giao việc đã là một sự phân bậc, trong đó người soạn đã tính toán kĩ từng bước nhỏ vừa với sức của HS, để các em có thể tự làm được, qua
đó có thể tự mình chiếm lĩnh tri thức mới Nhờ vị trí của các bài tập trên phiếu giao việc (in sẵn) là như nhau đối với mọi HS nên GV có thể quan sát nhanh quá trình làm bài và kết quả làm việc của HS
Trang 16Phiếu giao việc có nhiều bài tập dạng trắc nghiệm Do đó việc sử dụng phiếu giao việc sẽ giúp GV và HS nhanh chóng tiếp cận với các lối kiểm tra, đánh giá
và thi cử mới theo định hướng đổi mới kiển tra đánh giá và thi mới của Bộ giáo dục và Đào tạo của nước ta hiện nay
Trong lúc dạy học GV chỉ phải làm ít, nói ít còn HS được làm việc nhiều Điều này rất phù hợp với quan niệm dạy học mới, HS tự “nhúng tay” vào làm hay chính là phương pháp dạy học “lấy HS làm trung tâm”
* Nhược điểm
-Tạo cho HS thói quen làm việc không có đầu có cuối đầy đủ
- Hạn chế năng lực diễn đạt và trình bày bằng lời của HS vì các em làm việc bằng tay
Ngoài ra còn lí do về điều kiện kinh tế của chúng ta hiện nay còn nghèo nàn nên không có điều kiện để làm phiếu giao việc có kẻ ô li Do đó khi HS phải viết một câu dài (ví dụ: một câu lời giải của bài toán giải toán có lời văn) thì chữ của các em không được đẹp ảnh hưởng đến việc rèn luyện chữ viết, vở sạch chữ đẹp của HS
- Gây nên sự tốn kém về tài chính
1.1.3.5 Phương pháp dạy học trực quan
a Khái niệm
Phương pháp dạy học trực quan là phương pháp dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động trực tiếp trên các phương tiện, đồ dùng dạy học
từ đó giúp HS hình thành kiến thức và kĩ năng cần thiết của môn Toán
Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học Toán ở Tiểu học là quá trình kết hợp giữa cụ thể và trừu tượng, khái quát dựa trên cái cụ thể gần gũi với HS sau đó vận dụng những quy tắc, khái niệm trừu tượng để giải quyết những vấn
đề cụ thể của học tập và đời sống
b Đặc điểm của phương pháp dạy học trực quan
Phương pháp dạy học trực quan được sử dụng trong quá trình hình thành kiến thức mới cho HS đặc biệt là những nội dung có tính chất trừu tượng
Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học không thể thiếu phương tiện (đồ dùng) dạy học
+ Các phương tiện (đồ dùng) dạy học phải phù hợp với từng giai đoạn nhận thức của trẻ
Trang 17+ Các đồ dùng trực quan cần phải tập trung bộc lộ rõ những dấu hiệu bản chất của các mối quan hệ toán học, giúp HS dễ thấy, dễ cảm nhận được các nội dung kiến thức đó
+ Các phương tiện (đồ dùng) phù hợp với nội dung yêu cầu của các bài học,
dễ làm, dễ kiếm, phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương, phù hợp với điều kiện kinh tế của GV và phụ huynh HS Tránh sử dụng các phương tiện quá máy móc
+ Đồ dùng (phương tiện) cần đảm bảo tính thẩm mỹ nhưng không quá cầu kì
về hình thức, và không quá lòe loẹt về màu sắc, gây phân tán sự chú ý của HS vào những dấu hiệu không bản chất
Cần sử dụng đúng lúc, đúng mức độ phương tiện trực quan Khi cần tạo điểm tựa trực quan để hình thành kiến thức mới thì dùng các phương tiện trực quan, khi HS đã hình thành được kiến thức thì phải hạn chế bớt việc dùng các phương tiện, thậm chí cấm sử dụng phương tiện trực quan, giúp HS tư duy trừu tượng
Các phương tiện trực quan phải tăng dần mức độ trừu tượng Mức độ trừu tượng của phương tiện phụ thuộc vào khả năng nhận thức của trẻ
Không quá đề cao và tuyệt đối hóa phương pháp trực quan Phương pháp trực quan có nhiều ưu điểm và có vai trò quan trọng trong dạy học toán ở Tiểu học, tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa phương pháp trực quan, dùng quá mức cần thiết sẽ gây phản tác dụng, làm cho HS lệ thuộc vào phương tiện trực quan, tư duy máy móc, kém phát triển tư duy trừu tượng, vì vậy cần sử dụng linh hoạt, đúng mức phương pháp dạy học trực quan, trên cơ sở phối hợp một cách hợp lí các phương pháp dạy học khác
1.2 Thực trạng dạy học môn Toán ở Tiểu học
1.2.1 Mục tiêu môn Toán ở trường Tiểu học
Giáo dục môn Toán ở trường Tiểu học nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng
cơ bản và một số yếu tố hình học cơ bản
Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống
Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng gây hứng thú học tập môn Toán Phát triển hợp lí khả
Trang 18năng suy luận đơn giản và biết diễn đạt đúng bằng lời góp phần rèn luyện phương pháp học tập, làm việc khoa học, linh hoạt, sáng tạo
Trên cơ sở những căn cứ đã trình bày, mục tiêu môn toán ở nhà trường Tiểu học có thể được xác định:
Về kiến thức:
Cung cấp cho học sinh một số hệ thống kiến thức, kĩ năng và phương pháp toán học phổ thông cơ bản thiết thực tương đối hoàn chỉnh sát với giáo dục quốc dân Việt Nam là:
* Những kiến thức cơ bản về số (tập hợp hữu hạn các số tự nhiên, tập hợp hữu hạn các số hữu tỉ)
* Về các biểu thức số và chứa chữ, về phương trình, bất phương trình đơn giản cùng các bài toán điển hình có lời văn
* Một số hiểu biết cơ bản về toán thống kê và biểu đồ:
* Những kiến thức cơ bản về hình thành biểu tượng hình học cùng với các quy tắc tính: chu vi, diện tích, thể tích các hình Các kiến thức về đại lượng phù hợp với thình độ phát triển năng lực tư duy của học sinh qua từng khối lớp Những tri thức toán học, phương pháp tiếp cận các tính chất, thuật toán lẫn phương pháp có tính chất tìm đoán
Về kĩ năng:
Hình thành và phát triển những kĩ năng cơ bản cần thiết về tính toán và sử dụng các phương pháp để giải quyết các bài toán Kĩ năng sử dụng công cụ đo, biến đổi số đo đại lượng, kĩ năng tạo hình cùng với việc tính toán hóa tình huống, áp dụng kiến thức toán học vào đời sống Có khả năng rèn luyện suy luận hợp logic và có kĩ năng thực hành
Về thái độ:
Phát triển ở học sinh năng lực trí tuệ, chủ yếu là rèn luyện các thao tác tư duy, khả năng dự đoán và tưởng tượng, tư duy logic và vận dụng ngôn ngữ chính xác Đồng thời rèn luyện cho các em phẩm chất tư duy linh hoạt độc lập sáng tạo, bước đầu hình thành năng lực học tập, năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để tự chủ, tự lập, độc lập trong lao động và trong học tập của cuộc sống Hình thành năng lực giao tiếp toán học, bao gồm năng lực diễn đạt chính xác và sáng suốt ý tưởng của mình, năng lực lắm bắt đúng ý tưởng của người khác
Trang 19Góp phần hình thành những phẩm chất lao động khoa học cần thiết của người lao động mới Bước đầu có ý thức vận dụng tri thức toán học vào các môn khoa học khác và trong cuộc sống, bước đầu có ý thức ham học hỏi, thích tiếp thu và tìm tòi cái mới
Ngoài những mục tiêu nêu trên cũng như các môn học khác ở Tiểu học, môn Toán góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất đạo đức, các đức tính rất cần thiết của con người lao động trong xã hội hiện đại
1.2.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học môn Toán ở trường Tiểu học
Đặc điểm của phương pháp dạy học môn Toán ở trường Tiểu học được thể hiện ở các điểm sau:
- Vào lớp 1, lần đầu tiên trẻ em được tiếp xúc với toán học với tư cách là một môn học Sự kiện này sẽ quyết định về đặc điểm quá trình nhận thức của trẻ em trong bộ môn phương pháp dạy học môn Toán
Cụ thể hơn trẻ em được tiếp xúc với các đối tượng toán học, các quan hệ toán học, các phép toán….Ban đầu làm nền tảng cho quá trình học môn Toán sau này Đặc biệt lần đầu tiên trẻ em được làm quen và rèn luyện các thao tác tư duy trong học Toán như quan sát, so sánh, phân tích tổng hợp, chứng minh Vì vậy, bộ môn phương pháp dạy học Toán có ý nghĩa đặt nền móng và định hướng cho giáo viên nhằm phát triển khả năng học tập Toán cho trẻ em trong các bậc học sau
- Không cấu trúc thành các phân môn riêng biệt: Đại số, Hình học, Lượng giác như Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Nội dung môn Toán ở Tiểu học bao gồm 5 mạch kiến thức có quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành một môn Toán thống nhất lấy số học làm cơ sở Điều này là chỗ dựa cho nội dung của phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học
- Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học cần có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy học các môn học khác ở Tiểu học Quá trình học của trẻ em là nơi gặp gỡ của các phương pháp dạy học của bộ môn Mỗi giáo viên đều phải nắm vững và sử dụng thành thạo các phương pháp của các bộ môn Đặc điểm và mối quan hệ giữa các phương pháp dạy học các môn sẽ giúp người giáo viên Tiểu học khai thác triệt để tính ưu việt và hạn chế thấp nhất các nhược điểm của những phương pháp dạy học
1.2.3 Tìm hiểu nội dung dạy học số tự nhiên ở lớp 1
1.2.3.1 Mục đích yêu cầu của nội dung số tự nhiên
Nội dung dạy học số tự nhiên là một nội dung quan trọng Bởi nó là nền tảng
Trang 20học, yếu tố thống kê, đo lường, giải bài toán có lời văn), học tiếp môn Toán ở bậc học tiếp theo cũng như các môn học khác
Mục tiêu của dạy học số tự nhiên ở lớp 1 là:
+ Rèn thái độ ham hiểu biết khoa học
+ Có ý thức yêu mến môn học và tự lực làm bài
Trang 211.2.3.2.1 Phép đếm
Phép đếm là sự thiết lập tương ứng 1 – 1 Ở lớp 1 thường được sử dụng những thao tác, những hình thức dạy học dưới đây:
tự nhiên cũng được tiến hành tương tự như ở vòng 20
- So sánh hai số và dùng kí hiệu (<, >, =) để ghi lại kết quả so sánh
- Nếu thêm 1 vào một số thì được một số đứng liền sau đó, nếu bớt ở 1 ở một
số thì ta được một số đứng liền trước nó
- Không có số tự nhiên nào đứng giữa hai số tự nhiên liên tiếp
- Trong dãy số tự nhiên có số bé nhất (số 0) mà không có số lớn nhất
1.2.3.2.4 Ghi số và cấu tạo thập phân của số tự nhiên
- Phân biệt số và chữ số từ vòng 20 đến vòng 100, học sinh dùng 10 chữ số
để viết các số có hai chữ số
Trang 22- Hàng và lớp
+ Trong vòng số 20 và 100, học sinh đã phân biệt chữ số ở vị trí hàng đơn vị, chữ số ở vị trí hàng chục và mối quan hệ giữa hai hàng đó: 1 chục = 10 đơn vị, học sinh phân biệt được số chỉ chục và số chỉ đơn vị
1.2.3.3 Tư tưởng chỉ đạo về phương pháp dạy học
Theo định hướng chung của đổi mới phương pháp dạy học là dạy học trên cơ
sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS Cụ thể là GV phải tổ chức, hướng dẫn cho HS hoạt động học tập với sự trợ giúp đúng mức và đúng lúc của SGK và của các đồ dùng dạy học Để từng HS (hoặc từng nhóm HS) tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung học tập rồi thực hành vận dụng các nội dung đó theo năng lực cá nhân của HS
Tư tưởng chủ đạo của phương pháp dạy học bài mới:
- Giúp HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề của bài học
- GV là người hướng dẫn HS tự phát hiện ra vấn đề của bài học rồi giúp HS huy động những kiến thức và kinh nghiệm đã tích lũy để tự mình (hoặc trong nhóm) tìm ra mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết để tự tìm ra cách giải quyết
- GV tạo điều kiện cho HS củng cố và vận dụng kiến thức mới học vào ngay tiết học bài mới để HS bước đầu tự chiếm lĩnh tri thức mới
- Trong SGK nói chung và nội dung số học nói riêng sau phần học bài mới thường có 3, 4 đến 5 bài tập để tạo điều kiện cho HS củng cố kiến thức mới thông qua thực hành và bước đầu tập vận dụng kiến thức mới học để giải quyết vấn đề có liên quan trong học tập và trong đời sống GV nên chọn trong số các bài tập này một số bài tập sẽ cho HS làm và chữa ngay tại lớp HS có thể làm các bài còn lại ngay tại lớp (nếu như còn thời gian) hoặc có thể làm bài khi tự học
- Quá trình tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học, bước đầu vận dụng kiến thức mới học sẽ góp phần giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới, thực hiện “ học qua hoạt động”
1.2.4 Thực trạng phương pháp dạy học ở Tiểu học
Việc dạy học Toán ở các trường Tiểu học ở nước ta có một quá trình phát triển lâu dài Trong quá trình đó đặc biệt là từ cuối những năm 50 đến nay với sự
cố gắng chung của đội ngũ giáo viên các phương pháp dạy học thường xuyên
Trang 23được cải tiến phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nhà trường Tiểu học Việt Nam Việc làm đó đã làm nâng cao chất lượng dạy học Toán ở Tiểu học
Tuy nhiên, trong thực tiễn ở Tiểu học phương pháp dạy học Toán về cơ bản không được đổi mới, không đáp ứng được những đổi mới về mục tiêu, nội dung giáo dục Đặc điểm chính của phương pháp dạy học là:
- Giáo viên thường chỉ truyền đạt, giảng bài theo các tài liệu đã có sẵn trong SGK hướng dẫn giảng dạy Vì vậy, giáo viên thường làm việc một cách máy móc và thường ít quan tâm tới việc phát huy khả năng chủ động sáng tạo của học sinh
- Học sinh học tập một cách thụ động, chủ yếu chỉ nghe giảng, ghi nhớ và làm theo bài mẫu Do đó, việc học tập thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động học tập thường đơn điệu nghèo nàn ít quan tâm đến năng lực cá nhân của học sinh
- Giáo viên và học sinh đều phụ thuộc vào các tài liệu có sẵn
Trên thực tế, việc dạy học ở hầu hết các trường Tiểu học vẫn là cách dạy thông báo kiến thức có sẵn dạy học theo phương pháp “thuyết trình có kết hợp với đàm thoại” là chủ yếu Mà về thực chất vẫn là “thầy truyền đạt trò tiếp nhận
và ghi nhớ” Mặt khác, một nét nổi bật hiện nay là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Giáo viên chỉ làm việc một cách máy móc chú trọng đến việc thông báo đầy đủ kiến thức trong sách giáo khoa cho học sinh, ít quan tâm đến việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh Hơn nữa việc tiếp thu một cách thụ động, ghi nhớ một cách máy móc của học sinh không thể hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện năng lực tư duy sáng tạo Vì thế mà các hoạt động học tập nghèo nàn đơn điệu, các năng lực vốn có của cá nhân các
em ít có cơ hội phát triển Giáo viên là người có quyền duy nhất đánh giá kết quả học tập của học sinh, học sinh ít được đánh giá lẫn nhau Hơn nữa, trong các hoạt động học tập chỉ có một số ít học sinh tập trung chú ý và phát biểu xây dựng bài, còn đa số học sinh không tự lực làm việc để tiếp nhận tri thức rèn luyện kĩ năng hoặc có thể là làm việc nhưng ở mức độ nhận thức và sự tiến bộ như thế nào giáo viên không nắm rõ
Thực tiễn về phương pháp dạy học cũ nêu trên cho thấy mặt hạn chế trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp thu lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng học tập Điều đó khó có thể nâng cao chất lượng dạy và học để việc giáo dục Tiểu học thực sự hiệu quả
Trang 24Trong mấy chục năm qua ngành giáo dục đã đạt được nhiều thành tựu lớn được cả xã hội thừa nhận Tuy nhiên trong ngành vẫn còn tồn tại nổi bật phương pháp dạy học khiến cho giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu của việc đào tạo con người theo đơn đặt hàng của xã hội
Trên cơ sở thực tiễn, phương pháp và cách thức tổ chức các hoạt động dạy học nêu trên, cũng như hoạt động nhận thức học tập của học sinh, nhu cầu bức thiết cần phải đặt ra và triển khai là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh “lấy học sinh làm trung tâm là chủ thể của quá trình tìm hiểu và tiếp thu kiến thức”
Từ những lí do thực tiễn nêu trên đòi hỏi cần phải có phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, dạy học phải lấy “học sinh làm trung tâm”
1.2.5 Điều tra khảo sát thực trạng việc dạy và học một số kiến thức về tập hợp
số tự nhiên của học sinh lớp 1 tại một số trường Tiểu học
* Mục đích
Nhằm tìm hiểu thực trạng của quá trình dạy và học nội dung số tự nhiên cho học sinh, em đã tiến hành điều tra, khảo sát trên hai đối tượng là giáo viên và học sinh của 2 trường Tiểu học Kết quả thu được như sau:
a Điều tra giáo viên:
Tên trường Tổng số
GV
Dưới 5 năm
Bảng 1: Bảng điều tra giáo viên
Đây là 2 trường Tiểu học ở 2 địa điểm hoàn toàn riêng biệt Thuận lợi cho việc khảo sát và vận dụng phương pháp
Thực trạng việc dạy học một số kiến thức về tập hợp số tự nhiên theo hướng phát huy tính tích cực cho học sinh lớp 1 được thể hiện trong bảng sau:
Trang 25Nội
dung
Đối tượng
Cần thiết phải phát huy tính tích cực cho HS
Thường xuyên vận dụng PPDH
để phát huy TTC cho HS
Hiệu quả của việc phát huy tính tích cực cho
HS không hứng thú với bài học
Tốn thời gian áp dụng
Phạm vi
sử dụng hạn chế
Bảng 3: Khó khăn của GV trong việc vận dụng PPDHTC vào dạy học
Qua điều tra em nhận thấy rằng các thầy cô đều nhận thấy hiệu quả của việc vận dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực cho HS HS rất hứng thú trong quá trình học tập Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong quá trình dạy học Có GV còn ngại ngùng vì việc áp dụng các phương pháp mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị Cũng còn có GV chưa nắm được lí thuyết về phương pháp nên tỏ ra lúng túng trong việc vận dụng
b Điều tra học sinh
Trang 26+ 62 HS trường TH Thái Hà
+ 70 HS trường TH 8/3
Tên trường
Thành phần dân tộc Xếp loại học lực kì I Dân tộc
thiểu số Kinh Giỏi Khá
Trung bình Yếu
Bảng 4: Bảng điều tra học sinh
Bằng việc phát phiếu bất kì cho 108 HS ở 2 trường khảo sát về hứng thú của
HS trong việc GV vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong bài dạy
Em thu được kết quả như sau:
Bảng 5: Bảng khảo sát về hứng thú của HS trong việc GV vận dụng các phương
pháp dạy học tích cực trong bài dạy.
Trang 27Thông qua khảo sát HS em nhận thấy các em rất yêu thích môn Toán đặc biệt là phần nội dung số tự nhiên Các em cũng rất hứng thú với những trò chơi học tập hay những đồ dùng trực quan mà giáo viên áp dụng trong bài học Tuy nhiên ở các em vẫn còn tồn tại những hạn chế trong quá trình học tập Một số
em vẫn chưa hiểu được quá trình tiến hành các phương pháp dạy học tích cực do quá trình tư duy chưa linh hoạt hoặc trong quá trình tham gia hoạt động các em chưa có tinh thần hợp tác bạn bè dẫn tới không thành công
1.2.6 Đề xuất giải pháp sư phạm
- Tăng cường hoạt động học tập theo phương thức dạy học tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của người dạy và người học để năng cao tri thức Trong đó do đặc điểm tâm lí của học sinh lớp Một cần vận dụng một số phương pháp dạy học thích hợp Chẳng hạn như tăng cường vận dụng trò chơi học tập vào các bài toán
cụ thể để tăng cường khả năng hoạt động của các em cũng như việc sử dụng các
đồ dùng trực quan trong bài dạy một cách hợp lí, tránh lạm dụng đồ dùng dạy học trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của các em Chú trọng cả hoạt động đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh
Trong lớp học có thể tổ chức theo mô hình sau:
+ Thành lập đội ngũ cán sự lớp với các chức danh khác nhau để làm các nhiệm vụ cụ thể trong giờ học
HS, dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác, kết hợp của thầy với tự đánh giá của trò Tìm hiểu thực trạng dạy và học nội dung số tự nhiên ở lớp 1 trong trường Tiểu học: mục tiêu môn Toán ở trường Tiểu học, đặc điểm của các phương pháp dạy học
Trang 28môn Toán ở trường Tiểu học, nội dung số tự nhiên ở lớp 1, thực trạng phương pháp dạy học ở Tiểu học, điều tra khảo sát với GV và HS và đề xuất giải pháp
sư phạm…Chính vì vậy đặt ra cho em nhiệm vụ quan tâm tới việc vận dụng PHDHTC vào dạy học tập hợp số tự nhiên ở lớp 1 nhằm nâng cao hiệu quả dạy
và học môn Toán ở Tiểu học
Trang 29CHƯƠNG 2 DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC VỀ TẬP HỢP SỐ TỰ NHIÊN THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHO HỌC SINH LỚP 1
Đi học ở trường phổ thông là bước ngoặt trong đời sống của trẻ, đến trường trẻ em có hoạt động mới giữ vai trò chủ đạo quyết định những biến đổi tâm lí cơ bản ở lứa tuổi này Những mối quan hệ mới với thầy cô giáo với bạn bè cùng lứa tuổi được hình thành Điều đó có tác dụng đặc biệt đến sự hình thành và phát triển nhân cách HS Hứng thú của HS Tiểu học ngày càng biểu lộ và phát triển rõ rệt Đặc biệt là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh Sự phát triển hứng thú của học sinh Tiểu học phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức công tác học tập Việc dạy cho HS Tiểu học các phương pháp và cách thức thích hợp để ghi nhớ có vai trò quan trọng, nó thúc đẩy sự phát triển trí nhớ có chủ định của các em Do đó cần sử dụng các phương pháp dạy học khác nhau trong giờ học Toán để cho tiết học bớt căng thẳng, tăng thêm phần sinh động lí thú
2.1 Vận dụng trò chơi học tập vào dạy học một số nội dung về tập hợp số tự nhiên trong Toán 1
Trong dạy học tập hợp số tự nhiên rất đa dạng và phong phú sau đây em xin đưa ra một số trò chơi trong phạm vi các số tự 1- 10
Các số từ 1-10 là những khái niệm về tập hợp số tự nhiên mà trẻ làm quen khi tới trường Cụ thể nó được phân bố như sau: Tiết 6 Các số 1 2 3; tiết 7 Luyện tập; tiết 8 Các số 1 2 3 4 5; tiết 9 Luyện tập; tiết 10 Bé hơn dấu <; tiết 11 Lớn hơn dấu >; tiết 12 luyện tập; tiết 13 Bằng nhau dấu =; tiết 14 Luyện tập; tiết 15 Luyện tập chung; tiết 16 Số 6; tiết 17 Số 7; tiết 18 Số 8; tiết 19 Số 9, tiết 20 Số 0; tiết 21 Số 10; tiết 22 Luyện tập; tiết 23 Luyện tập chung; tiết 24 Luyện tập chung Với phương châm, các trò chơi phải góp phần giúp HS củng cố kiến thức mới trong tiết học Với cách sắp xếp này, tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của từng kiến thức mà ta có thể lựa chọn các trò chơi khác nhau trong từng tiết học
2.1.1 Trò chơi củng cố khái niệm
* Trò chơi 1: Bịt mắt, lắp nhà
a Chuẩn bị
Vẽ trên bìa một số ngôi nhà (trên đó ghi tập hợp các nhóm đồ vật và số tương ứng) rồi cắt làm đôi và tách hai nửa ra xa nhau Một "que dò" đầu que tô phấn