Bài báo giới thiệu những nét chính về cấu trúc kiến tạo một số trũng Đệ tam miền Đông Bắc Bộ. Các trũng này (chỉ đề cập đến 7 trũng phân bố dọc theo các hệ thống đứt gãy Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Lô và Chí Linh Ḥn Gai) khác nhau về hình thái địa hình, hình hài cấu trúc và kích thước, nhưng cùng hình thành vào một giai đoạn. Hình hài cấu trúc của các trũng thể hiện sự hình thành và phát triển của chúng có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động trượt bằng của các hệ thống đứt gãy liên quan. Trên cơ sở phân tích đặc trưng hình hài cấu trúc và lịch sử phát triển, các trũng được chia thành 2 nhóm có cơ chế hình thành như sau: các trũng trượt bằng tách giãn và các trũng kéo tách.
Trang 1Hình Thành Một Số Trũng Kainozo Miền Đông Bắc Bộ, Việt Nam
Lê Triều Việt
Viện Địa chất, Viện KH&CN VN, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Tóm tắt: Bài báo giới thiệu những nét chính về cấu trúc
- kiến tạo một số trũng Đệ tam miền Đông Bắc Bộ Các trũng này (chỉ đề cập đến 7 trũng phân bố dọc theo các
hệ thống đứt gãy Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Lô và Chí Linh - Ḥn Gai) khác nhau về hình thái địa hình, hình hài cấu trúc và kích thước, nhưng cùng hình thành vào một giai đoạn Hình hài cấu trúc của các trũng thể hiện sự hình thành và phát triển của chúng có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động trượt bằng của các hệ thống đứt gãy liên quan Trên cơ sở phân tích đặc trưng hình hài cấu trúc và lịch sử phát triển, các trũng được chia thành 2 nhóm có cơ chế hình thành như sau: các trũng trượt bằng
- tách giãn và các trũng kéo tách
MỞ ĐẦU
Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực các trũng Kainozoi miền Đông Bắc Bộ, Việt Nam bắt đầu từ đầu thế kỷ trước và ngày nay, tài liệu thu được đă trở thành một khối lượng to lớn và vô cùng quý giá Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá đặc điểm phát triển địa chất của từng trũng và liên kết đối sánh địa tầng, nhằm xác định thời gian hình thành của chúng [5, 12, 13, 16-18, 21-24] Còn việc nghiên cứu chi tiết cấu trúc kiến tạo của các trũng để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chúng với hoạt động của các đới đứt gãy liên quan, nhất là đối với đới đứt gãy Sông Hồng, thì chưa được quan tâm Hơn nữa, các trũng thường thuộc địa hình thấp, là nơi trú ngụ và sinh sống của phần lớn dân cư miền Bắc, nơi mà tai biến địa chất thường xuyên đe doạ xảy ra, lại có quan hệ trực tiếp với sự phát triển địa động lực hiện đại, lại ít được quan tâm Vì vậy, việc nghiên cứu cấu trúc kiến tạo cùng với việc lý giải
cơ chế hình thành các trũng và làm sáng tỏ hoàn cảnh địa động lực trong quá khứ cũng như dự báo trong tương lai là một vấn đề có ý nghĩa nhất định cả về khoa học và thực tiễn
Trong bài báo này, tác giả xin đề cập đến một số kết quả nghiên cứu mới nhằm góp phần thúc đẩy hướng nghiên cứu nêu trên Đây là kết quả nghiên cứu tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu đă công bố và tài liệu quan sát thực tế của tác giả trong thời gian gần đây
I ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - KIẾN TẠO CỦA CÁC TRŨNG KAINOZOI Ở ĐÔNG BẮC
BỘ
Các trũng Kainozoi khá phát triển ở miền Đông Bắc Bộ với số lượng trũng có quy mô lớn lên tới hơn 10 trũng Chúng phân bố dọc theo các đứt gãy lớn như: dọc đứt gãy Cao Bằng - Tiên Yên có các trũng Cao Bằng, Thất Khê, Lạng Sơn và Nà Dương; dọc đứt gãy Sông Chảy có các trũng Phan Lương (Đoan Hùng), Lục Yên, Bảo Yên; trên đứt gãy Sông Lô có trũng Tuyên Quang; dọc đứt gãy Đông Triều - Hòn Gai có các
Trang 2trũng Hoành Bồ, Đông Triều và dọc theo đứt gãy Sông Hồng có dải trũng nhỏ phân bố
từ Lào Cai đến Việt Trì, mà tiêu biểu nhất là trũng Yên Bái Các trũng này có kích thước, hình dạng và đặc trưng cấu trúc kiến tạo hoàn toàn khác nhau Trong công trình [8], các trũng phân bố dọc đứt gãy Cao Bằng - Tiên Yên đă được đề cập chi tiết ở công trình này, tác giả giới thiệu những nét chính về cấu trúc - kiến tạo của một số trũng Kainozoi phân bố dọc các đứt gãy Sông Chảy, Sông Lô, Sông Hồng và Chí Linh - Ḥn Gai
1 Trũng Phan Lương
Đây là trũng có diện tích lớn nhất dọc đứt gãy Sông Chảy, phân bố ở phần hạ lưu thung lũng sông Lô Trũng kéo dài từ vùng Đại Thân (cách ngă ba Cát Lâm ≈ 4 km
về phía TB) qua Đoan Hùng đến Vĩnh Yên với chiều dài 40-45 km, chiều rộng lớn nhất khoảng 9-10 km Địa hình hiện đại của trũng tương đối bằng phẳng, chủ yếu là địa hình xâm thực - bóc mọ̀n và cấu tạo từ các bậc thềm sông bậc I-II có độ cao 5-15 m, rải rác là các mảnh thềm bậc III-IV có độ cao tuyệt đối 18-25 và 50-80 m Chỉ một phần diện tích rất nhỏ của trũng là các đồi cao, núi thấp với độ cao tuyệt đối đạt đến 292 m (núi Bai Tai), 343 m (Bạch Lưu Thượng)
Trũng Phan Lương ngăn cách với đới Sông Hồng ở phía TN bởi đứt gãy Sông Chảy và với đới Sông Lô ở phía ĐB bởi đứt gãy Vĩnh Ninh (hay đứt gãy Đoan Hùng -
Tiền Hải) (Hình 1) Hai đứt gãy này đều có mặt trượt dốc đứng và đổ vào nhau Kiến
trúc móng trước Kainozoi của trũng thuộc về đới biến chất Sông Lô (xem [3]) nên cấu trúc đáy móng trũng có lẽ gồm đá vôi trứng cá, phylit, đá phiến hai mica, quarzit của hệ tầng Hà Giang
Trang 3Chú giải: 1 Đứt gãy sâu; 2 Đứt gãy chưa phân loại; 3 Sông; 4 Đường đồng mức địa
hình; 5 Độ cao địa hình; 6 Ranh giới trũng; 7 Trầm tích Đệ tứ; 8 Trầm tích Kainozoi hạ; 9
Đới Sông Hồng; 10 Đới Sông Lô
Hình 1 Sơ đồ cấu trúc trũng Phan Lương
Chú giải: 1 Ranh giới trũng; 2 Đới đứt gãy; 3 Đứt gãy thuận; 4 Đường đồng mức địa
hình; 5 Sông, suối; 6 Loạt Sông Hồng; 7 Hệ tầng Hà Giang; 8 Trầm tích Kainozoi hạ; 9
Trầm tích Đệ tứ
Hình 2 Sơ đồ cấu trúc trũng Lục Yên
Trũng Kainozoi Phan Lương có kiểu cấu trúc dạng nêm nằm kẹp giữa đứt gãy Sông Chảy và đứt gãy Vĩnh Ninh, đầu TB thót lại và đầu ĐN mở rộng Trầm tích Kainozoi trong phạm vi trũng lộ ra từng khoảnh nhỏ như ở Hùng Long, Vũ Quang (Đoan Hùng) và Bạch Lưu, Trị Quận (Phan Lương), thế nằm các tầng trầm tích có góc dốc thoải (20-25°) nghiêng về nam, tây nam (210-245°) [7]
Trang 4Chú giải: 1 Đới đứt gãy sâu; 2 Đới đứt gãy chưa phân loại; 3 Đứt gãy thuận; 4 Ranh
giới trũng; 5 Đường đồng mức địa hình; 6 Sông, suối; 7 Loạt Sông Hồng; 8 Hệ tầng Chang
Pung; 9 Hệ tầng Pia Phương; 10 Trầm tích Kainozoi hạ; 11 Trầm tích Đệ tứ
Hình 3 Sơ đồ cấu trúc trũng Bảo Yên
Ngoài hai đứt gãy (Sông Chảy và Vĩnh Ninh) là đứt gãy ranh giới kể trên, trong phạm vi trũng tồn tại một số đứt gãy nhỏ như: đứt gãy Hải Lưu (ĐN núi Bạch Lưu Thượng), đứt gãy Ngòi Thủy Sơn phương ĐB-TN và đứt gãy Tây Cốc phương á kinh tuyến
Trầm tích Kainozoi lấp đầy trũng Phan Lương có chiều dày khoảng 750-1500 m [5, 14] và được chia làm 2 tầng cấu trúc [11] Tầng dưới gồm hệ tầng Phan Lương, tầng trên gồm chủ yếu là hệ tầng Tuyên Quang, phần còn lại là trầm tích bở rời Đệ tứ
Về tuổi hình thành của trũng, cho đến nay vẫn chưa có ý kiến thống nhất Theo cách phân chia của Trịnh Dánh [24, 25] với hệ tầng Phan Lương là trầm tích lót đáy trũng, thì trũng được hình thành vào Miocen muộn; A E Đovjikov và nnk [3], Tống Duy Thanh [21] cho là vào Mio-Pliocen; Nguyễn Địch Dỹ [12] cho là Miocen sớm, còn
Lê Thị Nghinh [5] và Phạm Quang Trung [19] cho là Oligocen
Trên cơ sở phân tích tài liệu tham khảo và thực địa, tác giả công trình này cho rằng trũng có tuổi hình thành muộn hơn trũng Hà Nội, tức là vào khoảng cuối
Oligocen*
Trang 5¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
* Nên tham khảo bài: Sơ đồ mới về phân chia và đối sánh các trầm tích Đệ tam phần đất liền
Việt Nam trong TCĐC số A/288 (BBT.)
2 Trũng Lục Yên
Trũng Lục Yên phân bố ở phần trung lưu sông Chảy, từ Lỏi Ngỏ (TB thị trấn
Lục Yên 4 km) đến xã Đại Đồng, thuộc huyện Yên Bình, Yên Bái (Hình 2) Địa hình
trũng gồm chủ yếu là đồi cao dạng dải với độ cao tuyệt đối trung bình 40-60 m, một vài nơi cao đến 140-180 m (núi Ban, núi Làng Trang) Chiều rộng của trũng là 1-3 km, dài hơn 20 km, nơi mở rộng nhất (đến 3 km) là vùng Ngòi Biếc đổ vào sông Chảy Dòng sông Chảy trong phạm vi trũng ngoằn nghèo uốn khúc với nhiều đoạn thắt nghẽn (Lục Yên Châu)
Quan hệ với móng trước Kainozoi của trũng này tương tự như trũng Phan Lương, tức là ở rìa TN trũng nằm tiếp giáp với đá biến chất của loạt Sông Hồng [3] và ở rìa ĐB thì tiếp giáp với đá vôi trứng cá, phylit, đá phiến hai mica, quarzit của hệ tầng
Hà Giang thuộc đới Sông Lô
Trũng Lục Yên có dạng kéo dài và nằm về phía ĐB của đới đứt gãy sâu Sông Chảy Ở rìa ĐB, nó ngăn cách với cấu trúc vòm nâng Sông Lô bằng đứt gãy nhỏ dạng cánh gà của đới đứt gãy trên Trong phạm vi trũng, trầm tích Kainozoi lộ ra không nhiều
và không đầy đủ, vì vậy rất khó xác định được cấu trúc nội tại cũng như tuổi của trũng Một số công trình [3, 5] đề cập đến các vết lộ trầm tích Kainozoi trong phạm vi trũng, nhưng còn ở mức độ sơ sài Do vậy, trên cơ sở tổng hợp tài liệu, chỉ có thể dự đoán trũng Lục Yên có khoảng tuổi hình thành như trũng Phan Lương, nghĩa là vào cuối Oligocen - đầu Miocen sớm
3 Trũng Bảo Yên
Trũng Bảo Yên phân bố ở phần thượng nguồn thung lũng Sông Chảy, nơi sông uốn khúc đột ngột từ phương TB-ĐN sang phương kinh tuyến trên một khoảng dài 5
km, rồi sau đó lại tiếp tục kéo dài theo hướng cũ (Hình 3) Địa hình trũng không bằng
phẳng, chủ yếu là núi thấp dạng dải với các khe sâu, vách dốc; nơi cao đạt đến hơn 400
m, nơi thấp chỉ có độ cao tuyệt đối chưa tới 100 m Trũng này có cấu trúc móng khá phức tạp so với các trũng trong cùng một dải (Lục Yên và Phan Lương), nhưng có điểm tương tự như hai trũng trên ở chỗ là cũng ngăn cách với đới Sông Hồng ở phía TN bởi đứt gãy sâu Sông Chảy Trầm tích Kainozoi trong trũng nằm trực tiếp trên các thành tạo tuổi Cambri thuộc hệ tầng Hà Giang, hệ tầng Chang Pung và Đevon thuộc hệ tầng Pia Phương
Trũng bị khống chế bởi 2 đứt gãy phương TB-ĐN dọc theo chiều dài của trũng, trong đó có đứt gãy sâu Sông Chảy Còn ở phía TB, trũng được giới hạn bởi đứt gãy Làng Tiom - Làng Bon; phía ĐN bởi đứt gãy Làng Khoa - Miêu Hạ Trũng được phân chia thành 3 khối: tây bắc, trung tâm và đông nam; khối trung tâm hạ tương đối so với hai khối kề bên Trong số các đứt gãy bậc cao, đứt gãy Miêu Hạ - Làng Bon hoạt động mạnh với xu hướng chuyển dịch phải trong pha muộn
Trang 6Trầm tích Kainozoi trũng Bảo Yên được chia làm 2 tầng cấu trúc; tầng dưới có tuổi Oligocen - Miocen sớm bao gồm chủ yếu là cuội kết dày 350-600 m; tầng trên có
tuổi Pliocen và gồm cuội, sỏi, cát, sét kết và trầm tích bở rời Đệ tứ
Tuổi hình thành trũng Bảo Yên cũng được xem như cùng thời với trũng Phan Lương và Lục Yên, tức là vào thời kỳ Oligocen - Miocen sớm
4 Trũng Tuyên Quang
Trũng Tuyên Quang nằm trên cánh tây nam của đới đứt gãy Sông Lô và mở rộng về phía tây dọc theo thung lũng sông Lô ở vùng này Địa hình trũng tương đối bằng phẳng với độ cao tuyệt đối trung bình từ 16 đến 23 m Bề mặt địa hình trũng bị phân cắt bởi mạng suối khá dày đặc Bao quanh trũng là địa hình gồm đồi núi sườn thoải (góc dốc chỉ trên 20°) và độ cao tuyệt đối gần 200 m Cá biệt có đỉnh cao hơn 500
m (Nghiên Sơn cao 553 m)
Móng trước Kainozoi của trũng được cấu tạo từ trầm tích Đevon hệ tầng Pia Phương (D1 pp) và hệ tầng Đại Thị (D1 đt) [15]
Trũng hình thành và phát triển thành 2 thời kỳ với các kiểu cấu trúc hoàn toàn khác biệt nhau Vào thời kỳ Kainozoi sớm, trũng có hình bình hành với cạnh dài là một đoạn của đứt gãy Sông Lô có phương TB-ĐN, mặt trượt nghiêng về tây nam (215-230°) với góc dốc đến 70-80° Hai cạnh ngắn có phương ĐB- TN phân bố trùng với các đoạn của đứt gãy F4 và đứt gãy Ngòi Chả Diện tích của trũng ở thời kỳ này khoảng 0,8 x 2
km2, kéo dài từ làng Am đến xã Nông Tiến Trầm tích lấp đầy trũng có thành phần tương tự như hệ tầng Phan Lương [7] Sang thời kỳ Đệ tứ, trũng phát triển rộng về phía tây, tây bắc, tây nam, tạo nên một trũng lớn hình tam giác có cạnh đáy chạy theo phương ĐB-TN (song song đứt gãy Ngòi Thục) dài hơn 6 km Diện tích trũng trong Đệ
tứ khoảng 25-30 km2 Trũng bị các đứt gãy bậc cao phân chia thành các khối kéo dài theo phương TB-ĐN, trong đó khối nằm kẹp giữa đứt gãy Sông Lô và đứt gãy F2, có dạng địa hào hạ lún liên tục, tạo thành trũng Kainozoi sớm và tiếp tục phát triển đến hiện đại; các khối dọc đứt gãy F3 và F5 có xu hướng hạ lún nghiêng về sông Lô (Hình 4)
Trang 7Chú giải: 1 Đứt gãy khu vực; 2 Đới đứt gãy chưa phân loại; 3 Đứt gãy: thuận (a),
nghịch (b); 4 Ranh giới trũng Đệ tam; 5 Ranh giới trũng Đệ tứ; 6 Sông, suối; 7 Trục cấu trúc dương; 8 Trục cấu trúc âm; 9 Hệ tầng Pia Phương; 10 Hệ tầng Đại Thị; 11 Trầm tích Kainozoi hạ; 12 Trầm tích Đệ tứ; 13 Đường đồng mức địa hình; 14 Vị trí lỗ khoan
Hình 4 Sơ đồ cấu trúc - kiến tạo trũng Tuyên Quang
Trong số các đứt gãy có quan hệ mật thiết với trũng thì đứt gãy Sông Lô có vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành nên cấu trúc trũng Tuyên Quang Trong giai đoạn sớm (đầu Kainozoi), đứt gãy này hoạt động trượt bằng trái, tạo ra kiến trúc hạ lún - tách giãn kiểu địa hào bên bờ phải sông Lô; trong giai đoạn muộn, đứt gãy này hoạt động với cơ chế trượt bằng phải và tạo ra trũng Đệ tứ có hình tam giác như đề cập ở trên Một đứt gãy nữa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành trũng Kainozoi sớm là đứt gãy F2 Đứt gãy này có phương song song với đứt gãy Sông Lô và kéo dài từ xã Thắng Quân qua Ỷ La, thị xã Tuyên Quang, xã Nông Tiến đến xã An Khang, dài hơn 11 km Mặt trượt của đứt gãy này đổ về ĐB với góc dốc gần 70° Cánh
Trang 8TN của nó nâng lên, cánh ĐB hạ tạo nên địa hào nêu trên Ngoài ra, còn một số đứt gãy đóng vai trò phân chia kiến trúc trũng trong thời kỳ Đệ tứ như: đứt gãy F3, các đứt gãy phương ĐB-TN, AKT Đứt gãy F3 kéo dài từ xã Thắng Quân đến xã An Khang Đứt gãy này cũng đổ về ĐB với góc dốc 60-70° Đây là đứt gãy nghịch với cánh TN hạ, cánh ĐB nâng lên tương đối Các đứt gãy phương ĐB-TN gồm có các đứt gãy Ngòi Chả và Ngòi La Đứt gãy Ngòi Chả thể hiện rõ nhất trên địa hình cũng như trên ảnh Đây là đứt gãy thuận, mặt trượt nghiêng về TB với góc dốc 60-80° trùng với đới phá huỷ rộng 400-600 m [15] Đứt gãy này làm dịch chuyển các đứt gãy phương TB-ĐN đến 100-150 m [15] Các đứt gãy á kinh tuyến gồm có: F5, F6, F7, F8, trong số đó đứt gãy F5 dài nhất, kéo từ xã Trảng Đà về phía nam Đứt gãy này là đứt gãy thuận có mặt trượt nghiêng về phía đông với góc dốc 70-80° Hoạt động của nó trong Đệ tứ đã tạo nên một vùng sình lầy rộng lớn ở phía đông LK5 C̣n đứt gãy F7 hoạt động mạnh tạo nên đới dập vỡ lớn ở phà Trảng Đà
Trầm tích Kainozoi ở trũng này nằm phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Đại Thị, được phân thành 2 tầng cấu trúc: tầng dưới gồm hệ tầng Phan Lương và hệ tầng Tuyên Quang có tuổi Oligocen-Miocen và tầng trên gồm chủ yếu trầm tích Đệ tứ
Về tuổi hình thành trũng Tuyên Quang, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất Trần Đ́nh Nhân, Trịnh Dánh [22] dựa theo hoá thạch thực vật cho là Miocen muộn; Phạm Đình Long [17] cho là Mio-Pliocen, Trịnh Dánh [24, 25] cho là Pliocen; còn Phạm Quang Trung [20] dựa theo bào tử phấn hoa cho là Oligocen Trên cơ sở tổng hợp tài liệu, tác giả công trình này cho rằng trũng Tuyên Quang có thể được hình thành từ trước Miocen sớm như nhận xét của [20]
5 Trũng Hoành Bồ
Trũng Hoành Bồ nằm kẹp giữa 2 đứt gãy phương á vĩ tuyến là đứt gãy Trung Lương ở phía bắc và đứt gãy Chí Linh - Hòn Gai (hay Đường 18) ở phía nam với diện tích khoảng 80 km2 Trũng có hình dạng gần giống hình thang với cạnh đáy lớn ở phía bắc (Đá Trắng - Vũ Oai), đáy nhỏ ở phía nam (Băi Cháy - Cái Dăm), một cạnh bên chạy trùng với sông Diễn Vọng, cạnh c̣n lại chạy từ Cái Dăm qua Tiêu Giao rồi dọc sườn ĐB núi Dốc San lên phía TB (Hình 5) Địa hình trũng dạng trũng chậu, ven rìa có các dải đồi cao 30-40 m, thấp dần vào trung tâm rồi chìm dưới mực nước vịnh Cuốc Bê Sự hình thành và phát triển của trũng gắn liền với sự hoạt động của 2 đứt gãy: Trung Lương và Chí Linh - Ḥn Gai Trầm tích Kainozoi hạ ở đây được phân ra thành 2 tầng cấu trúc: tầng dưới đặc trưng bởi sự có mặt của đá phiến cháy, đá phiến tẩm dầu xen với trầm tích cuội, cát, bột, sét và dày chưa đến 50 m, còn tầng trên đặc trưng bởi trầm tích nhiều sét mịn màu sắc loang lổ, bề dày tới 150-200 m Cấu trúc trũng bị phân cắt mạnh bởi các hệ thống đứt gãy các phương ĐB-TN, TB-ĐN và á kinh tuyến Theo sự phân bố trầm tích có thể nhận thấy là trầm tích Đệ tam hạ phân bố phổ biến ở phần TN trũng
Trang 9(vùng Trới, Đồng Ho) và hiện tại được nâng lên, lộ trên địa hình; còn ở phần ĐB trũng chúng dường như thiếu vắng (không thấy lộ, cũng như không bắt gặp trong các lỗ khoan) Trầm tích Pliocen có xu thế thống trị ở phần ĐB Trũng Hoành Bồ hình thành
và phát triển không chỉnh hợp trên địa hào chứa than Hòn Gai tuổi Trias muộn Tuổi hình thành của trũng có thể từ Oligocen [13]
Chú giải: 1 Đứt gãy khu vực; 2 Đới đứt gãy chưa phân loại; 3 Đứt gãy: thuận (a),
nghịch (b); 4 Ranh giới trũng; 5 Vùng ngập nước biển; 6 Hệ tầng Băi Cháy; 7 Hệ tầng Hòn Gai; 8 Hệ tầng Hà Cối; 9 Hệ tầng Đồng Ho; 10 Hệ tầng Tiêu Giao; 11 Trầm tích Đệ tứ;
Hình 5 Sơ đồ cấu trúc trũng Hoành Bồ
6 Trũng Đông Triều
Trũng này được giới hạn bởi đứt gãy Trung Lương ở phía bắc và đứt gãy Chí Linh - Hòn Gai ở phía nam Trũng có hình bình hành với chiều dài khoảng 7-8 km; chiều rộng 3,5-4 km; kéo dài theo phương vĩ tuyến từ xã Việt Dân qua Tân Việt, Tràng
An đến xã Bình Khê (Hình 6) Địa hình trũng thường có độ cao 2-15 m, bao quanh bởi địa hình đồi, gò cao 30-40 m (ở phía nam) và đồi núi cao 200-300 m (ở phía bắc) Trũng
bị phân cắt thành các khối bậc cao bởi các đứt gãy phương á vĩ tuyến và TB-ĐN Trầm tích Đệ tam hạ ít lộ ra trên địa hình và có chiều dày thay đổi từ vài chục đến hơn 400 m, với thành phần chủ yếu là sét, sét than, bột kết Tài liệu nghiên cứu về trũng này chưa nhiều, nhưng có thể ghi nhận là trầm tích Đệ tam hạ ở đây cũng chứa than và khá phát
Trang 10triển trên phần TN trũng (theo tài liệu khoan) Đối sánh lịch sử phát triển chung của các trũng cùng trong dải này, có thể suy đoán trũng Đông Triều cũng được hình thành vào Oligocen [20] và có đặc điểm phát triển, biến dạng như trũng Hoành Bồ