Xuất phát từ thực trạng, vai trò quan trọng của ngành khai khoáng, với những kiếnthức của mình trong thời gian học tại khoa thống kê trường ĐHKTQD và hiểu biết trong thời gian thực tập t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây VN đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế củathế giới Vị thế của VN ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế, chúng ta đã làthành viên của các tổ chức hợp tác quốc tế như ASEAN, APEC, đặc biệt năm 2007 chúng
ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới ( WTO) cánhcửa hội nhập đã thực sự mở ra đối với VN Trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tếthực hiện nhiệm vụ thiên niên kỷ xây dựng đất nước công bằng, văn minh
Với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp thì vaitrò của nghành công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp khai khoáng là vô cùng quantrọng Khai khoáng là ngành tạo ra những sẩn phẩm là nguyên liệu, năng lượng cho toàn
bộ ngành sản xuất công nghiệp Việt Nam Chính vì thế trong chiến lược phát triển kinh tếĐảng và Nhà nước ta đã có những chính sách thúc đẩy ngành khai khoáng nhằm đáp ứngyêu cầu về nhiên liệu, năng lượng cho những ngành khác và đảm bảo được an ninh nănglượng quốc gia
Xuất phát từ thực trạng, vai trò quan trọng của ngành khai khoáng, với những kiếnthức của mình trong thời gian học tại khoa thống kê trường ĐHKTQD và hiểu biết trong
thời gian thực tập tại vụ công nghiệp- tổng cục thống kê, em chọn đề tài:”Nghiên cứu thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Việt Nam thời kỳ 2000- 2010” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình Do đặc điểm của nguồn số liệu nên em chỉ nghiên cứu trong khu vực doanh nghiệp của ngành khai khoáng.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nêu lên thực trạng của ngành khai khoáng ViệtNam trong thời kỳ 2000- 2010 Qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy ngành khaikhoáng phát triển mạnh hơn nữa trong tương lai
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề thực tập gồm 3 chương :
Chương 1: Những lý luận chung về kết quả sản xuất của ngành khai khoángViệt Nam
Chương 2: Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp thống kê phân tích kết quảsản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng
Chương 3: Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh ngành khai khoáng ViệtNam thời kỳ 2000- 2010
Em xin chân thành cảm ơn các bác,anh chị ở vụ công nghiệp-tổng cục thống kêtạo điều kiện cho em về nguồn số liệu cũng như những tiếp xúc thực tế trong thời gian
Trang 2thực tập Em xin chân thành cảm ơn Th.s Đỗ Văn Huân đã tậ tình hướng dẫn để em hoànthành chuyên đề của mình.
Sinh viên thực hiện
Dương Văn Lưu
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH CỦA
NGÀNH KHAI KHOÁNG VIỆT NAM 1.1 Đặc điểm của ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của ngành công nghiệp khai khoáng
Khai khoáng là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòngđất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than Các vật liệu được khai thác từ mỏ nhưkim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối
và kali cacbonat Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trongphòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ khoáng sản Khai khoáng ởnghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ,khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước)
Đặc điểm chung của ngành khai khoáng :
-Hoạt động của ngành gắn liền tại những nơi có chứa các mỏ, quặng khoáng sản
Để có thể khai thác được các mỏ khoáng sản này thì các doanh nghiệp khai thác phụthuộc rất nhiều vào dây truyền công nghệ hiện đại, độ đảm bảo an toàn lao động chongười lao động cao Bởi công nhân làm việc trong các mỏ khoáng sản thường làm việctrong môi trường độc hại với mật độ cao
- Ngành khai khoáng là trực tiếp khai thác tài nguyên quốc gia cho nên chịu sựgiám sát chặt chẽ của Nhà nước để đảm bảo chương trình an ninh năng lượng của quốcgia Đa số các doanh nghiệp trong ngành phải đóng mức thuế nộp vào ngân sách nhànước là rất lớn
- Sản phẩm của ngành là các nhiên, vật liệu cho các ngành công nghiệp khác Vìvậy sự phát triển của ngành là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến sự phát triển của ngànhcông nghiệp nói chung của Việt Nam
1.1.2 Phân loại trong ngành
Trong bảng phân ngành kinh tế quốc dân của Việt Nam, theo quyết định số10/2007/QĐ-TTg ngày 23/1/2007 thì hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được chiathành 5 cấp : có 21 ngành cấp1 ( được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U), 88 ngànhcấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5
Ngành khai khoáng có hai hình thức phân tổ:
- Phân tổ theo các thành phần kinh tế.
Trang 4+ Kinh tế nhà nước: Là những doanh nghiệp mà nhà nước chiếm trên 50% vốn
điều lệ, gồm có:
→ Doanh nghiệp nhà nước trung ương: Là những doanh nghiệp chịu sự quản lýtrực tiếp từ các bộ, ban nghành trực thuộc của chính phủ VD: tập đoàn than khoáng sảnViệt Nam, tập đoàn dầu khí Việt Nam
→ Doanh nghiệp nhà nước địa phương: Là những doanh nghiệp chịu sự quản lýtrực tiếp của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thành lập dựa trên nguồn tàinguyên vốn có của địa phương mình
+ Kinh tế ngoài quốc doanh: Gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn
vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nướcnhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống Hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý mà nhànước ban hành theo từng loại doanh nghiệp Cụ thể gồm có:
→ Doanh nghiệp tập thể ( hợp tác xã ): Là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân,
hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tựnguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thểcủa từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạtđộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước
→ Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Chủ sởhữu duy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân Doanh nghiệp tư nhân không có
tư cách pháp nhân
→ Doanh nghiệp hỗn hợp: Doanh nghiệp hỗn hợp ngoài quốc doanh là các đơn vịkinh tế được thành lập trên cơ sở liên doanh giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các thànhphần kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể
→ Kinh tế cá thể: Là cơ sở kinh tế nơi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanhthường xuyên, có địa điểm xác định và có ít nhất là 1 lao động chuyên nghiệp thực hiệnhoạt động kinh tế tại điểm đó
+ Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài : gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu
Trang 5Khu vực này có hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanhnghiệp liên doanh giữa nước ngoài với các đối tác trong nước.
- Phân tổ theo ngành cấp 2
Ngành khai khoáng là ngành cấp 1 thứ 2 ( được mã hóa bằng chữ cái B) gồm có 5ngành cấp 2 ( từ mã số 05 đến 09), cụ thể:
+ 05 Khai thác than cứng và than non
+ 06 Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên
+ 07 Khai thác quặng kim loại
- Các hoạt động phụ trợ như chuẩn bị các nguyên liệu thô cho kinh doanh ví dụnghiền, cắt, rửa sạch, phân loại, nung quặng, hoá lỏng gas và các nhiên liệu rắn Các hoạtđộng này thường được thực hiện bởi các đơn vị khai thác mỏ và / hoặc các đơn vị khác gầnđó;
- Các hoạt động khai thác mỏ được phân vào các nhóm cấp 2, cấp 3, cấp 4 trên cơ sởcác khoáng chất chủ yếu được sản xuất Ngành 05, 06 liên quan đến khai thác các nhiên liệuhoá thạch (than đá, than bùn, dầu mỏ, gas); ngành 07, 08 đề cập đến quặng kim loại, sản xuấtcác sản phẩm quặng và khoáng khác;
Một số hoạt động kỹ thuật của ngành này, cụ thể là liên quan đến khai tháchydrocacbon, cũng có thể được thực hiện cho bên thứ 3 bởi các đơn vị chuyên môn như làmột đơn vị dịch vụ công nghiệp được phân vào ngành 09 (Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác
mỏ và quặng)
Loại trừ:
Trang 6- Chế biến các loại nguyên liệu đã khai thác được phân vào ngành C (Công nghiệp chếbiến, chế tạo);
- Sử dụng các quặng được khai thác mà không có sự chuyển đổi nào thêm cho mụcđích xây dựng được phân vào ngành F (Xây dựng);
- Đóng chai các loại nước khoáng thiên nhiên tại các suối và giếng được phân vàonhóm 1104 (Sản xuất đồ uống không cồn, nước khoáng);
- Nghiền, ép hoặc các xử lý khác đối với đất, đá và chất khác không liên quan đến khaithác mỏ, quặng được phân vào nhóm 23990 (Sản xuất sản phẩm từ chất khoáng phi kim loạikhác chưa được phân vào đâu);
- Thu thập, làm sạch và phân phối nước được phân vào nhóm 36000 (Khai thác, xử lý
1.1.4 Ý nghĩa kinh tế - xã hội của ngành
Vai trò của ngành khai khoáng có thể được biểu diễn như mô hình dưới đây:
Qua mô hình trên ta có thể thấy ngành khai khoáng có vai trò quan trọng trong pháttriển kinh tế Đối với Nhà nước thì đó là phần thuế được nộp vào ngân sách, theo Luậtsửa đổi được thông qua tháng 12/2010 và bắt đầu có hiệu lực ngày 1/7/2011 thì thuế khaithác các khoáng sản đều đồng loạt tăng lên so với trước Điều này cho thấy mức đóng
Nhà nước: đóng góp thuế
tài nguyên, thuế xuất khẩu
vào ngân sách nhà nước
Nhà nước: đóng góp thuế
tài nguyên, thuế xuất khẩu
vào ngân sách nhà nước
Người dân: tạo việc làm thúc
đẩy phát triển kinh tế các tỉnh
vùng sâu
Người dân: tạo việc làm thúc
đẩy phát triển kinh tế các tỉnh
vùng sâu
CN chế tạo
CN chế tạo
CN điện tử
CN điện tử
CN xây dựng
CN xây dựng
Công nghiệp luyện kim
Công nghiệp luyện kim
Ngành khai khoáng
Ngành khai khoáng
Doanh nghiệp
Trang 7góp của ngành khai khoáng trong nền kinh tế được nâng lên Đối với người dân thì đó làtạo ra nhiều việc làm hơn với mức thu nhập cao, đặc biệt là những vùng có các mỏkhoáng sản khai thác Không những thế khi khai thác khoáng sản thì đồng thời cũng thúcđẩy sự phát triển cả những khác của địa phương đó Bởi vì sản phẩm của ngành khaikhoáng là những nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp luyệnkim, công nghiệp chế tạo, công nghiệp xây dựng
1.2 Một số khái niệm cơ bản về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Việt Nam.
1.2.1 Khái niệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình vận động, biếnđổi các yếu tố đầu vào là các chi phí và kết quả đầu ra là các sản phẩm nhằm đáp ứng nhucầu tiêu dùng của xã hội
Doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh với hai mục tiêu:
- Tạo ra và cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, qua đó đạt doanh sốtối đa
- Tạo ra giá trị thặng dư và phấn đấu đạt mức lợi nhuận tối đa
Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh:
- Mục đích của các doanh nghiệp là thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh đểtạo ra của cải vật chất và dịch vụ nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội bằng việcbán ra những sản phẩm của mình trên thị trường
- Hoạt dộng sản xuất kinh doanh phải hạch toán được đầy đủ chi phí bỏ ra và kếtquả thu được đồng thời đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó trong hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của mình các doanh nghiệp cần phải tính toán đầy đủ các loạichi phí phát sinh trong quá trình tạo ra sản phẩm gồm cả chi phí vật chất và chi phí dịch
vụ Trên cơ sở đó hạch toán lỗ lãi và đánh giá hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất,kinh doanh
- Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp các doanh nghiệp luôn luôn phảiđồng hành với người tiêu dùng, phải luôn nắm được các thông tin về sản phẩm của doanhnghiệp trên thị trường cũng như nhu cầu của người tiêu dùng để từ đó xác định được số
Trang 8lượng hàng hóa cần sản xuất, chủng loại, mẫu mã, kích thước, giá cả và chất lượng sảnphẩm.
Hoạt động sản xuất kinh doanh chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị, kinh tế
-xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới Các chính sách về kinh tế, thương mại và luậtpháp có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
1.2.2 Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh của daonh nghiệp ngành khai khoáng.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp khai khoáng là hoạt động sửdụng kết hợp các yếu tố đầu vào tạo ra sản phẩm công nghiệp khai khoáng và cung cấpcho cá đối tượng sản xuất và tiêu dùng trong và ngoài nước, nhằm mang lại thu nhập chotập thể lao động của doanh nghiệp
Đặc điểm của hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngành khai khoáng :
- Với hơn 5000 điểm mỏ thuộc 60 loại khoáng sản được phát hiện và khai thác,tiềm năng khoáng sản Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng Nếu tách riêng than
và dầu khí, các công ty khoáng sản hiện nay chủ yếu khai thác các loại quặng kim loại(sắt, titan, mangan, vàng, kẽm, đồng, antimony) và các khoáng sản phi kim -vật liệu xâydựng (VLXD) (đá, cát, sỏi, cao lanh, thạch anh)
- Do cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp sản xuất- chếtạo và xây dựng, sự phát triển của ngành phụ thuộc rất lớn vào chu kỳ phát triển của nềnkinh tế thế giới Nhu cầu và giá bán nhiều loại khoáng sản được quyết định bởi thị trườngthế giới
- Triển vọng của ngành khoáng sản còn nhiều tiềm năng trong dài hạn, được hỗ trợbởi sức cầu từ sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và thế giới, đặc biệt là nhân tốTrung Quốc; và sức cung là trữ lượng khoáng sản phong phú của Việt Nam Tuy nhiên,hiện nay hiệu quả đầu tư của ngành đang suy giảm tương đối so với các lĩnh vực khác, dođầu tư mới chú trọng đến việc mở rộng mà chưa đầu tư theo chiều sâu, chủ yếu dừng ởviệc xuất khẩu quặng và tinh quặng với giá trị thấp hơn nhiều giá kim loại phải nhập khẩu
về Do vậy, trong thời gian tới, ngành cần phát triển theo hướng tăng cường chế biến sâu,bên cạnh việc thăm dò, mở rộng mỏ mới
Trang 9- Ngoài ra, chính sách pháp luật của Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện,
có thể tác động đến hoạt động của ngành: Luật khoáng sản 2011 sẽ thay đổi cơ chế cấpphép thăm dò khai thác mỏ theo cơ chế đấu giá; ngoài ra biểu thuế của nhiều loại khoángsản được điều chỉnh theo hướng tăng lên làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp
1.2.3 Khái niệm về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngành khai khoáng là các sản phẩmhữu ích của hoạt động khai thác được biểu hiện dưới hai hình thái là: sản phẩm vật chất
và sản phẩm dịch vụ, do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định
Nội dung của kết quả sản xuất kinh doanh.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do lao động của chính doanhnghiệp đó làm ra, đạt tiêu chuẩn chất lượng theo những quy định về tiêu chuẩn chấtlượng quốc gia và quốc tế, đáp ứng nhu cầu sử dụng của xã hội
Kết quả sản xuất kinh doanh phải đảm bảo được lợi ích của người tiêu dùng và củadoanh nghiệp Lợi ích của người tiêu dùng là khi họ trả chi phí cho những sản phẩm đóthì họ muốn và phải được sử dụng những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, mẫu mã, sốlượng phù hợp với giá cả thị trường Lợi ích của doanh nghiệp là sản xuất ra những sảnphẩm đạt tiêu chuẩn theo quy định mà vẫn đảm bảo thu được lợi nhuận, kết quả thu vềphải cao hơn chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra
Kết quả sản xuất kinh doanh mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội Lợi ích đóbiểu hiện bằng việc tiết kiệm chi phí, tiền của, thời gian của xã hội Sản xuất của doanhnghiệp đảm bảo sự phát triển bền vững, không làm thiệt hại đến môi trường của xã hội.Những sản phẩm vật chất do doanh nghiệp tạo ra làm tăng thêm của cải vật chất cho xãhội, còn những sản phẩm phi vật chất ( sản phẩm dịch vụ) không có hình thái cụ thể,không thể cân đo, đong đếm được nhưng đang ngày càng chiếm vị trí cao trong nền kinh
tế quốc dân
Các dạng biểu hiện của kết quả sản xuất kinh doanh.
Sản phẩm vật chất: là nhưng sản phẩm sau quá trình khai thác, chế biến có giá trị
sử dụng mói và được đo lường bằng đơn vị hiện vật ( gồm các đơn vị tự nhiên và đơn vị
Trang 10vật lý) Những sản phẩm đó khi làm xong được chuyển sang khâu tiêu thụ và trở thànhhàng hóa.
Sản phẩm dịch vụ: là những công việc phục vụ có tính chất công nghiệp, gọi tắt làdịch vụ công nghiệp Những công việc này thường được đo bằng đơn vị tiền tệ
Sản phẩm công nghiệp chỉ được coi là kết quả hoạt động của doanh nghiệp khi nóđạt hai yêu cầu:
- Do chính lao động của doanh nghiệp tạo ra thông qua dây truyền sản xuất côngnghiệp của doanh nghiệp mình
- Có tính hữu ích, thỏa mãn yêu cầu nhất định của sản xuất và tiêu dùng, phùhợp với lợi ích kinh tế và trình độ văn minh của tiêu dùng xã hội
1.2.4 Các sản phẩm ngành khai khoáng Việt Nam.
Khai khoáng là ngành khai thác khoáng sản hiện có ở Việt Nam, sản phẩm củangành rất phong phú và đa dang, phụ thuộc và điều kiện tự nhiên và trình độ khai tháccủa nước ta Các sản phẩm này chính là sản phẩm cấp cấp 5 của ngành khai khoáng đượcliệt kê trong bảng phân ngành kinh tế Cụ thể:
+ Than: có than cứng và than non
+ Dầu thô và khí đốt tự nhiên
+ Các quặng kim loại: có quặng kim loại quý hiếm, quặng sắt và quặng khôngchứa sắt ( như: quặng uranium,quặng thorlum, quặng bôxit )
+ Các sản phẩm khác: đá, cát, sỏi, đất sét, hóa chất và phân bón, than bùn muối
Trang 11CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÀNH KHAI KHOÁNG
2.1.Xác định hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng 2.1.1 Yêu cầu và nguyên tắc xác định hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh.
- Yêu cầu:
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu được mối quan hệ giữa các bộ phận cũngnhư giữa các mặt của kết quả sản xuất kinh doanh và giữa kết quả sản xuất kinh doanhvới các yếu tố liên quan, trong khuôn khổ của việc đáp ứng mục đích nghiên cứu
+ Trong hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh phải có chỉ tiêumang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận của tổng thể và các chỉ tiêuphản ánh các nhân tố để phản ánh một cách đầy đủ kết quả sản xuất kinh doanh củangành khai khoáng
+ Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán củacác chỉ tiêu cùng loại Có như vậy mới phản ánh đúng kết quả sản xuất kinh doanh củangành khai khoáng
+ Đảm bảo tính khả thi: dựa vào yêu cầu, mục đích nghiên cứu và nguồn số liệu thuthập được để lựa chọn những chỉ tiêu thích hợp nhất
+ Đảm bảo tính hiệu quả: chỉ tiêu được chọn để phân tích phải đảm bảo được đúngvới yêu cầu cần đặt ra, dễ hiểu và có hiệu quả nhất
Trang 122.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của ngành khai khoáng Việt Nam.
Nguyên tắc tính giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA) công nghiệp, của ngành khai khoáng Việt Nam.
- Giá trị sản xuất và các chỉ tiêu khác của ngành khai khoáng được tính theo phươngpháp công xưởng, nghĩa là không được tính trùng giá trị sản xuất của các phân xưởngtrong phạm vi một đơn vị sản xuất Chỉ tính vào giá trị sản xuất công nghiệp các kết quảhoạt động cuối cùng của các doanh nghiệp, không tính các kết quả trung gian ( chuchuyển nội bộ)
- Phải tính đầy đủ kết quả sản xuất của các đơn vị, tổ chức và cá nhân thường trú củaViệt Nam có hoạt động khai khoáng trong tất cả các ngành, các thành phần kinh tế Nhưvậy, trong một đơn vị sản xuất công nghiệp, ngoài phần sản xuất chính là công nghiệp racòn có sản xuất phụ khác thì phải đưa phần sản xuất phụ này về các ngành kinh tế tươngứng Ngược lại những đơn vị sản xuất của các ngành khác có sản xuất công nghiệp thìđưa phần công nghiệp này về ngành công nghiệp chung của nền kinh tế quốc dân
- Kết quả sản xuất của thời kỳ nào thì được tính cho thời kỳ đó, không được đem kếtquả sản xuất của thời kỳ này tính cho thời kỳ khác và ngược lại Nghĩa là khi xác định giátrị sản xuất của ngành khai khoáng, ngoài sản phẩm hoàn thành và bán ra ngoài trong thời
kỳ còn kể cả chênh lệch sản phẩm dở dang cuối kỳ trừ (-) đầu kỳ, thành phẩm tồn khocuối kỳ trừ (-) đầu kỳ
- Giá để tính các chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng là giá thực tế và giá so sánhvới năm gốc
- Giá thực tế là giá của người sản xuất công nghiệp ngành khai khoáng bán thực tếtrên thị trường và trên sổ sách hạch toán của thời kỳ báo cáo
- Giá so sánh với năm gốc là giá thực tế của một năm nào đó được chọn làm năm gốc
để so sánh, nhằm phản ánh tốc độ và xu thế phát triển của các chỉ tiêu qua các thời kỳkhác nhau
2.2.1 Giá trị sản xuất ( GO ).
Trang 13- Khái niệm: Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ giá trị của các sản phẩm vật
chất và dịch vụ hữu ích do lao động công nghiệp của doanh nghiệp làm ra trong một thời
kỳ và là bộ phận chủ yếu của chỉ tiêu GO ching của toàn doanh nghiệp công nghiệp
- Ý nghĩa của chỉ tiêu GO trong hoạt động sản xuất công nghiệp.
+ Phản ánh qui mô về kết quả của hoạt dộng sản xuất công nghiệp
+ Là cơ sở tính cá chỉ tiêu VA, NVA của doanh nghiệp
+ Là căn cứ tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.+ Dùng để tính GDP, GNP của nền kinh tế quốc dân
- Phương pháp tính GO của hoạt động sản xuất công nghiệp.
GO của hoạt động sản xuất công nghiệp tính theo giá sử dụng cuối cùng gồm cácyếu tố sau:
+ Doanh thu thuần của hoạt động sản xuất công nghiệp
• C1 là khấu hao TSCĐ của tất cả các hoạt động có trong doanh nghiệp côngnghiệp
• C2 là chi phí trung gian (IC) bao gồm chi phí vật chất và chi phí dịch vụ
• V là thu nhập lần đầu của người lao động ( quỹ phân phối lần đầu) cho người laođộng Gồm 2 khoản chính là: Tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập có tính chất
Trang 14lương khác, và tiền trích vào các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, TCTT của chủ doanhnghiệp đóng cho người lao động.
• M là thu nhập lần đầu của chủ doanh nghiệp Bao gồm: giá trị thặng dư, thuế sảnxuất và thu nhập hỗn hợp nếu có
- Nguồn thông tin:
+ Từ tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ TK 511
+ Doanh thu hoạt động tài chính TK 515
+ Doanh thu tiêu thụ thành phẩm TK 512
+ Xác định kết quả sản xuất kinh doanh TK 911
2.2.2 Giá trị gia tăng (VA).
- Khái niệm:
Giá trị gia tăng là phần giá trị tăng thêm của kết quả sản xuất kinh doanh côngnghiệp của doanh nghiệp trong một thời kỳ, được tạo bởi hai yếu tố sản xuất có vai tròtích cực là lao động sống và tư liệu lao động Vì vậy chỉ tiêu bao gồm giá trị mới sáng tạocủa lao động và giá trị chuyển dịch ( hay hoàn vốn) của tài sản cố đinh
+ Đảm bảo sự công bằng hợp lý trong việc tính thuế VAT
+ Là cơ sở tính GDP và GNI của nền kinh tế quốc dân
- Phương pháp tính.
VA được tính theo 2 phương pháp:
+ Phương pháp sản xuất
VA = GO – IC (C2)+ Phương pháp phân phối
Trang 15VA bao gồm các yếu tố sau:
+ Thu nhập của người sản xuất
VA = V + M + C1
Gía trị gia tăng của ngành khai khoáng được tính từ 2 phương pháp trên phải bằngnhau Nếu chênh lệch lớn cần kiểm tra lại số liệu ban đầu của các cơ sở
- Nguồn thông tin.
+ TK 334 phải trả công nhân viên
+ TK 622 chi phí công nhân trực tiếp
+ TK 333 thuế và các khoản phải nộp nhà nước
+ TK 6424 chi phí khấu hao TSCĐ
2.2.3 Giá trị gia tăng thuần (NVA).
- Khái niệm.
Giá trị tăng thuần là chỉ tiêu biểu hiện phần giá trị mới sáng tạo của lao động sảnxuất kinh doanh công nghiệp của doanh nghiệp
- Ý nghĩa: Chỉ tiêu nói lên vao trò của lao động trong việc tạo ra nguồn thu nhập cho
các đối tượng khác nhau và sự đóng góp của lao động doanh nghiệp và kết quả chung củanền kinh tế Vì vậy NVA là cơ sở tính chỉ tiêu VA, nghiên cứu quan hệ thu nhập giữangười lao động, doanh nghiệp và nhà nước
- Phương pháp tính:
NVA được tính theo 2 phương pháp
Trang 16DT = Trong đó:
• p: là giá bán đơn vị sản phẩm i
• q: là sản lượng tiêu thụ của sản phẩm i trong kỳ
- Phương pháp tính.
Tổng hợp doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp có 2 hình thức sau:
+ Theo hình thái biểu hiện: doanh thu gồm nhưng yếu tố sau
• Doanh thu tiêu thụ thành phẩm từ kết quả sản xuất của doanh nghiệp
• Doanh thu do chế biến thành phẩm cho khách hàng đặt hàng
• Doanh thu bán phế phẩm, phế liệu
• Doanh thu từ dịch vụ sản xuất cho bên ngoài
• Giá trị sản phẩm sản xuất để lại tiêu dùng trong doanh nghiệp
+ Theo thời kỳ thanh toán: doanh thu gồm những yếu tố sau
Trang 17• Doanh thu sản phẩm vật chất và dịch vụ đã hoàn thành và tiêu thị trong kỳ thanhtoán.
• Doanh thu sản phẩm vật chất và dịch vụ hoàn thành trong các kỳ trước được tiêuthụ và thu tiền trong kỳ này
• Tiền thu từ việc bán sản phẩm trong các kỳ trước mới được thanh toán trong kỳnày
- Nguồn thông tin.
+ TK 511 doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ
+ TK 515 doanh thu hoạt động tài chính
+ Giảm giá hàng bán : giá trị hàng đã bán bị trả lại, chi phí sữa chữa hàng hư hỏngcòn trong thời hạn bảo hành
2.2.6 Lợi nhuận (M).
- Khái niệm.
Trang 18Lợi nhuận kinh doanh là chỉ tiêu biểu hiện khối lượng giá trị thặng dư do lao độngcủa doanh nghiệp tạo ra trong kỳ.
- Nguồn thông tin.
Lợi nhuận bao gồm từ các thành phần sau:
+ Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động tài chính
+ Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động khác, bất thường
2 3 Xác định một số phương pháp thống kê phân tích kết quả sản xuất kinh doanh 2.3.1.Phương pháp phân tổ.
- Khái niệm.
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một hoặc một số tiêu thức nào đó tiến hành phânchia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và tiểu tổ sao cho các đơn vịtrong cùng một tổ thì giống nhau về tính chất, khác tổ thì khác nhau về tính chất
- Ý nghĩa.
+ Dùng phân tổ để chọn ra các đơn vị điều tra
+ Là phương pháp cơ bản của tổng hợp thống kê
+ Là cơ sở và là một phương pháp phân tích thống kê
Trang 19+ Phân tổ thống kê nghiên cứu mỗi liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các tiêu thứccủa hiện tượng.
+ Phân tổ thống kê nghiên cứu kết cấu nội bộ tổng thể
2.3.2 Bảng thống kê.
- Khái niệm.
Bảng thống kê là một hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách có hệthống, hợp lý và rõ rang, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiêncứu
+ Các đồ thị thống kê không trình bày tỉ mỉ, chi tiết các đặc trưng số lượng của hiệntượng mà chỉ nêu lên một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất và xu hườngphát triển cơ bản của hiện tượng Vì vậy, đồ thị làm cho người ít hiểu biết về thống kê
Trang 20cũng có thể lĩnh hội được vấn đề mà người nghiên cưu nêu ra một cách dễ dàng và chínhxác.
2.3.4 Phương pháp dãy số thời gian.
Chỉ số trong thống kê là số tương đối biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ
của một hiện tượng nghiên cứu.
- Ý nghĩa và tác dụng.
+ Dùng chỉ số để nghiên cứu biến động của các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinhdoanh qua thời gian Các chỉ số tính theo mục đích này thường được gọi là chỉ số pháttriển, được tính bằng cách so sánh mức độ của hiện tượng ở 2 thời gian khác nhau ( kỳnghiên cứu và kỳ gốc)
+ Nêu lên sự biến động của kết quả sản xuất kinh doanh qua những điều kiệnkhông gian khác nhau: giữa 2 địa phương, 2 doanh nghiệp các loại chỉ số này thườngđược gọi là chỉ số không gian
+ Biểu hiện các nhiệm vụ kế hoạch hoặc tình hình hoàn thành kế hoạch về các chỉtiêu kết quả sản xuất kinh doanh Các chỉ tiêu này gọi là chỉ số kế hoạch
+ Dùng chỉ số để phân tích vai trò và ảnh hưởng biến động của từng nhân tố đốivới sự biến động cuẩ toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh
2.3.6 Phương pháp số tương đối.
- Khái niệm.
Trang 21Số tương đối trong thống kê biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ nào đó củahiện tượng Đó có thể là kết quả của việc so sánh giữa hai mức độ cùng loại nhưng khácnhau về điều kiện không gian hoặc thời gian, hoặc giữa hai mức dộ khác loại nhưng cóliên quan với nhau Trong hai mức độ này, một mức độ được chọn làm gốc để so sánh.
+ Dùng các số tương đối để nêu ra tình hình thực tế trong khi cần bảo đảm đượctính chất bí mật của các số tuyệt đối
Trang 22CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÀNH KHAI KHOÁNG VIỆT NAM THỜI KỲ 2000 – 2010
3.1 Tổng quan ngành khai khoáng Việt Nam
Sự hình thành ngành khai khoáng cho đến thời đại hiện nay là cả một quá trìnhdiễn biến lâu dài Nó gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ tronglĩnh vực khai thác Ban đầu ngành khai khoáng được biết đến là ngành khai thác mỏ,nhằm khai thác những mỏ tài nguyên hiện có của đất nước với mục đích chủ yếu là đểlàm nguyên nhiên liệu cho các ngành công nghiệp khác và xuất khẩu sản phẩm thô Sau
đó, cùng với sự tiến bộ của công nghệ ngành khai khoáng Việt Nam đã phát triển mạnh
mẽ, hiện nay chúng ta không chỉ khai thác mà còn tinh chế những sản phẩm thô thànhnhững sản phẩm chất lượng phục vụ được nhu cầu trong nước và xuất khẩu đem lại giátrị cao hơn
Thực trạng ngành khai khoáng Việt Nam:
Quy mô doanh nghiệp So với thời điểm năm 2000 thì quy mô các doanh nghiệp
hoạt động trong ngành khai khoáng đã tăng lên và chiếm tỷ trọng nhất đinh trong cácdoanh nghiệp trong ngành công nghiệp, cũng như so với các doanh nghiệp trong cả nước,
được thể hiện rõ ở bảng dưới đây:
Bảng 1 Tổng hợp các doanh nghiệp Việt Nam tính đến ngày 31/12/2010
Chỉ tiêu
Tổng nguồn vốn
Số doanh nghiệp
Số lao động
nghiệp
Người
Trang 233.Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt 286152 2143 121252
Nguồn:Vụ công nghiệp- Tổng cục thống kê Qua bản tổng hợp cho ta thấy:
Về tổng nguồn vốn: Các doanh nghiệp trong ngành khai khoáng hiện đang là
ngành chiếm tỷ trọng vốn lớn trong nền kinh tế với 329934 triệu đồng tính đến31/12/2009, chiếm 3.75% trong tổng nguồn vốn các doanh nghiệp và chiếm15.72% trong tổng nguồn vốn công nghiệp ( bao gồm các ngành :B-Khai khoáng,C- Công nghiệp chế biến, D- Sản xuất và phân phối điện , khí đốt, E- Cung cấpnước và xử lý rác thải ), gấp 6.7 lần so với thời điểm 31/12/2000
Về nguồn lao động và việc sử dụng lao động: Việt Nam được biết đến là một
trong những đất nước có nguồn lao động rồi, việc phát triển các khu công nghiệpđặc biệt là trong ngành khai khoáng đã thu hút được lượng lớn số lao động thamgia Cụ thể, tính đến thời điểm năm 2010 ngành đã thu hút được 210421 người,chiếm 2.36% số lao động làm việc trong các doanh nghiệp cả nước và chiếm4.69% số lao động trong toàn ngành công nghiệp So với thời điểm năm 2000 thì
đã tăng 1.8 lần
Về số lượng các doanh nghiệp: Một trong những đặc điểm khi tham gia vào ngành
khai khoáng là các doanh nghiệp phải có vốn lớn, mức trang bị công nghệ cao vàchịu sự quản lý giám sát chặt chẽ từ nhà nước Tuy nhiên, với khả năng đem lạinhiều lợi ích nên hàng năm số doanh nghiệp tham gia vẫn tăng lên Tính đến thờiđiểm 31/12/2010 cả nước đã có 2257 doanh nghiệp hoạt động trong ngành khaikhoáng, tăng 5.2 lần so với thời điểm năm 2000 Chiếm 0.9% số doanh nghiệp của
cả nước và chiếm 4.63% số doanh nghiệp trong toàn ngành công nghiệp
Tình hình kinh doanh Khả năng kinh doanh của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó Những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranhcao, khả năng nắm bắt thị trường, hiểu biết về pháp luật, nhạy bén trong kinh doanh sẽluôn là những doanh nghiệp có lợi thế và có những thành công Các doanh nghiệp kinhdoanh trong ngành khai khoáng cũng vậy Trước những khó khăn thách thức chung của
Trang 24nền kinh tế có những doanh nghiệp kinh doanh có lãi và cũng có những doanh nghiệpthua lỗ, điều đó được thể hiện rõ trong bảng sau:
Bảng 2 Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi hoặc lỗ
Doanh nghiệp có lãi Doanh nghiệp lỗ So với tổng số
doanh nghiệp Số
doanh nghiệp
Tổng mức lãi
Lãi
BQ 1 DN
Số doanh nghiệp
Tổng mức lỗ
Lỗ BQ DN
Số DN lãi
Số DN lỗ
Đơn vị tính Doanh
nghiệp
Tỷđồng
Triệuđồng
Doanhnghiệp
Tỷđồng
Triệuđồng
Năm 2008 1279 61017.4 47707 296 -82.2 -278 75.82 17.55Năm 2009 1583 78553.2 49623 723 -1393.7 -1928 62.79 28.68Năm 2010 1786 97407.5 54539 346 -137.1 -396 79.13 15.33
Nguồn: Vụ công nghiệp- Tổng cục thống kê
Nhìn vào bảng thống kê ta có thể thấy: Số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãiluôn tăng lên và mức lãi bình quân 1 doanh nghiệp cũng tăng lên, năm 2010 số doanhnghiệp có lãi tăng 203 doanh nghiệp tương đương tăng 12.82%, đồng thời tổng mức lãicũng tăng lên kéo theo mức lãi bình quân 1 doanh nghiệp cũng tăng lên, cụ thể năm 2010mức lãi bình quân 1 doanh nghiệp là 54539 triệu đồng/ 1DN tăng 4916 triệu đồng so vớinăm 2009 tương đương tăng 9.9% Mặc dù trong trong giai đoạn 2008-2009 Việt Namchịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng với mức những mức tăngnày có thể thấy các doanh nghiệp đã ngày càng thích ứng với sự biến động của nền kinh
tế toàn cầu, đó là một tín hiệu đáng mừng cho nền công nghiệp nói riêng và nền kinh tếcủa Việt Nam nói chung
Cùng với những mức tăng như đã phân tích ở trên thì số doanh nghiệp kinh doanhthua lỗ phản ánh đúng tình hình kinh tế trong giai đoạn này Năm 2009 do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng mà nhiều doanh nghiệp đã rơi vào cảnh hoạt động đình trệ, nặng nềhơn là dẫn đến phá sản Năm 2009 số doanh nghiệp thua lỗ lên tới 723 doanh nghiệp tăng
427 doanh nghiệp so với năm 2008, tuy nhiên đến năm 2010 số đoanh nghiệp thua lỗ chỉcòn 346 doanh nghiệp giảm 377 doanh nghiệp so với năm 2009 ( tương đương với giảm