Một vài đặc điểm của tri thức lịch sử tác động tới việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử Để xác định đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức lịch sử với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
-o0o -
LÊ THỊ KIM CHI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TẠO BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở SƠN LA KHI DẠY BÀI 9: “CÁCH MẠNG MÙA THU” VÀ BÀI 10
“BÁC HỒ ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” SÁCH GIÁO KHOA
LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
-o0o -
LÊ THỊ KIM CHI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TẠO BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở SƠN LA KHI DẠY BÀI 9: “CÁCH MẠNG MÙA THU” VÀ BÀI 10
“BÁC HỒ ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” SÁCH GIÁO KHOA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến
TS Phạm Văn Lực, người đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Tiểu học - Mầm non, Thư viện, Phòng Đào tạo Đại học trường Đại học Tây Bắc, trường tiểu học Quyết Tâm - Sơn La đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện khóa luận
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để đề tài thêm hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Lê Thị Kim Chi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Đối tượng nghiên cứu, pham vi nghiên cứu, mục đích, nhiệm vụ, đóng góp của đề tài 3
3.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu 3
3.2 Giả thiết khoa học 3
3.3 Mục đích, nhiêm vụ nghiên cứu 4
3.4 Đóng góp của đề tài 4
4 Cơ sở tài liệu, phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cơ sở tài liệu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 6
1.1.Cơ sở lí luận 6
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh 16
TIỂU KẾT 20
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG CHO HỌC SINH KHI DẠY LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 21
2.1 Các biện pháp chung để tạo biểu tượng cho học sinh 21
2.2 Áp dụng các biện pháp để tạo biêu tượng cụ thể 28
2.3 Tạo biểu tượng khi dạy bài 9: Cách mạng mùa thu và bài 10: Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập 41
TIỂU KẾT 43
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44
3.1 Mục đích thể nghiệm sư phạm 44
Trang 63.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 44
3.3 Nội dung, phương pháp thực nghiệm 44
3.4 Kết quả thực nghiệm 47
TIỂU KẾT 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nói về con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Muốn xây dựng CNXH trước hết phải có con người XHCN” Để góp phần đào tạo con người mới toàn diện về mọi mặt Đức – Trí – Thể - Mỹ và
Lao động phải có sự đóng góp của tất cả các môn học, trong đó có môn lịch sử
và phải được giáo dục, rèn luyện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, trước
hết ở cấp học Mầm Non - Tiểu học
Trong dạy học lịch sử nói chung, ở cấp học Tiểu học nói riêng, môn học lịch sử trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản về tiến trình phát triển hợp quy luật của lịch sử xã hội loài người và dân tộc, cung cấp cho học sinh những hiểu biết bước đầu nhưng rất quan trọng về các “biểu tượng” lịch sử trên
cơ sở đó góp phần hình thành trong các em tư tưởng, tình cảm, lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa và tự hào dân tộc…đây lại là những phẩm chất cơ bản của con người mới Việt Nam xã hội nghĩa
Do đặc trưng của môn Lịch sử không thể trực tiếp tri giác được các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy ra, không thể tái hiện lịch sử trong phòng thí nghiệm Chính vì vậy, việc tái tạo lịch sử bằng cách tạo biểu tượng đúng đắn, sinh động về các sự kiện, hiện tượng lịch sử vừa là nguyên tắc vừa là biện pháp trong việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giúp cho giờ học thêm sinh động, học sinh hứng thú với môn học
Vì thế, việc lựa chọn: “Tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh dân tộc
thiểu số (HSDTTS) ở Sơn La khi dạy bài 9: Cách mạng mùa thu và bài 10: Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập” SGK Lịch sử và Địa lý lớp 5” làm đề tài
nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh tiểu học đã đươc đề cập trong một số công trình, bài viết cụ thể:
+ “Biểu tượng lịch sử với học sinh tiểu học” của tác giả Trần Văn Lưu
trường THSP Thanh Hóa- Hội Giáo dục Lịch sử (thuộc hội khoa học Lịch sử
Trang 8Việt Nam), khoa Sử trường Đại học Sư phạm (Đại học Quốc gia Hà Nội), trung
tâm nội dung phương pháp (Viện Khoa học Giáo dục), “Đổi mới việc dạy học
lịch sử lấy học sinh làm trung tâm”, Tìm hiểu về một số biện pháp cụ thể hóa
sự kiện, nhân vật lịch sử [6]
+ Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1, 2; Giáo sư Phan
Ngọc Liên (chủ biên), Phó giáo sư Tiến sĩ Trịnh Đình Tùng, Giáo sư Tiến sĩ NguyễnThị Côi, Nhà xuất bản Đại học sư phạm 2010, nêu lên một vài tri thức lịch sử tác động tới việc tạo biểu tượng lịch sử, những vấn đề khái quát nhất về biểu tượng lịch sử Giúp chúng ta hiểu thế nào là biểu tượng lịch sử, vai trò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm để taọ biểu tượng lịch sử [5]
+ Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS
phần lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT” tập 1 phần lịch sử Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên,
cho chúng ta nắm được và lựa chọn các phương pháp phù hợp để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh Vì đặc điểm của tri thức lịch sử ở cấp tiểu học cũng như ở các cấp học cao hơn, chỉ khác là nó ở mức đơn giản hơn nhưng ta
có thể vận dụng [1]
+ Nguyễn Thị Côi, (2011), “Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu
quả bài học lich sử ở nhà trường phổ thông”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Đề cập đến một số biện pháp tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, đặc biệt là tổ chức tham quan học tập ở nhà bảo tàng cách mạng, nhà truyền thống, di tích lịch sử
và từ đó khẳng định vai trò của biện pháp này đó là “làm giàu cho càc em những biểu tượng lịch sử cụ thể và là chỗ dựa để hình thành các kết luận khái quát” [1]
+ Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường, (2003), “Những vấn đề chung
về bộ môn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm”, NXB
Đại học sư phạm, nêu lên vai trò, nhiệm vụ của phân môn lịch sử ở trường phổ thông [3]
+ Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn
Mạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình, (2011), “Rèn luyện kĩ năng
Trang 9nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB Đại học sư phạm nêu lên những kĩ năng
cơ bản mà người GV cần phải có, làm gì để có được những kĩ năng đó [2]
+ Phạm Văn Lực (1996): “ Cải tiến phương pháp dạy học lịch sử phù
hợp các trường phổ thông ở Tây Bắc” - Hội Giáo dục Lịch sử (thuộc hội khoa
học Lịch sử Việt Nam), khoa Sử trường Đại học Sư phạm (Đại học Quốc gia Hà
Nội), trung tâm nội dung phương pháp (Viện Khoa học Giáo dục), (1996), “Đổi
mới việc dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm”, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, để ra cách thức, nhiệm vụ cần làm để đối mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực lấy HS làm trung tâm, ý nghĩa của phương pháp này đối với kết quả giảng dạy [7]
+ Về việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử đã được đề cập khá rõ trong
cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên –
Trịnh Đình Tùng – Nguyễn Thị Côi – Trần Vĩnh Tường đồng chủ biên Bài viết của tiến sĩ Đặng Văn Hồ - Khoa lịch sử - Đại học sư phạm – Đại học Huế với
nhan đề “tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử để giáo dục tư tưởng, tình cảm
cho học sinh” đã nêu lên những lí luận cơ bản về tạo biểu tượng nhân vật lịch
sử, vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử, các nguyên tắc
và một số biện pháp cụ thể [4]
3 Đối tƣợng nghiên cứu, pham vi nghiên cứu, mục đích, nhiệm vụ, đóng góp của đề tài
3.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu
Học sinh khối 5 trường Tiểu học Quyết Tâm- thành phố Sơn La – tỉnh Sơn La
3.2 Giả thiết khoa học
Hiện nay việc tạo biểu tượng cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường Tiểu học còn chưa được chú trọng và kết quả chưa cao Nếu đưa ra một số giải pháp cho việc việc tạo biểu tượng ở trong các bài học nhằm đổi mới phương pháp dạy học để giúp các em khắc sâu kiến thức hơn, từ đó đạt kết quả học tập cao hơn
Trang 103.3 Mục đích, nhiêm vụ nghiên cứu
3.3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về vấn đề tạo biểu tượng lịch sử cho HSDTTS ở Sơn La khi dạy
“ bài 9 Cách mạng mùa thu và bài 10 Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập”
3.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua nghiên cứu đề tài nhằm:
- Tìm hiểu vai trò của biểu tượng trong dạy học lịch sử ở trường Tiểu học
- Tìm hiểu thực tế của việc sử dụng biểu tượng trong dạy học ở các trường tiểu học hiện nay
- Tìm hiểu nội dung chương trình, SGK Lịch sử và Địa lý lớp 5
- Phương pháp tạo biểu tượng lịch sử cho HSDTTS trong SGK Lịch sử
4 Cơ sở tài liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở tài liệu
- Để thực hiện khóa luận này, tôi đã sử dụng các tài liệu lưu trữ ở trung ương và địa phương kết hợp khai thác các tài liệu đã được công bố trong các công trình nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa trong danh mục tài liệu tham khảo
- SGK Lịch sử và Địa lí lớp 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là nghiên cứu lí luận và điều tra thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc tham khảo tài liệu, phân tích tổng hợp hóa, khái quát hóa các vấn đề tài liệu liên quan để lá cơ sở lí luận cho đề tài
Trang 11- Phương pháp điều tra thực tiễn: Với mục đích tìm hiểu thực trạng học tập Lịch sử nói chung và việc sử dụng biểu tượng trong dạy học Lịch sử nói riêng tôi đã tiến hành quan sát, phỏng vấn đàm thoại với một số giáo viên và học sinh lớp
5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biên pháp tạo biểu tượng cho học sinh khi dạy lịch
sử ở trường Tiểu học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG
LỊCH SỬ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Mục tiêu, nhiêm vụ của phân môn Lịch sử ở trường phổ thông
Theo Nghị quyết của Đại hội X (năm 2006) mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Nhiều văn kiện chính trị cũng khẳng định mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo những con người có năng lực, phẩm chất, đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ Trong giai đoạn hiện nay mục tiêu đào tạo là xây dựng nên con người Việt Nam XHCN
Để đạt được mục tiêu trên mỗi môn học có vai trò, vị trí nhất định, trong đó phân môn Lịch sử có ưu thế đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, hình thành thế giới quan cho thế hệ trẻ Phần lịch sử trong môn Tự nhiên và Xã hội có 3 nhiệm vụ cơ bản: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Cùng với các môn học khác phân môn lịch sử với chức năng và nhiệm vụ của mình góp phần tích cực cùng xã hội hoàn thành sứ mạng giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện hiên nay
Phần lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học lịch
sử, trang bị cho các em hiểu biết ban đầu, tương đối có hệ thống về quá trình phát triển lịch sử với những nhân vật, sự kiện năm tháng nổi bật ở từng thời kì lịch sử khác nhau của dân tộc Dạy lịch sử giúp các em có những biểu tượng về lịch sử nhờ đó thấy được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, nhớ
Trang 13được các công lao của các anh hùng dân tộc Qua đó, học sinh hiểu rõ hơn lịch
sử dân tộc, thêm yêu mến các vị anh hùng dân tộc
Môn học Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh.Ví như phần địa lí dạy cho học sinh hiểu rõ đất nước mình để tăng thêm lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, có ý thức bảo vệ thiên nhiên Song phần lịch sử lại có những ưu thế riêng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh mà ở những môn khác không
có được
Những con người và những việc làm của quá khứ sẽ có sức thuyết phục, có
sự rung cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ Những tấm gương anh dũng tuyệt vời của các chiến sĩ đấu tranh và hi sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc đều nêu gương cho học sinh học tập, suy nghĩ về trách nhiệm của mình đối với đất nước Sự tàn
ác dã man, sự phản phúc của bè lũ cướp nước và bán nước sẽ gây cho học sinh
sự căm phẫn Cảnh sống lầm than và sự đấu tranh quật khởi của những người người nghèo khổ, những số phận bị áp bức của dân tộc thuộc địa sẽ khơi dậy cho học sinh sự đồng tình, đồng cảm sâu sắc
Lịch sử không chỉ giáo dục học sinh tình cảm yêu ghét trong đấu tranh giai cấp mà còn bồi dưỡng cho học sinh biết yêu quí trân trọng lao động và các giá trị lao động, yêu cái đẹp có óc thẩm mỹ, biết cách ứng xử đúng đắn trong cuộc sống hàng ngày
Như vậy tác dụng của lịch sử là giáo dục thái độ học sinh ham học hỏi, tìm hiểu kiến thức trong học tập và vận dụng vào cuộc sống, hình thành tình cảm gắn bó, yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc Tôn trọng, giữ gìn, bảo
vệ các giá trị văn hóa mà ông cha ta đã xây dựng
Trang 14- Phát triển khả năng đặt câu hỏi, đưa ra thắc mắc, nghi vấn trong quá trình học tập và lựa chọn các thông tin để giải đáp Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh
- Nhận biết đúng các sự kiên, sự vật lịch sử Có kiến thức hiểu biết đúng đắn về lịch sử, các em sẽ có vốn hiểu biết về các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc
Ví dụ: Sự kiện ngày 2 – 9 – 1945 có ý nghĩa to lớn đối với dân tộc ta, là ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa
- Khả năng diễn đạt, trình bày các quan điểm bằng nhiều hình thức khác nhau:
sơ đồ, tranh ảnh, ngôn ngữ… Những bài học lịch sử cần sử dụng nhiều tranh ảnh sơ đồ…để tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, các em được làm quen tiếp xúc nhiều với các phương tiện đó nên học sinh có được khả năng vận dụng tốt
- Khả năng vận dụng những hiểu biết vào cuộc sống
Như vậy, mục tiêu của phần lịch sử trong môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học là cung cấp kiến thức cơ bản ban đầu về lịch sử của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho các em và phải được thực hiện một cách hoàn chỉnh các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên có nhiều yếu tố chi phối, tác động
đó là sự quan tâm của xã hội với lịch sử, sự đầu tư trang thiết bị dạy học Song yếu tố quyết định là vấn đề phương pháp dạy học lịch sử Gần đây liên tục có những hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Trong đó các nhà giáo dục khá quan tâm đến việc tạo biểu tượng cho học sinh Tiểu học khi dạy lịch sử nhằm gây hứng thú học tập và khắc sâu kiến thức
1.1.2 Vai trò của biểu tượng trong dạy học lịch sử ở trường Tiểu học
1.1.2.1 Một vài đặc điểm của tri thức lịch sử tác động tới việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử
Để xác định đúng đắn các biện pháp sư phạm nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức lịch sử với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức lịch sử có những đặc điểm rất nổi bật, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, sự thống nhất giữa “sử” và “luận”
Trang 15* Tính quá khứ
Lịch sử là quá trình hợp quy luật của xã hội loài người từ lúc con người và xã hội hình thành đến nay Tất cả những hiện tượng lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ Đây là điều khác biệt giữa hiện tượng lịch sử với những hiện tượng tự nhiên Bởi vậy, người ta không trực tiếp quan sát được lịch sử quá khứ mà chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại, hoặc giả, dựa vào các hiện tượng lịch sử tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề lịch sử mà chúng ta đang nghiên cứu; dùng các tài liệu này để tham khảo chứ không để thay thế hiên tượng lịch sử khách quan mà chúng ta đang nghiên cứu Và như vậy, trong việc giảng dạy lịch sử có những khó khăn nhất định, song xét từ góc độ khác, nó cũng mang lại cho việc giảng dạy lịch sử những ưu thế mà bộ môn khác không thể có được; chẳng hạn, nó rất có ích cho chúng ta bồi dưỡng trí tượng tượng của học sinh (tất nhiên trí tưởng tượng tái tạo này khác với
sự tưởng tượng sáng tạo, hư cấu trong văn học nghệ thuật, tuy rằng cả hai loại tưởng tượng đều xuất phát từ hiện tượng khách quan và phản ánh sự chân thực của quá khứ với những hình thức, phương tiện phù hợp với bộ môn)
* Tính không lặp lại
Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định, trong những thời gian và không gian khác nhau Không có một
sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra cùng thời điểm, trong các thời kì khác nhau là hoàn toàn giống nhau; dù có điểm giống nhau; lặp lại mà là sự kế thừa, phát triển, “sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại” [5] Đời sống của xã hội loài người, cũng như của mỗi dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình đã trải qua những sự thay đổi lớn lao Tất cả mọi lĩnh vực từ trình độ sản xuất, chế
độ chính trị, quan hệ xã hội, đến ăn, ở, đi lại, tư tưởng triết lí, đạo đức đều đã trải qua những biến cố không ngừng
Chính điều này buộc các nhà giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử phải xem xét tính cụ thể gian và cả về thời gian
Trang 16và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó Qua đó nhận thấy các sự kiện lịch sử cụ thể, riêng biệt song có mối quan hệ với kế thừa
Ví dụ: Các Việt Nam trải qua tiến trình lịch sử từ thời nguyên thủy, xã hội phong kiến, rồi đến xã hội chủ nghĩa song ở một số nước tư bản như Pháp, Mĩ lại có chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ tư bản chủ nghĩa nó không nhảy vọt như nước ta
Thậm chí cùng một loại hình kinh tế - xã hội, các dân tộc, quốc gia khác nhau cũng có các mặt kinh tế, thể chế nhà nước, hình thái ý thức khác nhau, mang sắc thái riêng Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn bấy nhiêu
Ví dụ: Chế độ phong kiến ở Việt Nam khác với chế độ phong kiến ở Trung Quốc
Trang 17Điều này đòi hỏi người giáo viên phải luôn luôn chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trước sau của vấn đề lịch sử cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa để cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh, nêu được cái lôgic (cái bản chất, cái lõi của lịch sử), dễ hiểu (cái lôgic)
* Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”
Sử học là một ngành của khoa học xã hội Nó xuất hiện từ rất sớm Từ trước đến nay, nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng Họ ghi chép lại nhiều sự kiện lịch sử và hiện tượng lịch sử mà họ cho rằng
có ý nghĩa quan trọng, nhằm để lại cho hậu thế những trước tác lịch sử quí báu
Họ đã tích lũy được những tư liệu lịch sử phong phú và cũng trình bày những quan điểm tư tưởng về sử học và phương pháp giải quyết những vấn đề lịch sử Những ghi chép về quá trình phát triển xã hội loài người từ những góc độ khác nhau đó đều là những nội dung quan trọng của di sản văn hóa nhân loại Thế nhưng, lí luận lịch sử cũng như quan điểm lịch sử trước khi có chủ nghĩa Mác,
về cơ bản đều xuất phát từ lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột C Mác và Ph Ăngghen là những người đầu tiên vạch ra được quy luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người Các ông đứng trên lập trường của giai cấp
vô sản, vận dụng những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng giữa sức sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, từ đó vạch ra quá trình nói chung của sự phát triển tuần tự các hình thái kinh tế xã hội, đã chứng minh: lao động sản xuất và đấu tranh giai cấp là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của xã hội, rằng quần chúng nhân dân là người sáng tạo thực sự của lịch sử Và như vậy, sử học mới bắt đầu trở thành một khoa học thực sự, chân chính
Mặt khác, do mục tiêu lí tưởng đấu tranh của giai cấp vô sản cùng với sự phát triển hợp qui luật của lịch sử mà nhân dân lao động, và giai cấp vô sản đã trân trọng sự thật lịch sử, đấu tranh cho quan điểm, đường lối của giai cấp vô sản
mà đại diện là Đảng Cộng sản chân chính theo chủ nghĩa Mác Vì vậy, việc nghiên cứu và dạy học lịch sử đấu tranh chống sự xuyên tạc lịch sử của các giai
Trang 18cấp bóc lột cần dựa vững chắc vào những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để quan sát, nghiên cứu quá trính phát triển của xã hội loài người thì những nhận định, kết luận rút ra mới đảm bảo tính khoa học, vận dụng có hiệu quả vào cuộc sống Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử người giáo viên phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích bình luận Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể chính xác, đáng tin cậy và không có sự kiện, hiện tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện hiện tượng đó Đó là sự thống nhất giữa tính khoa học và tính đảng của nghiên cứu và dạy học lịch sử theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.2.2 Đặc điểm của nhận thức lịch sử
Quá trình học tập lịch sử cũng như một quá trình nhận thức cho nên việc nhận thức môn học này cũng tuân thủ theo quy luật chung của nhận thức: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn Song xuất phát từ những đặc trưng của môn lịch sử mà quá trình nhận thức lịch
sử cũng có những đặc điểm riêng
Trong học tập lịch sử, học sinh không thể trực tiếp quan sát (trực quan sinh động) đối tượng nghiên cứu như trong học tập các mon khoa học tự nhiên Trong việc học tập lịch sử, không thể tiến hành các thí nghiệm để tái hiện lịch sử quá khứ khách quan (trừ một vài trường hợp đặc biệt, với những hình thức phù hợp với bộ môn, như đóng vai, diễn kịch, tranh ảnh….)
Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp vì con người là một bộ phận không thể tách rời được của đối tượng nghiên cứu – xã hội loài người Chương trình lịch sử cấu tạo các sự kiện từ quá khứ đến hiện tại, mà trình độ nhận thức phù hợp với trình độ học sinh phải từ gần đến xa do đó học sinh dễ rơi vào tình trạng
“hiện đại hóa” lịch sử
Do những đặc điểm như vậy, quá trình lịch sử bắt đầu từ việc nắm các sự kiện Khoa học chân chính khác với các quan niệm duy tâm ở chỗ nó dựa trên
các sự kiên chân thực: “Bất cứ lĩnh vực khoa học trong lĩnh vực tự nhiên cũng
như xã hội, lịch sử phải xuất phát từ sự kiện chúng ta biết được” [5]
Trang 19Từ những điều đã nói ở trên việc tổ chức dẫn dắt học sinh tạo biểu tượng lịch
sử là cái chốt để đi vào khám phá lịch sử
1.1.2.3 Khái quát về biểu tượng
Biểu tượng là khái niệm được giải thích ở các mức độ và lĩnh vực nhận thức khác nhau Theo tâm lí học, biểu tượng là biểu tượng của kí ức Tức là những hình ảnh của các sự vật, hiện tượng không phải đang được tri giác mà là đã được tri giác trước đây Trong quá trình tri giác thế giới khách quan, con người phản ánh sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng các hình ảnh và sự phản ánh đó mang tính trực quan Các hình ảnh trực quan đó luôn tác động lên các cơ quan thụ cảm khác nhau của hệ thần kinh con người và được duy trì một khoảng thời gian nhất định trong ý thức của họ Với quan niệm trên P A Ruđích cho
rằng biểu tượng là “Những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh được giữ
lại trong ý thức và hình ảnh trên cơ sở tri giác và cảm giác xảy ra trước đó” [5]
Tuy nhiên, trong thưc tế các biểu tương thường mê nhát hơn các tri giác và những dấu hiệu về các sự vật, hiện tượng đã tri giác được có thể không có trong biểu tượng Quá trình tri giác luôn mang tính trực quan cụ thể Các hình ảnh của biểu tượng phản ánh đặc điểm bên trong của sự vật.Đó là nhận thức của hoạt động tư duy Như vậy, theo tâm lí học biểu tượng là những hình ảnh trực quan nảy sinh trong não người về những sự vật và hiện tượng đã được tri giác trước đây
Do đặc trưng của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh động Vì lịch sử là những cái đã qua, không thể trực tiếp quan sát quá khứ cũng như tái tạo lại nó trong phòng thí nghiệm như toán học … Bởi vậy, việc học tập lịch sử phải bắt đầu từ việc nắm các sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Trong học tập lịch sử không có biểu tượng nảy sinh từ trực giác đối với các sự kiện, hiện tượng lịch sử Mà việc hình thành nên những biểu tượng lịch
sử phải dựa trên những sự kiện, hiện tượng đã được con người nhận thức từ trước để nhằm tái tạo lại một cách chính xác và sinh động
Ví dụ: Khi tạo biểu tượng lịch sử về không gian địa lí Điện Biên Phủ trong chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 Chúng ta không được trực tiếp
Trang 20quan sát trận địa Điện Biên Phủ tại thời điểm đó giữa ta và địch như thế nào Muốn tạo biểu tượng chúng ta phải sử dụng những hình ảnh, ghi chép lại…khi
đó biểu tượng lịch sử sẽ được hình thành dựa trên cơ sở của sự tri giác gián tiếp
Với những quan điểm trên , có thể định nghĩa biểu tượng lịch sử “Là hình
ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý v.v… được phản ánh
trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [5] Như vậy, nội
dung của một sự kiện lịch sử được học sinh nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng những hoạt động của các giác quan: thị giác tạo nên những hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của giáo viên…
Cũng như biểu tượng nói chung, biểu tượng lịch sử tái hiện những đặc trưng cơ bản của sự kiện, hiện tượng lịch sử Tuy nhiên, việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng lại ở miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sụ kiện để tiến tới việc nắm khái niệm lịch sử Vì vậy, biểu tượng lịch sử rất gần với khái niệm sơ đẳng (còn gọi là khái niệm đơn giản) Nói cách khác, biểu tượng lịch sử là cơ sở để hình thành khái niệm
Có nhiều cách phân lọai biểu tượng lịch sử Cụ thể các biểu tượng sau:
- Biểu tượng về hoàn cảnh địa lý
Một sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một không gian nhất định Không gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn hoặc diễn ra ở phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh hay một cuộc khởi nghĩa Vì vậy tạo biểu tượng về hoàn cảnh địa lý nơi xảy ra sự kiện là yêu cầu trong dạy học lịch sử để xác định không gian lịch sử
- Biểu tượng về văn hóa vật chất
Đó là những hình ảnh về những thành tựu của loài người trong việc chế ngự thiên nhiên, trong lao động sáng tạo sản xuất ra của cải vật chất cũng như văn hóa tinh thần của xã hội loài người
Trang 21- Biểu tượng về nhân vật chính diện cũng chư phản diện, những đại biểu điển hình của một giai cấp, một tập đoàn xã hội, những nhân vật kiện xuất
- Biểu tượng về thời gian, về những quan hệ xã hội của con người
Những biểu tượng lịch sử nêu trên không tách rời nhau mà có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một hệ thống trọn vẹn về một bức tranh lịch sử Để dạy học lịch sử có hiệu quả thì cần phải có biện pháp để tạo các biểu tượng này được sụ thể, chính xác và sinh động
Ví dụ: Khi nói về chiến dịch Điện Biên Phủ khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” (SGK lớp 5) giáo viên phải cho học sinh có đầy đủ biểu tượng
về thời gian tồn tại của cuộc kháng chiến, về địa hình…
1.1.2.4 Biểu tượng trong dạy học lịch sử với học sinh tiểu học
Do đặc điểm của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trực quan sinh động mà từ việc nắm tài liệu, sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Tuy vậy, việc học tập lịch sử cũng tuân thủ quy luật chung của quá trình nhận thức: qua hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính Có thể nói tạo biểu tượng là giai đoạn nhận thức cảm tính
“Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiên, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lí v.v… được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” Do đó phải sử dụng các phương tiện trực quan kết hợp lời giảng giải
của giáo viên để tái hiện lại sự kiện lịch sử
Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh tiểu học là một vấn đè khó khăn vì yêu cầu cơ bản của dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những hình ảnh về các sự kiện đúng như nó tồn tại, mà những sự kiện đó, học sinh lại không được trực tiếp quan sát, xa lạ với đời sống hiện nay, với kinh nghiệm và hiểu biết của các
em Vì vậy, trong tạo biểu tượng, giáo viên phải làm cho các sự kiện lịch sử khách quan xích lại gần với khả năng hiểu biết của các em
Vai trò, ý nghĩa to lớn của việc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử trước tiên ở chỗ nó là cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử Nội dung của các hình ảnh lịch sử, của bức tranh quá khứ càng phong phú bao nhiêu thì hệ thống kinh nghiệm mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu Việc tạo biểu
Trang 22tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện, nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện Vì vậy, biểu tượng rất gần với khái niệm đơn giản Việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo dục lớn đối với học sinh, vì thông qua những hình ảnh cụ thể, sinh động, có sức gợi cảm mới tác động mãnh mẽ tới tư tưởng tình cảm của các em Tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử nhằm các mục đích sau:
- Tái tạo hình ảnh của những sự kiện xảy ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: về đời sống vật chất (công cụ lao động, nghề nghiệp, hoạt động sản xuất của con người…), về đời sống xã hội, cơ cấu hoạt động của Nhà nước, đấu tranh giai cấp…, về các nhân vật lịch sử, về đời sống tinh thần văn hóa…
- Tạo nên sự nhận thức cụ thể về thời gian, trong đó diễn ra các sự kiện lịch
sử, về sự phát triển đi lên hợp lôgic của lịch sử xã hội loài người cũng như của dân tộc
- Xác định được không gian diễn ra các sự kiện lịch sử, qua đó học sinh nhận thức đúng về vai trò của hoàn cảnh địa lí, mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội qua các giai đoạn khác nhau của sự phát triển xã hội loài người
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tạo biểu tƣợng lịch sử cho học sinh
Mặc dù thời lượng dành cho phân môn lịch sử không nhiều so với môn học khác chỉ 1 tiết/ tuần, nhưng môn Lịch sử đã có những đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của nền giáo dục Việt Nam Đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong thời gian qua việc dạy học lịch sử đã đạt được những thành tựu đáng kể:
Thứ nhất: Nội dung chương trình luôn được điều chỉnh, bổ sung, cập nhật bắt
kịp với sự phát triển của khoa học lịch sử Chương trình SGK được giảm tải, hoàn thiện đảm bảo cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử đày đủ, chính xác và hệ thống qua đó làm rõ các giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc
Thứ hai: Nhiều giáo viên đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng các
phương pháp, phương tiện dạy học mới để tạo hứng thú lịch sử cho học sinh,
Trang 23chú ý cách trình bày miệng sao cho sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh để lôi cuốn học sinh; cố gắng kết hợp nhiều phương pháp trong một giờ học để thay thế cho một phương pháp truyền thống là phương pháp thuyết trình; áp dụng phương pháp dạy học mới phát huy tính cực học tập của học sinh: dạy học theo nhóm, dạy học nêu vấn đề….Giáo viên cũng chú trọng đến sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học: Power point, Violet…tạo ra húng thú học tập lịch sử cho học sinh
Thứ ba: Hằng năm có nhiều cuộc thi lịch sử được tổ chức: Thi học sinh giỏi
môn lịch sử các cấp… đem lại thành công to lớn, phát hiên ra nhiều nhân tài cho đất nước Nhiều cuộc thi tìm hiểu lịch sử được phát động trên các phương tiện truyền thông đại chúng: “Theo dòng lịch sử”, Thi tìm hiểu và học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… thu hút được sự quan tâm, tham gia và hưởng ứng đông đảo của quần chúng Đó là những tín hiệu đáng mừng cho các nhà giáo dục lịch sử Tuy nhiên quá trình dạy học lịch sử vẫn còn đang tồn tại những bất cập và hạn chế lớn chưa thể khắc phục:
Một hiện trạng rất đáng buồn là trong những năm gần đây có hiện tượng
“dân ta” không biết “sử ta” Trong thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan chất lượng dạy học lịch sử ngày càng giảm sút đến mức báo động Các phương tiện truyền thông đại chúng đã lên tiếng về tình trạng giảm sút chất lượng một cách nghiêm trọng của môn lịch sử
Rất nhiều học sinh không có hứng thú học tập môn lịch sử Bên cạnh đó phương pháp dạy học chậm được đổi mới phương pháp mà giữ khư khư phương pháp dạy học kiểu “thầy đọc – trò ghi”
Đặc biệt, Tây Bắc là địa phương miền núi có địa hình phức tạp và hiểm trở Sự giao lưu đi lại trong vùng và giữa Tây Bắc với các địa phương trong nước khó khăn Tây Bắc có 23 dân tộc anh em sinh sống: Thái, Khơ mú, Lự, Mường, Tày, Hoa, Kinh …,người Thái chiếm 70% dân số[7] Trình độ văn hóa – xã hội, dân trí còn thấp.Thông tin sách báo, tài liệu, nhất là sách phục vụ giáo dục và sách dùng cho trẻ em còn thiếu nghiêm trọng
Trang 24Giáo dục nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, ở một địa phương miền núi
mà kinh tế, văn hóa xã hội chậm phát triển, điều kiện phục vụ giảng dạy học tập thiếu thốn như vậy nên khó đạt chất lượng cao
Học sinh dân tộc ở Tây Bắc có một đặc thù nổi bật là có ngôn ngữ, phong tục tập quán và trình độ nhận thức khác nhau Do quan hệ xã hội hạn hẹp, nghèo
về thông tin, sự giao tiếp, hoạt động vui chơi hòa đồng vào thế giới trẻ em không rộng rãi nên học sinh Tây Bắc thiếu hẳn sự bạo dạn tự nhiên, vốn am hiểu về lĩnh vực văn hóa còn hạn chế Ngoài ra, những phong tục tập quán, truyền thống cộng đồng làng bản, tâm lí dân tộc cũng trực tiếp chi phối đến học sinh các dân tộc Tây Bắc, nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng sâu xa như Dáy, Khơ mú,… Các em nhận thức được những vấn đề cụ thể, chi tiết, còn những khái niệm, thuật ngữ khoa học, hoặc những vấn đề trừu tượng chung thì tiếp nhận chậm Có khi do kém linh hoạt, do hạn chế về khả năng phán đoán suy luận nên các em nhận thức sai lệch nôi dung vấn đề Ngoài ra, vốn tiếng phổ thông của nhiều em còn nghèo nên trong lĩnh hội tri thức bài học khó nắm bắt hết được ý nghĩa của những khái niệm, thuật ngữ lịch sử Cũng như cái hay cái đẹp của tiếng Việt Tuy nhiên, Tây Bắc là mảnh đất lịch sử văn hóa Nhân dân các dân tộc Tây Bắc có truyền thống lâu đời gắn liền với truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Các dân tộc Tây Bắc có một nền văn hóa phát triển rực rỡ, đậm đà bản chất dân tộc, với những tinh hoa văn hóa độc đáo thể hiện trong nghệ thuật kiến trúc với những đường nét mặt phà, trong những sinh hoạt nghi lễ, phong tục tập quán Những tinh hoa văn hóa đó đã đóng góp to lớn vào kho tàng văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam
Dạy học lịch sử ở Tây Bắc không chỉ dừng ở việc làm các em nắm một vài sự kiện, hiểu một cách chung chung về lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại,
mà phải giúp các em thấy được truyền thống lịch sử và văn hóa của chính quê hương mình Từ đó khơi dậy ở các em lòng tự hào chân chính về quê hương đất nước, làm cho các em thêm gắn bó với quê hương bản mường Vì thế, trong dạy
Trang 25học lịch sử ở Tây Bắc phải chú ý kết hợp vào truyền thụ tri thức với giáo dục truyền thống, nhất là truyền thống yêu quê hương bản mường
Tìm hiểu đặc điểm của dạy học lịch sử ở Tây Bắc và nắm chắc những đặc điểm của địa phương, chúng ta thấy được cái chung và cái riêng của quá trình dạy học lịch sử.Từ đó gợi mở phương pháp đổi mới về nội dung cung như phương pháp dạy học lịch sử cho phù hợp với thực tế địa phương Do chưa nhận thức được điều này nên việc dạy học lịch sử địa phương cho học sinh dân tộc còn chưa được chú ý.Trong khi đó Tây Bắc lại là địa phương có nhiều lợi thế về lịch sử cần phải nghiên cứu giảng dạy nhất là về truyền thống lịch sử và văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Nhiều địa phương thuộc Sơn La, Điện Biên có nhiều địa danh nổi tiếng như nhà tù Sơn La, Điện Biên Phủ, có nhiều di tích lịch sử - cách mạng quí như chiến trường Điện Biên Phủ, tượng đài kỉ niệm Bác Hồ lên thăm Tây Bắc 1959… Một số trường Thuận Châu có phong trào giáo dục mạnh (30% tổng số trường đã tổ chức hoạt động ngoại khóa và giảng dạy lịch sử địa phương nhưng chất lượng, hiệu quả giáo dục còn thấp) [7] Các phương pháp dạy học lịch
sử được sử dụng phổ biến ở Tây Bắc là các phương pháp “truyền thống”, đặc biệt
là cảnh “thông báo” kiến thức theo kiểu dạy dồn, dạy ép, nhồi nhét kiến thức
Do qui mô trường ở vùng cao nhỏ, số giáo viên ít nên nhiều người phải đảm nhận dạy nhiều môn Trong trường hợp này chỉ lo có kiến thức dạy, chứ chưa nói đến phương pháp dạy học sao cho học sinh tiếp thu bài nhanh và nắm chắc được kiến thức Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay trong giáo dục nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là phải có sự đổi mới và lựa chọn phương pháp phù hợp với đối học sinh dân tộc ở vùng núi cao
Trong những năm qua Sở giáo dục Sơn La đã thường xuyên tổ chức các cuộc thi giáo viên giỏi cấp tỉnh Một trong những mục tiêu mà ban tổ chức đề ra đánh giá chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên và việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc Tây Bắc Kết quả đạt được rất phấn khởi, nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ nhiều hạn chế về
sự vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc ở
Trang 26một địa phương dân tộc miền núi nghèo, chậm phát triển, thiếu các điều kiện cơ
sở vật chất cho giáo dục nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng
Đối với một địa phương miền núi như Tây Bắc, đối tượng học sinh chủ yếu là con em các dân tộc thiểu số có nét đặc thù về tư chất và trình độ nhận thức như đã trình bày ở trên, muốn dạy học lịch sử đạt chất lượng theo mục tiêu giáo dục hiện nay đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu nắm vững nội dung chương trình và bài học từ đó có phương pháp dạy học phù hợp Trong đó để dạy tốt phân môn Lịch sử cho học sinh thì việc tạo biểu tượng lịch sử có một vai trò quan trọng
TIỂU KẾT
Tạo biểu tượng cho học sinh giúp học sinh có thể cụ thể hóa các sự kiện, khắc phục được hiện tượng “hiện đại hóa” lịch sử Học sinh học xong một sự kiện lịch sử chỉ là học thuộc lòng kiểu học gạo, không hiểu bản chất sâu sắc các
sự kiện, không nắm vững các qui luật phát triển xã hội Kết quả trong những giờ học trên không giúp học sinh nhớ kĩ, nhớ lâu, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử, không giúp các em phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy về ngôn ngữ của học sinh Những giờ học trên là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh không thích học môn Lịch sử
Trang 27CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO BIỂU TƯỢNG CHO HỌC SINH KHI
DẠY LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học lịch sử, nhận thấy rằng thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học lịch sử ở Tiểu học
và học sinh chưa có hứng thú học lịch sử Vì vậy khắc phục những khó khăn
đó là điều thiết thực và việc tìm ra những biện pháp phù hợp cũng là vấn đề hết sức cấp bách
2.1 Các biện pháp chung để tạo biểu tượng cho học sinh
2.1.1.Thông qua miêu tả, tường thuật để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử
Miêu tả: là một cách trình bày miệng trong dạy học lịch sử Miêu tả là
diễn đạt, trình bày những đặc trưng của một sự vật, một sự kiện lịch sử để nêu lên những nét bản chất chủ yếu cấu tạo bên trong cũng như hình dáng bên ngoài của chúng Khác với tường thuật, miêu tả không có chủ đề mà chỉ có đối tượng
cụ thể cần trình bày
Với đặc điểm là tập trung vào một đối tượng cụ thể để trình bày, bởi vậy
mà thông qua miêu tả có thể khái quát nên những nét cơ bản nhất về đối tượng cần trình bày, bên cạnh rất nhiều các biện pháp khác thì miêu tả có tác dụng đặc biệt đối với việc tạo biểu tượng lịch sử
Có hai loại miêu tả thường được sử dụng: miêu tả toàn cảnh và miêu tả phân tích:
+ Miêu tả toàn cảnh nhằm khắc họa bức tranh về đối tượng và sự kiện, qua đó làm nổi bật đặc điểm, dấu hiệu mang tính bản chất của nó
+ Miêu tả phân tích không nhằm khắc họa bức tranh trọn vẹn đối tượng
mà chỉ đi vào một, một vài đặc điểm chủ yếu Miêu tả phân tích được dung phổ biến hơn
Tường thuật: là một trong những cách trình bày miệng quan trọng của
việc dạy học lịch sử, nhằm tái hiện cho học sinh những biến cố lịch sử hay một
sự kiện quan trọng với đầy đủ tính cụ thể về những hoạt động của quần chúng nhân dân của một nhân vật lịch sử Tường thuật được sử dụng trong nhiều
Trang 28trường hợp khác nhau: khi trình bày một biến cố lịch sử quan trọng, có ý nghĩa lớn về giáo dục, nhận thức và phát triển kĩ năng, khi cần tạo cho HS biểu tượng chính xác về một sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử… trong rất nhiều trường hợp được sử dụng tường thuật đặc biệt có tác dụng với việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử, góp phần nâng cao tính giáo dục trong dạy học lịch sử Tường thuật bao giờ cũng có chủ đề, có tình tiết nhất định nhằm kích thích trí tưởng tượng của học sinh Một bài tường thuật được xây dựng trên SGK Cấu tạo của một bài tường thuật bao gồm: mở đầu, tình tiết phát triển, tình tiết phát triển đỉnh cao, sự căng thẳng trong kết cấu, tình tiết giảm đi và kết thúc
Mở đầu bài tường thuật GV thu hút HS ngay vào cốt truyện, để các em tập trung chú ý và hứng thú theo dõi câu chyện Người GV trình bày tình tiết phải gợi cảm gây xúc động đồng thời tạo biểu tượng rõ ràng chân thật Tong khi trình bày tình tiết GV có thể phân tích để HS hiểu sâu hơn nội dung, bản chất sự kiện Khi tình tiết đã căng thẳng nên dừng lại vài giây đặt câu hỏi đưa các em vào tình huống xem xét nếu đặt mình trong bối cảnh đó em sẽ giải quyết như thế nào? Sau đó mới đi đến kết thúc bài tường thuật
Một bài tường thuật vừa mang nội dung khoa học chính xác, lại vừa có tính chất văn học khá cao, đòi hỏi người GV phải chuẩn bị công phu, xây dựng một bài tường thuật tạo biểu tượng nhân vật lịch sử cho HS yêu cầu GV phải biết chọn đúng sự kiện cần trình bày, tường thuật những nét kiến thức mới, bổ ích phù hợp với trình độ nhận thức của HS, trình bày mạch lạc, rõ ràng, kết hợp các hình thức trình bày miệng khác với các phương tiện dạy học
2.1.2 Sử dụng đồ dùng trực quan để tạo biểu tượng lịch sử
một nguyên tắc cơ bản trong lí luận dạy học, nhằm tạo cho HS những biểu tượng
và hình thành các khái niệm trên cơ sở quan sát trực tiếp hiện vật hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật
Xuất phát từ đặc điểm của tri thức, nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không trực tiếp quan sát các sự kiện, mà chỉ qua kênh chữ thì HS không hiểu nên phải kết hợp với đồ dùng trực quan để đạt kết quả cao trong dạy học
Trang 29Nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học, cùng với cung cấp kiến thức, tạo biểu tượng chính là giúp HS trực quan sinh động những sự kiện, hiện tượng lịch sử và là khâu đầu tiên giúp HS ghi nhớ
và hiểu sự kiện, hiện tượng lịch sử Việc tạo biểu tượng thông qua đồ dùng trực quan sẽ giúp HS có những hình ảnh chính xác về sự kiện, hiện tượng lịch sử giúp HS ghi nhớ và hiểu sự kiện, khắc phục được tình trạng hiện đại học lịch sử
Đồ dùng trực quan là một biện pháp quan trọng để thực tái hiện lại lịch
sử, là cách thức, phương pháp con đường đổi mới, nâng cao chất lượng dạy học Như vậy chúng ta có thể thấy việc sử dụng đồ dùng trực quan có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo biểu tượng lịch sử Theo thống kê năm 2002 việc lưu giữ thông tin qua hành động thì: nghe 15%, nhìn 25%, nghe nhìn 65%, tự trình bày 75%, tự hoạt động (90% thông tin) [10] Có nhiều loại đồ dùng trực quan khác nhau, cách sử dụng khác nhau song đều có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong nhà trường tiểu học và có ý nghĩa trên cả ba mặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển kĩ năng đối với HS:
Về mặt giáo dưỡng: việc sử dụng đồ dùng trực quan là biện pháp quan trọng trong việc giúp HS nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch
sử Hình ảnh được lưu giữ đặc vững trong trí nhớ là hình ảnh mà chúng ta thu được bằng trực quan Ngoài ra, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử có tác dụng quan trọng trong việc làm nổi bật diễn biến của sự kiện, củng
cố kiến thức đã học, tiến hành kiểm tra đánh giá trong dạy học
Về mặt giáo dục: Đồ dùng trực quan cũng có ý nghĩa giáo dục tư tưởng, tình cảm rất lớn Những hình ảnh trực quan thông quan sát trực tiếp, nó tác động trực tiếp đến cảm xúc thẩm mĩ của HS, từ đó hình thành thái độ đúng đắn của
HS đối với lịch sử, góp phần giáo dục các em
Về mặt phát triển: Việc sử dụng đồ dùng trực quan có ưu thế đặc biệt trong việc hình thành kĩ năng cho HS (so với trình bày miệng, SGK…), giúp HS phát triển một số kĩ năng như: quan sát, phân tích, tổng hợp, thực hành (miêu tả, tường thuật, làm và sử dụng đồ dùng trực quan), ngoài ra còn phát triển tư duy tưởng tượng cho HS
Trang 30Như đã trình bày ở trên, trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học lịch sử nhằm tạo cho HS những biểu tượng, hình thành khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát các hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan
đồ vật Có rất nhiều loại đồ dùng trực quan khác nhau, việc vận dụng vào một bài học cụ thể khác nhau
Tuy nhiên, để sử dụng đồ dùng trực quan đạt hiệu quả tốt nhất thì người
GV phải tuân thủ những nguyên tắc chung của phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan như:
+ Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp
+ Định rõ phương hướng thích hợp đối với mỗi loại đồ dùng trực quan Phải đảm bảo cho HS được sử dụng đầy đủ đồ dùng trực quan, khắc phục tình trạng HS chỉ xem để minh họa cho nội dung sự kiện mà không giúp các em hiểu sự kiện + Phát huy tính tích cực của HS
+ Đảm bảo kết hợp với trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn khả năng thực hành của HS khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn,
vẽ bản đồ, tường thuật trên lược đồ, miêu tả hiện vật…)
+ Kết hợp các tài liệu khi sử dụng đồ dùng trực quan…
Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc chung của việc sử dụng đồ dùng trực quan nói trên, thì đồng thời GV cũng phải tuân thủ nguyên tắc sử dụng của từng loại đồ dùng trực quan nói riêng như: tranh vẽ, sơ đồ, lược đồ, bản đồ, đồ thị, niên biểu… để đảm bảo tốt nhất nhiêm vụ cũng như mục tiêu của quá trình dạy học
2.1.3 Sử dụng tài liệu lịch sử, tài liệu văn học để tạo biểu tượng lịch sử
Cùng với SGK, đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo là một nguồn kiến thức quan trọng nhằm khôi phục bức tranh quá khứ Tài liệu tham khảo có ý nghĩa quan trọng trong việc cụ thể hóa các sự kiện, giúp HS hiểu sâu sắc bản chất của lịch sử, bước đầu hình thành năng lực nghiên cứu
Tài liệu lịch sử: Trong nghiên cứu lịch sử có thể sử dụng nhiều nguồn tài
liệu khác nhau như tài liệu vật chất, hay những di tích vật chất của con người, tài
Trang 31liệu ngôn ngữ, tài liệu truyền miệng, tài liệu thành văn… trong tài liệu lịch sử cũng chia ra làm nhiều loại khác nhau: tài liệu gốc bao gồm các văn kiện, các tài liệu có liên quan đến các văn kiện (điều ước, hiệp ước, tuyên ngôn), các công trình nghiên cứu, chuyên khảo về lịch sử, các sách tư liệu xuất bản và đặc biệt là các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, văn kiện Đảng – Nhà nước
Kết quả sử dụng tài liệu lịch sử phụ thuộc vào việc tổ chức day học Phải xuất phát từ mục đích, nội dung của bài học, tùy theo yêu cầu hình ảnh cụ thể của mỗi lớp học mà lựa chọn tài liệu và có phương pháp sử dụng thích hợp
và địa lý 5) Để tạo biểu tượng cho HS về ý nghĩa của bản tuyên ngôn GV có thể
sử dụng văn kiện Đảng – Nhà nước
Như vậy, việc sử dụng tài liệu lịch sử có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc tạo biểu tượng lịch sử và khôi phục lại bức tranh quá khứ của xã hội loài người và dân tộc Nguồn tư liệu này rất cần thiết đối với GV vì chúng không chỉ cung cấp thêm những tài liệu lịch sử phong phú, bổ sung những thiếu hụt trong SGK mà còn làm sáng tỏ những kiến thức cơ bản của bài học Tuy nhiên phần tài liệu này thường khó đối với HS, đòi hỏi người GV phải biết sưu tầm và biết lựa chọn cho phù hợp với trình độ của các em
Tài liệu văn học: các tác phẩm văn học từ xưa đến nay, trong lịch sử dân
tộc có vai trò to lớn đối việc dạy học lịch sử ở phổ thông Lịch sử là một trong những môn học cơ bản được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Bộ môn lịch sử nhằm giúp HS có những hiểu biết cơ bản tương đối hệ thống khái quát về lịch sử phát triển của loài người, của dân tộc từ quá khứ đến nay Việc sử dụng tài liệu văn học vào giảng dạy lịch sử là rất cần thiết phù hợp với lí luận dạy học
bộ môn Bởi văn học và lịch sử có cùng đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội con người Trước hết các tác phẩm văn học bằng những hình ảnh cụ thể, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng người đọc Giữa văn học và khoa học nói chung, sử học nói riêng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Do đó góp phần làm cho bài giảng sinh động hấp dẫn, cuốn hút sự chú ý của HS vào bài giảng, qua đó văn
Trang 32học giúp các em tái hiện bức tranh quá khứ một cách cụ thể sinh động và chân thật thông qua việc tạo biểu tượng lịch sử
Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, GV thường sử dụng các loại tài liệu văn học chủ yếu sau đây: văn học dân gian, tác phẩm văn học ra đời vào thời kì xảy ra sự kiện lịch sử,… tất cả đều đóng góp một vai trò quan trọng và có một ý nghĩa rất lớn trong việc giảng dạy cũng như học tập ở trường phổ thông
Việc sử dụng các loại tài liệu văn học vào dạy học lịch sử ở tiểu học phải đảm bảo hai tiêu chí cơ bản: giá trị giáo dưỡng – giá trị giáo dục, giá trị văn học
Có nhiều cách tiến hành sử dụng các loại tài liệu văn học việc dạy học lịch sử Ttrong đó, có một số cách tương đối phổ biến, dễ thực hiện và thể hiện nguyên tắc liên môn theo tinh thần “văn sử bất phân”
Tuy nhiên, trong giai đoạn này các tài liệu văn học chủ yếu là tài liệu văn học dân gian mang nhiều yếu tố thàn bí, hoang đường Do đó việc mang vào tạo biểu tượng lịch sử trong dạy học là rất khó, đòi hỏi người GV phải nghiên cứu, đọc để gạt bỏ những yếu tố thần bí hoang đương đó tìm những hạt nhân sự thật
về lịch sử
Tóm lại, tài liệu học tập là phương tiên cần thiết và quan trọng với việc dạy học lịch sử của GV và HS Mỗi loại tài liệu có vai trò và vị trí nhát định, nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ thì hiệu quả sư phạm của nó rất lớn Vì vậy phương pháp sử dụng các loại tài liệu này phải tiến hành trên những cơ sở lí luận của việc dạy học lịch sử theo yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục của bộ môn và thực tiễn của nhà trường tiểu học Trong sử dụng tài liệu thám khảo chúng ta cần chú
ý tránh tình trạng “quá tải”, làm cho giờ học trở nên quá nặng nề, làm mất đặc trưng của bài học lịch sử, hoặc biến giờ học lịch sử trở thành một giờ văn học, bài giảng giáo dục công dân Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng kiến thức văn học, giáo dục công dân trong giờ học lịch sử lại là điều cần thiết để tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả việc sử dụng tài liệu tham khảo, tăng chất lượng môn học
Trang 332.1.4 Tổ chức cho học sinh tham quan thực tế, tự sưu tầm tài liệu lịch sử
Hiện nay hình thức học tập tham quan thực tế đang trở thành mô hình học tập hết sức lí thú và hữu dụng đối với HS sinh viên Tham quan thực tế là hình thức tổ chức những chuyến đi tham quan kết hợp thực tế để bổ trợ cho công việc học tập
Thực tiễn cuộc sống là một nguồn nhận thức lịch sử bên cạnh lời nói, đồ dùng trực quan, tài liệu viết Lịch sử là bản thân cuộc sống thể hiện quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người Những sự kiện lịch sử quá khứ diễn ra không có trong hiện tại Vì vậy, trong dạy học lịch sử nhà trường phổ thông việc
tổ chức cho HS thâm nhập thực tế , thăm quan không chỉ thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng mà còn nâng cao chất lượng giáo dục HS
Thăm quan và xâm nhập thực tế có ý nghĩa lớn đối với việc giáo dục tư tưởng tình cảm cho HS Những dấu vết trong quá khứ, những vật trưng bày trong bảo tàng hoặc trên thực địa ở địa phương nói lên truyền thống đấu tranh anh dũng của cha ông ta trong dựng nước và giữ nước từ đó tác động đến tư tưởng tình cảm của các em (yêu quê hương đất nước, tự hào biết ơn đối với các bậc tiền bối) Mặt khác tham quan tạo ra khả năng phát triển, óc quan sát, tư duy tưởng tượng của HS
Trên thực tế có thể tổ chức hai loại thăm quan thực tế phù hợp với yêu cầu học tập
Những thăm quan phục vụ cho nội dung bài học và có thể là bài giảng trong nhà bảo tàng hoặc trên thực địa tại địa phương
Những cuộc thăm quan đó có tính chất một hoạt động ngoại khóa ở nhà bảo tàng, di tích Lịch sử
Ví dụ: Sau khi học xong bài 17 “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” (SGK Lịch sử và Địa lý lớp 5) Để củng cố kiến thức cho HS đồng thời tạo biểu tượng lịch sử chân thực và chính xác cho HS về chiến dịch Điện Biên Phủ, người GV tổ chức cho HS thăm quan chiến trường Điện Biên Phủ Điều này càng thuận lợi cho học sinh tiểu học vùng Tây Bắc
Trang 34Tự sưu tầm tài liệu lịch sử giúp phát huy tính độc lập tự giác của HS, thể hiện nguyên lí giáo dục nhà trường gắn với đời sống HS sẽ có được những biểu tượng chân thực, chính xác Từ đây các em sẽ hứng thú học tập, biết liên hệ với thực tế, rèn luyện năng lực, phẩm chất cần cù, tỉ mỉ của người lao động
2.2 Áp dụng các biện pháp để tạo biêu tƣợng cụ thể
Trong chương trình và nội dung bài học lịch sử ở Tiểu học có nhiều nhân vật lịch sử Khi lên lớp giáo viên cần phải chú ý khắc sâu các biểu tượng nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử đó trong tiết học nhằm gây sự hứng thú học tập cho các em Đồng thời việc khắc sâu các biểu tượng lịch sử trong giờ dạy không những giúp các em khắc sâu được kiến thức mà cụ thể là các sự kiện quan trọng trong bài học mà còn giáo dục các em học tập, noi gương những đức tính tốt đẹp của các nhân vật lịch sử, sự kiện, hiện tượng lịch sử… biết tôn trọng, giữ gìn những giá trị, thành tựu mà người xưa để lại…
Tuy nhiên, trong phân môn lịch sử môn Tự nhiên - xã hội ở Tiểu học có nhiều loai biểu tượng lịch sử; mỗi loại có đặc điểm, yêu cầu riêng…Đặt ra vấn đề ứng với mỗi loại biểu tượng cần phải tạo có biện pháp, cách thức riêng, cụ thể:
2.2.1 Biểu tượng về các nhân vật, sự kiện lịch sử
Các biện pháp tạo biểu tượng về sự kiện, nhân vật được tiến hành rất đa dạng và phong phú Bên cạnh những biện pháp chung còn có những biện pháp riềng đối với từng loại biểu tượng Tôi sẽ trình bày cụ thể bên dưới
thể, tiêu biểu cho các thời kì khác nhau của dân tộc Vì vậy, khi đề cập đến những nhân vật, những sự kiện lịch sử cụ thể giáo viên phải đảm bảo cho các
em có biểu tượng cụ thể, chính xác về:
+ Thời gian, không gian diễn ra sự kiện
+ Hoạt động của nhân vật, quần chúng nhân dân trong lịch sử
+ Tác động của sự kiện, nhân vật trong tiến trình Lịch sử
Mỗi bài học lịch sử đều cần phải khắc họa cho học sinh những nhân vật lịch sử cụ thể, kể cả nhân vật chính diện lẫn phản diện
Trang 35Nhân vật chính diện là những nhân vật được nhắc đến như những vị anh hùng có công lao trong việc giữ gìn, bảo vệ và xây dựng đất nước
Nhân vật phản diện là nói đến những kẻ phản nước, tay sai,…
Ví dụ: Nhân vật chính diện như Nguyễn Trường Tộ, Phan Bội Châu, Nguyễn Tất Thành….Nhân vật phản diện như Ngô Đình Diệm…
Lịch sử do con người sáng tạo ra Vì vậy, không thể có được lịch sử mà thiếu yếu tố con người Mặt khác, sự hoạt động của các nhân vật lịch sử phản ánh ở mức độ nhất định lịch sử của một dân tộc, của quần chúng nhân dân
Xác định về thời gian là một đặc điểm của việc nhận thức một sự kiện lịch sử.Điều này giúp học sinh hiểu chính xác hơn tính chất và ý nghĩa của sự kiện
pháp cụ thể:
- Thông qua miêu tả, tường thuật để tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử
Miêu tả toàn cảnh nhằm khắc họa bức tranh về đối tượng và sự kiện, qua
đó làm nổi bật đặc điểm, dấu hiệu mang tính bản chất của nó
Miêu tả phân tích không nhằm khắc họa bức tranh trọn vẹn đối tượng mà chỉ
đi vào một, một vài đặc điểm chủ yếu Miêu tả phân tích được dùng phổ biến hơn
Ở đây nhân vật chính diện là những vị anh hùng, giáo viên cần phải có tranh, ảnh chân dung của nhân vật để học sinh dễ dàng ghi nhớ, còn với nhân vật phản diện giáo viên không cần dùng hình ảnh hay chân dung để minh họa mà chỉ cần khắc họa bằng lời nói
Để tạo ấn tượng đầu tiên về các nhân vật, sự kiện sẽ học thông thường giáo viên chỉ nhắc qua về nhân vật, tên nhân vật trong bài học… hậu quả là học sinh không có hình ảnh cụ thể, đầy đủ về nhân vật, không nhớ hoặc nhầm lẫn các nhân vật lịch sử Điều đó khiến các em không nắm vững, hiểu về sự kiện, mục đích giáo dục HS không đạt được…
Yêu cầu đặt ra là với bất kì một nhân vật lịch sử nào (khi dạy học nội dung này), giáo viên phải khắc sâu trong óc HS các hình ảnh cụ thể, sinh động thông qua việc cụ thể hóa được diện mạo, hình dáng, tầm thước, điệu bộ,cử chỉ, lời nói, việc làm …để học sinh khắc họa rõ được nhân vật Học sinh có thể
Trang 36tưởng tượng ra chân dung của nhân vật qua những chi tiết miêu tả nhân vật lịch
sử, gây ra các em có những xúc cảm với nhân vật lịch sử: phản diện hay chính diện, đó là cơ sở để giáo dục các em lòng biết ơn, thái độ khâm phục hay căm ghét đối với mỗi nhân vật Muốn thực hiện cụ thể hóa về các hoạt động của nhân vật, diễn biến của các sự kiện lịch sử, giáo viên cần phải sử dụng ngôn ngữ, điệu
bộ, sắc thái, nét mặt để tường thuật, miêu tả và kể lại suy nghĩ, hành động của nhân vật, diễn biến của sự kiện
Ví dụ: Khi nói về cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, GV cần phải miêu tả đến những hành động của Bà một cách hung hồn, có thể qua câu nói của Bà đó là:
“Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi cách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” Qua câu nói của Bà giáo dục cho HS về tinh thần đấu tranh quật khởi của nhân dân ta
- Sử dụng đồ dùng trực quan để tạo biểu tượng về nhân vật, sự kiện lịch sử
vật, sự kiện lịch sử Tuy nhiên, thực trạng sử dụng đồ dùng trực quan nhất là trong việc tạo biểu tượng về nhân vật ở các trường tiểu học hiện nay là rất ít hoặc có sử dụng cũng không hiệu quả Trong khi đó hiệu quả của đồ dùng trực quan là rất cao Bởi vậy nó đặt ra yêu cầu phải tiến hành sử dụng đồ dùng trực quan nhiều hơn nữa trong giờ học cần tạo biểu tượng nhân vật lịch sử, phải biết kết hợp giữa nhiều loại đồ dùng trực quan khác nhau Người GV phải chú ý đến các biện pháp sử dụng của đồ dùng trực quan đặc biệt chú ý đến việc sử dụng tranh ảnh, lược đồ, sơ đồ nhằm miêu tả, tường thuật, nêu đặc điểm, định hướng giáo dục…Từng loại trực quan được sử dụng cụ thể như sau:
+ Tranh, ảnh, phim đèn chiếu, vidio (nếu có) cần được sử dụng để giúp học sinh “trực quan” Lịch sử tạo mối liên tưởng về hình ảnh với tên gọi của hình ảnh Tranh ảnh tư liệu còn được sử dụng khi cho học sinh làm bài tập, ngoại khóa, hoặc khi củng cố bài
Ví dụ: Khi dạy bài 12 “Vượt qua tình thế hiểm nghèo”,( SGK Lịch sử và địa lí lớp 5) Để giúp HS thấy rõ hơn truyền thống yêu nước, đoàn kết của nhân
Trang 37dân ta trong tình thế “nghìn cân treo sợi tóc” [8], GV có thể sử dụng hình 2
“nhân dân góp gạo chống giặc đói (10 – 1945)” (trang 25 SGK lớp 5) và giảng như: “ nước ta ở trong tình thế “nghìn cân treo sợi tóc” Bác Hồ kêu gọi cả nước lập “hũ gạo cứu đói”, “ngày đồng tâm”,… dành gạo cho dân nghèo đồng bào
cả nước đã góp được 60 triệu đồng cho “Quỹ độc lập”…phong trào xóa nạn mù chữ được phát động khắp nơi” [8]
+ Sử dụng tranh, ảnh lịch sử để tạo biểu tượng các nhân vật, sự kiện lịch sử
Để quan sát tranh, ảnh lịch sử giáo viên phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng cơ bản: kĩ năng quan sát, mô tả, phán đoán, phân tích, nhận định, đánh giá
về các sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử và bồi dưỡng cho học sinh khả năng thẩm mĩ Qua đó, học sinh tự tìm tòi, vận dụng vốn hiểu biết, khả năng của bản thân để hình dung một cách cụ thể về nhân vật, sự kiện trong quá khứ được các
em tái hiện lai một cách sinh động trong nhận thức của các em Có căn cứ xác thực để tái hiện lại chứ không phải là tưởng tượng hư cấu
Ví dụ: Khi dạy bài “Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập” (SGK lớp 5) Sau lời giới thiêu bài mới, giáo viên đặt vấn đề: “hôm nay chúng ta sẽ học bài gì? Bài này sẽ cho ta biết về ai? (hoặc về sự kiện gì?) Sau đó cho học sinh quan sát tranh minh họa chân dung nhân vật chính diện (Nguyễn Ái Quốc…) học sinh quan sát khắc sâu hình ảnh của Người
Khi giảng dạy bài mới, giáo viên nên lưu ý tên của nhân vật, đặc biệt với nhân vật có nhiều tên gọi (như Trần Quốc Tuấn còn gọi là Trần Hưng Đạo, Mai Thúc Loan còn gọi là Mai Hắc Đế …) Giáo viên cũng cần nói sơ qua về ý nghĩa tên gọi khác nhau của nhân vật gắn liền với chức tước và công đức của họ
+ Sử dụng lược đồ lịch sử: Cho học sinh quan sát lược đồ, hướng dẫn học sinh quan sát cả nội dung các kí hiệu và ranh giới trên bản đồ Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề và gợi ý học sinh tìm hiểu nội dung lược đồ Học sinh sẽ trả lời các câu hỏi bằng việc trình bày nội dung lược đồ Sau đó, giáo viên nhận xét, bổ sung câu trả lời của học sinh Cuối cùng học sinh sẽ nắm được kiến thức của bài học một cách chủ động và như vậy các em sẽ nhớ bài lâu hơn
Trang 38+ Tạo biểu tượng nhân vật lịch sử bằng kết hợp lời nói sinh động, giàu hình
ảnh của giáo viên với các phương tiện trực quan
Điều này giúp các em có biểu tượng cụ thể về sự kiện, nhân vật Lời nói của giáo viên là cũng là một phương tiện trực quan sinh động, khi kết hợp với tranh ảnh sẽ gây được sự chú ý của học sinh, các em sẽ có hứng thú học tập hơn
Ở đây giáo viên có thể đặt câu hỏi, nêu vấn đề học sinh dựa vào đó để quan sát tranh ảnh có mục đích
Bằng những câu gợi ý dễ, đơn giản, giáo viên hướng dẫn học sinh tự so sánh, đối chiếu bối cảnh lịch sử trước và sau khi diễn ra sự kiện lịch sử, những hoạt động của nhân vật lịch sử Từ đây, GV giúp HS cụ thể hóa tác động, ý nghĩa của sự kiện đối với tiến trình lịch sử
trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học Nó nâng cao hiệu quả bài học, phát huy khả năng, hứng thú học tập của học sinh Tạo biểu tượng chính xác về lịch sử là xây dựng nhịp cầu để trẻ thơ đến với lịch sử dân tộc
sự kiện lịch sử Ngày nay nhờ sự phát triển khoa học kĩ thuật mà việc ứng dụng
công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ngày càng tăng Sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với lời giảng của GV sẽ có tác dụng to lớn trong việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử và nâng cao chất lượng giảng dạy lịch sử ở nhà trường
Ví dụ: khi dạy bài 10 “Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập” (SGK lớp 5), GV
có thể sử dụng phần mềm hỗ trợ power point để thiết kế bài giảng điện tử hoặc xây dựng đồ dùng trực quan sinh động để tạo về biểu tượng nhân vật giúp các
em hứng thú trong học tập
- Sử dụng số liệu để tạo biểu tượng cụ thể về một sự kiện
Ví dụ: Khi nói về kết quả của chiến thắng biên giới thu – đông 1950 khi dạy bài “Chiến thắng biên giới Thu – Đông 1950” (SGK Lịch sử và địa lý 5) giáo viên dẫn các số liệu: qua 29 ngày đêm chiến đấu, ta đã diệt và bắt sống hơn 8000 tên địch, giải phóng một số thị xã và thị trấn, làm chủ 750 km trên dải biên giới