“ Vui học Tiếng Việt” của tác giả Trần Mạnh Hưởng NXB Giáo dục, 2000 là những trò chơi, những bài tập nhẹ nhàng về TV theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ở bậc Tiểu học
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TV : Tiếng Việt
GV : Giáo viên
HS : Học sinh NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên TH-MN : Tiểu học – Mầm non CNTT : Công nghệ thông tin
TS : Tiến sĩ Th.s : Thạc sĩ PGS : Phó giáo sƣ
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Giả thuyết khoa học của đề tài 4
9 Cấu trúc khóa luận 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Cơ sở tâm - sinh lí học của học sinh lớp 1 với việc luyện phát âm 5
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ với việc luyện phát âm 6
1.1.3 Vấn đề phát âm lệch chuẩn 9
1.1.4 Vai trò, nhiệm vụ của Học vần với việc rèn luyện phát âm cho học sinh lớp 1 9
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Khảo sát thực trạng dạy - học phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh 10
1.2.2 Kết quả khảo sát 11
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 17
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ LUYỆN PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 19
2.1 Vận dụng các phương pháp dạy học tiếng Việt 19
2.1.1 Phương pháp trình bày trực quan 19
Trang 32.1.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ 19
2.1.3 Phương pháp giao tiếp (phương pháp thực hành) 20
2.1.4 Phương pháp luyện tập theo mẫu 21
2.2 Một số biện pháp luyện phát âm cho học sinh 2.2.1 Sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm 22
2.2.2 Kết hợp vừa đọc vừa viết chữ 26
2.2.3 Kết hợp phụ huynh cho tăng cường phát âm tiếng Việt ở nhà 27
2.2.4 Sử dụng công nghệ thông tin và bảng chữ khoa học 28
2.2.5 Một số điểm cần lưu ý đối với giáo viên khi hướng dẫn học sinh phát âm 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 33
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 34
3.1 Mục đích thể nghiệm 34
3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 34
3.2.1 Đối tượng thể nghiệm 34
3.2.2 Thời gian và địa bàn thể nghiệm 34
3.3 Nội dung, phương pháp thể nghiệm 34
3.3.1 Nội dung thể nghiệm 34
3.3.2 Phương pháp thể nghiệm 35
3.4 Kết quả thể nghiệm 36
PHẦN KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phát triển Giáo dục là một trong những điều kiện hàng đầu để xây dựng và phát triển một đất nước Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, Đảng và nhà nước ta đặc
biệt quan tâm tới các cấp học, bậc học trong đó có Tiểu học “ Tiểu học là cấp học
đặt cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ giáo dục quốc dân”
Ở bậc học tiểu học, nội dung môn học phong phú, mỗi môn học đảm nhận một vai trò khác nhau Môn Tiếng Việt với bảy phân môn là : Học vần, tập viết, chính tả, tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu, tập làm văn sẽ càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết Môn học này cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…qua đó bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, giữ gìn sự giàu đẹp, trong sáng của tiếng Việt
1.2 Phát âm là một phần quan trọng của môn Tiếng Việt và cũng là yêu cầu quan trọng đối với phân môn Học vần ở lớp 1 Ngoài nhiệm vụ chung, phát âm còn có nhiệm vụ riêng là giúp học sinh nắm vững cách phát âm đúng và hình thành kĩ năng đọc Nói cách khác, nó giúp cho HS hình thành năng lực và thói quen phát âm chuẩn Nếu có thói quen phát âm chuẩn, biết cách diễn đạt chuẩn xác lời nói sẽ góp phần giúp các em truyền tải lượng thông tin một cách chính xác, khoa học đến người nghe và giúp các em có thể dễ dàng trao đổi những tri thức khoa học của các môn học để đạt hiệu quả cao trong học tập, qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách của các em
Phát âm có tầm quan trọng như vậy nhưng trong thực tế việc dạy và học phát âm chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành Giáo dục và toàn
xã hội, đặc biệt là ở các trường Tiểu học miền núi nói chung, Trường Tiểu học Chấn Thịnh nói riêng
Từ việc nhận thấy tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh tiểu học cùng thực trạng phát âm lệch chuẩn, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “ Nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái” làm đối tượng nghiên cứu
Trang 52 Lịch sử vấn đề
Phát âm chuẩn là một yêu cầu quan trọng trong chương trình ở tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng Từ việc phát âm chuẩn, sẽ hình thành được các kĩ năng, kĩ xảo đọc đúng giúp các em có thể dễ dàng trao đổi thông tin khoa học, lĩnh hội tri thức khoa học một cách chính xác Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp, biện pháp để sửa lỗi và rèn luyện kĩ năng phát âm là vấn đề
mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu
Trong cuốn “Tiếng Việt đại cương – ngữ âm” của Đặng Thị Lanh, Bùi Minh Toán (NXB ĐHSP – 2006) đã giới thiệu cái nhìn tổng thể về tiếng Việt và
đi sâu vào hai đơn vị cơ bản của ngữ âm tiếng Việt là âm tiết và âm vị Cuốn sách là căn cứ quan trọng giúp chúng ta xác định và tìm ra được các lỗi phát âm
mà học sinh thường mắc phải
“Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Cù Đình Tú – Hoàng Văn Thung – Nguyễn Nguyên Trứ ( NXB Giáo dục, 1978) đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường Mặc dù đã nêu lên một số biện pháp cụ thể có liên quan đến luyện phát âm song chưa hướng tới đối tượng cụ thể
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1” của các tác giả Lê Phương Nga – Lê A – Lê Hữu Tỉnh – Đỗ Xuân Thảo – Đặng Kim Nga (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003) cũng đề cập đến phân môn Học vần về: mục tiêu, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ học của việc dạy Học vần ở lớp 1
“ Vui học Tiếng Việt” của tác giả Trần Mạnh Hưởng ( NXB Giáo dục, 2000) là những trò chơi, những bài tập nhẹ nhàng về TV theo yêu cầu kiến thức
và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ở bậc Tiểu học giúp học sinh có thể vừa học vừa chơi cùng bạn bè
“Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp Tiểu học” (tài liệu bồi dưỡng giáo viên) của dự án phát triển giáo viên Tiểu học (NXB GD – 2006) đã
đề cập đến một số phương pháp dạy học sinh dân tộc phát âm đúng tiếng Việt và sửa lỗi phát âm thông qua đó dạy phát triển lời nói cho các em trong những bài học âm vần
Trang 6Các công trình nghiên cứu trên là những định hướng quan trọng, quý báu cho việc thực hiện khóa luận “Nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái” mà chúng tôi đã lựa chọn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy và học phát âm cho học sinh lớp 1 ở Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái
Đề xuất một số biện pháp luyện phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu hoc Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái
Tiến hành soạn giáo án và dạy thể nghiệm xác định tính khả thi
5 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình trạng phát âm, việc sử dụng biện pháp, hình thức tổ chức trong quá trình sửa lỗi phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh- Văn Chấn - Yên Bái
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài, yếu tố
có ảnh hưởng đến quá trình phát âm của học sinh
Tập trung tìm hiểu, điều tra thực trạng phương pháp dạy phát âm của GV
và phát âm của học sinh, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả luyện phát âm và tiến hành thể nghiệm ở Trường Tiểu học Chấn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi sử dụng phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các thông tin liên quan làm cơ sở lí luận cho khóa luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 7Thống kê, khảo sát thực tiễn bằng cách dự giờ, trao đổi, dùng phiếu điều tra nhằm củng cố cơ sở thực tiễn của khóa luận
So sánh, tổng hợp lí thuyết và thực tiễn để khái quát, rút ra kết luận, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh lớp 1
Phương pháp thực nghiệm, đối chứng
8 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu khóa luận được thực hiện thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên Khoa Tiểu học – Mầm non, GV Trường Tiểu học Chấn Thịnh nói riêng và
GV Tiểu học trong quá trình giảng dạy Góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phát âm, dạy môn TV và các môn học khác trong nhà trường
9 Cấu trúc khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần nội dung cơ bản của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái
Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở tâm - sinh lí học của học sinh lớp 1 với việc luyện phát âm
Con người trong xã hội sẽ và phải trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau về tâm lý, nhận thức cũng như thể chất Với nhiều giai đoạn khác nhau các nhà nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng: từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn nền tảng, tiền đề; từ 6 đến 11 tuổi là giai đoạn cơ sở mang tính quyết định trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách ở mỗi con người Mỗi giai đoạn có các hoạt động chủ đạo mang tính chuyên biệt riêng do đó bước chuyển đổi này thường có tác động lớn đến tâm, sinh lý của trẻ
Nếu ở trường Mầm non vui chơi là hoạt động chủ đạo thì bước sang giai đoạn sau học tập sẽ là chủ yếu Các em được tiếp xúc với những điều hoàn toàn mới lạ, khác với những gì được chứng kiến trong 6 năm đầu của cuộc đời đứa trẻ Như một bước ngoặc, vào lớp 1 với môi trường sống cùng các mối quan hệ được mở rộng: từ gia đình tới nhà trường Ở đây các em trở thành học sinh thực thụ và có địa vị mới trong gia đình, xã hội Gia nhập tổ chức nhà trường biết đến lớp học, bạn bè, thầy cô cùng với thời gian diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, các em phải chấp hành các nội quy của trường lớp như: học bài, làm bài tập, ngồi ngay ngắn, không nói chuyện riêng….Tất cả phải tuân theo quy định, hệ thống nhất định Lúc này để giúp các em thích ứng với hoat động, nội dung học tập vừa sức cùng sự động viên, khích lệ từ gia đình, thầy cô là vô cùng quan trọng
Các nhà khoa học cũng chỉ rõ: về mặt sinh lý ở trẻ 6-7 tuổi, khối lượng của
bộ não đạt tới 90% khối lượng bộ não người lớn Sự chín muồi về mặt sinh lý cùng với sự phát triển của quá trình tâm lý đã tạo điều kiện để các em thực hiện một hoạt động mới: hoạt động học tập Hoạt động có ý thức Tuy vậy ở giai đoạn đầu lớp 1 (học âm, chữ, vần) những hoạt động có ý thức còn mới mẻ như: các em đến lớp phải học thuộc bài, ngồi ngay ngắn, thực hiện đúng nội quy của
Trang 9lớp học Hơn nữa trong nhận thức của các em, địa vị của thầy cô giáo lớp 1 khác với cô giáo mẫu giáo những điều này làm cho một số em trong giờ học thường rụt rè, không dám đọc to,… làm ảnh hưởng đến hiệu quả Học vần cũng như luyện phát âm
Trên cơ sở ý thức đã hình thành, khả năng tư duy bằng tín hiệu của trẻ cũng phát triển Đây chính là cơ sở để các em lĩnh hội chữ viết, là những tín hiệu thay thế ngữ âm Ở độ tuổi 6-7 tuổi, khả năng phân tích – tổng hợp, khái quát tuy còn
sơ đẳng nhưng đã có mức độ cao thấp khác nhau Vì vậy trong giờ học vần trẻ
có thể tập ghép chữ thành âm, vần, tiếng, từ Độ tuổi này cơ quan phát âm của trẻ tương đối hoàn chỉnh tạo điều kiện cho quá trình Học vần: luyện phát âm, luyện nói,…
Bên cạnh đó, năng lực vận động của trẻ cũng đạt được những bước phát triển đáng kể Các em có thể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như tay, mặt, đầu, cổ có thể phối hợp nhiều động tác khác nhau Đây là điều kiện cần thiết để các em có thể viết, một hoạt động đòi hỏi sự chủ động trong hoạt động của cánh tay, ngón tay, bàn tay với sự phối hợp của mắt nhìn, tai nghe, tay viết
Ở thời kì này, ý thức về cấu trúc không gian của trẻ cũng hình thành Sự phân biệt bên phải, bên trái, bên trên, bên dưới… không còn khó khăn đối với các em Dựa vào những đặc điểm này, GV có thể hướng dẫn các em tập viết, luyện phát âm tốt hơn
Từ những đặc điểm tâm – sinh lý trên đây GV cần tạo ra mục đích, động cơ học tập sao cho nhẹ nhàng, sinh động, thu hút hứng thú học tập của các em Tuy nhiên, mỗi HS là một thực thể chủ động, một cá thể không lặp lại và khả năng nhận thức của các em cũng khác nhau Do vậy GV cần nắm bắt những đặc điểm cũng như diễn biến tâm lý của HS từ đó có những biện pháp điều chỉnh, đặc biệt
là sự đổi mới về nội dung, hình thức sao cho phù hợp
1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ với việc luyện phát âm
Môn TV lớp 1 là một hệ thống khái niệm ngữ âm, được định nghĩa bằng cấu trúc ngữ âm của tiếng Ở điểm xuất phát cấu trúc ngữ âm của tiếng là một khối liền, một thể thống nhất (Triết học gọi là thể thống nhất trừu tượng) Rời khỏi
Trang 10điểm xuất phát, tư duy đi sâu vào bên trong nhưng mới đạt mức độ thô, phân giải cấu trúc ngữ âm ra làm 3 bộ phận cấu thành: thanh – phần đầu – phần vần Trong 3 bộ phận ấy thanh thì đã rõ ràng gồm 6 thanh là: thanh sắc, thanh huyền, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã, thanh ngang (trên chữ không ghi dấu khi viết) Ngoài ra còn hệ thống các dấu phụ ^, v, ‟ trong âm â, ă, ư,…Với hai bộ phận âm đầu vần, âm phải tiếp tục phân giải khi nào đến đơn vị ngữ âm nhỏ nhất (các âm vị) thì mới dừng lại
Bảng 1: Hệ thống ngữ âm TV được sắp xếp theo sơ đồ sau
Âm đầu
Thanh điệu
Vần
Người ta phân chia cấu trúc âm tiết ra thành cấu trúc bậc một và bậc hai Cấu trúc bậc một chia âm tiết ra làm ba phần: âm đầu, phần vần và siêu âm đoạn (thanh điệu) Cấu trúc bậc hai kết hợp với nhau rất chặt chẽ và chia phần vần thành: âm đệm, âm chính, âm cuối Có thể miêu tả cấu trúc của âm tiết như sau:
Âm chính
Âm
cuối
Trang 11Ngôn ngữ học đã chỉ rõ những nội dung cụ thể về các vấn đề của ngôn ngữ như chữ viết, chính âm, chính tả, nghĩa của từ, câu, đoạn văn bản, ngữ điệu,nhịp điệu, … Đó là vấn đề gắn bó trong việc dạy và học Tập đọc của thầy và trò bậc tiểu học Ngoài ra khi phát âm TV cũng phải chú trọng đến khẩu hình Nguyên
âm TV có nhiều dạng khẩu hình rộng, hẹp khác nhau, có nhiều nguyên âm đòi hỏi khẩu hình tròn nhiều, tròn ít hoăc tròn to, tròn nhỏ, chẳng hạn: Nguyên âm a : Khẩu hình mở rộng hơi tròn, răng cửa hơi bị lộ ra, mặt lưỡi bằng, đầu lưỡi tiếp giáp nhẹ với răng hàm dưới Tính chất âm không sắc nhọn
Về chữ viết, chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm Nguyên tắc cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học, mỗi con chữ ghi một âm Đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho các em khi học vần.Tuy nhiên, chữ viết tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp lí: trường hợp một âm ghi bằng nhiều con chữ ( âm /k/ ghi bằng ba con chữ: c, k, q)….Hoặc hiện tượng một con chữ ghi bằng nhiều âm (chữ g trong tiếng gì và tiếng gà) Điều này dễ làm cho các em nhầm lẫn trong
cả khi đọc và viết
Về chức năng, ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ tư duy Khi hoạt động giao tiếp diễn ra cũng có nghĩa là những nhận thức, tư tưởng, tình cảm được trao đổi giữa chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không từ nào, câu nào mà lại không biểu hiện khái niệm của tư tưởng và ngược lại, không có ý nghĩ, tư tưởng nào lại không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng Với một đứa trẻ 6 tuổi, dù vốn từ còn nghèo nàn, khả năng tư
Trang 12duy chưa cao thì việc sư dụng ngôn ngữ trong trong học tập, giao tiếp, đặc biệt
là ngay trong luyện nói các em cũng „thả‟‟ vào trong đó những suy nghĩ, định hướng, mục đích ban đầu
Rèn phát âm cho HS lớp 1 thực chất là dạy cho học sinh biết đọc, nói đúng
âm, vần, tiếng, từ, câu, đoạn, bài, nói đúng ngữ điệu, dần biết tư duy, tưởng tượng, hình thành ý thức tốt đẹp trong tâm hồn và có hành động đẹp, nghĩa là học sinh biết chuẩn ngôn ngữ TV
Học vần là phân môn quan trọng với học sinh lớp 1 và việc luyện phát âm trong chương trình học vần lớp 1 hiện nay được nhiều GV quan tâm, bởi phát
âm chuẩn xác thì học sinh mới viết đúng chính tả, đọc đúng văn bản và học tốt các môn học khác trong nhà trường Tiểu học, cũng như phát huy có hiệu quả trong giao tiếp Trên thực tế rất nhiều học sinh 1 một phát âm lệch chuẩn đặc biệt là với các em ở vùng miền núi, vùng sâu,vùng xa khó khăn
1.1.4 Vai trò, nhiệm vụ của Học vần với việc rèn luyện phát âm cho học sinh lớp 1
Phân môn Học vần ở bậc Tiểu học rèn cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết trong đó đọc và viết được đặc biệt ưu tiên Học vần có nhiệm vụ giúp HS: Nắm được một cách có hệ thống các âm vị trong tiếng Việt: nguyên âm, phụ
âm, thanh điệu; nắm được các dạng chữ ghi âm: a, b, c …,các dấu ghi thanh: thanh huyền, thanh ngã, thanh sắc, …, thuộc bảng chữ cái TV và phát âm một cách chính xác
Trang 13Biết ghép âm, thanh điệu, vần, nắm được vị trí các âm trong vần, biết ghép phụ âm đầu với vần tạo thành tiếng và phát âm đúng, đọc đúng, viết bảng đúng tiếng đó
Biết phát âm đúng chính âm, viết đúng chính tả các câu, vần và biết đọc các
từ, câu, đoạn văn, thơ trong bài học
Rèn các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS đặc biệt là kĩ năng đọc (phát âm chuẩn) và kĩ năng viết Ngoài ra, phân môn Học vần còn giúp phát triển vốn từ cho HS, tập cho các em viết đúng các mẫu câu ngắn, bồi dưỡng lòng ham thích thơ văn, mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên xã hội và giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho HS Vì thế, trong giờ học vần cần thay đổi linh hoạt hình thức hoạt động trí tuệ (đọc, viết, nghe, nói, sử dụng bộ chữ thực hành, băng chữ ) hoặc xen kẽ khoảng giải lao vài ba phút giữa tiết học (hát, chơi trò chơi học tập ) để đảm bảo yêu cầu “học mà chơi, chơi mà học” Bài dạy phải quán triệt tinh thần “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” nhằm phát huy tính tích cực cho trẻ
1.2.1.2 Thời gian, địa bàn khảo sát
- Tháng 11, 12/2013 : Dự giờ, phát phiếu điều tra, trò chuyện, phỏng vấn với GV và HS Trường Tiểu học Chấn Thịnh
- Tháng 3/1014: Khảo sát giáo án, dạy học thể nghiệm
Trang 141.2.1.3 Nội dung khảo sát
- Tìm hiểu SGK, SGV lớp 1
- Hoạt động dạy luyện phát âm cho HS lớp 1
- Hoạt động luyện phát âm của HS lớp 1
1.2.1.4 Phương pháp khảo sát
- Thống kê, phân tích tư liệu
- Phương pháp dự giờ trực tiếp
1.2.2.1 Nội dung chương trình SGK Tiếng Việt 1
Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 gồm 2 tập:
Tiếng Việt 1 tập 1
*.Dạy âm vần
Bố trí theo thứ tự:
- Âm đầu + âm chính (la)
- Âm chính + âm cuối (an)
- Âm đầu + âm chính + âm cuối (lan)
- Âm đầu + âm đệm + âm chính + âm cuối (loan)
* Kết hợp dạy âm, vần với rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
Trang 15Bảng 2: Chương trình nội dung phân môn Học vần
Chữ cái và âm Các con chữ đơn, kép thể hiện phụ âm,
nguyên âm, cách kết hợp con chữ thể hiện vần thường gặp
Bài dạy Âm – vần mới cũng bao gồm 2 trang, trang 1 là các đơn vị chữ ghi
âm / vần được dạy trong bài, tranh minh họa cho từ chứa tiếng chứa đơn vị chữ học trong bài, từ / từ ngữ ứng dụng chứa đơn vị chữ vừa học và cách thể hiện chữ viết thường của các đơn vị chữ vừa học.Trang 2 là tranh minh họa câu / đoạn chứa đơn vị chữ vừa học (câu / đoạn ứng dụng).Chủ đề luyện nói và tranh minh họa chủ đề luyện nói
Tương tự bài Ôn tập bao gồm trang 1 là tiêu đề ôn tập, mô hình tiếng / vần
có chứa đơn vị mẫu đã học, tranh minh họa (hoặc gợi ý) từ chứa tiếng / vần chứa đơn vị mẫu, bảng ôn tập các kết hợp cùng loại, từ ngữ ứng dụng chứa các kết hợp cùng loại, thể hiện chữ viết thường chứa các đơn vị cùng loại.Trang 2 là tranh minh họa câu / đoạn ứng dụng chứa các tiếng có âm vần cùng loại vừa ôn, nhan đề truyện kể và tranh minh họa cho truyện kể
Phần luyện tập tổng hợp được biên soạn thành các chủ điểm và gồm 3chủ điểm có tên gọi như sau:
Trang 16Chương trình phân môn Học vần có nhiều đổi mới so với trước đây Nội dung dạy không còn quá thiên về cung cấp kiến thức Việt ngữ học nữa mà đã chú ý đến kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Việc rèn kĩ năng phát âm đến kĩ năng nói theo định hướng chương trình từ đơn giản đến phức tạp Giai đoạn học âm- vần dành nhiều thời gian luyện nói theo chủ đề cũng như rèn kĩ năng sử dụng nghi thức lời nói
1.2.2.2 Thực trạng luyện phát âm cho HS lớp 1 của GV Trường Tiểu học Chấn Thịnh –Văn Chấn – Yên Bái
Trường Tiểu học Chấn Thịnh được chia thành nhiều địa điểm học và phân
bố trên khắp địa bàn xã Chấn Thịnh với tổng số 20 lớp học Trường có 4 lớp 1 với tổng số là 105 em, 100% HS đi học đúng độ tuổi
Trường có 32 GV và đều đạt chuẩn GVTH, trong đó có: 3 GV trình độ đại học, 14 GV trình độ cao đẳng và 15 GV trình độ trung cấp Hầu hết GV trong trường đều đạt GV dạy giỏi các cấp trong đó có 1 GV dạy giỏi cấp tỉnh, 6 GV dạy giỏi cấp huyện còn lại là GV dạy giỏi cấp trường và GV các môn chuyên Qua khảo sát 13/31 GV trong trường bao gồm các GV đã và đang dạy lớp 1, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 3 : Nhận thức của GV về việc luyện phát âm cho học sinh lớp 1
Trang 17Bảng 4: Nhận thức của GV về nguyên nhân gây nên hiện tượng phát âm sai của học sinh
2 Phương pháp giảng giải thuyết trình 13/13 100%
3 Phương pháp luyện tập theo mẫu 13/13 100%
2 Truy bài đầu giờ 4/13 30.7%
3 Mọi lúc khi phát hiện mắc lỗi 12/13 92.3%
Như vậy qua bảng số 2 ta thấy GV đã ý thức được tầm quan trọng của việc phát âm đối với HS lớp 1 Bởi phát âm không chỉ giúp học sinh học tốt các môn học khác mà còn là tiền đề cho việc học tập đọc ở lớp sau Bảng 3 và bảng 4 chỉ
ra rằng GV đã nhận thức được nguyên nhân gây ra hiện tượng phát âm sai của học sinh cũng như ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình giảng dạy song chưa thường xuyên, liên tục Trong quá trình giảng dạy đã có sự đổi mới về phương pháp nhưng vẫn gặp phải một số khó khăn trong giảng dạy
Trang 18trong giờ học vần đặc biệt là khi luyện phát âm mang lại hiệu quả nhưng họ cũng ngại tổ chức bởi đòi hỏi phải có sự quản lí lớp tốt Bên cạnh đó môi trường lớp học nhỏ, cộng với sự quá khích của HS sẽ ảnh hưởng tới lớp khác và GV khó dẫn HS quay trở lại bài học sau Đây là suy nghĩ hết sức sai lầm vì khi tham gia trò chơi, trẻ được chơi hết mình, tâm lí thoải mái sẽ giúp trẻ tiếp thu bài học nhanh chóng và có hiệu quả Khi tâm sự, trò chuyện với chúng tôi cô Phạm Thị
Kim Nguyên cho biết ‘‘ Việc tiếp cận và sử dụng CNTT trong luyện phát âm
cho HS với bản thân tôi còn rất nhiều lúng túng’’ Cô Nguyễn Thị Ngoãn tâm sự
„„ Do điều kiện kinh tế ít được đi tham quan, tập huấn, giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm, phương pháp dạy học với các trường Tiểu học ở các vùng miền khác nhau nên GV chưa nhanh nhạy trong việc tiếp thu đổi mới phương pháp dạy học’’ Về phía nhà trường cơ sở vật chất, kĩ thuật, đồ dùng dạy học tương đối
đầy đủ song cũng đã lạc hậu nên việc sử dụng không đạt hiệu quả như mong muốn Tuy nhiên để giờ dạy đạt kết quả cao, vấn đề không phải càng sử dụng nhiều phương pháp càng tốt mà vấn đề là: GV phải biết lựa chọn và sử dụng hợp
lí, linh hoạt các phương pháp tạo sự hứng thú cho HS
Hầu hết các GV cho rằng lớp 1 là giai đoạn đầu để trau đồi vốn ngôn ngữ, việc sử dụng ngôn ngữ nói của HS tương đối thành thạo nên GV dễ dàng uốn nắn Ở Trường Tiểu học Chấn Thịnh, đội ngũ GV được phân công giảng dạy lớp
1 là người có kinh nghiệm giảng dạy, chuyên môn vững , số năm công tác tương đối cao, có lòng yêu nghề, mến trẻ Đây là điều kiện thuận lợi bởi GV phát âm chuẩn thì mới có thể giúp HS phát âm chuẩn cũng như sửa lỗi về phát âm Để việc luyện phát âm đạt kết quả cao GV còn phải chú ý rèn luyện khả năng phát
âm cho HS khi có điều kiện thuận lợi, bên cạnh đó cần có sự chuẩn bị chu đáo kĩ lưỡng, các hình thức tổ chức hấp dẫn, phong phú
1.2.2.3 Thực trạng luyện phát âm của học sinh Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái
Bước vào lớp 1, nhìn chung các em đều hào hứng, phấn khởi vì những mới
lạ của môi trường GD mà các em chưa từng biết đến Mọi thứ với các em nói
chung đều chứa đựng điều kì diệu Việc phát âm cũng vậy À, thì ra phải nói
Trang 19như vậy” cùng với sự thích thú rất nhiều HS có khả năng phát âm chuẩn Tuy
nhiên một số em rơi vào tình trạng „„ thu mình‟‟ với biểu hiện ít nói, không vui chơi cùng các bạn…đây thường là những em ít hứng thú với môn học nên việc ghi nhớ và phát âm càng trở nên khó khăn Khi nghiên cứu, điều tra tìm hiểu về tâm lí của học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 7: Tâm lý của học sinh trong việc luyện phát âm
Số lượng học sinh
khảo sát
Hứng thú % ( Thích)
Không hứng thú % (Không thích)
Qua khảo sát 60 học sinh lớp 1 của Trường Tiểu học Chấn Thịnh tôi nhận thấy nhiều học sinh có hứng thú với việc luyện phát âm song bên cạnh đó còn một số lượng không hề nhỏ số HS không hứng thú (không thích) Kết quả trên đặt ra một yêu cầu đòi hỏi mỗi GV phải hiểu tâm lí HS cũng như vận dụng những phương pháp phù hợp thu hút được sự chú ý của các em
Bảng 8: Những lỗi phát âm sai phụ âm đầu thường mắc phải
SLHSKS
Lớp
Phát âm sai phụ âm đầu
s/x ( %)
tr/ch ( %)
l/n ( %)
uynh/uych (%)
en/eng (%)
Trang 20Bảng 10: Những lỗi phát âm sai về thanh điệu học sinh thường mắc phải
Phát âm sai thanh điệu
(?)/(~) (%)
(?)/(/) (%)
(~)/(-) (%)
Qua khảo sát chúng tôi thấy phụ huynh học sinh còn chưa thực sự quan tâm tới việc học của con mình, quá trình học tập chủ yếu dựa vào GV ở trên lớp Bên cạnh đó phát âm của nhiều phụ huynh còn ngọng, chưa chuẩn nên việc luyện phát âm cho học sinh lớp 1 không đạt hiệu quả như mong muốn
Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, tiếng địa phương , và cả yếu tố tâm sinh lý nên nhiều HS lớp đầu Tiểu học còn phát âm sai Tuy nhiên rất nhiều HS không nhận ra mình phát âm sai nên việc sửa lỗi phát âm tiếng Việt gặp khó khăn
Trang 21lớp 1, khả năng sử dụng ngôn ngữ là cơ sở giúp GV lựa chọn các phương pháp như trực quan, phương pháp trò chơi, phương pháp luyện tập theo mẫu, … trong rèn kĩ năng phát âm cho HS Những hiểu biết về mục tiêu phân môn Học vần sẽ giúp định hướng cho GV trong từng tiết học
Qua kết quả khảo sát thực tế thu được của việc dạy – học phát âm tôi thấy rằng đối với HS còn gặp rất nhiều khó khăn: về mặt tâm lí, về kĩ năng phát âm dẫn đến mắc lỗi khi phát âm Về phía GV cũng gặp phải không ít những vướng mắc đối với việc áp dụng các phương pháp mới vào giảng dạy Thực trạng trên
là cơ sở quan trọng làm tiền đề để chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp góp phần khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho HS lớp 1 Trường Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái
Trang 22CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
LUYỆN PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 2.1 Vận dụng các phương pháp dạy học tiếng Việt
2.1.1 Phương pháp trình bày trực quan
Phương pháp trình bày trực quan là phương pháp cho học sinh quan sát
tranh, vật thật, vật mẫu, cách làm mẫu của giáo viên Phương pháp này phù hợp với đặc điểm tâm lí của trẻ nhận thức sự vật bằng trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng
- Trực quan bằng tranh, ảnh vật thật để học sinh:
+ Làm quen với âm, vần, tiếng, từ mới
+ Giải nghĩa các từ ngữ ứng dụng có chứa âm, vần vừa học
+ Hiểu nội dung câu hoặc bài ứng dụng
+ Luyện nói theo chủ đề, luyện kể theo tranh
- Trực quan bằng làm mẫu của giáo viên:
+ Phát âm chuẩn của giáo viên khi đánh vần
+ Viết mẫu của giáo viên trên bảng lớp (khi luyện cho học sinh viết chữ thường) để học sinh nắm được cấu tạo chữ viết
Chú ý: Trực quan bằng tranh ảnh có thể phóng to tranh ảnh ở sách giáo khoa (SGK), hoặc tranh ảnh sưu tầm nhưng phải đẹp và rõ Cần sử dụng phương pháp này đúng mức, không nên kéo dài
2.1.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phân tích ngôn ngữ trong dạy vần thực chất là tách các hiện tượng ngôn ngữ theo cấp độ : từ - tiếng- vần/ âm Phương pháp này giúp học sinh nắm chắc bài học, tiếp thu kiến thức có hệ thống một cách chủ động, đặc biệt là phát triển ở các em các kĩ năng tư duy như phân tích, tổng hợp, thay thế, so sánh…
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ được sử dụng khi giảng bài mới (tiết 1) + Giáo viên cho học sinh phân tích từ - tiếng- vần/âm
+ Khi các em đã nắm được âm/vần mới thì tổng hợp trở lại và đọc trơn (có thể làm theo quy trình ngược lại : tổng hợp các âm thành vần, vần với âm đầu và thanh thành tiếng, tiếng với tiếng thành từ)
Trang 23+ Cũng có thể sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ trong các bài tập ứng dụng trong đó HS tìm tiếng chứa âm, vần mới học hoặc âm, vần đang được
ôn tập.Ví dụ, tìm tiếng chứa vần iêu hoặc vần yêu trong các từ ngữ ứng dụng : buổi chiều, hiểu bài, yêu cầu, già yếu
Chú ý: Tuỳ thuộc mức độ và mục đích phân tích mà phương pháp phân tích ngôn ngữ có thể tiến hành theo các mức độ khác nhau như: quan sát ngôn ngữ (là giai đoạn đầu trong quá trình phân tích ngôn ngữ nhằm tìm những điểm giống và khác nhau và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định), phân tích ngữ
âm, phân tích chính tả, phân tích tập viết…
2.1.3 Phương pháp giao tiếp (phương pháp thực hành)
Phương pháp giao tiếp là phương pháp giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng những tri thức sơ giản đã học vào việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp cụ thể bằng tiếng Việt Giờ học vần không có tiết lí thuyết, vì vậy phương pháp giao tiếp cần được sử dụng thường xuyên Điều này cũng phù hợp với định hướng giao tiếp của chương trình môn Tiếng Việt
- Thực hiện phương pháp giao tiếp, giáo viên cần chuẩn bị trước một hệ thống câu hỏi, bài tập ngay từ khi soạn bài Chẳng hạn:
+ Hỏi để tìm từ mới, tiếng mới trong bài (Ví dụ : Trong các từ báo hiệu, vải
thiều, tiếng nào chứa vần iêu?)
+ Hỏi để phân tích và tổng hợp từ, tiếng (Ví dụ : Tiếng yếu gồm có những
âm, vần, thanh nào? Vần yêu gồm có những âm nào?)
+ Hỏi để tìm điểm tương đồng, khác biệt giữa vần, tiếng hoặc chữ đang học
với vần, tiếng, chữ đã biết (Ví dụ : Vần iêu có gì giống và khác với vần yêu? Chữ iêu có gì giống và khác với chữ yêu?)
+ Hỏi về chủ đề luyện nói hoặc về nội dung câu chuyện đã nghe (Ví dụ :
Em tên là gì?/ Em mấy tuổi?/Em đang học lớp nào?/ Cô giáo nào đang dạy em? Nhà em ở đâu?/ Em có mấy anh em? Em thích học môn gì nhất? Vì sao em thích môn học đó? - Chủ đề Bé tự giới thiệu, bài 41)
Trang 242.1.4 Phương pháp luyện tập theo mẫu
Phương pháp luyện tập theo mẫu còn gọi là phương pháp trực giác hay phương pháp nghe – nhìn Giáo viên cho HS tiều học nghe giọng đọc mẫu, nhìn khuôn miệng (trực tiếp và gián tiếp qua hình ảnh), học sinh đọc theo
Đối với HS lớp 1 tri giác thường gắn với hành động, hoạt động thực tiễn và
có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần Giáo viên hướng dẫn học sinh tỉ mỉ cách quan sát, cách thực hiên phát âm khi cho học sinh nghe giọng đọc mẫu, nhìn khuôn miệng, cho học sinh đọc theo kết hợp sử dụng các phương tiện như băng hình, băng tiếng, hay giọng phát âm do GV trực tiếp thể hiện Sử dụng biện pháp này sẽ giúp học sinh dễ dàng quan sát, ghi nhớ cách phát âm chuẩn
- Để thực hiện GV cung cấp các mẫu cần luyện phát âm lưu ý luyện phát
âm tiến hành ở các mức độ khác nhau: phát âm âm, vần rời, tiếng, từ có chứa
âm phổ biến, nên khi hướng dẫn học sinh, giáo viên phải chỉ rõ cách phát âm
Ví dụ:/ n/ là âm mũi, khi phát âm sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung Còn khi phát âm / l / mũi không rung Vì vậy muốn phát âm đúng âm /l/ chỉ cần bịt mũi và tập
Chú ý: Khi sử dụng phương pháp luyện phát âm theo mẫu, chúng ta phải sử dụng lượng thời gian, công sức cao vì đây là phương pháp mô phỏng, học sinh bắt chước làm theo Do đó GV cần chuẩn bi chu đáo tỉ mỉ mẫu phát âm
Trang 252.2 Một số biện pháp luyện phát âm cho học sinh
2.2.1 Sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm
Trò chơi là biện pháp giúp con người thoải mái về tâm lí, giải trừ được những căng thẳng, góp phần tạo hứng thú để làm việc, học tập Sử dụng trò chơi trong giảng dạy tức là đưa trò chơi vào trong tiết học để trò chơi trở thành một phần của tiết học, làm cho tiết học trở nên sôi nổi, HS hứng thú học tập
Tác dụng của trò chơi trong dạy học luyện phát âm: Đối với học sinh
tiểu học, trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của các em Trò chơi có sự cuốn hút mạnh mẽ với tất cả mọi người ở các lứa tuổi khác nhau Đưa trò chơi vào lớp học tức là biến một hoạt động trên lớp thành trò chơi mà học sinh vẫn có thể tiếp thu được kiến thức của bài học
Việc biết cách sử dụng, tổ chức trò chơi trong tiết dạy của giáo viên sẽ là cơ hội cho đông đảo học sinh tham gia Không khí sôi nổi vui tươi của trò chơi sẽ dúp các em thấy thỏa mái, hứng thú học tập
Bên cạnh đó trò chơi còn rèn cho các em sự nhanh nhẹn, ý thức tự tổ chức,
sự đoàn kết, cũng như giúp các em làm quen với các tình huống giao tiếp, từ đó dần hình thành kĩ năng ứng xử trong giao tiếp Đây là cơ hội cho các em luyện nói, luyện kĩ năng nói trước tập thể trong những tình huống nhất định Ngoài ra, trò chơi còn tạo điều kiện tốt cho việc bồi dưỡng, phát triển trí tuệ, óc sáng tạo của các em Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: ở lứa tuổi này, các hệ xương, cơ của các em đang trong thời kì phát triển, được tham gia vào các trò chơi, được vận động trí tuệ và thể chất sẽ là điều kiện tốt đảm bảo cho sự phát triển toàn diện cho trẻ
Yêu cầu khi sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm: Trò chơi
phải hướng vào việc củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng Nội dung chơi là một
đơn vị kiến thức, một số thao tác của kĩ năng hay của nhiều đơn vị kiến thức
Giáo viên phải là người nắm rõ trò chơi, luật chơi, dự kiến số lượng học sinh tham gia, chuẩn bị cơ sở vật chất, phương tiện (nếu có),…Cần phổ biến rõ ràng, đầy đủ để học sinh nắm rõ luật chơi, cách chơi Là người tổ chức cho học
Trang 26sinh chơi, giáo viên cần khách quan, công bằng trong cách tính điểm, cũng nhƣ trong cách nhận xét, đánh giá
Trò chơi phải đa dạng, phong phú, giúp cho học sinh luôn đƣợc thay đổi cách thức hoạt động trong lớp, phối đƣợc nhiều cơ quan vận động và các giác quan Điền kiện tổ chứ trò chơi cần đơn giản, dễ làm, dễ thực hiện
Học sinh có thể bị thu hút vào các trò chơi mà quên đi nhiệm vụ học tập, nên giáo viên cần phải có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động học và vui chơi để tất cả các giờ học đạt kết quả cao nhất
Một số trò chơi và cách thực hiện
*Trò chơi “con muỗi”
- Mục tiêu: Rèn cho HS kĩ năng kết hợp phát âm và thực hiện động tác, tạo không khí sôi nổi cho tiết học
- Nội dung: Cho HS thực hiện kết hợp miệng nói, tay thực hiện động tác, bổ trợ việc phát âm o, a, vẽ chữ a
- Cách tiến hành: Tổ chức cho học sinh đứng tại chỗ để chơi ( có thể bố trí trò chơi này vào cuối tiết 1 hoặc tiết 2) Từng HS dùng tay phải vẽ vòng tròn trong không khí theo hình chữ 0, miệng nói to o,o, o ( giống nhƣ tiếng muỗi bay) Sau đó vẽ liền ba vòng tròn, nói liền ba tiếng o,o,o.Dùng hai bàn tay vỗ vào nhau nhƣ động tác vỗ muỗi Ngừng hai bàn tay ra để xem ( giả nhƣ thấy con muỗi chết), liền reo lên a!
Nhƣ vậy, trò chơi sẽ có ba tiếng kêu o,o,o sau đó có một tiếng vỗ tay “đốp”
và một tiếng reo a!
- Điều kiện vận dụng: Áp dụng khi dạy dùng khi dạy bài về âm a, chữ a,
âm o và chữ o
* Trò chơi: “Ai nhanh, ai đúng”
- Mục tiêu: HS biết điền các vần vào tiếng, từ để tạo thành lời có nghĩa Rèn cho HS kĩ năng phát âm đúng
- Chuẩn bị:
+ GV chia lớp thành 2 đội, chọn 3 trọng tài
+ 2 bút dạ
+ 2 bảng phụ có ghi các từ ngữ sau:
Trang 27Điền vần oai, oay vào chỗ trống để tạo thành từ có nghĩa;
+ Bước 2: Sau khi điền xong, GV yêu cầu các thành viên của 2 đội chơi phải phát âm lại vần mà mình đã điền, phát âm tiếng chứa vần đó GV cùng HS cùng nghe và nhận xét
+ Bước 3: Kết thúc trò chơi, GV tuyên dương đội chơi thắng cuộc, GV củng cố trò chơi
* Trò chơi: „„Bông hoa và cách phát âm”
- Mục tiêu: sử dụng khi học các bài ôn tập trong chương trình học vần lớp 1
nhằm giúp HS phát âm đúng vần, tiếng, từ , câu
+ Bước 3: GV và HS dưới lớp phát hiện, sửa lỗi phát âm, đánh giá
+ Bước 4: GV tuyên dương người thắng cuộc, củng cố trò chơi
(Bài 43: Ôn tập ( SGK Tiếng Việt 1- tập 1))