Những điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả dạy học phát âm ở các trường khu vực miền núi phía Tây Bắc mà cụ thể là Trường Tiểu học Sơn Bình của tỉnh Lai Châu Từ việc nhận thấy tầ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học của đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Đóng góp của đề tài 5
9 Cấu trúc đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài 6
1.1.1 Phát âm 6
1.2 Cơ sở khoa học của việc dạy Học vần ở Tiểu học 7
1.2.1 Cơ sở tâm – sinh lí học 7
1.2.2 Cơ sở triết học Mác - Lê nin 9
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ 10
1.3 Cơ sở sư phạm của dạy Học vần và luyện phát âm cho học sinh lớp 1 12
1.3.1 Những khó khăn của ngưỡng cửa lớp 1 12
1.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 13
1.4 Vai trò của dạy Học vần trong việc rèn kĩ năng phát âm cho học sịnh dân tộc thiểu số 15
1.4.1 Chương trình phân môn Học Vần 15
1.4.2 Đặc điểm của HS lớp 1 dân tộc thiểu số 19
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 21
2.1 Khảo sát thực trạng rèn phát âm tiếng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu 21
2.1.1 Mục đích khảo sát 21
Trang 22.1.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát 21
2.1.3 Nội dung khảo sát 21
2.3.4 Phương pháp khảo sát 21
2.2 Kết quả khảo sát 21
2.3 Thực trạng dạy phát âm cho HS lớp 1 22
2.4 Thực trạng học phát âm của HS lớp 1 26
Tiểu kết 27
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP LUYỆN PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN BÌNH - TAM ĐƯỜNG - LAI CHÂU 29
3.1 Ứng dụng các phương pháp dạy học Tiếng Việt rèn kĩ năng phát âm cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số 29
3.1.1 Sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm 29
3.1.2 Kết hợp với phụ huynh cho tăng cường việc nói tiếng Việt ở nhà 33
3.1.3 Kết hợp vừa đọc vừa viết chữ 37
3.1.4 Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin 39
3.2 Thể nghiệm da ̣y ho ̣c 40
3.2.1 Mục đích thể nghiệm 40
3.2.2 Đối tượng, thờ i gian, đi ̣a bàn thể nghiê ̣m 41
3.2.3 Nội dung thể nghiê ̣m và tiêu chí thể nghiệm 41
3.2.5 Kết quả thể nghiê ̣m 42
PHẦN KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 3sự nghiệp phát triển đúng đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ
và các kĩ năng cơ bản để các em học tập tiếp các cấp tiếp theo hoặc đi vào cuộc sống lao động vững vàng hơn
1.2 Phát âm là nột phần quan trọng của môn Tiếng Việt, rèn kĩ năng phát
âm cho học sinh tiểu học được thực hiện thông qua phân môn Tập đọc Ngoài nhiệm vụ chung phát âm còn có nhiệm vụ riêng là giúp học sinh nắm vững cách phát âm đúng và hình thành kĩ năng đọc Nói cách khác, nó giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen phát âm chuẩn Nếu có thói quen phát âm chuẩn, biết cách diễn đạt chuẩn xác lời nói sẽ góp phần giúp các em truyền tải thông tin một cách chính xác, khoa học đến người nghe và giúp các em có thể dễ dàng trao đổi những tri thức khoa học của các môn học để đạt được hiệu quả cao trong học tâp, qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách của các em
1.3 Rèn kĩ năng phát âm chuẩn là một trong những nhiệm vụ hành đầu của phân môn Học vần ở tiểu học nhưng trong thực tế việc dạy và học phát âm chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành Giáo dục và toàn xã hội Thực trạng dạy học trong thời gian gần đây cho thấy, ở đa số trường phổ thông, đặc biệt là nhiều trường ở vùng núi phía bắc, tình trạng học sinh phát âm sai còn phổ biến nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa phân biệt được cách phát âm hay
do sự ảnh hưởng của ngôn ngữ nơi các em sinh sống Hiện nay, tình trạng phát
âm lệch chuẩn đang là một vấn đề gây bức xúc trong xã hội, việc đi đến thống nhất một chuẩn chính âm vẫn còn gặp nhiều khó khăn do còn nhiều khó khăn khách quan nhất định Trên cơ sở khảo sát tình trạng phát âm sai của học sinh Trường
Trang 4Tiểu học Sơn Bình huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu, ta thấy việc rèn luyện kĩ năng phát âm cho học sinh vẫn còn mang tính chủ quan, áp đặt, hệ thống bài tập rèn kĩ năng phát âm hầu như chưa được xây dựng Những điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả dạy học phát âm ở các trường khu vực miền núi phía Tây Bắc mà
cụ thể là Trường Tiểu học Sơn Bình của tỉnh Lai Châu
Từ việc nhận thấy tầm quan trọng của rèn luyện kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh tiểu học cùng với thực trạng phát âm lệch chuẩn ở nhiều trường tiểu
học vùng núi phía bắc nước ta, tôi đã chọn đề tài “Rèn kĩ năng phát âm chuẩn
cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình - Tam Đường - Lai Châu”
2 Lịch sử vấn đề
Phát âm chuẩn chính âm sẽ giúp người nghe cảm nhận được đầy đủ và chính xác giá trị nội dung của văn bản Vì vậy việc rèn luyện, đề xuất các biện pháp luyện phát âm cho học sinh là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Với những cuốn sách cơ bản như:
“Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1”của các tác giả Lê Phương Nga – Lê A – Lê Hữu Tỉnh – Đỗ Xuân Thảo – Đặng Kim Nga (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003) cũng đề cập đến phân môn Học vần về: mục tiêu, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ của việc dạy Học vần ở lớp 1, một số nguyên tắc dạy Học vần, phương pháp dạy Học vần, quy trình dạy các kiểu bài học vần
Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” của Lê A – Thành Thị Yên Mĩ – Lê Phương Nga – Nguyễn Trí – Cao Đức Tiến cũng đưa ra cơ sở lí luận các nguyên tắc và phương pháp dạy Học vần, nhấn mạnh đến các phương pháp như phương pháp trực quan, phương pháp đàm thoại, phương pháp luyện tập theo mẫu Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp Tiểu học” (tài liệu đào tạo giáo viên) của Dự án phát triển giáo viên tiểu học (NXB Giáo dục, 2006) cũng đề cập đế phương pháp dạy kĩ năng nói cho học sinh Tiểu học và nghiên cứu cơ sở khoa học của việc dạy phát âm tiếng Việt cho học sinh dân tộc Đặc biệt tác giả cũng đưa ra một số biện pháp để luyện phát âm và sửa lỗi phát âm cho học sinh trong dạy Học vần
Trang 5Công trình “Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Cù Đình Tú – Hoàng Văn Thung – Nguyễn Nguyên Trứ (NXB Giáo dục, 1978) đã đề cập đế một số vấn
đề liên quan đến ngữ âm học trong nhà trường Mặc dù đã nêu lên được một số biện pháp cụ thể có liên quan đến luyện phát âm xong chưa hướng tới đối tượng cụ thể Công trình“Hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Việt lớp 1” của tác giả Đàm Hồng Quỳnh (NXB Giáo dục, 2003) có nói đến sử dụng thiết bị trong dạy Học vần bao gồm: sử dụng bộ chữ; sử dụng tranh, ảnh; sử dụng mô hình; sử dụng mẫu vật trong dạy học âm vần; sử dụng thiết bị dạy học trong dạy học từ ứng dụng, câu ứng dụng
“Vui học Tiếng việt” của tác giả Trần Mạnh Hưởng (NXB Giáo dục, 2000)
đã biên soạn những trò chơi, những bài tập nhẹ nhàng về Tiếng Việt theo yêu cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học để học sinh vừa có thể tự học mà vẫn được chơi các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần “Học vui – vui học” một cách hứng thú và bổ ích
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến những vấn đề khác nhau của phân môn Học vần và luyện phát âm cho học sinh lớp 1 nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu tìm hiểu về giải pháp rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 – Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lí luận quý báu để chúng tôi thực hiện đề tài: “Rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh dân tộc tiểu
số lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu”
3 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu tìm hiểu những khó khăn, hạn chế, từ đó đề xuất một só biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho HS
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy và học phát âm cho học sinh lớp 1 ở Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
Trang 6Đề xuất một số biện pháp luyện phát âm cho học sinh lớp 1 Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
Tổ chức thể nghiệm để xác định tính khả thi của các biện pháp đã đề ra
5 Đối tƣợng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát âm của học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
Tìm hiểu một số nguyên nhân học sinh phát âm sai
Trên cơ sở thể nghiệm biện pháp rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh dân tộc thiểu số lớp 1, nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học luyện phát âm cho học sinh Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
Tập trung tìm hiểu thực trạng phát âm của học sinh 7 lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
Trên cơ sơ kết quả nghiên cứu, điều tra được tác giả đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng phát âm nhằm khắc phục tình trạng phát âm lệch chuẩn cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
6 Giả thuyết khoa học của đề tài
Rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh dân tộc thiểu số đang là vấn đề được giáo viên quan tâm Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp với đặc điểm môn học và thích ứng với đặc điểm ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số lớp 1 miền núi thì sẽ giúp học sinh trở thành những chủ thể tích cực trong học tập nói chung và rèn kĩ năng phát âm nói riêng
Trang 77 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích: Thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu, các công trình khoa học có liên quan làm cơ sở lí luận cho khóa luận Phương pháp đọc, Phương pháp phân tích, Phương pháp tổng hợp và khai quát hóa, Phương pháp xử lí kết quả bằng thống kê toán học
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp trò chuyện: thu thập thông tin về thực trạng phát âm của học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đương – Lai Châu
Phương pháp thực nghiệm: phát phiếu điều tra để thu thập thông tin Thể nghiệm một số biện pháp nâng cao hiệu quả phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp
1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
8 Đóng góp của đề tài
Đề tài được nghiệm thu sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên Tiểu học trong quá trình giảng dạy ở miền núi nói chung, giáo viên dạy học lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu và sinh viên khoa Tiểu học – Mầm non nói riêng, trong quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Nếu được ứng dụng, khóa luận sẽ góp phần giúp các giáo viên trong quá trình rèn kĩ năng phát âm cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phát âm nói riêng, môn Tiếng Việt và các môn học khác trong nhà Trường Tiểu học , đáp ứng yêu cầu giáo dục đặt ra
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài
* Ví dụ: khi nghe một em bé gọi "ba" Ta nhận ra từ "ba" đó là nhờ các âm
âm cho học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1
1.1.2 Phát âm chuẩn
Phát âm chuẩn là hiện tượng phát âm đúng so với chuẩn chính tả, chuẩn TV
1.1.3 Học sinh dân tộc thiểu số
Học sinh dân tộc thiểu số là được hiểu là những học sinh dân tộc ít người như: thái, nùng, mông, dao…
Trang 91.2 Cơ sở khoa học của việc dạy Học vần ở Tiểu học
1.2.1 Cơ sở tâm – sinh lí học
a Sự chuyển đổi loại hình hoạt động của trẻ ở đầu lớp 1
Các nhà nghiên cứu tâm lí đã chỉ ra rằng: mỗi con người là một thực thể
xã hội Con người ấy sẽ trải qua những giai đoạn phát triển về tâm lí, nhận thức cũng như thể chất trong đó giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi có thể coi là nền tảng, tiền đề; giai đoạn từ 6 đến 11 tuổi là giai đoạn cơ sở mang tính quyết định trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách ở mỗi con người Ở hai giai đoạn này
có sự chuyển đổi hoạt động: nếu như ở trường mầm non, vui chơi là hoạt động chủ đạo, các em được vui chơi những gì mình thích thì bước sang giai đoạn sau, học tập là chủ yếu, hoạt động vui chơi giảm dần
Học lớp 1 là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ: hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫu giáo chuyển sang hoạt động mới: hoạt động học tập Ở đây các em trở thành học sinh thực thụ và có địa vị mới trong gia đình, xã hội Các em được biết đến lớp học, bạn bè, thầy cô Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này có tác động lớn đến tâm, sinh lí của trẻ Do
đó phải giúp trẻ thích ứng với hoạt động bằng nội dung học tập vừa sức cùng với
sự động viên, khích lệ
b Sự hình thành hoạt động có ý thức ở trẻ lớp 1
Các nhà khoa học đã chỉ rõ: về mặt sinh lí ở trẻ từ 6 - 7 tuổi, khối lượng của
bộ não đã đạt tới 90% khối lượng bộ não người lớn sự chín muồi về mặt sinh lí cùng với sự phát triển của những quá trình tâm lí đã tạo điều kiện để các em có thể thực hiện một hoạt động mới: hoạt động học tập Đó là hoạt động có ý thức
Tuy vậy ở giai đoạn đầu lớp 1 (học âm, chữ, vần) những hoạt động có ý thưc này còn mới mẻ như: các em đến lớp phải học thuộc bài, ngôi ngay ngắn, thực hiện đúng nội quy của lớp học Hơn nữa trong nhận thức của các em, địa vị của thầy cô giáo lớp 1 cũng khác với cô giáo mẫu giáo Những điều này đã làm cho một số em trong giờ học rụt rè, không dám đọc to làm ảnh hưởng đến hiệu quả giờ Học vần
Trang 10c Đặc điểm của hoạt động tư duy ở trẻ lớp 1
Trên cơ sở ý thức đã hình thành, khả năng tư duy bằng tín hiệu của trẻ cũng phát triển Đây chính là cơ sở để các em lĩnh hội chữ viết, là những tín hiệu thay thế ngữ âm Ở độ tuổi từ 6 - 7 tuổi, khả năng phân tích - tổng hợp ở trẻ khá hoàn chỉnh, từ đó cho phép các em tập tách từ thành tiếng, âm và chữ và phát âm chuẩn, chính xác tiếng, âm đó
Trong giáo trình "Tâm lí học đại cương", A.V.Pêtrôvxky có viết:" Ở tuổi tiền mẫu giáo tư duy về cơ bản mang tính trực quan hành động Đứa bé phân tích và tổng hợp những đối tượng cần nhận thức trong quá trình nó dùng tay tách
ra, chia cắt rồi ghép lại những sự vật khác nhau mà tri thức được trong lúc đó" Còn theo L'Vov, ông cho rằng: Những khảo cứu chuyên biệt và những khảo nghiệm đã chỉ rõ trẻ em vào lớp 1 đã sẵn sàng tri giác các ngữ âm biệt, đã sẵn sàng thể hiện các hoạt động tư duy, phân tích và tổng hợp"
Như vậy, ở trẻ đã bắt đầu hình thành và phát triển quá trình tâm lí (cảm giác, trí nhớ, tư duy ) khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát tuy còn sơ đẳng nhưng đã
có ở mức độ cao thấp khác nhau Vì vậy, trong giờ học vần trẻ có thể tập ghép chữ thành âm, vần, tiếng, từ Ở độ tuổi này, cơ quan phát âm của trẻ tương đối hoàn chỉnh tạo điều kiện cho quá trình Học vần: luyện phát âm, luyện nói
d Năng lực vận động của trẻ ở lứa tuổi lớp 1
Lứa tuổi 6 - 7 tuổi, năng lực vận động của trẻ cũng đạt được những bước phát triển đáng kể Các em có trể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như tay, mặt, đầu, cổ có thể phối hợp nhiều động tác khác nhau Đây là điều kiện cần thiết để các em có thể học viết, một hoạt động đòi hỏi sự chủ động của cánh tay, ngón tay, bàn tay với sự phối hợp của mắt nhìn, tai nghe, tay viết
Ở thời kì này, cấu trúc về không gian của trẻ cũng hình thành Sự phân biệt bên phải, bên trên, bên trái, bên dưới không còn khó khăn đối với các em Dựa vào đặc điểm này, giáo viên có thể hướng dẫn các em tập viết, luyện phát âm tốt hơn
Từ những đặc điểm tâm - sinh lí trên trên đây, ta thấy ở lứa tuổi 6 - 7 tuổi
sự phát triển tâm - sinh lí của trẻ đảm bảo đủ điều kiện để các em bước vào quá trình học âm - chữ, học vần
Trang 11Trên cơ sở những điều kiện tâm sinh lí của trẻ ở giai đoạn này, căn cứ vào nhiệm vụ của giáo viên trong dạy Học vần, cần tạo ra cho các em kĩ năng, thói quen: nghe - nói - đọc - viết Giáo viên cần tạo ra mục đích, động cơ học tập sao cho nhẹ nhàng, sinh động, thu hút hứng thú học tập của trẻ Tuy nhiên, mỗi học sinh là một cá thể và nhận thức của các em cũng khác nhau Do đó để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy Học vần, giáo viên cần nắm rõ những đặc điểm cũng như diễn biến tâm lí của trẻ Từ đó có những biện pháp điều chỉnh, đổi mới về nội dung, hình thức sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lí, tư duy, năng lực của trẻ, đảm bảo tính vừa sức, hấp dẫn các em tham gia Học vần
1.2.2 Cơ sở triết học Mác - Lê nin
Triết học Mác - lê nin là cơ sở phương pháp luận của phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung và phương pháp dạy Học vần nói riêng Đặc biệt là những lí thuyết về quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy cũng như về bản chất xã hội của ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến các quan điểm chung của dạy Học vần
Theo V.I Lê nin "ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người" Luận điểm này không chỉ đơn thuần khẳng định ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp mà là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện giao tiếp đặc trưng của loài người Không có ngôn ngữ, xã hội không tồn tại Mục đích nghiên cứu ngôn ngữ trong nhà trường nhằm giúp cho học sinh có thể sử dụng ngôn ngữ thành thạo coi đó là phương tiện để giao tiếp Vì vậy, phát triển lời nói là nhiệm vụ quan trọng nhất của việc dạy học tiếng trong Nhà trường Tiểu học Tất cả các giờ dạy Tiếng Việt, cả giờ đọc, viết phải đi theo khuynh hướng này Học sinh phải ý thức được chức năng của ngôn ngữ, nắm vững các phương tiện, kết cấu và quy luật cũng như hoạt động hành chức của
nó Học sinh cần hiểu rõ người ta nói và viết không phải chỉ để cho mình và cho người khác nên ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng, đúng đắn, dễ hiểu Đồng thời
vì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp nên phải lấy hoạt động giao tiếp làm phương tiện để dạy và học Tiếng Việt
Trang 12Ngôn ngữ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với tư duy "Ngôn ngữ là hiện tượng trực tiếp của tư tưởng"(C Mác) Ngôn ngữ là phương tiện của nhận thức lôgic, lí tính Trong các đơn vị và dạng thức ngôn ngữ có sự khái quát hóa, trìu tượng
Tư duy của con người không thể phát triển nếu thiếu ngôn ngữ việc chiếm lĩnh ngôn ngữ nhằm tạo ra các tiền đề để phát triển tư duy Từ đó, ta thấy kiến thức,
kĩ xảo, phải được xem xét như là những yếu tố của phát triển tư duy, các hệ thống dạy học tiếng Việt cần đảm bảo mối liên hệ giữa lời nói và tư duy Phải thường xuyên tập luyện cho khả năng diễn đạt tư tưởng của mình bằng những hình thức khác nhau
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ
a Những đặc điểm của ngữ âm Tiếng Việt và dạy Tiếng Việt ở lớp 1
Đặc trưng loại hình tiếng Việt thể hiên ở chỗ tiếng Việt là thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu và độc lập, mang nghĩa (xét từ góc độ ngữ âm) Vì thế trong lời nói, ranh giới giữa các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bị nối dính vào nhau như trong các ngôn ngữ biến hình Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy âm, dạy chữ
Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ chức chặt chẽ, gồm các âm đầu, vần, thanh điệu Các yếu tố cấu tạo âm tiết với nhau theo từng mức độ lỏng, chặt khác nhau Phụ âm đầu, vần và thanh điệu kết hợp lỏng còn các yếu tố của vần kết hợp với nhau khá chặt chẽ Vần có vai trò quan trọng trong tiếng Việt
Bảng 1: Cấu trúc của âm tiết
Người ta phân chia cấu trúc âm tiết bậc 1 thành cấu trúc bậc 2 Cấu trúc bậc một chia âm tiết ra làm 2 phần: âm đoạn (âm đầu và vần; phần vần bao gồm: âm đệm, âm chính, âm cuối) và siêu đoạn (thanh điệu) Cấu trúc bậc 2 là sự phân chia phần vần bao gồm: âm đệm, âm chính, âm cuối Cấu trúc bậc 2 được kết hợp chặt chẽ với nhau Song ở ngôn ngữ tiếng Việt không có hiện tượng nối âm
Trang 13như các loại ngôn ngữ khác: môi âm tiết tiếng Việt mang một thanh điệu và có cấu trúc ổn định Hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt bao gồm: thanh không (thanh ngang), thanh hỏi, thanh nặng, thanh ngã, thanh huyền Ngoài ra còn có
hệ thống các dầu phụ: mũ của âm ă, â, dâu của âm ư, ơ Điều đó cho ta thấy tiếng Việt là ngôn ngữ giàu âm thanh
b Đặc điểm của chữ viết tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm Nói chung đó là một hệ thống chữ viết tiến bộ Nguyên tắc cơ bản của kiểu chữ này là nguyên tắc ngữ âm học Về cơ bản, nguyên tắc đảm bảo tương ứng 1 – 1 giữa âm và chữ, tức là mỗi âm chỉ ghi bằng một chữ, mỗi chữ chỉ có một cách phát âm Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trong Học vần (học âm, học chữ) Tuy nhiên, trong quá trình dạy Học vần, có một số khó khăn về chữ viết do các nguyên nhân sau:
- Cấu tạo của hệ thống chữ viết tiếng Việt còn tồn tại một số bất hợp lí như: một âm ghi bằng nhiều con chữ (âm (k) ghi bằng 3 con chữ: c, k, q) hoặc một chữ dùng để nhiều âm (chữ “g” trong tiếng “gì” và tiếng “gà”) Điều này làm cho các em dễ bị nhầm lẫn khi đọc, khi viết
- Chữ viết phân biệt theo hệ thống ngữ âm chuẩn nhưng cách đọc của học sinh lại thể hiện ngữ âm của phương ngôn: học sinh người miền Bắc thường không đánh vần được các âm quặt lưỡi, học sinh người miền trung không phân biệt được thanh hỏi thanh ngã…
Mặc dù vậy chữ viết tiếng Việt có cấu tạo đơn giản và tiếng Việt có tính thống nhất cao tạo điều kiện thuận lợi cho dạy Học vần ở Tiểu học nói chung, chương trình lớp 1 nói riêng
c Chức năng của ngôn ngữ
Ngôn ngữ vừa là công cụ của giao tiếp vừa là công cụ của tư duy Khi hoạt động giao tiếp diễn ra cũng có nghĩa là những nhận thức, tư tưởng, tình cảm được trao đổi giữa chủ thể giao tiêp và đối tượng giao tiếp Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Không có từ, câu nào mà không biểu hiện khái niệm của tư tưởng và ngược lại, không có ý nghĩ tư tưởng nài lại không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng
Trang 14Tất cả những ý nghĩ, tư tưởng chỉ rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ Đối với đứa trẻ 6 tuổi, dù vốn từ có nghèo nàn, khả năng tư duy chưa cao thì việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập, giao tiếp, đặc biệt là khi luyện phát âm, luyện nói trong giờ Học vần, các em cũng đưa vào trong đó những suy nghĩ, định hương, mục đích ban đầu
Phương tiện để trao đổi tình cảm, tư tưởng giữa người giao tiếp và người được giao tiếp là ngôn ngữ ở cả dạng nói và viết Vì vậy luyện nói, luyện phát
âm, tập viết là những nội dung quan trọng cần đạt được trong dạy Học vần
1.3 Cơ sở sƣ phạm của dạy Học vần và luyện phát âm cho học sinh lớp 1
1.3.1 Những khó khăn của ngưỡng cửa lớp 1
Khi trẻ đi học lớp 1 thì hoạt động chủ đạo của trẻ chuyển từ vui chơi sang học tập Ở giai đoạn này trẻ gặp không ít những khó khăn đặc biệt là ở giai đoạn đầu lớp 1 Giai đoạn chuyển hoạt động chủ đạo này chúng ta gọi là
“ngưỡng cửa lớp 1”
Trong 6 năm đầu trẻ sống trong gia đình, nhà trẻ, mẫu giáo, các em tích lũy được những kĩ năng, kĩ xảo bằng cách học lỏm, bắt chước , trẻ chủ yếu học qua hoạt động vui chơi Nhưng khi vào lớp 1 các em được gia nhập cuộc sống nhà trường, nhà trường đưa đến cho ác em những gì chưa hề có và không thể có được trong 6 năm đầu của trẻ Trở thành học sinh, các em phải thực hiện nhiều yêu cầu hơn, kĩ thuật cao hơn: nề nếp, thời gian tới trường, học thuộc bài và làm bài tập ở nhà Nội dung học tập được sắp xếp theo chương trình có mục đích, hệ thống rõ rệt, đòi hỏi trẻ phải tư duy và lao động trí óc Đến trường phổ thông, các em phải xây dụng các mối quan hệ với thầy cô, bạn bè mới, anh chị các lớp trên và quan hệ với mọi người xung quanh trở nên rộng rãi hơn và phức tạp hơn Lúc này có nhiều biến đổi trong tâm lí của trẻ: mạnh dạn, sôi nổi nhưng cũng có thể rụt rè, e ngại
Vì vậy, cần phải có những biện pháp thích hợp giúp trẻ vượt qua “ngưỡng của lớp 1”, nhanh chóng bắt nhịp với việc học tập nói chung, môn Tiếng Việt, phân môn Học vần, cách luyện phát âm nói riêng
Trang 151.3.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1
a1 Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không chủ động Do đó, các em phân biệt những đối tượng chưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Đối với học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học, tri giác thường gắn với hành động, hoạt động của trẻ Ngoài ra, khả năng tri giác và đánh giá thờ gian, không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế a2 Chú ý
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh một cách có ý chí chưa mạnh Sự chú ý của các em đòi hỏi một động cơ gần thúc đẩy Nếu ở học sinh các lớp cuối bậc Tiểu học, chú ý chủ định được duy trì ngay cả khi chỉ có động cơ xa thì học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học thường bắt đầu chú ý khi có động cơ gần Ở lứa tuổi này, chú ý không chủ định phát triển Những gì mang tới mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ dàng lôi cuốn các em
Sự tập trung chú ý của học sinh lớp 1, lớp 2 thiếu bền vững, khả năng phát triển chú ý có chủ định, bền vững, tập trung ở học sinh tiểu học trong quá trình học là rất cao Bản thân của quá trình học tập đòi hỏi các em phải rèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí Sự chú ý có chủ định được phát triển củng với sự phát triển của động cơ học tập mang tính xã hội cao, cùng với sự trưởng thành ấy về ý thức trách nhiệm đối với kết quả học tập Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia học tập bằng các đồ dùng trực quan, nhiều màu sắc sinh động gây sự chú ý của học sinh
a3 Trí nhớ
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở lứa tuổi này tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan – hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic Các em nhớ và giữ gì chính xác sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn
và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng Học sinh ở lớp 1 và lớp 2 có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có
Trang 16khi chưa hiểu được những mối liên hệ, ý nghĩa của tài liệu học tập đó Các em thường học thuộc lòng theo đúng từng từ, từng câu và không sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt theo ý hiểu, lời lẽ của mình
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần giúp đỡ học sinh biết cách khái quát hóa, đơn giản mọi vấn đề, xác định đâu là phần ghi nhớ, hình thành ở các
em tâm lí hứng thú, vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
a5 Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng nhiều Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi thơ mộng, giúp phát triển trí tưởng tượng Tuy vậy, tưởng tượng của ác em còn tản mạn, ít tổ chức, hình ảnh còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững Trong dạy học ở tiểu học, giáo viên cần hình thành biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên trong các giờ học trên lớp được xem như là phương tiện dạy học trực quan ở Tiểu học a6 Tư duy
Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào các đặc điểm trực quan của những đối tượng và hình tượng
cụ thể Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần chuyển từ nhận thức bên ngoài của hình tượng đến nhận thức những thuộc tính và dấu hiệu bản
Trang 17chất của hình tượng vào tư duy
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải nắm được những đặc điểm trên của học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh lớp 1 để lựa chọn những biện pháp
và phương pháp dạy học phù hợp
1.4 Vai trò của dạy Học vần trong việc rèn kĩ năng phát âm cho học
sịnh dân tộc thiểu số
1.4.1 Chương trình phân môn Học Vần
1.4.1.1 Vai trò, nhiệm vụ của phân môn Học Vần
Phân môn Học vần ở bậc Tiểu học rèn cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói đọc, viết trong đó đọc và viết được đặc biệt ưu tiên Học vần có nhiệm vụ giúp học sinh:
- Nắm được một cách có hệ thống âm vị trong tiếng Việt: nguyên nhân, phụ âm, thanh điệu; nắm được cá dạng chữ ghi âm: a, b, c, ; các dấu ghi thanh: thanh huyền, thanh ngã, thanh sắc, ; thuộc bảng chữ cái tiếng Việt và phát âm một cách chính xác
- Biết ghép âm, thanh điệu, vần, nắm được vị trí các âm trong vần, biết ghép phụ âm đầu với vần tạo thành tiếng và phát âm đúng, đọc đúng, viết bảng đúng tiếng đó
- Biết phát âm đúng chính âm, viết đúng chính tả các câu, vần và biết đọc các từ, câu, đoạn văn trong bài
- Rèn các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho học sinh đặc biệt là kĩ năng đọc (phát âm chuẩn) và kĩ năng viết Ngoài ra, phân môn học vần còn giúp học sinh phát triển vốn từ cho học sinh, tập cho các em viết đúng các mẫu câu ngắn, bồi dưỡng lòng ham thích thơ văn,mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên xã hội và giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh
1.4.1.2 Nội dung chương trình phân môn Học vần
Nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 1 được xác định: về kĩ năng, kiến thức, ngữ liệu
a Kĩ năng
Xác định được kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết
Trang 18a1 Kĩ năng nghe
- Nghe trong hội thoại
+ Nhận biết sự khác nhau của các âm, các thanh và các kết hợp của chúng; nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi
+ Nghe hiểu câu chuyện, câu hỏi đơn giản
+ Nghe lời hướng dẫn hoặc yêu cầu
Nghe hiểu văn bản: nghe hiểu một câu chuyện có nội dung thích hợp với học sinh lớp 1
a2 Kĩ năng nói
- Nói trong hội thoại:
+ Nói đủ to, rõ ràng, thành câu
+ Biết đặt câu và trả lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng
+ Biết chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học
- Nói thành bài: kể lại một câu chuyện đơn giản đã được nghe
a3 Kĩ năng đọc
- Đọc thành tiếng:
+ Biết cầm sách đọc đúng tư thế
+ Đọc đúng và trơn, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu; tập ngắt, nghỉ đúng chỗ
- Đọc hiểu: hiểu nghĩa các từ thông thường, hiểu ý được diễn đạt trong câu đã được học
- Học thuộc lòng một số bài văn vần (thơ, ca dao…) trong SGK
a4 Kĩ năng viết
- Viết chữ: tập viết chữ đúng tư thế, hợp vệ sinh; viết các chữ cái cỡ vừa
và nhỏ; tập ghi dấu thanh đúng vị trí; làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định; tập viết các số đã học
- Viết chính tả:
+ Hình thức chính tả: tập chép, bước đầu tập nghe, đọc để viết chính tả + Luyện viết các vần khó, các chữ mở đầu bằng: g / gh, ng / ngh, c / q /k,… + Tập ghi các dấu câu (dâu chấm, dấu chấm hỏi)
+ Tập trình bày một bài chính tả ngắn
Trang 19b Kiến thức
Không có tiết học riêng, chỉ trình bày kiến thức học sinh cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài thực hành kĩ năng
b1 Ngữ âm và chữ viết
- Bước đầu nhận biết sự tương ứng và chữ cái, thanh điệu và đấu ghi thanh
- Chính tả: bược đầu nhân biết một số quy tắc chính tả
b2 Từ vựng
- Học thêm 200 đến 300 từ ngữ (kể cả thành ngữ, tục ngữ)
b3 Ngữ pháp
- Nhận biết cách dùng đấu chấm, dấu hỏi
- Ghi nhớ các cách thưc lời nói
c3 Các bài làm quen với chữ
1.4.1.3 Sách giáo khoa
a Cấu trúc sách
Sách giáo khoa học vần (Tiếng Việt 1 – tập 1 và 4 tuần đầu của sách Tiếng Việt 1 – tập 2) được gọi là “Phần 1” gồm 103 bài học chia thành 3 phần như sau:
Trang 20Bảng 2: Cấu trúc p hần môn Học vần của sách TV 1
2.Chữ cái và âm Các con chữ đơn, kép thể hiện phụ âm, nguyên âm 25
3 Vần thường gặp Các kết hợp con chữ thể hiện vần thường gặp 72
Tổng cộng 103
b Cấu trúc bài học
* Bài dạy chữ cái và âm, vần:
Mỗi bài đều có cấu trúc tương tự, trình bày trong 2 trang sách, thuận tiện cho việc dạy và học
Trang thứ nhất gồm:
a Các đơn vị chữ của bài (âm hoặc vần)
b Tiếng chứa các đơn vị chữ
c Tranh ảnh minh họa từ chứa tiếng, chứa đơn vị chữ
d Từ chứa tiếng, chứa đơn vị chữ
e Từ ứng dụng chứa đơn vị chữ vừa học
f Thể hiện chữ viết thường của đơn vị chữ vừa học
Trang thứ hai gồm:
g Câu (đoạn) chứa đơn vị chữ vừa học
h Tranh minh họa câu, đoạn chứa đơn vị chữ vừa học
i Chủ đề luyện nói
j Tranh minh họa chủ đề luyện nói
* Bài dạy ôn tập âm, vần:
Trình bày trong 2 trang sách theo cấu trúc sau:
Trang thứ 1:
a Mô hình tiếng chứa đơn vị mẫu học trong tuần (âm, vần)
b Tranh minh họa từ, chứa tiếng, chứa đơn vị mẫu
c Bảng kết hợp ôn tập cùng loại
d Từ ứng dụng chứa các kết hợp cùng loại
e Thể hiện chữ viết thường của đơn vị cùng loại
Trang 21Trang thứ 2:
f Câu, đoạn ứng dụng chứa các tiếng có âm, vần cùng loại vừa học
g Tranh minh họa cho câu, đoạn ứng dụng
h Truyện kể (giáo viên kể cho học sinh nghe)
i Tranh minh họa cho truyện kể
Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại công văn số GDTH, Chương trình học vần lớp 1 gồm 103 bài được học trong 24 tuần, mỗi bài học 2 tiết, mỗi tiết 35 phút Cuối chương trình có 2 bài kiểm tra, mỗi bài 2 tiết Chương trình dạy chữ (đọc, viết) trên cơ sở phát triển và hoàn thiện toàn diện các
9832/BGDĐT-kĩ năng khác (nghe, nói) Ngữ liệu để học ở giai đoạn học chữ là những từ ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn kĩ năng Ngữ liệu học được lựa chọn phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh lớp 1, có tác dụng giáo dục và mở rộng sự hiểu biết cho HS
1.4.2 Đặc điểm của HS lớp 1 dân tộc thiểu số
Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt Thực tế các em cũng được trải qua sự chăm sóc của lớp Mầm non, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào lớp 1 Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em Đến trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến trường
Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số học tiếng Việt là học ngôn ngữ thứ hai Mặc dù học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các em,
Trang 22Trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản năng
Môi trường học TV bị bó hẹp HS dân tộc thiểu số chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy cô giáo - những người nắm vững TV Do số HS trong lớp thì đông mà lại chỉ có một GV nên cơ hội giao tiếp bằng TV giữa HS và GV rất có hạn
Quá trình học tập của các em luôn chịu ảnh hưởng của TMĐ Theo một
xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng TMĐ được HS dân tộc đưa vào trong quá trình học TV Hệ quả là, những yếu tố giống nhau giữa TMĐ và tiếng Việt tạo điều kiện thuân lợi còn những yếu tố khác nhau gây cản trở, khó khăn cho các em khi học tiếng Việt
Tiểu kết
Phân môn Học vần có nhiệm vụ chủ yếu là trang bị cho HS cả 4 kĩ năng
TV, trong đó kĩ năng đọc và viết được đặc biệt ưu tiên Để dạy kĩ năng phát âm cho học sinh có hiệu quả, nhất là dạy phát âm TV cho HS dân tộc thiểu số, GV cần tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của HS lứa tuổi này Từ đặc điểm tâm sinh lí,
từ mục tiêu môn học… việc dạy phát âm cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số phải tuân theo các nguyên tắc, phương pháp dạy học phần nói chung, đồng thời lại phải chú ý lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng HS Các nội dung, tổ chức dạy học phải lấy giao tiếp làm đích Cần thay đổi linh hoạt hình thức hoạt động tư duy trí tuệ Dạy phát âm phải quán triệt được tinh thần
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng” nhằm phát huy tính tích cực của
HS Đối với HS dân tộc thiểu số cần tận dụng những kinh nghiệm lời nói của các em vào việc học phát âm TV, cần so sánh tiếng mẹ đẻ của các em với TV, tìm điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ
Trang 23CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Khảo sát thực trạng rèn phát âm tiếng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu
số Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
2.1.1 Mục đích khảo sát
Trên cơ sở thực hiện mục tiêu của khóa luận, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy phát âm, học phát âm của giáo viên và học sinh Trường Tiểu học Sơn Bình, qua đó để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn gặp phải trong quá trình luyện phát âm, đặc biệt là tìm hiểu những biện pháp GV sử dụng cũng như hiệu quả thu được ra sao Từ đó, tôi đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh
2.1.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian khảo sát
- Đối tượng: GV, HS Trường Tiểu học Sơn Bình
- Địa bàn: Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu
- Thời gian: tháng 11 năm 2013 khảo sát dự giờ, phát phiếu điều tra, trò chuyện, phỏng vấn với GV và HS tại Trường Tiểu học Sơn Bình.; tháng 3/2014 khảo sát giáo án, dạy học thể nghiệm
2.1.3 Nội dung khảo sát
- Thực trạng rèn kĩ năng phát âm cho HS của GV
- Thực trạng phát âm TV của HS dân tộc thiểu số
2.3.4 Phương pháp khảo sát
Chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho HS và GV thực hiện, bằng các phương pháp sau:
- Thống kê, phân tích tư liệu
- Phương pháp dự giờ trực tiếp
- Phỏng vấn trực tiếp GV và HS
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
2.2 Kết quả khảo sát
Bảng 3: Thống kê số liệu phân loại học sinh trước khi khảo sát
Trang 24- Qua kết quả khảo sát ta thấy số học sinh đạt từ 8 – 10 điểm có 6 học sinh chiếm 10%; số học sinh đạt từ 7 – 7,9 điểm có 12 học sinh chiếm 20%; số học sinh đạt từ 5 – 6,9 điểm có 27 học sinh chiếm 45%; số học sinh từ 4,9 điểm trở xuống có 15 học sinh chiếm 25%
- Sau khi tiến hành khảo sát thực trạng, chúng tôi thấy một số thực trạng phát âm sai tiếng Việt ở một số lỗi cơ bản mà các em thường mắc phải, cụ thể là:
+ Các em thường bị khuyết một số âm, ví dụ: thuồng luồng thường phát
âm thành thuồn luồn, chín điểm thành chí đỉa
+ Thay đổi âm cuối: xà beng biến đổi thành xà bem, vần em lẫn sang vần eng, nhầm eo/oe, ưu/ươu, eng/anh, ua/ươ, êch/êc,…
+ Lẫn các thanh điệu, nhầm thanh điệu
+ Bỏ đi các nguyên âm o, ơ, ư, e …
+ Phát âm (nói, đọc) sai l thành đ, b thành v, t thành th
2.3 Thực trạng dạy phát âm cho HS lớp 1
Bảng 4: Nhận thức của GV về nguyên nhân mắc lỗi của HS
STT Nguyên nhân mắc lỗi Số lượng GV
được khảo sát (%)
Đồng ý (%)
Trang 25Bảng 5: Các phương pháp GV thường sử dụng để rèn kĩ năng phát âm cho HS
STT Các phương pháp
Số lượng
GV được khảo sát
Thường sử dụng (%)
Ít sử dụng (%)
Không sử dụng (%)
âm chuẩn ở lớp 1 thi các lớp 2, 3, 4, 5 HS sẽ đọc tốt, đọc đúng Chương trình SGK hiện nay đã có nhiều thay đổi: kênh chữ giảm dần thay vào đó là việc tăng cường kênh hình để phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1 Dựa vào đó các thầy cô giáo giảng dạy ở Trường Tiểu học cũng có những phương pháp dạy học cho phù hợp Song do đặc điểm, điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất của từng trường, từng vùng khác nhau nên việc sử dụng phương pháp dạy học cũng khác nhau
Trường Tiểu học Sơn Bình có đội ngũ giáo viên với trình độ đào tạo chủ yếu là cao đẳng và đại học Trong đó có 2 giáo viên dân tộc thiểu số chiếm 7,1% Đa số GV có số năm công tác tương đối cao, có kinh nghiệm giảng dạy, lòng yêu nghề, mến trẻ Đặc biệt đội ngũ giáo viên được phân công giảng dạy ở lớp 1 đều có trình độ cao đẳng trở lên GV dạy lớp 1 đều là dân tộc Kinh, không
có GV bản ngữ Đây là một điều kiện hết sức thuận lợi khi dạy Học vần nói
Trang 26chung và luyện phát âm nói riêng Vì GV có phát âm chuẩn TV thì mới có thể giúp HS sửa lỗi phát âm, diễn đạt cho đúng chuẩn TV được
Ngoài ra, ở Trường Tiểu học Sơn Bình các thiết bị, đồ dùng dạy học được trang bị tương đối đầy đủ Cơ sở vật chất nhà trường được đảm bảo, phụ huynh
HS quan tâm và tạo điều kiện cho việc học tập của con em mình nhiều hơn Những điều kiện thuận lợi như vậy có tác động rất lớn đến quá trình dạy và học nói chung, dạy phát âm cho học sinh trong chương trình Học vần lớp 1 nói riêng
Bên cạnh đó, Trường Tiểu học Sơn Bình còn gặp nhiều khó khăn: cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ cho quá trình dạy học đã trở nên lạc hậu, chủ yếu GV vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, cơ bản như: phương pháp trực quan, phương pháp thực hành luyện tập, phương pháp luyện tập theo mẫu Đó
là những phương pháp dạy học mà HS đã quen thuộc và không tạo được hứng thú cho bài học Vì vậy, việc luyện phát âm cho học sinh không đạt hiệu quả như mong muốn
Đối với học sinh lớp 1, GV cần sử dụng phương pháp mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng trường
để thu hút HS tham gia học tập Hiện nay trong Nhà trường Tiểu học có rất nhiều phương pháp dạy học luyện phát âm để GV lựa chọn và sử dụng như: phương pháp trò chơi, phương pháp sử dụng công nghệ thông tin, phương pháp luyện phát âm thông qua học hát qua điều tra ở một số GV dạy lớp 1, các GV đều cho biết họ rất ngại tổ chức trò chơi cho HS trong giờ Học vần đặc biệt là phương pháp luyện phát âm vì đây là dạy học đòi hỏi GV phải có sự quản lí lớp khá tốt Ngoài ra do môi trường lớp học nhỏ nên khó tổ chức trò chơi HS lớp 1 đang bước vào giai đoạn chuyển đổi hoạt động: từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập nên khi được tham gia trò chơi, HS sẽ quá khích làm ảnh hưởng đến lớp học khác và GV khó dẫn dắt HS quay trở lại bài học sau khi kết thúc trò chơi Tuy nhiên đây là những suy nghĩ hết sức sai lầm vì khi tham gia trò chơi, trẻ được chơi hết mình có tâm lí thoải mái sẽ giúp trẻ tiếp thu bài học nhanh chóng và có hiệu quả
Trang 27Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) cũng là phương pháp dạy học mới nhưng cũng đã được sử dụng ở nhiều nơi và ở một số Trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Lai Châu sử dụng thường xuyên Đối với Trường Tiểu học Sơn Bình thì do điều kiện cơ sở vật chất của Nhà trường, do trình độ của GV còn chưa đáp ứng được nên việc sử dụng CNTT trong giờ học là rất ít Chỉ những khi có bài thao giảng, thi GV dạy giỏi, các GV mới sử dụng CNTT vào dạy học Đôi khi là cả năm học GV mới sử dụng CNTT trong dạy học một lần Theo chúng tôi nhận thấy sử dụng CNTT (phần mềm Power Point) trong dạy Học vần đặc biệt là luyện phát âm sẽ đem lại hiệu quả cao Trong phần mềm Power Point có rất nhiều hình ảnh sinh động, các chữ dần hiện ra, kết hợp lồng ghép giọng phát âm mẫu, chuẩn cho trẻ nghe tạo sự thu hút, hấp dẫn HS Nhưng các GV lại ngại sử dụng CNTT vì để dạy được một tiết học bằng phần mềm Power point thì người dạy phải đầu tư mất rất nhiều thời gian chuẩn bị và quá trình thực hiện bài giảng gặp nhiều khó khăn nếu GV không quen sử dụng các thiết bị: máy vi tính, máy chiếu,
Trong thực tế dạy học lớp 1 ở Trường Tiểu học Sơn Bình còn có sự bất đồng ngôn ngữ giữa GV và HS nên việc dạy và học phát âm gặp nhiều khó khăn HS dân tộc thiểu số mới vào lớp 1 không rõ tiếng Việt, GV là người kinh không biết tiếng dân tộc nên khó giải thích cho HS hiểu, HS không thể phát âm chuẩn theo yêu cầu của GV Mặt khác, do sự luân chuyển GV thường xuyên nên
GV gặp nhiều khó khăn khi dạy học vì đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức và khả năng học tập của HS ở những vùng khác nhau thì GV phải có những phương pháp dạy học khác nhau
Đa phần các GV đều nói rằng: do điều kiện kinh tế ít được đi tham quan, tập huấn, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp dạy học với các Trường Tiểu học ở các vùng miền khác nhau nên GV chưa nhanh nhạy trong việc tiếp thu, đổi mới phương pháp dạy học
Như vậy, qua tìm hiểu thực trạng phát âm cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình - Tam Đường - Lai Châu, chúng tôi nhận thấy các GV cần phải
Trang 28biết lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp để đá ứng được yêu cầu dạy học đã đề ra
2.4 Thực trạng học phát âm của HS lớp 1
Trong học tập môn nào cũng vậy, HS cần phải có hứng thú, yêu thích môn học thì việc học mới đạt hiệu quả Chính vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát tình trạng phát âm của HS lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu HS lớp 1 khi học Học vần thường phát âm sai ở phụ âm đầu, phần vần, thanh điệu
Bảng 6: Hứng thú của HS khi học kĩ năng phát âm TV
Số lượng học sinh
được khảo sát Lớp
Mức độ Rất thích (%) Thích (%) Không thích (%)
l/n (%)
uôn/uân (%)
oc/ooc (%)
p/t (%)
i/y (%)
40 35/40
(87,5%)
15 (37,5%)
8 (20%)
25 (62,5%)
35 (87,5%)
30 (75%)
20 (50%)
Bảng 8: Lỗi về dấu thanh
Trang 2963 HS dân tộc Thái chiếm 72,4%
10 HS dân tộc Mông chiếm 11,6%
14 HS dân tộc kinh chiếm 16%
HS dân tộc thiểu số ở đây với vốn từ tiếng Việt không nhiều, môi trường học tiếng Việt, môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt bị hạn chế nên việc phát âm đúng tiếng Việt gặp nhiều khó khăn Điều này khiến ngay bản thân nhiều em cũng không có hứng thú học tiếng Việt, con số này lên tới 20 HS trong tổng số
40 HS được khảo sát, chiếm 50% (bảng 6) Nguyên nhân là do ngay từ khi sinh
ra đên khi bắt đâu đi học, các em đều giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, tiêng Việt trở nên xa lạ với các em dẫn đến tâm lí e ngại, rụt rè và không có hứng thú học môn Tiếng Việt
Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nên hầu hết HS lớp 1 dân tộc thiểu số ở đây đều phát âm sai Các em hay nhầm lẫn giữa các phụ âm l/d, b/v, l/n, trong đó có tới 35 trong tổng số 40 em nhẫm lẫn phụ âm l/d Về phần vần, các em cũng nhầm lẫn giữa các vần uôn/uân, oc/ooc, ví dụ: đi học → li → họoc (bảng 7) Một yếu tố nữa mà các em cũng hay nhầm lẫn đó là thanh điệu Có tới 80% HS được khảo sát phát âm nhầm giữa thanh ~ và thanh „ Ngoài ra các em cũng hay nhầm giữa các thanh ~ và ·, · và ‟ ( bảng 8)
Tất cả những điều đó đều làm giảm chất lượng học tập của HS nói chung và chất lượng của luyện phát âm nói riêng Để HS phát âm đúng, chuẩn cần phải có
sự kết hợp hiệu quả giữa GV và phụ huynh HS
Trang 30Thực trạng rèn kĩ năng phát âm cho HS lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình đang là vấn đề được nhiều phụ huynh và GV trong Trường quan tâm Tuy nhiên, học sinh tronh trường hầu hết là học sinh dân tộc thiểu số, do vậy tiếng Việt được xem là ngôn ngữ thứ hai đối với các em Môi trường giao tiếp xung quanh chủ yếu là giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, học sinh ít có cơ hội được sử dụng tiếng Việt, điều kiện gia đình còn gặp nhiều khó khăn, do vậy ít được tiếp xúc với công nghệ thông tin: internet, báo, …
Thực trạng trên đòi hỏi Nhà trường và phụ huynh cần phải quan tâm hơn nữa đến việc rèn kĩ năng phát âm Nhà trường cần trang bị thêm các phương tiện dạy học, đổi mới các phương pháp để nâng cao hiệu quả rèn kĩ năng phát âm cho HS
Trang 31CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP LUYỆN PHÁT ÂM CHO HỌC SINH LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN BÌNH - TAM ĐƯỜNG - LAI CHÂU 3.1 Ứng dụng các phương pháp dạy học Tiếng Việt rèn kĩ năng phát
âm cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số
Trên cơ sở lí luận chúng tôi đã phân tích những vấn đề xung quanh việc dạy
và học phát âm cho HS lớp 1, đồng thời dựa vào kết quả điều tra thực trạng dạy
và học luyện phát âm cho HS lớp 1của Trường Tiểu học Sơn Bình, chúng tôi nhận thấy việc dạy và học luyện phát âm cho HS lớp1 còn nhiều vấn đề bất cập phụ thuộc vào nhiều yếu tố Nó đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo, lãnh đạo của Nhà trường, sự nỗ lực của GV và HS, và các yếu tố khác như: môi trường của học tập, điều kiện của Nhà trường Do đó, chúng tôi mạnh dạn
đề xuất một số biện pháp dạy học cụ thể phù hợp với HS lớp 1 Trường Tiểu học Sơn Bình – Tam Đường – Lai Châu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học luyện phát âm nói riêng, phân môn Học vần nói chung
3.1.1 Sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm
3.1.1.1 Khái niệm trò chơi
Đây là một hình thức học tập thông qua các trò chơi, HS được luyện tập, thực hành cá nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân công với tinh thần hợp tác Cùng với các hình thức học tập khác, trò chơi tạo cơ hội
để HS học bằng tự hoạt động
3.1.1.2 Tác dụng của việc sử dụng trò chơi
Đối với HS Tiểu học, trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của các em Trò chơi có sức hút mạnh mẽ với tất cả mọi người ở các lứa tuổi khác nhau Ngày nay, khi xã hội phát triển, cuộc sống được cải thiện thì nhu cầu vui chơi càng lớn Đưa trò chơi vào lớp học tức là biến một hoạt động học tập trên lớp thành trò chơi mà HS vẫn có thể tiép thu được kiến thức của bài học Trò chơi khi thâm nhập vào tiết học nhất thiết phải là một phần của bài học, phải
là một thành phần cấu tạo nên tiết học, góp phần vào việc hình thành kiến thức
cơ bản của tiết học hoặc rèn các kĩ năng cơ bản của tiết học Đưa trò chơi vào lớp học tức là chuyển hoạt động dạy học mang tính chất căng thẳng thành hoạt