1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU SƠN LA

48 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 724,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình tiểu học mới nói chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học là: - Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt N

Trang 1

MỤC LỤC

A - PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Giả thuyết khoa học 7

8 Đóng góp của đề tài 7

9 Cấu trúc của khóa luận 7

B - PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc 8

1.1.1.Khái niệm đọc 8

1.1.2 Chính âm 9

1.1.3 Trọng âm 9

1.1.4 Ngữ điệu 9

1.1.5 Đọc diễn cảm 10

1.1.6 Văn bản 10

1.2 Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2 11

1.2.1 Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc 11

1.2.2 Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc 12

1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học 13

1.3 Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2 17

1.3.1 Mục tiêu 17

1.3.2 Nhiệm vụ 18

1.4 Những vấn đề đổi mới phương phương pháp giáo dục tiểu học hiện nay 20

Tiểu kết chương 1 21

Trang 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 22

2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 22

2.1.1 Mục đích khảo sát 22

2.1.2 Đối tượng và thời gian địa bàn khảo sát 22

2.1.3 Nội dung khảo sát 23

2.1.4 Phương pháp khảo sát 23

2.2 Kết quả khảo sát 23

2.2.1 Chương trình phân môn tập đọc lớp 2 23

2.2.2 Thực trạng dạy học rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 27

2.2.3 Thực trạng rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 Trường tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 30

2.3 Một số vấn đề đặt ra khi khảo sát 32

Tiểu kết chương 2 33

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 34

3.1 Vận dụng các phương pháp dạy học TV vào trong dạy – tập đọc 34

3.1.1 Phương pháp luyện đọc theo mẫu 34

3.1.2 Phương pháp đọc diễn cảm 34

3.1.3 Phương pháp giao tiếp (phương pháp đàm thoại) 35

3.1.4 Phương pháp trực quan 35

3.2 Thiết kế mẫu bài “ Bóp nát quả cam” ( SGK TV2 tập 2, tr) 36

3.2.1.Thiết kế giáo án mẫu 36

3.2.1.1 Mục đích của thiết kế giáo án 36

3.2.1.2 Yêu cầu của thiết kế 36

3.2.2 Thiết kế giáo án mẫu ( trang …, phần phụ lục) 37

Tiểu kết chương 3 37

C PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

1 Kết luận 38

2 Đề xuất 39

Trang 3

A - PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là công cụ tổ chức quá trình tư duy và là phương tiện bộc lộ tư duy Ngôn ngữ còn

là hiện thực trực tiếp của tư tưởng

Ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài người Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học Bởi vì Tiếng Việt là phương tiện để học sinh giao tiếp và học tập Chương trình tiểu học mới nói chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học là:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của

tư duy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội Tự nhiên và con người, về văn hóa văn học của Việt Nam và nước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.2 Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của day đọc ở tiểu học

Tập đọc là một phân môn cụ thể hóa các mục tiêu của môn Tiếng Việt Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của

“đọc” đọc đúng, đọc nhanh ( đọc lưu loát, trôi chảy ) đọc có ý thức ( không hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực tới những kĩ năng khác

Trang 4

Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản Ngược lại nếu không hiểu điều đang đọc thì sẽ không đọc nhanh và diễn cảm được Nhiều khi, khó mà nói được rạch ròi kĩ năng nào làm

cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc đúng Vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào

Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách trở thành một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trường đó là một trong những điều kiện để trường học thực sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi ích cho học sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển

Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng, giáo dục lòng yêu sách phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ

+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh

+ Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh

+ Giáo giục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩn nĩ cho học sinh

1.3 Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt theo chương trình mới

Môn Tiếng việt trong chương trình tiểu học mới, thể hiện sự đổi mới cả

về mục tiêu – nội dung và phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh

Hiện nay mục tiêu giáo dục đã xác định được rõ ràng, chương trình SGK tương đối ổn định – nội dung… Chính vì vậy để thường xuyên nâng cao chất lượng dạy học thì phương pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng

Tầm quan trọng đó phải thể hiện theo quan điểm : “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh

Trang 5

Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học tập đọc nói riêng, là một việc làm rất cần thiết và thường xuyên để nâng cao chất lượng học tập đọc Tạo cho học sinh nắm được các kiến thức kĩ năng theo yêu cầu của môn học đúng, để hiểu được nội dung được đọc Còn vận dụng các phương pháp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trường ở vùng miền núi là cần thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mới phương pháp dạy theo quan điểm giao tiếp

1.4.Thực trạng dạy đọc ở trường tiểu học hiện nay

Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh chưa đọc được như ta mong muốn, đọc chưa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các

em chưa hiểu được nội dung câu thơ câu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng với nội dung biểu cảm của tác giả

Học sinh chưa hiểu cách nói văn chương, vốn lí luận chưa có các em thường ngắt giọng giữa từ ghép, các em chưa đọc đúng chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần hạ giọng xuống khi đọc câu hỏi giọng đọc của các em còn đều đều chưa toát lên được nội dung câu hỏi Khi đọc các câu hội thoại các em chưa phân biệt được giọng của nhân vật, giọng của tác giả

Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bước khi dạy tập đọc theo chương trình mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phương

Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) như thế nào, làm thế nào để chưa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh hơn, rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn Làm thế nào để hiểu được “văn”, làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu, với cách dạy như thế nào để cho những gì được đọc hiểu và tác động vào chính cuộc sống của các em… Đó là những trăn trở của mỗi giáo viên trong giờ tập đọc, từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả chưa cao

mà trong chương trình chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy

Trang 6

Xuất phát từ những lí do nêu trên trong khóa luận này tôi chọn nghiên cứu

đề tài : “Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu

học thị trấn Thuận Châu- Sơn La

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học”( NXB Đại học Sư phạm – 2002) với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện đại và các kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học Giáo trình cung cấp thông tin về những vấn đề chung của phương pháp dạy học Tiếng Việt và dạy học các phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Bên cạnh đó, các tác giả còn đưa ra nhiều phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cự của học sinh trong từng phân môn cụ thể

“Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới” ( NXB

Giáo Dục – 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chương trình dạy tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nước trên thế giới Tác giả cho rằng : việc dạy Tiếng Việt phải nhằm cả vào hia chức năng của ngôn ngữ ( công cụ tư duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc, viết ); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp Bên cạnh

đó, các tác giả cũng đưa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạy tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng như nhược điểm cần khắc phục của những loại chương trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trước đó Đó chính là cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng chương trình mới, đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tập đọc nói riêng

Trang 7

Giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” – tài liệu đào

tạo GV – 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển GV Tiểu học đã tổ chức biên soạn các modun đào tạo, bồi dưỡng GV nhằm nâng cao năng lực chuyên môn – nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình, SGK tiểu học mới Điểm mới ở các tài liệu này là đưa ra nhiều phương pháp dạy học mới như sử dụng băng hình, phương pháp giao tiếp… nhằm tích cực hóa hoạt động học tập

Nhìn chung các tác giả đều đã cập nhật tới những vấn đề dạy học chung nhất của dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới cũng như đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của từng phân môn, trong đó có phân môn Tập đọc Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập vấn đề rèn luyện kĩ năng đọc đúng cho HS tiểu học ở vùng cao cũng như HS chưa có kĩ năng đọc văn bản, Đọc văn bản Tiếng Việt chưa lưu loát

Các công trình nghiên cứu của các tác giả là những định hướng quan

trọng làm cơ sở lí luận để cho người tôi nghiên cứu thực hiện đề tài: “ Rèn kĩ

năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La”

3 Mục đích nghiên cứu

Từ việc tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn về dạy học phân môn Tập đọc và rèn kĩ năng đọc văn bản tiếng Việt cho học sinh nhằm tìm ra biện pháp đọc đúng, đọc hay để giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp 2 Qua

đó giúp các em nắm được các quy tắc đọc: đọc rõ tiếng, rõ lời và đúng chính âm, ngắt giọng đúng chỗ, đọc đúng ngữ điệu, thể hiện yếu tố phù hợp ngôn ngữ khi đọc, tốc độ âm lượng đọc Nhờ đó mà nâng cao hiệu quả giờ học tập đọc của học sinh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

- Khảo sát thực trạng đọc chưa tốt của học sinh và tìm hiểu nguyên nhân học sinh tiểu học đọc sai, đọc chưa diễn cảm khi đọc các văn bản Tiếng Việt

Trang 8

- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

- Khảo sát nội dung tìm hiểu ở SGK

- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc dạy tập đọc Tìm hiểu

về nội dung và phương pháp dạy tập đọc lớp 2

- Khảo sát thực trạng dạy đọc thông qua các giờ dạy tập đọc

- Khảo sát kĩ năng đọc của học sinh qua một bài tập đọc

5 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện thời gian và trình độ của bản thân nên tác giả chỉ còn nghiên cứu vấn đề rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2A1 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

Nghiên cứu thực tiễn qua trình đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh ở trường tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong qua trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu theo các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đọc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy tiếng Việt nói riêng trong đó có phương pháp dạy tập đọc

Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu nhằm rút ra được những vấn đề cần thiết để

sử dụng cho thực hiện đề tài, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài, đưa

đề tài vào áp dụng phù hợp với thực tế

Bên cạnh đọc các tài liệu trên còn nghiên cứu thêm SGK, sách giáo viên

từ lớp 1, 2 của chương trình mới

Trên cơ sở nghiên cứu SGK để nắm bắt được chương trình các môn, mối quan hệ giữa các môn học đối với SGK còn tập nghiên cứu sâu vào phân môn Tập đọc

Trang 9

6.2 Phương pháp điều tra khảo sát

- Điều tra thực trạng dạy học ở Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

- Dạy một tiết tập đọc ở lớp 2 bài “ Bóp nát quả cam”

- Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2

7 Giả thuyết khoa học

Hiện nay học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La còn hạn chế về việc đọc văn bản Tiếng Việt nếu giáo viên có biện pháp phù hợp trong quy trình hướng dẫn học sinh đọc một cách khoa học thì sẽ góp phần khắc phục những khó khăn đó Các biện pháp đề xuất trong khóa luận được nghiệm thu hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói giúp học sinh lớp 2 luyện đọc tốt hơn

8 Đóng góp của đề tài

Về lí luận: Nghiên cứu được những vấn đề lí luận về vai trò của phân môn Tập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng; Khẳng định những cơ sở khoa học của việc dạy học tập đọc Đề xuất những biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh

Về thực tiễn: Khảo sát đánh giá được thực trạng rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La; Thiết kế mẫu giáo án bài tập đọc ứng dụng những biện pháp đã đề xuất

9 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận gồm

3 chương:

Chương 1, Cơ sở lí luận

Chương 2, Cơ sở thực tiễn

Chương 3, Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc lớp 2

Trang 10

B - PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc

1.1.1.Khái niệm đọc

Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng, nghe, nói, đọc, viết Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là một quá trình chuyển dạng từ hình thức viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (úng dụng với hình thức đọc thành tiếng) là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh ( ứng với đọc thầm ) Hai mảng này có liên quan với nhau bởi vì đọc thành tiếng đúng thì mới hiểu và ngược lại có hiểu thì mới đọc đúng đọc hay.[7, trang 7]

Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hóa khoa học

tư tưởng tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại Biết đọc con người đã nhận được khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con người biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội tư duy, biết đọc con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp

họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chương, con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước

mơ tốt đẹp được khơi dậy năng lực hành động, sức sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục

mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được nhân cách một cách toàn diện Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin đang bùng nổ thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là

Trang 11

Vì những lí do trên, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên là trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Đọc chiếm lĩnh được một ngôn ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập Nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời Nó là một khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh

Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tư duy của người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp cho học sinh hiểu biết hơn bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

1.1.2 Chính âm

Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở Tiểu học Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp ta xác định nội dung đọc đúng, đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc [7, trang 12, 13]

1.1.3 Trọng âm

Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng) Dựa vào sự phát âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu rõ hay không rõ, người ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng có trọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm (tiếng có trọng âm yếu) Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quan trọng trong câu Trọng âm yêu đi với những từ không có hoặc có ít thông tin mới Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn giọng hay kéo dài những từ quan trọng trong bài [7, trang 16]

1.1.4 Ngữ điệu

Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên cao hay hạ thấp giọng nói, giọng đọc Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống nhất của một tổ hợp các phương tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) có quan hệ tương tác lẫn nhau

Trang 12

được sử dụng ở bình diện câu như cao độ (độ cao thấp của âm thanh), cường độ (độ lớn, nhỏ, mạnh, yếu của âm thanh), tốc độ (độ nhanh chậm, ngắt nghỉ), trường

độ (độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, yếu tố tham gia tạo thành lời nói Ngữ điệu được sử dụng để biểu thị ý nghĩa và phạm trù ngữ pháp cũng như các sắc thái cảm xúc biểu cảm [7 , trang 16]

1.1.5 Đọc diễn cảm

Đọc diễn cảm ở đây được hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọc những văn bản văn chương hoặc các yếu tố của ngôn ngữ văn chương Ở Tiểu học không yêu cầu HS có phong cách riêng khi đọc mà yêu cầu HS có ý thức đọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong văn bản được đọc, đồng thời cũng biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ

và việc hiểu là cơ sở của đọc diễn cảm Vì vậy để đọc diễn cảm, trước hết phải xác định nội dung, nghĩa lí của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu chung của bài Đây là nhiệm vụ của quá trình đọc hiểu Kết thúc quá trình đọc hiểu, HS phải xác định được cảm xúc của bài, ví dụ cần đọc với giong: vui, buồn, tự hào, thiết tha, trang nghiêm, sâu lắng, ngợi ca, vui tươi, nhẹ nhàng, trầm hùng, mạnh mẽ, tâm tình Xác định giọng điệu chung của một bài đọc cũng như xác định được cảm xúc chung của một bài hát mà người nhạc sĩ thường chỉ dẫn trên đầu mỗi bản nhạc [ 7, trang 17]

1.1.6 Văn bản

Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định [7, trang 20]

Chương trình tập đọc lớp 2 đã sử dụng những văn bản nhiều thể loại khác nhau, có thể gọi chung là nhóm Các văn bản nghệ thuật ( truyện, thơ…) nhóm Các văn bản khác ( khoa học, hành chính, báo chí) phản ánh nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau

Trang 13

1.2 Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2

1.2.1 Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc

Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm bản chất kĩ năng đọc Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc là cơ sở của việc dạy đọc

Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ qua thị giác

Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết mới nhau, là việc sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại bằng lời nói âm thanh Đó là vận động tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dung những gì được đọc Đọc bao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc, càng ngày những yếu tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn

Nhiệm vụ cuối cùng là sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc Đó là sự phân biệt người mới biết đọc và người đọc thành thạo Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác hoàn thiện bấy nhiêu

Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với kĩ thuật đọc ( tức là việc chuyển dạng hình thức chữ viết của từ và âm thanh ) đọc được hiểu và kĩ thuật đọc cùng với sự thông hiểu đọc ( không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài ) ý nghĩa cả hai mặt của thuật ngữ “đọc” được ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học

và phương pháp dạy học

Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài T.G.E Gôrốp chia việc hình thành kĩ năng này qua ba giai đoạn phân tích, tổng hợp (còn gọi là phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động hóa

Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp Thời gian gần đây người ta đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng

Trang 14

đọc, làm việc với văn bản Đòi hỏi giờ tổ chức tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài học, đồng thời hướng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hướng đến đọc có ý thức bài đọc

Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đưa ra cho các

em đọc thì các em sẽ có hứng thú học tập và không có khả năng thành công Do

đó hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc

Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp

có ý thức một phương tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu đạt tới sự chiếm lĩnh ngôn ngữ Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọc thầm

Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bước sau:

+ Hiểu nghĩa các từ ngữ

+ Hiểu nghĩa các khối đoạn

+ Hiểu nghĩa được cả bài

Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu được những câu điều mình học Hầu như toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì chưa đủ thì giờ và sức lực để nhận biết Mặt khác, do vốn từ còn năng lực liên kết câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu

và nội dung còn khó khăn Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học

1.2.2 Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc

Phương pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở giáo dục học Giáo dục học cung cấp cho phương pháp dạy học tập đọc những hiểu biết về mục tiêu giáo dục nói chung Mục đích của giáo dục là phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tham gia vào cuộc sống Phân môn Tập đọc chính là sự cụ thể hóa mục tiêu của khoa học giáo dục, nó hiện thực hóa mục tiêu nhiệm vụ giáo dục học đề ra: phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách, hình thành thói quen khoa học, giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh

Trang 15

Phương pháp dạy học Tập đọc phải vận dụng các nguyên tắc cơ bản của giáo dục như: nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn với lí thuyết, nguyên tắc gắn với thực hành, nguyên tắc trực quan…

Phương pháp dạy học Tập đọc chọn ở giáo dục học những hình thức tổ chức dạy học theo đặc trưng môn học của mình Ở nhà trường cũng như trong

đời sống xã hội, chúng ta thường gặp các hình thức đọc như: đọc thành tiếng,

đọc nhẩm,đọc đồng thanh, đọc diễn cảm, đọc thầm

1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học

Phương pháp dạy tập đọc, phải dựa trên cơ sở ngôn ngữ học nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu, nghĩa của từ, câu, đoạn Dựa trên cơ sở nghiên cứu của ngôn ngữ học xác lập nội dung và phương pháp dạy tập đọc Bốn phẩm chất của đọc không thể tách rời những cơ sở ngôn ngữ học không coi trọng đúng mức những cơ sở này, việc dạy học sẽ mang tính tùy tiện và không đảm bảo

hiệu quả dạy học

Những hiểu biết về chính âm trong tiếng Việt sẽ giúp GV dạy tốt hơn phân môn Tập đọc ở tiểu học

Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu quả về mặt xã hội

Theo đa số nhà nghiên cứu nội dung cơ bản của chính âm trong Tiếng Việt hiện nay nên lấy hệ thống ngữ âm ( cách phát âm ) của phương ngữ Bắc Bộ

mà tiêu biểu là tiếng Hà Nội làm căn cứ bổ xung cách phát âm Một số phụ âm quặt lưỡi ( tr, s, r ) và không phát âm phân biệt d/gi

Những hiểu biết về vấn đề ngữ điệu Tiếng Việt là cơ sở để GV hướng dẫn

HS đọc diễn cảm các văn bản nghệ thuật

Ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc là sự lên cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phần của ngôn điệu, ngữ điệu gồm toàn bộ các phương tiện siêu đoạn ( siêu âm đoạn tính ) được sử dụng bình diện câu như độ thấp của âm thanh cường độ mạnh yếu, hay là môi

Trang 16

trường chuyền dẫn (độ dài ngắn của âm thanh, hay là thời gian thực tế của âm thanh) âm sắc ( là sắc thái riêng của âm thanh)

Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng Việt như các ngôn ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng (trường độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả cường độ và trường độ)

Những hiểu biết về lí thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho học sinh là cơ sở để GV hướng dẫn học sinh đọc văn bản theo thể loại.Việc dạy học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để phân tích, đánh giá một văn bản nói chung cũng như lý thuyết để phân tích đánh giá các tác phẩm văn chương nói riêng Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm của thể loại văn chương dùng làm

ngữ liêu đọc ở Tiểu học

Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử… là khác nhau Việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung hình thức, các biện pháp thể hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phương tiện, biện pháp tu từ

Khi luyện đọc cho học sinh GV cần quan tâm tới hình thức đọc thành tiếng Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc Khi đọc cần ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nằm trong khoảng từ 30-35cm, cổ và đầu thẳng, phải hít sâu và thở ra chậm để lấy hơi Ở lớp khi được cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin không hấp tấp đọc ngay

Trước khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cường độ và tư thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành tiếng người đọc đóng một lúc hai vai: Một vai – và mặt này thường được

Trang 17

trung gian để truyền thông tin, đưa văn bản tới người nghe Khi giữ vai thứ hai này, người đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản Vì vậy khi đọc thành tiếng người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai Đọc cùng với phát biểu là hai hình thức giao tiếp trước đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em

sự tự tin cần thiết Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến người nghe Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ để cho mình cô giáo

mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cùng đọc đủ lớn cho tất cả những người này nghe rõ Nhưng như thế hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá to hoặc gằn lên Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí” giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi Giáo viên nên cho học sinh đứng lên bảng để đối diện với những người nghe tư thế đứng đọc phải đàng hoàng, vừa thoải mái và cân bằng hai tay

Đọc thành tiếng nhằm mục đích luyện đọc đúng cho học sinh Đọc đúng

là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn, với những học sinh dân tộc thì lưu ý không

để hệ thống ngữ âm mẹ đẻ ảnh hưởng tiêu cực đến phát âm Tiếng Việt Đọc đúng bao gồm bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ ( đọc đúng ngữ điệu)

Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng Việt Chẳng hạn đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch Đọc đúng các chính âm: Có

ý thức phân biệt để không đọc “ Ơn, ân” “hoa lay ơn”, “hoa lay ân” Đọc đúng các âm cuối Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phương như lẫn thanh (~) và thanh nặng (.) VD: Dũng sĩ – Dụng sĩ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiểu tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng Khi đọc không được tách một từ làm hai VD: Vậy tại sao chiều hôm/ qua con im lặng Không tách từ chỉ loại với danh từ

mà nó đi kèm:Ví dụ không đọc: Lặng rồi cả/ tiếng con ve Con ve cũng/ mệt vì hè

Trang 18

nắng oi Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Mẹ

là / ngọn gió của con suốt đời

Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn

ở dấu chấm Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm, với câu ccauf khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu

Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm

Trình tự luyện đọc đúng : Trước khi lên lớp giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa các lỗi khi đọc Tùy từng đối tượng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà học sinh địa phương hoặc học sinh dân tộc thiểu số dễ mắc phải

để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc trước

Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh, cuối cùng cho các em đọc cá nhân thành tiếng, từ khó này, với những câu mà giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai phách câu Cũng tiến hành như vậy, cuối cùng mới luyện đọc cả bài

Luyện đọc nhanh : Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê, a ngặc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều được đọc Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ nhanh nhưng

để cho người nghe hiểu kịp thời Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc

độ của lời nói

Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ quy định Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài

có tiếng cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút Định đọc tốc độ như

Trang 19

Bên cạnh luyện đọc thành tiếng để HS đọc đúng, GV cần hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản Tiếng Việt bằng hình thức đọc thầm Ở hình thức đọc này GV cần chú ý tới học sinh tư thế đọc

Cũng như khi ngồi đọc (và ít khi đứng đọc) thành tiếng, tư thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm

Kỹ năng đọc thầm phải chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to → đọc nhỏ

→ đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi (đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bước: Di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này

Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời gian đọc thầm cho từng đoạn và bài

Đọc hiểu : được thể hiện qua hiệu quả của đọc thầm được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có

ý thức đọc hiểu Kết quả của đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm

từ, câu, đoạn, bài Tức là toàn bộ những gì được đọc Như tâm lí ngôn ngữ học

đã chỉ ra để hiểu và nhớ những gì được đọc người đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng như nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ

“chìa khóa” những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản Đó là những từ để giúp ta hiểu được nội dung của bài Trong những bài khoa văn chương đó là những từ dùng “đắt” để tạo nên giá trị nghệ thuật của từ có tín hiệu nghệ thuật Đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm như các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chương

Tiếp đó cần hướng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng của bài Những câu nêu ý nghĩa chung của bài

1.3 Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2

1.3.1 Mục tiêu

Phân môn Tập đọc lớp 2, là môn học rất quan trọng Vì đây là cơ sở ban đầu giúp các em rèn kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu văn bản …Từ

Trang 20

đó giúp các em hiểu biết về thiên nhiên xã hội, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt… Góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh

- Mục tiểu của phân môn Tập đọc lớp 2 về chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình Tiểu học mới là:

+ Đọc đúng và trôi chảy một đoạn văn, đoạn đối thoại hoặc một bài văn ngắn

+ Hiểu được ý chính của đoạn

- Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát ra âm thanh (tiếng) hình thức đọc này dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của người mới tập đọc là: muốn đọc hiểu cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác: miệng đọc, mắt nhìn tai nghe như vậy mới dễ dàng nhớ nội dụng

Đọc thành tiếng có các mức độ sau:

Đọc đúng: phát âm chính xác các tiếng… cần điều tra lỗi phát âm của học

sinh từng vùng để có biện pháp sửa chữa thích hợp

Đọc rõ ràng, rành mạch: đọc rõ tiếng, từ, cụm từ, ngắt nghỉ đúng chỗ,

đúng dấu câu, cường độ vừa phải, (không đọc to quá hoặc quá nhỏ, tốc độ vừa phải không ê a ngắc ngứ, không liến thoắng)

Đọc lưu loát: đọc với tốc độ nhanh Phát âm rõ ràng, rành mạch không bị

vấp váp, biết ngừng nghỉ đúng dấu câu Phải luyện tập dần dần, từ đọc đúng tiến tới đọc nhanh

Đọc diễn cảm: là kĩ năng dùng ngữ điệu, chỗ ngưng giọng và các thủ

pháp khác để làm nổi bật các ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi trong nội

Trang 21

diễn cảm là biểu hiện cao của đọc có ý thức và chỉ thực hiện được trên cơ sở đọc đúng và nhanh

Đọc thành tiếng là biện pháp để rèn đọc cá nhân từ đọc đúng tới diễn cảm a2 Trau dồi kiến thức văn học, kiến thức ngôn ngứ, kiến thức đời sống cho học sinh

Ngoài nhiệm vụ rèn đọc và rèn trí nhớ cho học sinh phân môn tập đọc còn

có nhiệm vụ tích lũy kiến thức nhiều mặt nhiều dạng, phong phú cho các em Các bài tập đọc chọn dạy trong chương trình là những bài văn, bài thơ hay trong kho tàng văn hóa dân tộc và thế giới

Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về hiện thực cuộc sống con người và thời đại… các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người và đất nước ta trong quá khứ và hiện tại, về nhiều nước trên thế giới càng thêm tin yêu ở con người và cuộc sống tươnng lai

Nhờ các bài tập đọc mà trí tuệ của các em được mở mang, nhận thức của các em được nâng cao, hiểu biết của các em thêm mở rộng, vốn sống về nhiều mặt được nâng lên “người ta chỉ trở thành người cộng sản làm giàu tri thức của mình bằng sự hiểu biết tất cả kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra” ( Lê nin) Vốn sống đó sẽ được nâng dần và làm phong phú khi học lên các lớp trên

a3 Giáo dục lòng ham đọc sách: hình thành phương pháp và thói quen

làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách được tôn kính trong nhà trường , đó là một trong những điều kiện để trường học trở thành trung tâm văn hóa, nói cách khác thông qua việc dạy học tập đọc, phải làm cho học sinh thấy thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời, thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo

cho mình một cuộc sống trí tuệ và phát triển

a4 Giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình cảm, phát triển tư duy

Giáo dục thẩm mĩ: thực chất của việc giáo dục thẩm mĩ là gì nếu không

phải là cho các em biết cảm thụ cái hay cái đẹp của ngôn ngữ văn học, hình tượng của văn học qua mỗi bài tập đọc

Trang 22

Dạy học tập đọc có khả năng hướng học sinh tới cái đẹp, biết rung cảm trước vẻ đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng nghệ thuật đẹp, hành vi đẹp của mỗi nhân vật…

Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộc sống đi vào văn học mang một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thô mộc nó đã được hình tượng hóa, điển hình hóa cao độ Nó là cuộc sống song thông qua lăng kính chủ quan của các tác giả nên ngời sáng lên và giàu chất thơ, thơ mộng phải giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của tác phẩm, để từ đó rung cảm với tác phẩm văn học để có thể đọc được hay

Giáo dục tình cảm: thông qua con đường giáo dục thẩm mĩ việc giáo dục

sẽ đạt hiệu quả cao Đó là con đường nghệ thuật đến với cuộc đời

Văn học có sức mạnh lớn, nó giáo dục con người không phải bằng triết lí khô khan mà bằng những hình tượng, văn học sống động Từ sự rung động nội tâm, bài tập đọc đã mang đến cho các em những tình cảm đạo đức cao cả: tình yêu đối với cuộc sống và con người, tình yêu gia đinh, yêu bạn bè, yêu quê hương sứ sở…

Phát triển tư duy: Mỗi bài tập đọc giúp các em nhận thức thêm một mảng

nhỏ của cuộc sống: nhận thức của các em phát triển, tầm hiểu biết của các em được mở rộng, ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú, từ đó tư duy các em phát triển Dạy tập đọc và học thuộc lòng góp phần phát triển tư duy hình tượng bên cạnh việc phát triển tư duy lôgic Những bài tập đọc hay, có giá trị thẩm mĩ cao sẽ có tác dụng ghi dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời mỗi con người

1.4 Những vấn đề đổi mới phương phương pháp giáo dục tiểu học hiện nay

Theo quan điểm dạy học hiện đại, phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực của người học Giáo viên là chủ thể của giảng dạy Dạy học là

sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học, hoạt động nhận thức của học sinh Giáo viên điều khiển học sinh chiếm lĩnh nội dung dạy học, bằng cách đó

mà học sinh được phát triển và hình thành nhân cách Theo định hướng này,

Trang 23

chức công việc đọc của học sinh sao cho có hiệu quả, giúp các em rèn kỹ năng đọc và nắm tri thức

Hoạt động học tập của học sinh là hoạt động tích cực Trong đó học sinh là chủ thể, nội dung dạy học là đối tượng Học sinh tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành, phát triển nhân cách dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên Trong quá trình dạy học, học sinh là nhân tố quan trọng nhất Bởi

vì, một mặt học sinh là đối tượng của quá trình giáo dục

Cũng theo quan điểm dạy học hiện đại: học sinh là mục đích của quá trình dạy học Trong nghĩa triết học của khái niệm “thầy” và “trò”, trò sinh ra thầy Lấy học sinh làm đích, dạy những gì học sinh cần chứ không phải dạy những gì thầy có hoặc thầy thích Để học sinh tự tìm ra kiến thức nghĩa là để các

em làm những gì các em có thể làm được, thầy không làm thay Hiểu trẻ em, biết những

Phương pháp dạy học tập đọc nghiên cứu và cụ thể hóa quan niệm dạy học hiện đại nói trên theo đặc trưng môn học của mình nhằm phát huy tối đa hiệu quả tích cực của cả người dạy và người học

Tiểu kết chương 1

Qua việc phân tích cơ sở lí luận của dạy học tập đọc, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh Những hiểu biết về quá trình tâm lí ở con người nói chung và ở trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng sẽ giúp giáo viên lựa chọn các phương pháp dạy học để giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS; Những hiểu biết về quan điểm dạy học hiện đại, về bản chất của ngôn ngữ, của tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và phương pháp dạy học tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng ở tiểu học Đây là điều kiện quan trọng để hình thành kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt

Việc xác định đúng những khó khăn mà học sinh gặp sẽ giúp GV có biện pháp giúp học sinh hình thành kĩ năng đọc văn bản tiếng việt, cũng như các biện pháp đổi mới trong dạy – học tập đọc nói chung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của gia đình, nhà trường, nghành

giáo dục nói riêng và xã hội nói chung

Trang 24

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

2.1.1 Mục đích khảo sát

Từ những định hướng đổi mới trên, chúng tôi khảo sát về vấn đề rèn luyện kĩ năng đọc văn bản tiếng việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu, để tìm hiểu xem đã áp dụng chương trình SGK mới hay chưa Và

đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy trong phân môn Tập đọc hay chưa Từ đó tìm hiểu những khó khăn của GV gặp phải trong việc rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt trong phân môn Tập đọc lớp 2

Mặt khác tôi đi tìm hiểu những khó khăn về tâm lí trong quá trình học tập khi làm quen với phương pháp dạy học tích cực được sử dụng trong phân môn Tập đọc và tiếp thu tri thức trong quá trình học tập, trong đọc các văn bản Viếng Việt có gặp những khó khăn gì? Từ đó đưa ra những phương pháp dạy học trong phân môn tập Tập đọc lớp 2 phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em và khắc phục những khó khăn mà các em thường gặp nhằm giúp cho giờ học của các em đạt hiệu quả cao

Từ đó chúng tôi đi đến tiến hành khảo sát thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt ở lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La, nhằm đưa ra một số phương pháp dạy học tập đọc nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và đạt kết quả cao

2.1.2 Đối tượng và thời gian địa bàn khảo sát

Đối tượng khảo sát: GV và học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

Thời gian khảo sát:

Tháng 12 năm 2013: Dự giờ, điều tra, phỏng vấn trực tiếp

Tháng 1 năm 2014 : Tham quan Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La, trao đổi ý kiến với các thầy cô, và các em học sinh ở trường tiểu học

Tháng 4 năm 2014: Khảo sát giáo án, tài liệu tham khảo,tiến hành dạy học thể nghiệm ở trường tiểu học

Địa bàn khảo sát: Tại Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

Ngày đăng: 28/09/2014, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga (1993), Phương pháp dạy học Tiếng Việt. GT dùng trong các trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học - Vụ Giáo viên, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1993
2. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1996), Phương pháp dạy học Tiếng Việt. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
3. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Một số vấn đề về đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
4. Đỗ Đình Hoan (2002), Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2002
5. Phương Lê (1994), Phương pháp dạy học Tiếng Việt trong hệ đào tạo thạc sĩ Giáo dục Tiểu học, NCGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt trong hệ đào tạo thạc sĩ Giáo dục Tiểu học
Tác giả: Phương Lê
Năm: 1994
6. Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh (1998), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1
Tác giả: Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1998
7. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
8. Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học Tiếng Việt (chuyên luận), NXB ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga, Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1999
9. Sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học hiện hành và chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm 2000. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học hiện hành và chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm 2000
Nhà XB: NXB GD
11. Nguyễn Trí (2002), Dạy và học môn tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
12. Nguyễn Trí (chủ biên) (2002), Hỏi và đáp về sách Tiếng Việt 1. NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về sách Tiếng Việt 1
Tác giả: Nguyễn Trí (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
13. Nguyễn Khắc Viện, Nghiêm Chưởng Châu (1988), Tâm lí học sinh tiểu học, NXBGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học sinh tiểu học
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện, Nghiêm Chưởng Châu
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1988
14. Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
10. SGK, SGV Tiếng Việt tiểu học lớp 2. Lớp 5. NXB GD, 2002, 2003, 2004, 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nội dung chủ điểm trong chương trình tập đọc lớp 2 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 1 Nội dung chủ điểm trong chương trình tập đọc lớp 2 (Trang 25)
Bảng 3: Cấu trúc thông thường của bài tập đọc - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 3 Cấu trúc thông thường của bài tập đọc (Trang 26)
4  Bảng phụ chép sẵn câu - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
4 Bảng phụ chép sẵn câu (Trang 29)
Bảng 5:  Các nguyên tắc dạy học TV giáo viên thường sử dụng để rèn kĩ  năng đọc văn bản cho học sinh lớp 2 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 5 Các nguyên tắc dạy học TV giáo viên thường sử dụng để rèn kĩ năng đọc văn bản cho học sinh lớp 2 (Trang 30)
Bảng 6:  Các phương pháp giáo viên thường hay sử dụng để rèn kĩ năng  đọc cho học sinh lớp 2 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 6 Các phương pháp giáo viên thường hay sử dụng để rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 (Trang 31)
Bảng 8: Hứng thú đọc của học sinh - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 8 Hứng thú đọc của học sinh (Trang 33)
Bảng 10: Lỗi phát âm sai phần vần - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 10 Lỗi phát âm sai phần vần (Trang 33)
Bảng 9: Lỗi phát âm các phụ âm đầu - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 9 Lỗi phát âm các phụ âm đầu (Trang 33)
Bảng 11: Các lỗi phát âm sai âm cuối - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 11 Các lỗi phát âm sai âm cuối (Trang 34)
Bảng 12: Các lỗi phát âm sai về thanh điệu - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU  SƠN LA
Bảng 12 Các lỗi phát âm sai về thanh điệu (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w