1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thực trạng và giải pháp

107 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 713,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thực trạng và giải pháp Luận văn này được chia thành 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hoá. Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Chương III: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.

Trang 1

Lời mở đầu

Dầu mỏ là nguồn năng lượng quan trọng của tất cả các nước Nó đangchiếm khoảng 65% trong tổng các nguồn năng lượng toàn cầu Về đặc điểmkinh tế, dầu mỏ là ngành phát triển nhanh và yêu cầu về vốn đầu tư rất lớn,đối với một số công đoạn trong ngành có sự rủi ro cao Hầu hết ở các nướcđặc biệt là các nước đang phát triển, dầu mỏ thường là ngành độc quyền củadoanh nghiệp nhà nước hoặc một số các công ty xuyên quốc gia Nguồn thucủa ngân sách nhà nước từ ngành dầu mỏ chiếm một tỷ trọng tương đối cao (ởViệt Nam trên 10%)

Đối với Việt Nam ngành dầu khí còn mới mẻ với 25 năm tuổi Tuy trữlượng dầu khí ở nước ta không lớn nhưng nó có vai trò hết sức quan trọngtrong nền kinh tế, là nguồn năng lượng nguyên liệu phục vụ cho nền kinh tếquốc dân

Tổng công ty dầu khí Việt Nam đã, đang ngày càng phát triển với tốc độnhanh chóng, bao trùm tất cả các lĩnh vực từ thượng nguồn (tìm kiếm, thăm

dò, khai thác) đến hạ nguồn (hoá dầu, lọc dầu, chế biến kinh doanh các sảnphẩm dầu khí) Dầu thô Việt Nam bắt đầu được khai thác vào năm 1986 tại

mỏ Bạch Hổ do công ty Liên doanh Việt - Xô Petrol (Việt Nam - Liên Xô cũ)khai thác, từ đó đến nay sản lượng dầu thô Việt Nam ngày càng tăng lên đáng

kể Do ngành lọc dầu ở Việt Nam chưa phát triển (trước đây chỉ mỏ Bạch Hổthì nay đã có 6 mỏ đang được đưa vào khai thác, làm cho sản lượng dầu thôngày càng gia tăng, nhà máy lọc dầu số một Dung Quất đang khởi công vàxây dựng đến năm 2004 mới đưa vào hoạt động) nên toàn bộ sản lượng dầuthô của Tổng công ty dầu khí được xuất khẩu hàng năm giá trị xuất khẩu dầuthô của Tổng công ty đã đóng góp rất lớn trong tổng giá trị kim ngạch xuấtkhẩu của nước ta

Trong thời gian thực tập tại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam em đãnghiên cứu thực tiễn hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty dầu khíViệt Nam, nhằm củng cố, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và mong

Trang 2

muốn đóng góp một phần nhỏ bé để đưa ra giải pháp nhằm thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam Vì thế em xintrình bày đề tài:

" Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam

-thực trạng và giải pháp ".

Luận văn này được chia thành 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu hàng hoá.

Chương II: Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng

công ty Dầu khí Việt Nam

Chương III: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dầu thô của

Tổng công ty Dầu khí Việt Nam

Qua luận văn này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn, vàcác bác, cô, chú cùng các anh chị phòng kế hoạch thuộc Tổng công ty Dầu khíViệt Nam đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Trang 3

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

Lời mở đầu 1

Chương I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu 8

I.Thương mại quốc tế và vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế thị trường 8

I.1 Nguồn gốc và lợi Ých của thương mại quốc tế 8

I.1.1 Nguồn gốc, cơ sở của thương mại quốc tế: 8

I.1.2 Lợi Ých của thương mại quốc tế: 12

I.2 Vai trò của thương mại quốc tế: 12

II.Hoạt động xuất khẩu và vai trò của nó đối với sự phát triển của mỗi quốc gia 14

II.1 Khái niệm xuất khẩu 14

II.1.1 Khái niệm 14

II.1.2 Nhiệm vụ của xuất khẩu 14

II.2 Vai trò của xuất khẩu 15

II.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn chủ yếu cho nhập khẩu 15

II.2.2 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng ngoại.

II.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 17

II.3.1 Nhân tố văn hoá - địa lý: 18

II.3.1.1 Địa lý 18

Trang 4

II.3.1.2 Văn hoá 18

II.3.2 Tỷ giá hối đoái 18

II.3.3 Cạnh tranh trên thị trường quốc tế 19

II.3.4 Chế độ, chính sách của nhà nước (chính trị - luật pháp) 19 II.3.5 Nguồn hàng phục vụ cho xuất khẩu.20

II.3.6 Hệ thống thông tin liên lạc - hệ thống ngân hàng tài chính quốc gia.

20

II.4 Các hình thức xuất khẩu 21

II.4.1 Xuất khẩu trực tiếp 21

II.4.2 Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu uỷ thác) 22

II.4.3 Xuất khẩu hàng đổi hàng (buôn bán đối lưu) 22

II.4.4 Tạm nhập tái xuất 23

II.4.5 Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá 24

II.4.6 Gia công quốc tế 24

III.Nội dung của hoạt động xuất khẩu 25

III.1 Nghiên cứu thị trường tìm đối tác giao dịch 25

III.1.1 Nghiên cứu thị trường.25

III.1.2 Nghiên cứu giá cả, xu hướng biến động giá cả 27

III.1.3 Lựa chọn đối tác giao dịch và mặt hàng kinh doanh 28

III.2 Xây dựng phương án kinh doanh 29

III.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng 29

III.3.1 Đàm phán 29

III.3.2 Ký kết hợp đồng 30

III.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng 31

Trang 5

III.4.1 Chuẩn bị hàng xuất khẩu 32

III.4.2 Kiểm tra hàng 33

III.4.3 Thuê tàu 33

III.4.3 Mua bảo hiểm 33

III.4.5 Làm thủ tục hải quan 33

III.4.6 Giao hàng lên tàu 34

III.4.7 Thủ tục thanh toán 34

III.4.8 Giải quyết khiếu nại 34

IV.đặc điểm của sản phẩm dầu khí 34

IV.1 Đặc điểm 34

IV.2 Vai trò của sản phẩm dầu khí 36

IV.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh dầu thô.

38

IV.3.1 Đặc điểm hàng hoá 38

IV.3.2 Nhân tố khách quan 38

IV.3.3 Nhân tố chủ quan 40

V.Kinh nghiệm khai thác sản xuất dầu mỏ của các nước trên thế giới:

I- Sù ra đời và phát triển của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam51

I.1 Sù ra đời và phát triển của Tổng Công ty 51

Trang 6

I.2 Chức năng- nhiệm vụ - quyền hạn của Tổng Công ty 53

I.3 Bộ máy quản lý điều hành.54

I.3.1 Hội đồng quản trị 54

I.3.2 Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc 54

I.3.3 Quyền - nghĩa vụ của các đơn vị thành viên và mối quan hệ với Tổng Công ty 56

II- Thực trạng quá trình sản xuất - kinh doanh của Tổng Công ty 58 II.1 Thăm dò và khai thác dầu khí (thượng nguồn) 58

II.2 Khai thác sản xuất khí thiên nhiên 60

II.3 Phát triển lĩnh vực hạ nguồn 61

II.4 Dịch vụ dầu khí 63

II.5 Nghiên cứu khoa học và công nghệ 64

II.6 Nguồn nhân lực 66

III- Phân tích hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 67

III.1 Đặc điểm lợi thế cạnh tranh của dầu thô Việt Nam 67

III.2 Nguồn hàng - thực trạng khai thác dầu của Tổng Công ty dầu khí Việt Nam 68

III.3 Đặc điểm khách hàng - thị trường của dầu thô Việt Nam 73 III.4 Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường 75

III.5 Các hình thức xuất khẩu 78

III.6 Quá trình giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng 79

III.6.1 Giao dịch đàm phán 79

III.6.2 Ký kết và thực hiện hợp đồng 81

Trang 7

III.7 Kết quả hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 81

IV- Đánh giá qua nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam 85

IV.1 Các ưu thế - ưu điểm 85

IV.2 Khó khăn tồn tại 86

Chương III: Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty dầu khí Việt Nam 89

I.Mục tiêu và phương hướng hoạt động của Tổng công ty dầu khí Việt Nam: 89

I.1 Quan điểm phát triển: 89

I.2 Định hướng phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2020 90 II.Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty dầu khí Việt Nam 91

II.1 Nghiên cứu mở rộng thị trường và khách hàng 91

II.2 Tăng cường công tác thăm dò khai thác: 92

II.3 Thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu : 93

II.4 Đào tạo nguồn nhân lực :94

II.5 Tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ :

95

II.6 Hoàn thiện công tác cơ cấu tổ chức, quản lý kinh doanh thương mại quốc tế: 96

II.7 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật : 98

II.8 Tìm vốn và sử dụng vốn có hiệu quả :98

III Một số kiến nghị về sự quản lý của nhà nước : 101

Trang 8

Chương I: Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu

I Thương mại quốc tế và vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế thị trường.

I.1 Nguồn gốc và lợi Ých của thương mại quốc tế.

Định nghĩa: Thương mại quốc tế là quá trình phân phối và lưu thông

hàng hoá và dịch vụ với các nước dưới hình thức mua bán thông qua quan hệcung cầu nhằm mục đích lợi nhuận

I.1.1 Nguồn gốc, cơ sở của thương mại quốc tế:

Sù trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội, phản ánh sự phụthuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt củatừng quốc gia

Tính tất yếu khách quan của thương mại quốc tế:

 Do quá trình sản xuất ngày càng phát triển dẫn đến sự phân công lao độngngày càng sâu và sự chuyên môn càng cao làm cho năng suất lao động ngàymột tăng nhanh, hàng hoá làm ra thông qua thị trường để trao đổi lẫn nhau.Trao đổi chính là kết quả của sự phân công lao động xã hội

 Do sự tồn tại khác biệt về kinh tế - sản xuất (đặc biệt vấn đề sở hữu tư liệulao động) giữa các vùng, các nước Điều này có sự sở hữu hàng hoá khácnhau dẫn đến sự trao đổi hàng hoá lẫn nhau thông qua thị trường

 Do sự tồn tại nhu cầu rất đa dạng và phong phú của con người ở mỗi nơi,khu vực khác nhau có nhu cầu khác nhau, mà có thể khu vực đó không đápứng được nhu cầu mà chỉ có các sản phẩm khác, muốn thoả mãn nhu cầu thìdẫn đến trao đổi sản phẩm lẫn nhau giữa các khu vực

 Do điều kiện tự nhiên địa lý của các nước khác nhau đã tạo nên những đặcsản, sản phẩm hàng hoá khác nhau rất đa dạng và phong phú, muốn thoả mãnphải thông qua hoạt động thương mại (trao đổi, mua bán)

Trang 9

Qua các nguyên nhân trên đã cho chóng ta thấy sự tồn tại khách quancủa phân công lao động xã hội dẫn đến việc phải trao đổi Đó chính là cơ sởhình thành nên thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng.

Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương thì một quốc gia thịnhvượng và giàu có phải có khối lượng tiền vàng lớn Muốn có nhiều của cảiphải phát triển buôn bán với các nước khác Lý thuyết của phái trọng thươngchỉ ra rằng chỉ có lợi nhuận từ sự trao đổi không ngang giá và lừa gạt giữa cácquốc gia Hay quan điểm của họ đưa ra rằng quốc gia nào xuất siêu càngnhiều thì càng có lợi, còn nhập khẩu càng nhiều thì càng có hại Vì vậy cácchính phủ đã tạo điều kiện trợ giúp cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu vàhạn chế hoạt động nhập khẩu thông qua việc điều chỉnh việc mua bán Đếngiai đoạn cuối họ cho rằng có thể tăng cường nhập khẩu nếu như qua đó đẩynhanh được xuất khẩu tuy nhiên cán cân thương mại vẫn nghiêng về phía xuấtkhẩu

Trong tác phẩm " Của cải của các dân tộc", nhà kinh tế học Adamsmith

đã đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối Ông cho rằng nếu quốc gia A sản xuất

ra hàng hoá X rẻ hơn ở quốc gia B và nếu quốc gia B sản xuất ra hàng hoá Y

rẻ hơn ở quốc gia A, khi đó quốc gia B có lợi thế tuyệt đối về hàng hoá Y.Khi thương mại quốc tế xảy ra, 2 quốc gia này cùng có lợi nếu cả 2 nước cùngchuyên môn hoá vào sản xuất mà mình có lợi thế tuyệt đối

Số giờ công lao động để sản xuất

Ông đưa ra mô hình trên và các giả thuyết:

Cạnh tranh hoàn hảo trên tất cả các thị trường

Chi phí vận chuyển không đáng kể giữa 2 nước

Lao động là yếu tố đầu vào duy nhất có thể di chuyển được giữa các ngànhtrong một quốc gia nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia

Trang 10

Không có các rào cản đối với thương mại tự do.

Lợi tức không đổi theo quy mô,

Theo mô hình, nước Anh có lợi thế so sánh tuyệt đối về sản xuất quần

áo, còn nước Mỹ có lợi thế so sánh tuyệt đối về lương thực Chính vì lẽ đónước Anh sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất quần áo, Mỹ chuyên sâu vào sảnxuất lương thực, thông qua trao đổi cả 2 nước đều có lợi (giả sử chỉ xem xét 2nước trao đổi với nhau và chỉ sản xuất 2 mặt hàng lương thực và quần áo).Tuy nhiên lý thuyết so sánh tuyệt đối của ông không thể giải thích đượccho trường hợp giữa 2 nước giàu và nghèo, giữa 2 nước 1 có năng suất laođộng cao hơn nước kia về cả 2 mặt hàng mà thương mại quốc tế vẫn xảy ra.Nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã trả lời được câu hỏi nàybằng lợi thế so sánh tương đối Năm 1817 ông đã chứng minh được rằng cácquốc gia sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất ra hàng hoá đó có chi phí tương đốithấp hơn ở nước khác

Các giả định của ông đưa ra:

Cạnh tranh hoàn hảo trên các thị trường

Chi phí vận chuyển giữa các nước là không đáng kể

Lao động là yếu tố đầu vào duy nhất có thể di chuyển được giữa các ngànhsản xuất trong một nước nhưng không thể di chuyển giữa các nước

Không có cản trở nào đối với thương mại tự do

Lợi tức không đổi theo quy mô

Công nghệ ở các nước khác nhau có trình độ phát triển khác nhau

Trang 11

nếu xảy ra thương mại giữa 2 nước vẫn có lợi cho 2 bên bằng quy luật lợi thếtương đối: các nước hay cá nhân nếu chuyên môn hoá trong việc sản xuất vàxuất khẩu các sản phẩm mà mình làm ra có chi phí tương đối thấp hơn thì sẽ

có lợi Ých kinh tế lớn hơn

Quy luật lợi thế so sánh tương đối đã nhấn mạnh sự khác nhau về chi phísản xuất coi đó là chìa khoá của các phương thức thương mại

B C

B F A C

A F B C

A C B F

A F

L

L L

L L

L L

L

LJi : chi phí sản xuất ra hàng hoá j ở nước i

Trong trường hợp này:

Quốc gia A có lợi thế so sánh trong sản xuất F (lương thực)

Quốc gia B có lợi thế so sánh trong sản xuất C (quần áo)

Mô hình và lý thuyết so sánh tuyệt đối, tương đối của Adam smith vàRicardo chỉ giải thích được việc thương mại xảy ra giữa các nước là do sự tồntại khác biệt về năng suất lao động Tuy nhiên trong thế giới thực tế thươngmại xảy ra không chỉ xem xét mỗi yếu tố đầu vào là lao động mà còn có cácyếu tố khác như đất đai, vốn và tài nguyên khoáng sản Thực tế cho thấyCanada xuất khẩu sản phẩm lâm sản sang Mỹ không phải vì những ngườicông nhân làm trong ngành lâm nghiệp của Canada có năng suất lao độngtương đối (so với những đồng nghiệp của họ ở nước Mỹ) cao hơn nhữngngành khác của Canada, mà là vì đất nước Canada thưa dân có nhiều đất rừngtheo đầu người hơn nước Mỹ

Hai nhà kinh tế người Thuỵ Điển Heckscher - Oblin đẫ bổ sung bằng môhình mới trong đó 2 ông đề cập đến hai yếu tố đầu vào là lao động và vốn vớicác giả thiết sau:

Cạnh tranh là hoàn hảo

Chi phí vận chuyển không đáng kể

Không có rào cản đối với thương mại tự do

Lợi tức không đổi theo quy mô

Lao động là yếu tố đầu vào có thể di chuyển được giữa các nước

Trang 12

Công nghệ và sở thích của 2 quốc gia là nh nhau.

Cán cân thương mại ở 2 nước tại thời điểm trao đổi và chuyên môn hoá là cânbằng

Không có sự di chuyển các yếu tố quốc tế, chỉ có sự di chuyển giữa các yếu tốtrong phạm vi quốc gia

Cả 2 đều sử dụng có hiệu quả nhất các yếu tố trong phạm vi quốc gia

(Với giả thiết chỉ xem xét thương mại xảy ra giữa 2 quốc gia và đầu vào

là lao động và vốn)

Hai ông đã đưa ra định lý: một nước sẽ có lợi nếu sản xuất và chuyênmôn hoá những hàng hoá tương đối sẵn có các yếu tố dồi dào và nhập khẩucác hàng hoá tương đối đắt và hiếm

Hai ông cũng đưa ra lý thuyết chứng minh thương mại (có từ 2 yếu tốđầu vào trở lên) sẽ ảnh hưởng đến sự phân phối thu nhập của các ngành trongmột nước

Qua các mô hình lý thuyết của các nhà kinh tế học từ cổ điển đến hiệnđại đã làm sáng tỏ được nguồn gốc của thương mại quốc tế

I.1.2 Lợi Ých của thương mại quốc tế:

Một quốc gia không thể sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá thoả mãnnhu cầu của dân chúng, hay nếu có thể thì cũng không đem lại hiệu quả kinh

tế cao Lợi Ých mà thương mại quốc tế đem lại là sự mở rộng khả năng tiêudùng hơn những gì khi chưa xảy ra trao đổi thương mại, làm động lực thúcđẩy phát triển sản xuất, tăng tính chuyên môn hoá, làm cho sự phân công laođộng ngày càng trở nên sâu sắc, nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển

I.2 Vai trò của thương mại quốc tế:

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng ta tại Đại hội lần VI đãnhấn mạnh "Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầutiên cũng như sự phát triển KH-KT và công nghiệp hoá XHCN của nước tatiến nhanh hay chậm phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng vànâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại " Xu thế phát triển chung của nhiều nước

Trang 13

hiện nay là thay đổi chiến lược kinh tế từ "đóng cửa" sang "mở cửa", từ chiếnlược "thay thế nhập khẩu" sang "hướng vào xuất khẩu", qua đó cho thấy cácquốc gia đã ngày càng chú trọng đến vai trò của thương mại quốc tế.

Nền kinh tế "đóng cửa" về cơ bản là phát triển kinh tế tự cung, tự cấp,sản xuất thay thế nhập khẩu Nét đặc trưng của nền kinh tế là sản xuất để trựctiếp tiêu dùng "tự sản, tự tiêu" Tổ chức lao động xã hội diễn ra trong mộtphạm vi hẹp mang nặng tính bảo thủ Nó không phù hợp với các quy luật pháttriển khách quan của thế giới Đối lập với kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp làkinh tế hàng hoá Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá

là cả một quá trình phức tạp lâu dài và khó khăn vì tính trì trệ, bảo thủ của nềnkinh tế tự nhiên

Chính sách "đóng cửa" không thể tồn tại lâu dài được là do các nguyênnhân sau:

Trong điều kiện quốc tế hoá, đời sống kinh tế ngày càng cao, sự phân cônglao động quốc tế ngày càng sâu sắc, các nước ngày càng phụ thuộc lẫn nhau

và tham gia vào quá trình liên kết, hợp tác quốc tế, khu vực, một chính sách

"đóng cửa" không còn thích hợp với hiện nay nữa

Các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh nh vũ bão, nóngày càng trở thành nhân tố quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia.Trong khi đó chính sách "đóng cửa" đã hạn chế khă năng tiếp thu kỹ thuậtmới làm cho nền kinh tế phát triển chậm chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệplạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến, không có công nghệ kỹ thuật hiện đại tiêntiến Kết quả tất yếu là năng suất lao động thấp, hiệu quả kém, khả năng cạnhtranh yếu, tốc độ phát triển chậm

Hầu hết các nước nghèo, lạc hậu hay đang phát triển đều thiếu vốn cho việcđầu tư vào sản xuất Trong khi đó quá trình phát triển nền kinh tế đòi hỏi phảinhập khẩu một khối lượng ngày càng nhiều máy móc, thiết bị và nguyên liệuphục vụ cho sản xuất Nếu không phát triển thương mại quốc tế thì vấn đềthiếu hụt trong cán cân thanh toán ngày càng lớn

Trang 14

Thị trường trong nước thu nhỏ hẹp không đủ đảm bảo cho sự phát triển côngnghiệp với quy mô hiện đại, sản xuất hàng loạt Do đó không tạo nên việc làm

- một vấn đề mà các nước nghèo phải quan tâm

Trong thế giới hiện đại, không một quốc gia nào bằng chính sách "đóngcửa" lại phát triển có hiệu quả nền kinh tế trong nước Muốn phát triển nhanhmỗi nước không thể đơn độc dựa vào nguồn lực mà phải tận dụng có hiệu quảquả tất cả những thành tựu về kinh tế, khoa học công nghệ của loài người đãđạt được, tận dụng tranh thủ các nguồn lực, vốn của nước ngoài để phát triểnđất nước

Vai trò to lớn của thương mại quốc tế là sự thông qua trao đổi thươngmại mà làm cho quá trình phân công lao động, chuyên môn hoá ngày càng trởnên sâu sắc, nó thúc đẩy cho sự phát triển của loài người ngày càng cao lên,ngày càng đáp ứng kịp thời đầy đủ những nhu cầu của con người, nâng caokhả năng sản xuất, mở rộng khả năng tiêu dùng của con người

II Hoạt động xuất khẩu và vai trò của nó đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

II.1 Khái niệm xuất khẩu.

II.1.1 Khái niệm.

Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu là 2 hoạt động chính cấu thành nênthương mại quốc tế, là hoạt động kinh doanh hàng hoá - dịch vụ giữa 1 nướcvới phần còn lại của thế giới

Ngày nay hoạt động xuất khẩu diễn ra rất sôi nổi và đa dạng trên thịtrường quốc tế và thường được các quốc gia quan tâm nhất trong chính sáchđối ngoại

Nh vậy: hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụcủa một nước với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông quaquan hệ thị trường nhằm mục đích lợi nhuận

Trang 15

II.1.2 Nhiệm vụ của xuất khẩu.

Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ổn định thì hoạt động xuất khẩuphải thực hiện được những nhiệm vụ sau đây:

Một là: phải mở rộng thị trường, nguồn hàng và đối tác kinh doanh

nhằm tạo ra cao trào xuất khẩu, coi xuất khẩu là mũi nhọn đột phá cho sự giàu

có của đất nước

Hai là: phải ra sức khai thác mọi nguồn lực của đất nước như đất đai,

nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ chất xámtheo hướng khai thác lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh tương đối

Ba là: nâng cao năng lực sản suất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối

lượng và kim ngạch xuất khẩu

Bốn là: tạo ra những mặt hàng (nhóm hàng) xuất khẩu chủ lực đáp ứng

những đòi hỏi của thị trường và của khách hàng về chất lượng và số lượng cósức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao

II.2 Vai trò của xuất khẩu.

Trong nền kinh tế thị trường hoạt động kinh doanh xuất khẩu đóng vaitrò rất lớn, cụ thể là:

II.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn chủ yếu cho nhập khẩu.

Những nước trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước(những nước chậm phát triển và đang phát triển như Việt Nam) đòi hỏi phải

có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiếnphục vụ cho quá trình cơ sở vật chất sản xuất hạ tầng của đất nước

Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: liêndoanh đầu tư với nước ngoài, vai nợ, viện trợ, tài trợ

Tuy nhiên các nguồn này thường bấp bênh và biến đổi liên tục và cókèm theo những cái giá phải trả bằng cách này hay bằng cách khác Chỉ cónguồn vốn quan trọng nhất là từ xuất khẩu thu về sẽ tạo điều kiện cho nhậpkhẩu thực hiện những chiến lược phát triển kinh tế đất nước một cách ổn định

và vững chắc

Trang 16

II.2.2 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng ngoại.

Xuất khẩu làm thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợinhất, đó là thành quả của của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và sự chuyển dịch cơ cấukinh tế theo các hướng sau:

Phải xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức và xuất khẩu nhữngsản phẩm mà nước khác cần Điều đó có tác dụng lớn đối với sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển

Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có liên quan có cơ hội thúc đẩy

sự phát triển Bởi vì trong một nền kinh tế do sự phân công lao động cao, tạonên một sự rằng buộc lẫn nhau giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân Ví

dụ khi sản phẩm dệt may được xuất khẩu không chỉ trong ngành dệt sản phẩm

sẽ được phát triển mà các ngành khác như: sản xuất bông, sợi nhuộm, hoáphẩm sẽ cũng được phát triển theo, quy mô của những ngành này cũngđược trang bị, mở rộng thêm, cơ hội tạo thêm được nhiều công ăn việc làmcho công nhân các ngành liên quan

Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ và cung cấp đầu vàocho quá trình sản xuất khai thác tối đa sản xuất trong nước

Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyênnăng lực sản xuất trong nước Nói cách khác xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn

và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào trong nước, thúc đẩynhanh quá trình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.Thông qua xuất khẩu thì quốc gia đó phải xuất phát từ nhu cầu thị trường thếgiới Bên cạnh đó phải đối đầu cạnh tranh quyết liệt về giá cả, chất lượng trênthị trường thế giới Do đó buộc quốc gia đó phải cơ cấu tổ chức lại sản xuấtcho phù hợp theo xu hướng hướng ngoại

Xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới hoàn thiện côngtác quản lý, sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng, hạ giá thành

Trang 17

II.2.3 Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân.

Trước hết, sản xuất hàng hoá xuất khẩu thu hút nhiều nhân công cácngành từ sản xuất xuất khẩu chính đến các ngành liên quan Có nhiều côngviệc dẫn đến thu nhập ổn định, dần dần từng bước nâng cao sức tiêu dùng, sâu

xa hơn đã tạo thêm sự ổn định cho nền kinh tế xẫ hội

II.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại.

Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại khác đều có sự liên quan

và cho quốc gia đó ngày càng hoà đồng cùng nền kinh tế thế giới, tạo nên sựgắn bó chặt chẽ với phân công lao động quốc tế Thông thường hoạt độngxuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúcđẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất ra hàng hoáxuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, vận tải quốc tế , đến lượt nóchính quan hệ đối ngoại lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược

để phát triển kinh tế thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

II.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu.

Hoạt động xuất khẩu là trao đổi hàng hoá, dịch vụ qua lãnh thổ biên giới,đối tác là những người nước ngoài có phong tục tập quán, văn hoá khác nhauhay khác nhau về quốc tịch Hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế thựcchất cũng như hoạt động kinh doanh trong nước chỉ khác chăng ảnh hưởngcủa các yếu tố tới kinh doanh thương mại quốc tế không những là các yếu tốtrong nước mà còn ở thị trường thế giới như thông lệ quốc tế, khu vực, đồngtiền thanh toán Do đó có thể thấy rằng hoạt động xuất khẩu rất phức tạp,

ta có thể thấy một số các nhân tố chính ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩunhư:

Trang 18

II.3.1 Nhân tố văn hoá - địa lý:

II.3.1.1 Địa lý.

Tức là nghiên cứu bề mặt trái đất, khí hậu, đất, nước, con người, tàinguyên thiên nhiên là những yếu tố không thể kiểm soát được đối với mỗimột doanh nghiệp Nó tác động đến nhu cầu sử dụng hàng hoá khác nhau, tạo

ra các đặc điểm hàng hoá sao cho phù hợp với từng điều kiện địa lý của từngvùng Ví dụ các nhà sản xuất phát hiện ra rằng các thiết bị xây dựng khi sửsụng ở Mỹ đòi hỏi phải có sự thay đổi đáng kể nhằm thích ứng với điều kiệnnhiệt độ cao và bụi từ sa mạc Sahara

II.3.1.2 Văn hoá.

Là tất cả các tri thức, truyền thống phong tục tập quán của con người.Nền văn hoá tạo nên cách sống, sự suy nghĩ của một cộng đồng nó sẽ quyếtđịnh đến cách thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn đượcthoả mãn Đây chính là yếu tố tác động mạnh mẽ đến các hoạt động xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ Các nhà kinh doanh phải xem xét kỹ môi trường văn hoácủa nước Êy trước khi đưa sản phẩm của mình vào thị trường đó

Ví dô khi đưa sản phẩm vào thị trường Trung Đông thì sản phẩm nào cóbiểu tượng mẫu mà quảng cáo là hình ảnh phụ nữ thì sản phẩm đó sẽ bị lên

án, bị tẩy chay ngay

II.3.2 Tỷ giá hối đoái.

Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền nước này được biểu hiện quamột đồng tiền của nước khác, nó là giá cả của các loại giá cả

Mỗi quốc gia đều có một đơn vị tiền riêng cho mình như Việt Nam cóVNĐ, Mỹ có USD, , do đó tỷ giá thể hiện sự trao đổi, sức mua giữa 2 đồngtiền, nó gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thông qua tác động đếngiá cả hàng hoá dịch vụ xuất khẩu

Một chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái lên cao sẽ khuyến khích đượchoạt động sản xuất nhiều hơn, hạn chế việc nhập khẩu Vì giá cả của hàng hoá

Trang 19

quốc gia đó sẽ rẻ đi trên thế giới, làm cho sức cạnh tranh tăng lên, khuyếnkhích việc mua sản phẩm của quốc gia đó.

Đối với mỗi cấp cơ sở như doanh nghiệp, tỷ giá hối đoái có liên quantrực tiếp đến tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu Nó chính là số bản tệ bỏ ra

để thu về một đơn vị ngoại tệ Nếu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu thấp hơn tỷgiá hối đoái thì các doanh nghiệp mới thực hiện xuất khẩu và ngược lại

II.3.3 Cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Khi một sản phẩm đưa vào thị trường để tiêu thụ thì nó đã trở thành hànghoá và bị chi phối bởi quy luật cung cầu trên thị trường Hàng hoá xuất khẩucũng thế, nó bị cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới bởi các nguồncung khác nhau Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ngày càng phát triểnmạnh mẽ và cũng như sự xuất hiện của các công ty xuyên quốc gia đã làmvấn đề cạnh tranh ngày càng trở nên gay go hơn các hiện tượng cạnh tranhđộc quyền, "cá lớn nuốt cá bé", "xáp nhập - thôn tính" đã trở nên phổ biến,tinh vi hơn

Chính vì vậy thường xảy ra hiện tượng tranh nhau bán, tranh nhau mua,các nước nghèo phải, đang phát triển phải chống đỡ rất khó khăn trong việccạnh tranh trên thị trường thế giới

II.3.4 Chế độ, chính sách của nhà nước (chính trị - luật pháp).

Khi một sản phẩm thâm nhập vào một thị trường quốc gia khác thì nóphải tuân thủ các điều kiện về chính trị, luật pháp của quốc gia đó như sảnphẩm phải đạt tiêu chuẩn về điều kiện vệ sinh môi trường, các chính sách thuếquan, thủ tục hải quan, hạn ngạch, chính sách về hàng hoá cấm xuất nhậpkhẩu Tất cả mọi hàng hoá không phải sẽ được nhập khẩu vào một quốc giakhác đang có nhu cầu cần được thoả mãn, mà nó phải chờ đợi xem xét quốcgia đó có cho phép sản phẩm đó có được nhập khẩu hay không, số lượng hạnchế hay tù do

Trang 20

II.3.5 Nguồn hàng phục vụ cho xuất khẩu.

Nguồn hàng xuất khẩu có ảnh hưởng khá lớn đến công tác xuất khẩu,quy trình sản xuất phải có đầu vào và đầu ra Sau khi tìm hiểu và nghiên cứucho thị trường đầu ra, các doanh nghiệp phải tập trung cố gắng tìm nguồn vàocho sản xuất Doanh nghiệp sản xuất thì sự phụ thuộc ở các nguồn hàngthường Ýt hơn doanh nghiệp thương mại vì họ phải tổ chức đi thu gom ởnhiều nơi mới phục vụ được cho xuất khẩu

Nhiều khi nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hay kinh doanh xuấtkhẩu hàng hoá lại phải nhập khẩu từ bên ngoài sẽ làm cho các doanh nghiệptrở nên khó khăn hơn, và phụ thuộc nhiều hơn vì thế cũng tác động đến tiến

độ xuất khẩu hàng hoá

II.3.6 Hệ thống thông tin liên lạc - hệ thống ngân hàng tài chính quốc gia.

Do kinh doanh thương mại quốc tế thường được tổ chức qua biên giớilãnh thổ quôc gia, đặc điểm quãng đường là xa, vì thế hệ thống thông tin liênlạc là cơ sở chính để có thể trao đổi và tìm hiểu, ký kết hợp đồng một cáchnhanh chóng nhất làm rút bớt khoảng cách về không gian địa lý Vì thế mộtquốc gia, hay mét khu vực có hệ thống trang bị về thông tin tốt cũng gián tiếpkhuyến khích thúc đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu củamình

Còn hệ thống ngân hàng tài chính thường được phát triển đi sau hoạtđộng xuất khẩu, nhưng nếu thiếu nó sẽ trở nên gây khó khăn cho kinh doanhxuất khẩu, vì các doanh nghiệp cần có vốn để kinh doanh, hệ thống này hoạtđộng tốt sẽ tạo ra sù quay vòng nhanh chóng của quá trình tái sản xuất Bảođảm trong công tác thanh toán quốc tế giữa các quốc gia, do sù xa cách vềkhông gian địa lý mà các doanh nghịêp ở các quốc gia khác nhau cảm thấy sựđảm bảo an toàn trong công tác kinh doanh với nhau

Trang 21

II.4 Các hình thức xuất khẩu.

II.4.1 Xuất khẩu trực tiếp.

Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sảnxuất, công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp kí kết hợp đồng muabán trao đổi hàng hoá

Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, có thể trực tiếpgặp nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đên một hợp đồng hoặc không cầngặp nhau trực tiếp mà thông qua thư chào hàng, thư điện tử, điện thoại, fax, cũng có thể tạo thành một hợp đồng mua bán kinh doanh thương mại quốc tếđược ký kết

Ưu điểm của giao dịch trực tiếp.

Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất và Ýt xảy ra nhữnghiểu lầm đáng tiếc xảy ra

Giảm được chi phí trung gian, nhiều khi chi phí này rất lớn, phải chia sẻ lợinhuận

Giao dịch trực tiếp sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ýkiến của khách hàng, khắc phục thiếu sót

Chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện vận tải để thực hiệnhoạt động xuất khẩu và kịp thời điều chỉnh thị trường tiêu thụ, nhất là trongđiều kiện thị trường nhiều biến động

Hạn chế khó khăn của hoạt động xuất khẩu trực tiếp.

Đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp nhiều bỡ ngỡ, dễ gặpsai lầm, bị Ðp giá trong mua bán

Đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải cónăng lực hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ, văn hoá của thịtrường nước ngoài, phải có nhiều thời gian tích luỹ

Khối lượng mặt hàng giao dịch phải lớn mới có thể bù đắp được các chi phítrong giao dịch như: giấy tờ, đi lại, điều tra, nghiên cứu thị trường

Trang 22

II.4.2 Xuất khẩu gián tiếp (xuất khẩu uỷ thác).

Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thácxuất khẩu và bên nhập khẩu Bên uỷ thác không được quyền thực hiện cácđiều kiện về giao dịch mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán

mà phải thông qua bên thứ 3 - người nhận uỷ thác

Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp khôngđược phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩutrực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm dịch vụ xuấtkhẩu hàng hoá cho mình, bên nhận uỷ thác được nhận một khoản thù lao gọi

là phí uỷ thác

Việc thực hiện xuất khẩu uỷ thác có tác dụng:

Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tìm nguồn đầu ra cho sản phẩm củamình

Giúp cho hàng hóa của doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào một thị trườngmới mà mình chưa biết, tránh được rủi ro khi mình kinh doanh trên thị trườngđó

Tận dông sự am tường hiểu biết của bên nhận uỷ thác trong nghịêp vụ kinhdoanh xuất khẩu từ khâu đóng gói, vận chuyển, thuê tàu mua bảo hiểm sẽgiúp doanh nghiệp tiết kiệm được tiền của, thời gian đầu tư cho việc thực hiệnxuất khẩu

Tuy nhiên hình thức này có những khó khăn:

Mất mối liên hệ trực tiếp của doanh nghiệp với thị trường (khách hàng)

Phải chia sẻ lợi nhuận

Nhiều khi đầu ra phụ thuộc vào phía uỷ thác trung gian làm ảnh hưởng đếnsản xuất

II.4.3 Xuất khẩu hàng đổi hàng (buôn bán đối lưu).

Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kếthợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua Khối lượnghàng hóa được trao đổi có giá trị tương đương Ở đây mục đích của xuất khẩu

Trang 23

không phải thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một khối lượng hànghoá có giá trị tương đương.

Vì những đặc điểm đó người ta gọi là phương thức hàng đổi hàng Tuytiền tệ không được thanh toán trực tiếp nhưng nó được làm vật ngang giáchung cho giao dịch này

Các bên tham gia buôn bán đối lưu phải quan tâm đến sự cân bằng trongtrao đổi hàng hoá Sự cân bằng đó thể hiện ở khía cạnh sau: cân bằng về mặthàng, mặt hàng quý hiếm, mặt hằng tồn kho khó bán lấy mặt hàng tồn kho

II.4.4 Tạm nhập tái xuất.

Tái xuất là sự tiếp tục xuất khẩu ra nước ngoài những mặt hàng trướcđây đã nhập khẩu với điều kiện hàng hoá phải nguyên dạng như lúc đầu nhậpkhẩu

Hình thức này được áp dụng khi mét doanh nghiệp không sản xuất đượchay sản xuất được nhưng với khối lượng Ýt, không đủ để xuất khẩu nên phảinhập từ nước ngoài vào để sau đó tái xuất

Hoạt động giao dịch tái xuất bao gồm 2 hoạt động xuất khẩu và nhậpkhẩu với mục đích thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn lượng ngoại tệ bỏ ra lúcđầu Các bên tham gia gồm có: nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nướcnhập khẩu

Tạm nhập tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai hình thức sau:Tái xuất theo đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu tớinước tái xuất rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu.Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền.Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền về từ nước nhập khẩu.Chuyển khẩu: được hiểu là việc mua hàng của một nước (nước xuất khẩu) đểbán hàng hoá cho một nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tụcnhập khẩu vào nước tái xuất Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thutiền về từ nước nhập khẩu

Trang 24

Ưu điểm của hình thức này là tạo ra thị trường rộng lớn, quay vòng vốn

và đáp ứng được nhu cầu bằng những hàng hoá mà trong nước không thể đápứng được, tạo ra thu nhập

Nhược điểm của hình thức này là các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiềuvào nước xuất khẩu về giá cả, thời gian giao hàng Ngoài ra nó còn đòi hỏingười làm công tác tái xuất phải giỏi về nghiệp vụ kinh doanh tái xuất, phảinhạy bén đối với tình hình thị trường và giá cả thế giới, sự chính xác chặt chẽtrong các hợp đồng mua bán

Đối với Việt Nam các doanh nghiệp kinh doanh tậm nhập tái xuất vớiđiều kiện không được kinh doanh các hàng hoá thuộc diện cấm nhập, cấmxuất và được lưu kho tại Việt Nam trong vòng 30 ngày, có thể được gia hạnthêm tối đa 3 lần mỗi lần không quá 30 ngày

II.4.5 Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá.

Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt, tại đó thông qua nhữngngười môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán hàng hoá có khốilượng lớn, có tính chất đồng loại và có phẩm chất có thể thay thế được vớinhau

Sở giao dịch hàng hoá thể hiện tập trung của quan hệ cung cầu về mộtmặt hàng giao dịch trong mét khu vực ở một thời điểm nhất định Do đó giácông bố tại sở giao dịch có thể xem như một tài liệu tham khảo trong việc xácđịnh giá quốc tế

II.4.6 Gia công quốc tế.

Gia công quốc tế là một hình thức xuất khẩu mà trong đó một bên (gọi làbên gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên khác (bênđặt gia công) để chế biến ra sản phẩm và giao lại cho bên đặt gia công vànhận tiền gia công Ngày nay gia công quốc tế là hình thức khá phổ biến tronghoạt động ngoại thương ở nhiều nước

Trang 25

III Nội dung của hoạt động xuất khẩu.

III.1 Nghiên cứu thị trường tìm đối tác giao dịch.

III.1.1 Nghiên cứu thị trường.

Vấn đề nghiên cứu thị trường là một việc làm cần thiết đầu tiên đối vớibất kì công ty nào muốn tham gia vào thị trường thế giới

Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền sản xuất và lưu thônghàng hoá, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá ở đó có thị trường Tacũng có thể hiểu thị trường theo 2 góc độ: thị trường là tổng thể các quan hệlưu thông hàng hoá tiền tệ, hay cách khác thị trường là tổng khối lượng cầu cókhả năng thanh toán và cung có khả năng đáp ứng

Trước đây các doanh nghiệp Ýt khi chú trọng đến nghiên cứu thị trường,sản xuất không xuất phát từ tín hiện thị trường mà chủ yếu chú trọng vàokhâu sản xuất do đó đã xảy ra cuộc khủng hoảng thừa (1929-1930), sau đó trở

đi các doanh nghiệp mới bắt đầu chú ý nhiều đến việc nghiên cứu thị trường

Để nắm vững được các yếu tố của thị trường, hiểu biết về quy luật vậnđộng của chúng nhằm ứng xử kịp thời, mỗi nhà kinh doanh nhất thiết phảitiến hành các hoạt động về nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường hànghoá thế giới có rất nhiều ý nghĩa trong việc phát triển và nâng cao hiệu quảcác quan hệ kinh tế đặc biệt là trong công tác xuất nhập khẩu hàng hoá củamỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp Nghiên cứu và nắm vững biến động của tìnhhình thị trường và giá cả hàng hoá trên thế giới là những tiền đề quan trọngnhất đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trên thị trường thếgiới có hiệu quả nhất

Công tác nghiên cứu thị trường phải trả lời một số câu hỏi quan trọngsau đây:

Nước nào là nước có thị trường triển vọng nhất đối với sản phẩm của công ty.Khả năng số lượng bán ra được bao nhiêu

Sản phẩm cần có những thích ứng gì trước những đòi hỏi của thị trường.Nên chọn phương pháp bán nào cho phù hợp

Trang 26

Nghiên cứu thị trường còn phục vụ công tác kế hoạch của cơ quan nhànước trong việc hoạch định chiến lược phát triển thương mại quốc tế, xácđịnh cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu Do vậy nó phải đóng vai trò quantrọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân.

Nghiên cứu thị trường thường sử dụng 2 phương pháp sau

 Nghiên cứu tại bàn

Về cơ bản nghiên cứu tại bàn gồm việc thu thập thông tin từ các nguồn

tư liệu, xuất bản hay không xuất bản

Đây là phương pháp phổ thông nhất về nghiên cứu thị trường vì nó đỡtốn kém và phù hợp với khả năng của những người xuất khẩu mới tham giavào thị trường thế giới Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nh chậm và mực

độ tin cậy thấp Kết quả nghiên cứu tại bàn cần phải được bổ sung bằngnghiên cứu tại hiện trường

Chìa khoá thành công của nghiên cứu tại bàn là phát hiện ra các nguồnthông tin và triệt để khai thác những thông tin đó Ngày nay trong thời đại tinhọc, thông tin về thị trường, hàng hoá, giá cả rất phong phú Trước tiên đó

là các nguồn từ các tổ chức quốc tế sau:

Trung tâm thương mại quốc tế (International Trade Centre - ITC)

Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT)

Tổ chức thương mại và phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD)

Hội đồng kinh tế xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP)

Nguồn thông tin thứ 2 là các sách báo thương mại do các tổ chức quốcgia hoặc cá nhân xuất bản, đáng chú ý là những Ên phẩm sau:

- Niên giám thống kê xuất khẩu của các nước

- Bản tin Reuter và các loạt mặt hàng

- Thời báo tài chính

 Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường

Nghiên cứu tại hiện trường bao gồm việc thu thập thông tin chủ yếuthông qua tiếp xúc với mọi người trên hiện trường Nghiên cứu tại hiệntrường là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu thị trường

Trang 27

Về mặt trình tự nghiên cứu hiện trường có thể thực hiện sau khi đã sơ bộphân tích đánh giá những kết quả nghiên cứu tại bàn, nghĩa là sau khi đã xử lýthông tin Những việc thu thập và xử lý thông tin là một quá trình liên tục,nhiều khi nó xảy ra cùng một lúc, cũng như thường xuyên xử lý để có sự điềuchỉnh phản ứng linh hoạt.

Nghiên cứu tại bàn chủ yếu thu thập thông tin qua các nguồn đã đượccông khai xuất bản, còn nghiên cứu tại hiện trường chủ yếu thu thập thông tin

từ trực quan và qua các quan hệ giao tiếp với thương nhân và với người tiêudùng Xét về tính phức tạp và mức độ chi phí, nghiên cứu tại hiện trường làmột hoạt động tốn kém và không phải ai cũng đủ trình độ làm được Vì vậy,trước hết cần sơ bộ xử lý các thông tin về các thị trường đã đề cập, chọn ranhững thị trường có nhiều triển vọng nhất Sau đó căn cứ vào kết quả lựachọn để tiến hành nghiên cứu thị trường và lập kế hoạch khảo sát Nghiên cứuhiện trường do trung tâm thương mại quốc tế hoặc do 1 hãng nghiên cứu tưnhân hoặc do thương nhân tự tiến hành

III.1.2 Nghiên cứu giá cả, xu hướng biến động giá cả.

Nghiên cứu giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới là một vấn đề rấtquan trọng đối với bất cứ một đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu nào, đặc biệt

là các đơn vị mới bắt đầu tham gia kinh doanh, chưa đủ mạng lưới nghiên cứucung cấp thông tin cũng như thiếu cán bộ am hiểu công tác này Giá cả hànghóa trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường thếgiới và có ảnh hưởng đối với hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu

Giá cả hàng hoá xuất khẩu được hình thành dựa trên giá quốc tế và nóluôn biến động Giá cả quốc tế có tính chất đại diện đối với mỗi loại hàng hoánhất định trên thị trường thế giới Giá đó được dùng trong giao dịch thươngmại thông thường, không kèm theo một điều kiện đặc biệt nào và được thanhtoán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi

Trong thực tế người ta thường lấy giá cả của các hàng hoá ở các trungtâm thương mại lớn trên thế giới hay ở các sở giao dịch truyền thống trên thế

Trang 28

giới làm cơ sở để định giá cho sản phẩm của mình Tuy nhiên đối với máymóc thiết bị thường khó xác định giá quốc tế, vì vậy trong thực tế chủ yếu căn

cứ vào giá cả của các hãng sản xuất và mức cung trên thị trường

Dự đoán xu hướng biến động giá cả.

 Xu hướng biến động giá cả của các loại hàng hoá trên thị trường thế giớirất phức tạp, có lúc tăng, có lúc giảm Để có thể dự đoán được xu hướng biếnđộng giá cả theo từng loại hàng hoá trên thị trường thế giới phải dựa vào kếtquả nghiên cứu và dự đoán tình hình thị trường từng loại hàng hoá, đồng thờiđánh giá chính xác các nhân tố tác động đến xu hướng biến đổi giá cả như:Nhân tè chu kỳ: tức là sự vận động có tính chất quy luật như tình hình kinh tế,chu kỳ sống của sản phẩm đó đang ở giai đoạn nào

Nhân tè lũng đoạn về giá cả (độc quyền, bán phá giá, đầu cơ )

Nhân tố cạnh tranh: các đối tượng tham gia vào thị trường đó như thế nào.Ngoài ra khi nghiên cứu giá cả hàng hóa ta cần phải nghiên cứu

Nhân tố tỷ giá hối đoái của đồng tiền nội tệ và ngoại tệ của các thị trường.Đông tiền tính giá có thể dùng đồng tiền của nước xuất khẩu hay nhập khẩuhoặc của một nước thứ 3 nhưng đó phải là đồng tiền mạnh tự do chuyển đổi.Điều kiện cơ sở giao hàng, cũng thường đi kèm theo cách tính giá, ví dụ nhgiá CIF hay theo giá FOB

Phương pháp tính giá giữa 2 bên theo giá cố định hay giá có sự điều chỉnh khithị trường có sự biến động về giá cả

Yếu tố tín dụng nh trả trước, cho vay trả dần, giảm giá

III.1.3 Lựa chọn đối tác giao dịch và mặt hàng kinh doanh.

 Lựa chọn đối tác giao dịch

Trong kinh doanh thương mại quốc tế bạn hàng hay khách hàng nóichung là những người quan hệ giao dịch với chúng ta nhằm thực hiện cácquan hệ hợp đồng mua bán, dịch vụ kỹ thuật khi đi vào nghiên cứu đối tácgiao dịch cần phải tìm hiểu rõ về:

 Loại hình doanh nghiệp kinh doanh của đối tác

Trang 29

 Loại hình, phạm vi hoạt động kinh doanh.

 Cơ sở vật chất khả năng tài chính, các cơ sở chi nhánh văn phòng đại diện

 Thực trạng hoạt động và triển vọng trong tương lai

 Năng lực kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên

 Uy tín trong kinh doanh của đối tác

 Về lựa chọn mặt hàng:

Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường, môi trường kinh doanh, chính trịluật pháp, văn hoá doanh nghiệp phải xác định dự kiến mặt hàng nào? quycách phẩm chất, bao bì nhãn hiệu như thế nào Vấn đề khá quan trọngtrong giai đoạn này là xác định số lượng xuất khẩu để đạt mục đích tối đa hoálợi nhuận

III.2 Xây dựng phương án kinh doanh

Để có phương án kinh doanh hợp lý, các cán bộ công nhân viên chuyênmôn phải dựa vào các thông tin về cung cầu hàng hóa, điều kiện tài chính,quy chế chính trị, luật pháp, văn hoá, đối tác giao dịch, tâm lý tiêu dùng lànhững yếu tố quan trọng trong kinh doanh thương mại quốc tế

Doanh nghiệp phải dự đoán chính xác mức giá bán là bao nhiêu? sốlượng nh thế nào? các biện pháp quảng cáo xúc tiến bán hàng và phải đưa

ra một số chỉ tiêu đánh giá nh:

- Thời gian hoàn vốn

- Tỷ suất ngoại tệ

- Điểm hoà vốn

- Tỷ suất lợi nhuận

Sau đó có thể dựa vào thang điểm mà lựa chọn phương án kinh doanhnào tối ưu nhất và các phương án dự phòng nếu phương án thức nhất khôngthực hiện được

Trang 30

III.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng.

III.3.1 Đàm phán.

Là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các doanhnghiệp xuất nhập khẩu để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng Trong kinhdoanh thương mại quốc tế người ta thường sử dụng các hình thức sau:

Đàm phán qua thư tín: ngày nayđàm phán qua thư từ và điện tín vẫn còn làmột hình thức chủ yếu để giao dịch giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu

Ưu điểm của hình thức này là tiết kiệm được chi phí đi lại giao dịch và

có thể giao với nhiều khách hàng trên thế giới cùng một lúc Người viết thư

có điều kiện để cân nhắc, suy nghĩ, tranh thủ ý kiến nhiều người để đưa ra cácđiều khoản có lợi cho mình Tuy nhiên giao dịch qua thư tín thường mất nhiềuthời gian chờ đợi và có thể bỏ lỡ cơ hội mua bán

Đàm phán qua điện thoại: việc giao dịch đàm phán qua điện thoại nhanhchóng giúp nhà kinh doanh tiến hành đàm phán một cách khẩn trương đúngvào thời cơ cần thiết Nhưng chi phí điện thoại rất cao, các cuộc trao đổithường bị hạn chế về mặt thời gian, các bên không thể trình bày chi tiết

Đàm phán trực tiếp: đây là hình thức giao dịch đẩy mạnh tốc độ giải quyếtmọi vấn đề giữa 2 bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thưtín hoặc điện thoại đã kéo dài quá lâu mà không đạt kết quả Nó tạo ra sự hiểubiết và thông cảm nhau hơn, tạo nên quan hệ lâu dài

Tuy nhiên đây là hình thức đàm phán khó khăn nhất, nó đòi hỏi ngườitiến hành đàm phán phải chắc chắn về nghiệp vụ, linh hoạt để có thể bìnhtĩnh, tỉnh táo đưa ra sách lược đối phó Bên cạnh đó chi phí cho chuyến đigiao dịch này cũng rất tốn kém

III.3.2 Ký kết hợp đồng.

Sau khi giao dịch đàm phán thành công bước tiếp theo hai bên sẽ tiếnhành ký kết xác nhận những điều khoản đã thoả thuận bằng một hợp đồng.Hợp đồng này sẽ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của hai bên Một hợp đồngkinh tế gồm các nội dung sau:

Trang 31

Số mã hiệu , kí hiệu hợp đồng.

Ngày tháng năm và nơi ký kết hợp đồng

Tên địa chỉ, điện thoại, số tài khoản các bên

Chữ ký và con dấu của hai bên

Thông thường trong kinh doanh thương mại quốc tế ở các nước trên thếgiới một hợp đồng chính thức được công nhận nếu có 2 điều khoản về sốlượng và giá trị Nhưng ở Việt Nam một hợp đồng phải có các điều khoảnchủ yếu sau: tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, thanhtoán mới cấu thành nên một hợp đồng

III.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng.

Sau khi hợp đồng đã được ký kết nghĩa là nghĩa vụ và quyền lợi của cácbên ký trong hợp đồng đã được xác định Lúc này 2 bên phải nhanh chóngthực hiện hợp đồng đã ký để không xảy ra sai xót và gây thiệt hại

Quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm các bước sau:

Trang 32

Xin giấy phép xuất nhập khẩu là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp

lý để tiến hành các khâu khác trong quá trình xuất nhập khẩu Trước khi có

NĐ 57/CP/1998 ban hành ngày 31-7-1998 thì các doanh nghiệp khi thực hiệnmột giao dịch kinh doanh xuất khẩu phải xin giấy phép mới được xuất khẩu.Nay thì đối với những mặt hàng không phải cấm xuất nhập hay có điều kiệnthì không phải xin giấy phép nữa mà được xuất khẩu hàng hóa phù hợp vớigiấy phép kinh doanh đã đăng ký (Điều 3 NĐ 57/1998)

III.4.1 Chuẩn bị hàng xuất khẩu.

Khâu chuẩn bị hàng cũng rất quan trọng, thường thì sau khi ký hợp đồngngười xuất khẩu phải nhanh chóng chuẩn bị hàng hoá để giao cho người nhậpkhẩu, thời gian từ lúc hợp đồng có hiệu lực đến khi giao hàng khoảng 30 - 60ngày Do đó trong thời gian này phải chuẩn bị đủ số lượng và chất lượng,đóng gói, kẻ mã hiệu hàng hóa để chuẩn bị giao hàng Ở các doanh nghiệpthương mại thường phải có nhiều chân hàng để tập trung thu gom hàng hoá từcác nơi, nhưng đối với doanh nghiệp sản xuất thì thường hàng hoá đã dự trữsẵn ở trong kho cho nên chủ động hơn trong công tác này

III.4.2 Kiểm tra hàng

Là công việc cần thiết bởi vì nó đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi chongười xuất khẩu một cách an toàn Nếu có xảy ra sự cố nào thì tìm cách thaythế, sửa chữa cho phù hợp

ChuÈn bÞhµng ho¸

Giao hµng Lµm thñ tôc

h¶i quan

KiÓm trahµng ho¸

Thuª tµu

Giao hµng

Thñ tôc thanh to¸n Gi¶i quyÕt khiÕu n¹i

Trang 33

III.4.3 Thuê tàu.

Tuỳ thuộc vào sự thoả thuận trong hợp đồng và việc thuê tàu dựa vàocăn cứ sau:

Điều khoản hợp đồng

Đặc điểm hàng hóa

Điều kiện vận tải

Vị thế trong thoả thuận hợp đồng

Năng lực trong công tác thuê phương tiện vận tải

III.4.3 Mua bảo hiểm.

Đây cũng là điều kiện tuỳ theo trong hợp đồng quy định Tuy nhiên nếungười mua yêu cầu, người bán mua hộ với chi phí và rủi ro của người nhậpkhẩu thì bên xuất khẩu có thể mua hé hay từ chối Việc vận chuyển hàng hóachủ yếu bằng đương biển cho nên rủi ro xảy ra đối với hàng hoá là rất cao, dovậy việc mua bảo hiểm không thể thiếu được trong mỗi chuyến hàng

III.4.5 Làm thủ tục hải quan.

Đặc điểm của hàng hoá xuất nhập khẩu là việc vận chuyển phải quanbiên giới lãnh thổ quốc gia do đó phải được làm thủ tục hải quan thì mới đượcxuất khẩu Thủ tục hải quan là một công cụ để quản lý hành vi buôn bán theopháp luật của nhà nước, để ngăn chặn xuất nhập khẩu lậu qua biên giới, đểkiểm tra giấy tờ có sai sót giả mạo không, để thống kê số liệu hàng hoá xuấtkhẩu của quốc gia và để thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước

Đầu tiên doanh nghiệp phải khai báo hải quan và áp mã thuế cho hànghoá của mình về:

- Tên hàng

- Số lượng, giá trị

- Phương tiện vận tải

- Xuất khẩu hoặc nhập khẩu với nước nào? địa chỉ?

Sau đó tuân thủ theo các quyết định của cơ quan hải quan cho thông quahay bắt phải sửa chữa đóng gói lại bao bì, hay không được phép xuất khẩu

Trang 34

III.4.6 Giao hàng lên tàu.

Sau khi hoàn thành thủ tục hải quan nhà xuất khẩu phải vận chuyển hànghoá đã được niêm phong kẹp chì của nhân viên hải quan ra cảng và giao lêntàu (có thể chỉ giao cho người vận chuyển nhưng cần phải giao tại cảng tuỳtheo thoả thuận trong hợp đồng) Sau khi giao hàng lên tàu thì nhanh chónglấy đơn đã xếp hàng lên tàu không bị ghi chú gì của thuyền trưởng) để nhanhchóng thực hiện công đoạn thanh toán

III.4.7 Thủ tục thanh toán.

Thường trong kinh doanh thương mại quốc tế phương thức thanh toánchủ yếu là tín dụng chứng từ (L/C) do đó sau khi giao hàng xong nhà xuấtkhẩu phải nhanh chóng thu thập tất cả các chứng từ về hàng hoá để nhanhđược thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Thông thường thời gian có hiệulực của L/c khoảng 30 đến 60 ngày kể từ ngày mở L/C

III.4.8 Giải quyết khiếu nại.

Thực hiện xong thủ tục thanh toán chưa kết thúc được hợp đồng xuấtkhẩu mà giá trị hợp đồng còn được bảo lưu trong một khoảng thời gian nhấtđịnh để bảo vệ quyền lợi của hai bên trong nghĩa vụ và quyền lợi của việcthanh toán và giao nhận hàng Nếu xảy ra sự cố về hàng hoá như hỏng, thiếu,không đúng quy cách phẩm chất nhà xuất khẩu phải tìm mọi biện pháp giảiquyết những vấn đề này

IV đặc điểm của sản phẩm dầu khí.

IV.1 Đặc điểm.

Dầu mỏ tồn tại trong tự nhiên dưới dạng hỗn hợp Hydro cacbon cấu trúcphân tử khác nhau, do quá trình phân huỷ của hàng triệu năm trước đây hìnhthành nên Tuỳ thuộc vào cấu tạo hoá học và các đặc tính lý hoá khác nhau (tỷtrọng, áp suất, nhiệt độ sôi) Lợi dụng đặc điểm này người ta dùng biện phápcracking để tạo nên các sản phẩm từ dầu thô thành những sản phẩm không thểthiếu được trong nền kinh tế hiện đại Dầu mỏ cung cấp năng lượng cho nền

Trang 35

kinh tế, và hiện nay năng lượng từ dầu thô chiếm khoảng 65% trọng lượngcác nguồn năng lượng của thế giới.

Sản phẩm dầu khí là hỗn hợp H- C được tách ra từ dầu mỏ bằng phươngpháp vật lý (chưng cất, hấp thụ, hoà tan bằng dung môi hay viết tính) hoặcphương pháp hoá học (nhiệt độ, áp suất, chất xúc tác tạo ra các sản phẩm từdầu mỏ là:

Dầu mỡ nhờn, nhựa đường

Khi tiến hành chưng cất dầu mỏ, chúng ta nhận được nhiều phân đoạnsản phẩm, chúng thường được phân biệt với nhau bởi nhiệt độ sôi (nhiệt độchưng cất), bởi thành phần Hydro cacbon, độ nhớt, nhiệt độ nhớt, nhiệt độchớp cháy, nhiệt độ đông đặc và bởi nhiều tính chất khác có liên quan đếnviệc sử dụng Từ chưng cất ta nhận được các sản phẩm sau

Xăng: là sản phẩm thuộc phân đoạn có nhiệt độ sôi từ 30 - 35o tới 180oC.Nhiên liệu phản lực: phân đoạn có nhiệt độ sôi ở 120 - 240oC Nếu có hàmlượng lưu huỳnh trong sản phẩm lớn, người ta phải tiến hành làm sạch nhờ xử

Mazút: đó là phân đoạn cặn của quá trình chưng cất

Dầu mỡ nhờn: phân đoạn 320 - 400oC, 300 - 420oC, 400 - 450oC

Trang 36

Nhựa đường: là sản phẩm cặn cuối cùng của quá trình chưng cất các sảnphẩm dầu mỏ.

Khí hoá lỏng (LPG) là sản phẩm được tách ra từ khí (chủ yếu là khí đồnghành hay từ dầu thô) Thành phần chính gồm C3 - C4 LPG thường được néndưới dạng lỏng và chủ yếu được sử dụng trong dân dụng sinh hoạt còn khíkhô thì được vận chuyển thẳng bằng đường ống đến các nhà máy tiêu thụ nhnhà máy điện

IV.2 Vai trò của sản phẩm dầu khí.

Nguồn năng lượng được sử dụng chủ yếu ở thế kỷ XVIII và XIX là than

đá Đây là nguồn nhiên liệu đã cung cấp cho các ngành công nghiệp các nước

tư bản phát triển cách mạng công nghiệp lần thứ 1

Đến cuối thế kỷ XIX đã bắt đầu xuất hiện 2 nguồn năng lượng mới làđiện và dầu mỏ (1854) Hai nguồn năng lượng này đã làm thay đổi cơ cấucông nghiệp và thúc đẩy nhanh nền kinh tế thế giới Tuy nhiên vai trò thốnglĩnh của dầu mỏ trong nền kinh tế rất lớn 65% trong tổng các nguồn nănglượng

Nguồn nhiên liệu chính trong sản xuất

Cuối thế kỷ XIX cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển rất nở

rộ, các phát minh sáng chế xuất hiện nhiều nh thuyết tiến hoá, động cơ Diezel,động cơ chạy bằng xăng

Năm 1900 Rudofl diezel đã phát minh ra động cơ mới và mang tên ông.Năm 1895 đã xuất hiện những chiếc ôtô đầu tiên và cho đến 1990 thếgiới có khoảng 548 triệu xe bao gồm:

417 triệu xe riêng (xe con) chủ yếu sử dụng xăng

130 triệu xe tải động cơ diezel

Hiện nay có khoảng 700-800 triệu xe ôtô đang tiêu thụ các sản phẩmxăng dầu trên thế giới

Trang 37

Ngoài ra trong các phương tiện vận tải khác nh máy cày, máy kéo, xemáy, tàu thuỷ, tàu biển, xe lửa, tàu hoả cũng tiêu thụ một khối lượng lớnxăng dầu.

Mazút được sử dụng cho các động cơ của các tàu thuỷ có trọng tải lớn.Khí hoá lỏng (LPG) ngày nay ngoài được sử dụng trong dân dụng nó cònđược sử dụng trong một số loại phương tiện vận tải xe ôtô con, công cộng đểhạn chế ô nhiễm môi trường

Ngành hàng không cũng đóng góp vào sự tăng mạnh của mức độ tiêu thụnhiên liệu

Do vậy chúng ta đã thấy được vai trò của nó trong nền kinh tế hiện đại

nh thế nào Có thể nói dầu mỏ nh "máu, huyết thanh" nuôi sống cơ thể mộtcon người

Tạo ra các ứng dụng toả nhiệt lượng.

Việc sử dụng dầu hoả (thắp đèn) và làm chất đốt để cung cấp năng lượngthay cho củi, than đã trở nên phổ biến từ cuối thế kỷ XIX

Trong các ngành công nghiệp khác cũng cần phải sử dụng dạng nănglượng này như nhà máy điện, các nhà máy luyện gang, thép, thuỷ tinh, haycác ngành gốm sứ thông qua quá trình toả nhiệt mà tạo ra các sản phẩm trongcác ngành đó có hiệu quả hơn

Giảm đáng kể ô nhiễm môi trường.

Mặc dầu ngày càng có nhiều nguồn năng lượng nh pin mặt trời, nănglượng gió, thuỷ triều, năng lượng địa nhiệt là những lượng làm giảm độ ônhiễm môi trường Nhưng nguồn năng lượng này chiếm rất Ýt khoảng 1%trong tổng nguồn năng lượng thế giới

Tuy vậy nền kinh tế luôn luôn cần phải có nguồn năng lượng để đảm bảocho nó vận hành Trong 2 nguồn năng lượng chính là than, dầu mỏ thì dầu mỏgóp phần làm giảm ô nhiễm môi trường hơn than Đặc biệt là khí gas, LPG làmột loại nhiên liệu sạch góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường, nạn phárừng trên thế giới

Trang 38

IV.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh dầu thô.

Hoạt động sản xuất kinh doanh dầu thô cũng giống nh các hoạt động sảnxuất kinh doanh khác đều chịu tác động của rất nhiều yếu tố ảnh hưởng khácnhau

IV.3.1 Đặc điểm hàng hoá.

Đặc điểm của sản phẩm tạo nên quy mô, mô hình khác nhau Đặc điểmcủa dầu thô về mặt giá trị thì là hỗn hợp có giá trị thấp hay là hỗn hợp chưaqua chế biến Nhưng sử dụng lại rất thu hẹp có nghĩa là nó chỉ được các nhàmáy lọc dầu cần và sử dụng sản phẩm dầu thô Mặt khác sản phẩm dầu mỏnằm sâu ở trong lòng đất, ngoài biển khơi không phải bất kỳ doanh nghiệpnào cũng có khả năng kinh doanh được mặt hàng này Quá trình để có đượcsản phẩm dầu mỏ bao gồm rất nhiều công đoạn, từ khâu thăm dò, tìm kiếmđến phát triển mỏ, khai thác đòi hỏi nhiều vốn và tính rủi ro cao, đặc biệttrong khâu thăm dò tìm kiếm

IV.3.2 Nhân tố khách quan.

Đây là những nhân tố thuộc môi trường kinh doanh mà doanh nghiệpthường không kiểm soát được

Chính trị luật pháp:

Do đặc điểm và vai trò của hàng dầu mỏ đã tạo nên cho ngành kinhdoanh này một lợi thế đó là sự kinh doanh sản xuất độc quyền Hầu như cácnước trên thế giới đều có một chính sách giống nhau là đều thiết lập các công

ty nhà nước để quản lý và tổ chức việc khai thác dầu mỏ của nước mình Tínhchất phổ biến này có thể thấy ở cả những nước mà ở đó kinh tế nhà nướcchiếm vai trò hạn chế như: Hàn Quốc, Đài loan, Singapo, Nhật Bản Mục đíchquản lý kinh doanh ngành này không chỉ về mặt kinh tế nữa mà nó bao gồm

cả mục đích chính trị nữa, vì nguồn tài nguyên này mang tính chất sống cònđối với mỗi quốc gia

Đặc điểm thời tiết khí hậu địa hình:

Trang 39

Đây là sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết khí hậu nhất Bởi vìđại đa số việc khai thác dầu mỏ là ngoài biển khơi, chính vì vậy cho nên bãobiển, thời tiết sẽ ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất ra mà cả việc tàu thuyềnvào mua bán dầu cũng bị ảnh hưởng đến.

Địa hình:

Sản phẩm dầu mỏ thường nằm sâu trong lòng đất chủ yếu ngoài biểnkhơi cho nên việc khai thác rất khó khăn, đại đa số chỉ khai thác được các mỏven thềm lục địa, còn ngoài xa do độ sâu của biển đòi hỏi phải có thiết bịcông nghệ cao mới thực hiện được công việc khai thác ở các mỏ xa bê

Đặc điểm của khoa học công nghệ:

Có thể nói đây là ngành mà công nghệ máy móc kỹ thuật rất cao vàchênh lệch về công nghệ trong cùng ngành dầu mỏ giữa các quốc gia khônglớn lắm Do đặc điểm của dầu thô làm cho này luôn phải được trang bị hiệnđại Công nghệ khoa học càng phát triển càng làm cho năng suất tăng cao, khảnăng thu hồi dầu thương phẩm lớn có khả năng khai thác ở những địa hìnhkhó khăn và làm giảm độ rủi ro trong sản xuất khai thác sản phẩm dầu mỏ

Do vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cho nên các quốc gialuôn luôn đầu tư quan tâm đến ngành dầu mỏ và tạo cho nó phát triển nhanh

cả về quy mô sản xuất lẫn công nghệ thiết bị máy móc để trở thành một trongnhững ngành mũi nhọn của đất nước

Các chủ thể kinh doanh trên thị trường thế giới

Bất kỳ sản phẩm hàng hoá nào trong cơ chế thị trường cũng đều tuântheo quy luật cung cầu trên thị trường Dầu mỏ cũng vậy, nó cũng phải dựavào nhu cầu của thị trường thế giới Nhu cầu của thị trường thế giới ngàycàng một tăng cao đây chính là điểm rất khác so với các sản phẩm khác, đócũng chính là nguyên nhân khách quan đem lại đà cho nền kinh tế thế giới khiphát triển tăng trưởng để sản xuất ra nhiều của cải vật chất thì sự tiêu dùngnhiên liệu cũng ngày một tăng lên

Các đối thủ cạnh tranh trong việc sản xuất kinh doanh dầu mỏ chủ yếu làcác doanh nghiệp nhà nước ở các quốc gia nhưng trừ một số các nước tư bản

Trang 40

phát triển thì ngành này là do các công ty xuyên quốc gia Các công ty xuyênquốc gia như MOBIL SHELL, MITSUBISHI, EXXOP, thường nắm giữ khốilượng cung rất lớn do sù tham gia trong khai thác dầu mỏ ở các nước trên thếgiới và hoạt động của các công ty xuyên quốc gia liên tục được mở rộng.Ngoài ra khu vực Trung Đông chiếm giữ 60% lượng cung cấp dầu mỏ thếgiới.

Vì đây là ngành kinh doanh độc quyền về cơ bản thì sự cạnh tranh giữacác chủ thể kinh doanh thường Ýt gay gắt hơn trong một số ngành khác Tuynhiên ở những nước có sản phẩm dầu mỏ Ýt thường hay bị chi phối về giá cảquan hệ cung cầu từ các nước có sản lượng lớn như khu vực Trung Đông,Opec

Các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường và cân bằng sinh thái:

Ngày nay các quốc gia đều đưa ra tiêu chuẩn và các đạo luật có liên quanđến môi trường và các vấn đề về cân bằng sinh thái, thế cho nên các công tydầu mỏ cũng phải hướng theo những mục tiêu này Doanh nghiệp ngày càngphải đảm bảo có máy móc thiết bị hiện đại để làm giảm độ ô nhiễm môitrường như sự cố dầu tràn, rò rỉ dầu trên biển Các quốc gia trên thế giới cũngngày càng kiểm soát chặt chẽ đối với chất lượng của sản phẩm dầu khí Họthường mua dầu thô có chứa hàm lượng lưu huỳnh thấp vì hàm lượng lưuhuỳnh trong dầu thô cao thì dẫn đến trong quá trình chưng cất phải qua thêmkhâu lọc khử bớt hàm lượng lưu huỳnh dẫn đến chi phí sản xuất cao hơn.ngày nay nhu cầu về tiêu thụ nguyên liệu sạch như khí gas (LPG), xăng khôngpha chì ngày càng nhiều do đó nó cũng ảnh hưởng tới việc sản xuất, khai thác,chế biến của nghành dầu khí

IV.3.3 Nhân tố chủ quan.

Đây có thể coi là các nhân tố bên trong của doanh nghiệp đó là:

Nguồn nhân lực: vì đây là một nghành độc quyền, thường quy trình sản xuất

từ khai thác, thăm dò đến chế biến thu hút một lực lượng đội ngũ cán bộ côngnhân viên rất đông Như PETRO VIET NAM có khoảng 14000 cán bộ công

Ngày đăng: 28/09/2014, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình thương mại quốc tế chủ biên GS-TS: NGUYẾN DUY BÉT Khác
2. Giáo trình quản trị kinh doanh quốc tế chủ biên GS-TS: TRẦN CHÍ THÀNH 3. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 255 tháng 8/2000 Khác
4. Tạp chí Việt Nam Đông Nam á số 4,5 năm 2001 Khác
5. Thời báo kinh tế số xuân năm 2001 Khác
6. Tạp chí thương mại số 2,9,13 năm 2000 Khác
7. Tạp chí thông tin dầu khí thế giới các số năm 1999, 2000, 2001 Khác
8. Tạp chÝ dầu khí các số năm 1997 – 2001 Khác
9. Các tài liệu về hoạt động xuất khẩu dầu khí do Tổng công ty dầu khí cung cấp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Lịch sử khai thác dầu của thế giới. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 1 Lịch sử khai thác dầu của thế giới (Trang 46)
Bảng 2 : Trữ lượng dầu khí của các khu vực trên thế giới. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Trữ lượng dầu khí của các khu vực trên thế giới (Trang 47)
Bảng 3 : Sản lượng khai thác dầu của 20 nước lớn nhất thế giới - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 3 Sản lượng khai thác dầu của 20 nước lớn nhất thế giới (Trang 49)
Sơ đồ cơ cấu tổ chức điều hành của Tổng công ty - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức điều hành của Tổng công ty (Trang 55)
Bảng 4: Kết quả công tác thăm dò. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 4 Kết quả công tác thăm dò (Trang 59)
Bảng 5: Thành phần hoá lý cơ bản của dầu mỏ Bạch Hổ và Rồng - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Thành phần hoá lý cơ bản của dầu mỏ Bạch Hổ và Rồng (Trang 67)
Bảng 6: Sản lượng khai thác ở các mỏ. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Sản lượng khai thác ở các mỏ (Trang 70)
Bảng 7: Kho chứa dầu thô ở các mỏ. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Kho chứa dầu thô ở các mỏ (Trang 74)
Bảng 8: Cơ cấu thị trường dầu thô của Tổng Công ty - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 8 Cơ cấu thị trường dầu thô của Tổng Công ty (Trang 76)
Bảng 9: Sản lượng khai thác dầu trên thế giới. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 9 Sản lượng khai thác dầu trên thế giới (Trang 77)
Bảng 9 trên cho ta thấy được toàn cảnh tình hình khai thác dầu thô trên thế giới từ năm 1998 đến năm 2001 - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 9 trên cho ta thấy được toàn cảnh tình hình khai thác dầu thô trên thế giới từ năm 1998 đến năm 2001 (Trang 78)
Bảng 10: Sản lượng khai thác dầu của các nước ASEAN (nghìn thùng/ngày) - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 10 Sản lượng khai thác dầu của các nước ASEAN (nghìn thùng/ngày) (Trang 79)
Bảng 12: Dự đoán cung cầu dầu khí thế giới. - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 12 Dự đoán cung cầu dầu khí thế giới (Trang 80)
Bảng 12: Khối lượng dầu thô xuất khẩu - Hoạt động xuất khẩu dầu thô của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam  thực trạng và giải pháp
Bảng 12 Khối lượng dầu thô xuất khẩu (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w