LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Dạy học thể loại truyện cổ tích theo hướng công nghệ trong trường THPT”, tác giả đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN kwwwwwwewt
NGUYEN THI THU TRANG
DAY THE LOAI TRUYEN CO TICH
THEO HUONG CONG NGHE
TRONG TRUONG THPT
KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ van
HÀ NỘI - 2009
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN wWwwkww%%kÀ&
NGUYEN THI THU TRANG
DAY HOC THE LOAITRUYEN CO Ti
THEO HUONG CONG NGHE
TRONG TRUONG THPT
KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC
Chuyén nganh: Phuong phap day hoc Ngir van
Người hướng dẫn khoa hoc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Dạy học thể loại
truyện cổ tích theo hướng công nghệ trong trường THPT”, tác giả đã thường
xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình của
các thây cô trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương Pháp dạy học Ngữ Văn và PGS TS Đỗ Huy Quang - người hướng dẫn trực tiếp
Tác giả khoá luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến các thấy cô
Do năng lực của người nghiên cứu có hạn nên khóa luận chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thay, cô giáo và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2009
Tác giả khoá luận Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
kết quả nghiên cứu trong khoá luận là trung thực Khoá luận này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2009
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 5
4 Nhiệm vụ nghiÊn CỨU - s5 se 59 991999 8989p 11
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2-22 ©+2+x+cxz+rxsrxesrxrrrrrxee 11
6 Phuong phap nghién UU cee eceseeesceeeeseeeeeeeeseeececeaeeseeeeceeeeaeeaeeeeeee 12
7 Dong gop vì 04 00." 12
8 Bố cục khóa luận - Sex ESvS 1 1921112151111 11 5111151171511115 11x xxx 13
CHUONG 1: CO SO Li LUAN CUA DAY HOC THEO HƯỚNG
CONG NGHE woe eecececscseseseseseseseenenesesencneneaeseseseseseseenensneeneneaeaeaeaeaees 14
1.1 Lý luận về việc dạy và học nói chung 2- 2 2+2+zz+£z+xe+z+zec+ 14 1.1.1 Quan niệm về đạy và hỌc - s+S2+2<2EE2EE2E121121121121121 211212 e 14
1.1.2 Quan niệm về quá trình dạy hỌC - 55+ S5 *++E St xsxssrerserxe 14
1.1.3 Quan niệm về phương pháp 2-2-2 s©2£+EE++x£+EE+Exevrkerxerrerrk 16 1.2 Dạy học theo hướng công nghỆ . -G- <6 1+3 #Eeskeskererse 18 1.2.1 Quan niệm về dạy học theo hướng công nghỆ -2- 5+ 18 1.2.2 Những cơ sở của việc dạy học theo hướng công nghệ 18 1.2.3 Dạy học văn theo hướng công nghệ ở Trung tâm Công nghệ Giảng Võ 22 1.3 Yêu cầu của dạy Ngữ văn theo chương trình SGK đổi mới 24
1.3.1 Đối mới SGK Ngữ văn -.2- 52 SSc St 211 21102112212211 11121 1 xe 24
1.3.2 Phương pháp đọc — hiểu văn bản theo thể loại -: 25
CHƯƠNG 2: DẠY HỌC THẺ LOẠI TRUYỆN CỎ TÍCH THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG THPT c¿5c+csccvesrrresrrreree 31
2.1 Thé loai, kiéu van ban va phuong phap doc — hiéu theo thé loại 31
2.1.1 Thể loại và kiểu văn bản ccc-222+ecctttEEkkkerrttrtrrrrrrrrie 31
2.1.2 Thể loại truyện cổ tích - 2-2 2+5£+2£+E22E22EE2EE2E2212232212212212 2x62 33
Trang 6
2.2 Đặc điểm thể loại truyện cỗ tích - 2 2+ss+s+EE+EE+E+EEzxrrxrresree 4I
2.2.1 Đặc điểm chung của truyện cô tích Al
2.2.2 Đặc điểm thi pháp của truyện cô tích thần kỳ . -2-2©5+¿ 51 2.3 Dạy đọc — hiểu thé loai truyén cé tích theo hướng công nghệ 62 2.3.1 Chương trình SGK Ngữ văn -. Ăn SH HH Hs 62
2.3.2 Cấu trúc, đơn vị bài học trong SGK Ngữ văn -cc+c<<<+ 64
2.3.3 Đọc — hiểu văn bản nghệ thuật 2-2 2+S2+2E2EE+E2EE2E2Eczecree 64
2.3.4 Đọc — hiểu văn bản truyện cổ tích theo thế loại ¿-s+c+cscsss2 70
CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG CNTT DE DAY HỌC THÊ LOẠI TRUYỆN CÔ
TÍCH TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT -. 5 ¿25cc+cxt+Exvszrtsrreeser 79
3.1 Công nghệ thông tin và vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học văn 79 3.1.1 Công nghệ thông tin -c- << 13121 9 91 212 1 1 ng ren 79 3.1.2 Vai trò của công nghệ thông tin 79 3.2 Phần mềm Power point hỗ trợ việc dạy học văn . 2-2-2 80 3.3 Xây dựng bài giảng điện tử trong môn văn ‹ «+5 «++<ss++ss+++ 81 3.3.1 Khái niệm bài giảng điện tử ( giáo án điện tử) -‹ -+ <+ 81
3.3.2 Những điều kiện cần thiết đề thiết kế bài giảng điện tử 81
3.3.3 Xây dựng quy trinh day hoc thể loại truyện cô tích có ứng dụng CNTT, qua việc thê nghiệm thiết kế bài giảng “Tắm Cám” (SGK Ngữ văn 10, tap 1, 0c 50 82
KET LUANG 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO À -2 222252 +22E+2Ex+eEEverxrerrrerrrrrrx 95
Trang 7
DANH MUC VIET TAT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, khi tất cả các quốc gia đều hòa vào không khí toàn cầu hóa, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Nhà trường THPT là nơi có trọng trách giáo dục trực tiếp thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước luôn khỏe về thể chất và trong sáng về tâm hồn, kiên định lí tưởng xã hội chủ nghĩa Đáp ứng yêu cầu đó, nền giáo dục Việt Nam đã tiến hành nhiều đợt thay sách giáo khoa nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Trên thực tế, đợt thay sách SGK năm 2005 đã có nhiều đổi mới về nội dung kiến thức và đổi mới phương pháp dạy học cho các môn học nói chung
và bộ môn Ngữ văn nói riêng
Dạy học hiện nay là dạy học tích cực mà trọng tâm của bài học là việc tìm hướng hoạt động học tập cho học sinh Học sinh là chủ thể của hoạt động
học Nghĩa là học sinh tự đi tìm tri thức rồi chuyển tri thức thành kĩ năng, kĩ
xảo cho mình Đó chính là quá trình tự học của học sinh
Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, nội dung chương trình SGK được
phân chia theo thể loại Hoạt động học tập của học sinh phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí (quy trình) dé hoc sinh tự đọc — hiểu văn bản, tự tìm hiểu
chiếm lĩnh văn bản theo thể loại Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xây dựng
quy trình học tập cho học sinh đề hoạt động dạy học theo chương trình đổi
mới đạt hiệu quả cao
Trong thời đại ngày nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ
Thành tựu của nó được ứng dụng hiệu quả trong nhiều mặt, nhiều lĩnh vực
Việc đưa công nghệ thông tin vào giáo dục nói chung và dạy môn văn nói riêng là nhiệm vụ cấp bách Điều này đảm bảo tính chất hai mặt của môn Ngữ
Trang 9văn ( vừa là bộ môn khoa học vừa là nghệ thuật ngôn từ), đồng thời, thể hiện đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin trong đạy học: “ công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương
tiện để tiến tới một xã hội học tập” Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào giờ học Ngữ văn có thể làm cho “giờ văn trở thành một giờ hấp
dẫn, sôi nổi, một giờ hứng thú với học sinh để sau đó học sinh say mê suy
nghĩ thêm và tìm tòi hiểu biết thêm” ( Phạm Văn Đồng)
Hiện nay, có rất nhiều cuốn thiết kế giáo án Ngữ văn của nhiều tác giả Song lại chưa có sự thống nhất trong cấu trúc thiết kế và tổ chức hoạt động học tập cho học sinh trong giờ học
Phương pháp giảng dạy theo hướng công nghệ trong giờ Ngữ văn là phương pháp nhằm xây dựng quy trình dạy đọc — hiểu văn bản văn theo thé
loại, có thể xác định một mô hình thiết kế mang tính khoa học và thực tiễn Đưa công nghệ thông tin vào dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng,
cùng với việc xây dựng quy trình học tập cho học sinh sẽ tạo điều kiện để học sinh hứng thú trong học tập
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Dạy học thể loại truyện cổ tích theo
hướng công nghệ trong trường THPT”, sẽ tìm hiểu đặc trưng thể loại truyện
cổ tích, xây dựng quy trình đọc — hiểu truyện cổ tích và thiết kế bài giảng
“Tắm Cám” (SGK Ngữ văn 10, tập 1, trang 65) theo hướng công nghệ dạy
học hiện đại với hai phần VIỆC: phần học sinh làm việc ở nhà với văn bản và
phần làm việc trên lớp Chúng tôi hi vọng sẽ mang đến cho người đọc cách
nhìn cụ thể và phong phú về thể loại truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tich than ky “Tam Cám” nói riêng
2 Lich sir van dé
Trang 10
Trong mấy chục năm qua dạy học theo hướng công nghệ đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm:
Hồ Ngọc Đại (1994), “Công nghệ giáo dục”, tập 1, 2, Nxb Giáo dục
Hồ Ngọc Đại, Phạm Toàn (1994), “ Công nghệ giáo dục và công nghệ
dạy tiểu học”, bộ GD-ĐT, Vụ Giáo viên
Phan Trọng Luận (2001), “Phương pháp dạy học văn”, tập 1,2 Nxb
Viên Quốc Chấn (2001), “ Luận về cải cách giáo dục”, Nxb Giáo duc
“ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn 10,11” (2006), Nxb Giáo dục Dạy học theo hướng công nghệ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế ki
XX Với ưu điểm nỗi bật, phương pháp dạy học này nhanh chóng phát triển sang các nước phương Tây và đem lại hiệu quả cao
Tại Việt Nam, dạy học theo hướng công nghệ được triển khai từ những
năm 80 do GS TS Hồ Ngọc Đại thử nghiệm và tiến hành tại Trung tâm Công
nghệ Giảng Võ Đề tài này đã đem đến một quan niệm mới mẻ về dạy học
mang tính quy trình hóa: thầy tô chức thiết kế, trò thực thi hoạt động
Tuy nhiên, cách làm của Trung tâm Công nghệ giáo dục còn hạn chế vì
chỉ dừng lại ở quy trình hóa dạy học Mặt khác, để triển khai theo day học tích
cực đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn thiết kế bài giảng Ngữ văn
được lưu hành Nhưng trong các cuốn sách thiết kế ấy, bố cục và hình thức thiết kế, đặc biệt là về thể loại chưa có sự thống nhất Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được quy trình dạy học, không những phù hợp với mọi thể loại văn
bản, mọi đối tượng học sinh mà còn thực hiện mục tiêu giáo dục trong thời
Trang 11đại mới Với đề tài này, chúng tôi kết hợp quy trình dạy học với sự hỗ trợ của
CNTT để dạy thể loại truyện cổ tích nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học
Vấn đề phương pháp dạy thê loại truyện cổ tích trong nhà trường đã có
rất nhiều nhà giáo dục quan tâm Đặc biệt, chúng ta có thể kể đến TS Nguyễn
Xuân Lạc, ông đưa ra ý kiến: “Dạy học truyện cô tích là phải đưa người học đến với “thế giới cô tích” của truyện, rung cảm thích thú với cái thế giới ấy; trên cơ sở đó cảm nhận vẻ đẹp phôncolo và hiểu sâu sắc ý nghĩa của tác phẩm Tất cả do người giáo viên tổ chức hướng dẫn đề học sinh tiếp cận và chiếm lĩnh tốt tác phẩm”.[6; 354]
3 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong dạy học văn theo hướng quy trình hóa nhưng vẫn thể hiện bản chất nghệ thuật đặc thù của văn
Góp phần xây dựng quy trình dạy học các văn bản văn học theo thê loại
có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn về công nghệ dạy học Xác định đặc trưng thể loại và kiểu văn bản để xây đựng quy trình dạy
học theo thể loại và kiểu văn bản đó
Dạy học Ngữ văn theo hướng công nghệ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học môn Ngữ văn và cụ thể phương pháp dạy học thể
loại truyện cổ tích có ứng dụng công nghệ thông tin, làm hiệu quả dạy học
Ngữ văn ngày càng được nâng cao
* Phạm vi nghiên cứu
Trang 12
Day hoc thé loại truyện cô tích theo hướng công nghệ và thể nghiệm thiết kế bài soạn truyện cố tích “Tắm Cám”( SGK Ngữ văn 10, tập 1, trang 65) có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tông hợp lí luận và thực tiễn về công nghệ dạy học
Phương pháp khảo sát thống kê
Phương pháp thể nghiệm và đề xuất những giả thuyết
7 Đóng góp của khóa luận
* Về lý luận:
Khóa luận góp phần tìm hiểu một phương pháp dạy học mới có khai
thác và sử dụng tiện ích của công nghệ thông tin Tuy vậy, chúng ta chỉ đề cao phương pháp dạy học có sử dụng công nghệ thông tin chứ không tuyệt
đối hóa nó Qua đây, chúng tôi xây dựng quy trình giúp giáo viên tránh phải
mày mò như cách dạy truyền thống
* Về thực tiễn
Hiện nay ở các trường phổ thông việc sử dụng công nghệ thông tin trong đạy học vẫn mang tính chất tự phát Vì thế, công nghệ thông tin thường
chỉ là phương tiện trình chiếu thay cho bảng đen phấn trắng chứ chưa trở
thành công cụ dạy học Khóa luận này góp phần đổi mới phương pháp dạy học văn ở nhà trường phô thông với hy vọng đem lại cái nhìn mới mẻ, hứng
thú hơn cho học sinh
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tông hợp lí luận và thực tiễn về công nghệ dạy học
Phương pháp khảo sát thống kê
Phương pháp thể nghiệm và đề xuất những giả thuyết
Trang 13
Sau phần “kết luận” chung còn có phần “tài liệu tham khảo” (2 trang)
và phần “danh mục viết tắt” (1 trang)
Trang 14
CHUONG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HOC THEO HUONG CONG NGHỆ
1.1 Lý luận về việc dạy và học nói chung
1.1.1 Quan niệm về dạy và học
* Quan niệm về dạy: Dạy học không đơn thuần là cung cấp thông tin
mà dạy học nhằm hướng dẫn người học cách tìm ra kiến thức, cách hệ thống
hoá kiến thức, cách xử lí và phát triển kiến thức
Dạy học không chỉ lập thành quy trình vì quy trình chỉ là những thao tác để thực hiện các hoạt động dạy học Dạy học phải xây dựng được những cách thức, những công việc cụ thé, phù hợp với đặc trưng thể loại văn bản, phù hợp với đối tượng học sinh
* Quan niệm về học: Học không chỉ là tiếp thu tri thức mà phải thực
hiện bốn nhiệm vụ do Liên Hợp Quốc đề ra: học để biết, học để làm, học để
chung sống và học để khẳng định mình
Do đó, học không giới hạn trong một khoảng thời gian mà phải học
thường xuyên, học cả đời, học mọi lúc, mọi nơi
1.1.2 Quan niệm về quá trình dạy học
1.1.2.1 Khái niệm về quá trình dạy học
Dưới sự hướng dẫn của thay, trò tự giác, tích cực và tự lực nắm vững tri thức
khoa học, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cần thiết phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa hoc va
những phẩm chất đạo đức cần thiết của con người mới
1.1.2.2 Bản chất của quá trình dạy học
* Cơ sở xác định bản chất quá trình dạy học
Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa quá trình nhận thức và quá trình dạy học Trong quá trình tồn tại và phát triển, loài người
Trang 15không ngừng nhận thức thế giới quan Từ đó, họ tích lũy hệ thống kinh
nghiệm và hệ thống tri thức để tạo nền văn hóa nhân loại Tất cả được truyền đạt lại cho thế hệ sau một cách có chọn lọc được gọi là dạy học Vậy, trong xã hội, hoạt động nhận thức của loài người điễn ra trước hoạt động đạy học Hai
hoạt động này luôn song song tồn tại
Thứ hai, xuất phát từ mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học:
Quá trình dạy học gồm hai nhân tố trung tâm là hoạt động dạy của giáo viên
và hoạt động học của học sinh Hoạt động này thống nhất với nhau, phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học, tạo nên sự tác động qua lại giữa hai nhân tố Sự tác động đó chịu ảnh hưởng chung của cả hệ thống trong cấu trúc
quá trình dạy học, trong đó giáo viên là chủ thể, học sinh là khách thể Nếu
tách riêng hoạt động học ra thì học sinh cũng có mối quan hệ biện chứng với tài liệu học tập tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh tồn tại như một hệ thống con nằm trong hệ thống lớn là dạy và học
* Bán chất của quá trình dạy học
Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức độc đáo của học
sinh, là quá trình sư phạm tồn tại như một hệ thống bao gồm các thành tố cấu trúc đặc thù
Quá trình dạy học trang bị cho người học hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xáo nhằm phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa
học, phẩm chất đạo đức tốt đẹp
Như vậy, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh đưới sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên đem lại hiệu quả cao
trong dạy học và đạt mục tiêu giáo dục
1.1.2.3 Cấu trúc của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một hệ thống gồm các nhân tố: mục đích dạy học;
nội dung dạy học; phương pháp và phương tiện; kết quả dạy học; thầy với
Trang 16hoạt động dạy và trò với hoạt động học Tắt cả các nhân tố trên vận động trong môi trường kinh tế xã hội và khoa học công nghệ Trong đó nhân tố mục đích là nhân tổ cơ bản xuyên suốt quá trình dạy học Hai nhân tố trung
tâm là thầy với hoạt động dạy và trò với hoạt động học, thống nhất biện chứng tạo nên tính hai mặt quá trình dạy học
1.1.3 Quan niệm về phương pháp
Phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “ Methotes” ( từ điển triết học)
nghĩa là cách thức, con đường, phương tiện đề giải quyết những nhiệm vụ
nhất định
Heghen định nghĩa (trích “Bút kí triết học” của Lê-nin): phương pháp
chang qua là ý thức về hình thức vận động bên trong của bản thân nội dung
1.1.3.1 Quan niệm về phương pháp dạy học
Hiện nay tồn tại nhiều quan niệm về phương pháp đạy học:
* Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thày trò trong sự phối hợp thống nhất Dưới sự chỉ đạo của thày nhằm làm trò tích cực, tự giác, tự lực đạt mục đích dạy học
* Phương pháp dạy học là con đường, cách thức, phương tiện đề chuyền tri
thức và năng lực của nhân loại thành năng lực và tri thức của mỗi người học
* Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có mục đích của
giáo viên và hành động nhận thức và thực hành có tổ chức của học sinh nhằm
đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được những nội dung tri thức
Trang 17
dạy và học ở nước ta để nền giáo dục từng bước tiến lên vững chắc Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp sau đây:
- Phương pháp vấn đáp
- Phương pháp đạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
- Phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
- Phương pháp dạy và học theo dự án
* Các phương pháp trong dạy học văn:
- Phương pháp đọc-hiểu văn bán
quá trình dạy học
Ngày nay, cuộc cách mạng về thông tin đã và đang mở ra những chân trời khám phá mới cho loài người Dưới tác động của CNTT, quá trình kĩ thuật hoá hoạt động giáo dục trong nhà trường đã diễn ra trên mấy chục năm qua và đạt được những kết quả đáng lưu ý tại nhiều quốc gia Ở Việt Nam, thực nghiệm của Trung tâm Giáo dục Giảng Võ đã đem lại những thành tựu ban đầu: quá trình dạy học trong nhà trường đa dạng hơn, việc té chức lớp
học cũng đa dạng hơn Công nghệ dạy học tạo nội lực cá nhân, tư duy độc lập của học sinh có cơ hội phát triển tránh lỗi học thụ động của dạy học truyền thống Tuy nhiên, quy trình dạy học của Trung tâm mới chỉ nhằm chuyển tri thitc bén ngoai vao dau hoc sinh Do vay, vé mét phuong dién nao do con han ché, roi vao day hoc tai tao
Trang 18
Dựa trên thành tựu của Trung tâm thực nghiệm Giảng Võ, với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng sẽ đi tiếp những bước đi của Trung tâm
nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động dạy học văn nói chung và thể
loại truyện cổ tích nói riêng ở trường THPT
1.2 Dạy học theo hướng công nghệ
1.2.1 Quan niệm về dạy học theo hướng công nghệ
* Dạy học theo hướng công nghệ là dạy học có kĩ thuật, dạy học theo
quy trình khác xa với kiểu dạy học theo kinh nghiệm vốn chỉ phù hợp với từng người Nếu thực hiện đầy đủ mọi công đoạn, thao tác như trong quy trình, có sự chuyển giao kĩ thuật, chuyên giao quy trình đến mọi giáo viên, học sinh thì giờ văn sẽ đạt hiệu quả cao
* Dạy học theo hướng công nghệ là kiểu dạy học kiểm soát chặt chẽ
quá trình tạo ra sản phẩm, là kiểu dạy học tích hợp giữa dạy và học, tích hợp
lí thuyết và thực hành, vừa cung cấp cho học sinh tri thức vừa phát triển năng lực cho học sinh
1.2.2 Những cơ sở của việc dạy học theo hướng công nghệ
1.2.2.1 Cơ sở xã hội, khoa học, giáo dục của dạy học theo hướng công nghệ
* Cơ sở xã hội
Bước vào thế ki XX, thế giới đã qua hai chặng đường đầu tư: đầu tư vào máy móc, quy trình công nghệ và đầu tư vào nguồn nhân lực Nền sản xuất phát triển sang hướng tự động hóa, sản phẩm xã hội không ngừng tăng
Đặc biệt từ cuối thế kỉ XX - đầu thế ki XXI, nền sản xuất chuyên sang nền
kinh tế tri thức, mọi sản phẩm đều chứa đựng hàm lượng tri thức cao
* Cơ sở khoa học
Cuộc cách mạng về thông tin đã và đang mở ra chân trời khám phá mới cho loài người Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học công nghệ, của siêu tốc
Trang 19thông tin, của nhân bản vô tính, Những thành tựu kì diệu của nó đã tác động
trực tiếp tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội Vì giáo đục cũng không nằm ngoài ảnh hưởng đó
* Cơ sở giáo dục
Trong mọi thời kì, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề
“đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Do đó, giáo dục luôn được coi
“là quốc sách hàng đầu” Đối mới phương pháp dậy học theo hướng công nghệ là một cách dạy học mới có thể từ bỏ kiểu đạy học kinh nghiệm chuyên
sang kiểu dạy học có kĩ thuật, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ quá trình tạo ra sản
phẩm
1.2.2.2 Cơ sở lý luận của việc dạy học theo hướng công nghệ
* Lý thuyết hành vi
Lý thuyết hành vi xuất hiện ở Mỹ vào đầu thế ki XX, do Oatxơn (1913)
khởi xướng Ông cho rằng: “ Con người không phải do thượng để sinh ra mà
con người tự sinh ra minh” Oatxon phat biéu lý thuyết hành vi của mình từ lý thuyết về “phản xạ có điều kiện” của Paplôp (1849 - 1938) - nhà bác học người Nga
“Khi con người có kích thích sẽ phản ứng Công thức của nó là: kích thích S thì phản ứng P Muốn tạo ra sản phẩm P nào đó của con người thì phải tìm kích thích S tương ứng tác động vào con người”
Sau này Skiner (1904 - 1990) - Nhà hành vi hàng đầu của Mỹ, trực tiếp
kế thừa và phát triển “lý thuyết hành vi” của Oatxơn và chuyền vào đạy học
Trong giáo dục từ đó có gắng đi tìm các kích thích S, Skiner dựa trên kết quả
thí nghiệm của Paplôp “phản xạ có điều kiện” con chó tiết nước bọt Nội dung
thí nghiệm: loài chó có đặc điểm tiết nước bọt mỗi khi có thức ăn Paplôp dựa
vào đó làm thí nghiệm khi cho thức ăn vào đồng thời bật đèn sáng ( hoặc giật chuông reo) con chó lập tức tiết nước bọt Thí nghiệm này được ông tiến hành
Trang 20lặp lại rất nhiều lần để con chó quen dần đến một mức độ dù không có thức ăn ( chỉ có đèn sáng hoặc chuông reo) chó vẫn tiết nước bọt
Dựa trên sự phân tích thí nghiệm của Paplôp, Skimer cho thí nghiệm này còn hai điều hạn chế: Con chó thụ động làm theo thói quen và kết quả thí
nghiệm không bền
Skiner thí nghiệm khác: Chim chọn hạt
Nội dung thí nghiệm: Skiner rải trên nền chuồng chim các hạt có màu
sắc khác nhau: xanh, đỏ, tím, vàng trong đó chỉ có màu vàng là thức ăn Đặc điểm của chim là mổ hạt lia lia: nếu ăn được thì nuốt, không ăn được thì
nó văng đi Dựa vào đặc điểm đó, để quan sát chim mô hạt như thế nào Thời
gian dau chim mé cac hat lia lia, chỉ đến hạt màu vàng chim mới nuốt, các hạt khác nó văng đi Vài lần sau, chim chỉ chọn mồ hạt màu vàng mà khong mé
các hạt khác
Vậy Skiner đã vận dụng một phương pháp trong giáo duc: thir va sai, sai thì làm lại cho đến khi đúng
Thí nghiệm thứ hai cua Skiner: Chim di theo hình số 8
Nội dung thí nghiệm: Dựa trên đặc điểm của chim (hai chân chụm lại
để nhảy) dé đo các bước nhảy và đặt hạt ăn theo hình số 8 Lúc đầu con chim
nháy linh tỉnh nhặt hạt Dần dần, nó thấy phía trước có các hạt ăn được, nó cứ
nhảy thêm bước nữa, cứ thế con chim hoàn toàn có thể nhảy theo hình số 8 để nhặt hạt Skiner cho rằng: nếu chia nhỏ hình số 8 thành nhiều bước, để chim
tự làm việc trong thời gian quy định, người làm thí nghiệm sẽ điều kiển được
con chim theo ý mình
Từ đó, trong giáo dục có kiểu dạy học theo chương trình gọi là dạy học
chương trình hóa Người học theo chương trình sẽ đạt hiệu quả như mong muốn Quy trình dạy học là quy trình chuyển tri thức vào mỗi người học
Người học làm lại công việc các nhà khoa học đã làm Do đó, người học cũng
Trang 21mang tư cách của nhà khoa học, chỉ có điều nhà khoa học phát minh ra tri thức cho xã hội còn người học lại đi tìm tri thức cho mình
Đây là bước ngoặt cho giáo đục nước Mỹ, tuy nhiên còn hạn chế vì cho rằng: bản thân người học chỉ như một thứ nguyên liệu trong chương trình có trước, không hề có vai trò gì, quên đi yếu tố chủ thể con người Trong khi đó
mục tiêu của dạy học phải phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tích cực của
học sinh trong học tập Chính vì thế, công nghệ đạy học theo lý thuyết hành vi
bị thất bại
* Lý thuyết hoạt động
Ra đời vào thế kỉ XX do Vưtgôtxki (1896- 1934) khởi xướng dựa trên triết học chủ nghĩa của Mác
Mác đưa ra quan niệm về con người: “Con người là kết quả của quá
trình tiến hóa tự nhiên và con người tự làm ra, tự sáng tạo ra mình bằng lao
động”
Mác nói: “Mọi hoạt động đều bao hàm một tác nhân thực hiện hoạt
động và một đối tượng” Với nghĩa chung đó, hoạt động là đặc tính của giới
tự nhiên, trong đó có con người đã sản sinh và phát triển chính bản thân mình,
tự định vị mình Trong quá trình lao động, con người đã làm cho đối tượng
lao động phải biến đối theo mục đích định trước Quá trình đó kết thúc bằng
sản phẩm lao động
Mác còn nói: “Ý thức chẳng qua là hiện thực đã chuyên vào đầu óc con
người và được cải biến đi ở trong đó”
Vưtgôtxki phát triển chủ nghĩa Mác Ông cho rằng: “Con người không
những mang tính loài, là kết quả của quá trình tiến hóa mà mỗi cá thể con người vẫn tự sinh ra mình bằng chính lao động của mình Khi đã trở thành con người rồi, con người vẫn tiếp tục hoàn thiện mình bằng lao động của chính mình” và tìm hiểu quá trình “chuyển vào trong từ hiện thực thành ý
Trang 22thức” Sau nhiều thí nghiệm thực hành, Granperin - Nhà tâm lý học người Nga, đã phát hiện ra diều quan trọng: cấu trúc hoạt động với đối tượng ở bên ngoài và cấu trúc hoạt động tâm lý bên trong của người đó giống nhau đến kì
lạ
Từ những cơ sở lý thuyết trên cho thấy: muốn có hoạt động tâm lý
bên trong của con người phải tổ chức các hoạt động bên ngoài tương ứng Nói rộng hơn: muốn có tri thức cho người học thì thầy giáo phải tổ chức một lôgic hoạt động bên ngoài tương ứng, hoạt động này do người học tự làm Từ
đó, hình thành phương thức dạy học theo kiểu thày thiết kế, tổ chức, trò thi
công hoạt động
Ở Việt Nam thử nghiệm công nghệ dạy học đã được tiến hành tại Trung tâm Công nghệ Giảng Võ năm 1978 Việc đưa công nghệ vào dạy học
có những thành công bước đầu Sau đó, phương pháp dạy học này được triển
khai rộng đến các tỉnh và được thí điểm rộng từ năm 1985 đến năm 1995 Với
những kết quả đạt được, sau 10 năm chúng ta tiến hành thay sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học
1.2.3 Dạy học văn theo hướng công nghệ ở Trung tâm Công nghệ Giảng Võ Nguyên tắc chung của đạy học văn ở Trung tâm Công nghệ Giảng Võ
là biến tác phẩm của tác giá thành tác phẩm trong mỗi người học Tất cả công việc đó người học tự làm theo một quy trình có sẵn gọi là quy trình công nghệ Trong quy trình đó, trò đóng vai trò thi công, thày đóng vai trò tô chức thiết kế Dạy học văn theo quy trình là từ văn bản làm xuất hiện tác phẩm và chuyên tác phâm của tác giả vào mỗi người học
Trung tâm đã tiến hành thực nghiệm dạy học ở bậc Tiểu học qua 5 bước tương đương với năm lớp cụ thé:
- Lớp I: Đọc văn bản, giải mã ngôn từ, hiểu ngôn từ
Trang 23
- Lớp 2: Doc van ban sau đó hình dung tưởng tượng để đạt tới nhiệm vụ: dựng hình tượng, đi tìm hiểu nội dung phản ánh trong văn bản
- Lớp 3: Đọc văn bản, hình dung tưởng tượng để phân tích hình tượng
Phân tích hình tượng theo thể loại và tập trung vào hai loại chính: tự sự và trữ
Mỗi chặng được thiết kế thành thao tác cụ thể, thành từng nhiệm
vụ Tuy nhiên, quy trình này chỉ áp dụng ở bậc Tiểu học nên còn đơn gián
Mục tiêu dạy học ở bậc Tiểu học chỉ là gúp học sinh tìm hiểu các tầng bậc
nội dung văn bản bằng các thao tác cụ thể
Bậc THCS: với phương châm dạy từ trừu tượng đến cụ thẻ, giới thiệu những đặc trưng thê loại, cách thức đọc một thể loại, từ đó đi tìm hiểu văn bản cụ thể theo cách thức ấy Qua đó, Trung tâm Công nghệ Giảng Võ đã xác
định được:
- Quy trình hoạt động của thày và trò rất rõ ràng, rành mạch
- Ở mỗi thể loại: xác định được đặc điểm thể loại và cách thức học từng
thé loại Đó là hướng đi đúng của Trung tâm Công nghệ Giảng Võ
Tuy nhiên, sau năm 1995, vai trò của Trung tâm Công nghệ Giảng Võ ít được nhắc tới do những hạn chế nhất định:
- Quan niệm chung ở Trung tâm Công nghệ Giáng Võ của ông Hồ Ngọc Đại cho rằng công nghệ dạy học là giải pháp tông thể cho nền giáo dục Việt Nam Điều này không phù hợp với nguyên tắc trong đạy học: Phải sử dụng
Trang 24
phối hợp tất cả các phương tiện, phương pháp tiên tiến nhất nhằm đạt mục
tiêu dạy học
- Riêng trong dạy văn: Thành công của Trung tâm Công nghệ Giảng Võ
là dạy văn ở bậc Tiểu học Nhưng sau năm 1995, bậc Tiểu học không còn
môn văn nữa nên những đóng góp của Trung tâm Công nghệ không còn điều
kiện thể hiện
-Tư tưởng công nghệ trong đạy học văn là tìm tác phẩm từ văn bản, nhưng văn bản mà Trung tâm tô chức cho học sinh chiếm lĩnh chỉ là văn bản ngôn từ Giờ đây văn bản đó phải gắn với cấu trúc theo thể loại và phương
thức biểu đạt Muốn cho học sinh chiếm lĩnh được văn bản thì phải đi vào
kiểu văn bản và phương thức biểu đạt (cách tạo ra sản phẩm văn bản)
Như vậy, những thành công của Trung tâm Công nghệ Giảng Võ đóng góp cho việc day học văn theo hướng công nghệ ở Việt Nam chỉ thực sự có
vai trò đối với bậc Tiểu học và THCS Còn ở bậc THPT việc xây dựng quy
trình đòi hỏi sự phức tạp hơn nhiều Chương trình SGK Ngữ văn hiện nay được biên soạn theo cấu trúc thê loại và theo hướng tích hợp Điều này buộc người giáo viên phải biết đạy tích hợp các khoa học và lựa chọn những phương pháp dạy phù hợp, hiệu quả
1.3 Yêu cầu của dạy Ngữ văn theo chương trình SGK đổi mới
1.3.1 Đối mới SGK Ngữ văn
Trước đây, SGK dạy theo giai đoạn văn học, tác giả văn học Nhưng
chương trình Ngữ văn đối mới dạy học theo thể loại Học sinh sẽ lần lượt làm quen với các thể loại văn học và cách thức chiếm lĩnh thể loại đó
Xác định môn học Ngữ văn là môn công cụ (ngoài hai vị trí là môn
thuộc về xã hội nhân văn và môn nghệ thuật), cho nên, chương trình Ngữ
văn tập trung vào hai năng lực: sản sinh văn bản và tạo lập văn bản Từ
đó, chương trình học được sắp xếp theo thể loại và kiểu văn bản chứ không
Trang 25chỉ theo quá trình phát triển của lịch sử văn học Đồng thời, tách văn bản ra
khỏi tác phẩm đề việc dạy học có sự thiết kế, tổ chức hoạt động cho học sinh làm việc với tác phẩm Cơ sở khoa học của việc tách văn bản ra khỏi tác
phẩm là từ lý thuyết tiếp nhận, mối quan hệ giữa văn bản và bạn đọc Nếu
không có bạn đọc thì không có gì hết, ban đọc đi từ văn bản đến tác phẩm
Thực hiện chương trình SGK Ngữ văn hiện nay phải theo quan điểm
dạy học tích cực
Từ đó, dẫn đến đổi mới phương pháp đạy - học: là phải xây dựng cho
học sinh hoạt động học tập đề học sinh tự tìm ra tri thức, tự xử lí tri thức
Công nghệ thông tin co thé đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy và học Như vậy, vấn đề đặt ra là ở mỗi kiểu văn bản và thể loại văn bản giáo
viên cần phải xây dựng hoạt động học tập cho học sinh như thế nào? Đề đọc
được văn bản phải dùng những kiến thức giao tiếp, ngữ cảnh, phong cách
ngôn ngữ, phương thức biểu đạt, kiến thức về nghĩa của từ, nghĩa của
câu, Trên cơ sở đọc văn bản học sinh sẽ phân tích để hiểu văn bản tức là chiếm lĩnh được tác phâm
1.3.2 Phương pháp đọc — hiểu văn bản theo thể loại
* Khái quát về đọc — hiểu văn bán
“Đọc - hiểu” vốn là một khái niệm mới được sử dụng trong việc dạy
học môn văn những năm gần đây Trên thực tế, với những thể loại, tác phẩm
có dung lượng lớn ( như truyện truyền kì, truyện ngắn, truyện vừa, ) người
ta vẫn dùng hình thức “phân tích tác phẩm” trên văn bán, nhằm mục đích
chung là giúp người đọc — hiểu văn bản, hiểu tác phẩm văn chương
Gần đây, với việc đổi tên môn Văn - Tiếng Việt thành Ngữ Văn cùng với việc đối mới phương pháp dạy học, trong môn văn xuất hiện thuật ngữ
“đọc — hiểu” Đọc thật ra không phải là phương pháp riêng cho việc đạy học môn văn mà nó là phương pháp chung cho nhiều môn học khác Song trong
Trang 26giờ dạy học tác phẩm văn chương thì việc đọc có đặc trưng riêng Đọc giúp chúng ta hiểu được ngôn ngữ, đọc để tri giác được bằng mắt, các từ ngữ, hình
ảnh, chỉ tiết, và ở mức độ cao hơn, đọc đề khái quát, tổng hợp, xác định dé tài,
chủ đề, ý nghĩa tác phẩm Hơn nữa, việc đọc văn chính là một quá trình phát hiện, tổng hợp những tầng sâu ý nghĩa đã được nhà văn mã hóa trong một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ nghệ thuật
Có nhiều ý kiến bàn luận xung quanh vấn đề đối mới phương pháp dạy học Ngữ văn
PGS TS Đỗ Huy Quang cho rằng: “phải xác định đúng cái mới của đọc — hiểu văn bản lần này là chuyên công việc vô cùng khó khăn, lẽ ra chỉ
những nhà nghiên cứu phê bình văn học, những thày giáo mới có thé lam
được, trở thành công việc mà học sinh có thể làm được và làm tốt”[10;1]
Cuối cùng, PSG.TS Đỗ Huy Quang đã khẳng định: “đọc-hiểu văn bản phải
được nhìn và xử lí từ hoạt động học tập của học sinh để mỗi học sinh học văn
biết cách tự đọc, tự tìm hiểu văn bản”[10;1] và “Mỗi hoạt động học tập là một việc để học sinh làm thì phải xác định rõ đối tượng của hoạt động, thao tác
trong hoạt động, công cụ, phương tiện, cách thức của chủ thể để thực hiện hoạt động và hoạt động sản phẩm phải làm ra”[10;3]
Cũng bàn về vấn đề này, GS.TS Trần Đình Sử có ý kiến: “Đọc là một
tổng hoà nhiều quá trình, nhiều hành vi nhằm đạt mục đích là nắm bắt ý nghĩa của văn bản” Còn “hiểu” là: “Nói một cách thông thường hiểu văn bản là biết
về văn bản, thông cảm, đồng cảm với cuộc sống trong văn bản, giải thích,
biểu đạt được ý tưởng, cái hay của văn bản”[12;22]
GS.TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “đọc là một hoạt động phân tích
và tổng hợp phức tạp được truyền đạt thông qua nội dung ý thức trong từ và
câu để diễn tả những mối quan hệ khác nhau nhờ sự tiếp thu và nắm vững ý nghĩa được sắp xếp trong kí hiệu ngôn ngữ Đọc là quá trình tự nhận thức và
Trang 27nhận thức của con người” Va ông cũng cho rằng: “Thông qua quá trình đọc văn với những yêu cầu riêng của một hoạt động tính thần dựa vào một đối
tượng thẩm mỹ mà mục đích tiếp nhận là hiểu được tác phẩm văn chương
Như vậy, đọc là một hoạt động bao trùm, xuyên thấm mọi tang cam thu va
hiểu biết về tác phâm văn chương trong hệ thống các hoạt động tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và bình giá”
Ông đã kết luận: “Dạy đọc hiểu cho học sinh là dạy học sinh cách đọc
ra nội dung trong mối quan hệ ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản”[13;15] Tác giả Đỗ Bình Trị trong một công trình nghiên cứu của mình cũng đã
đề cập đến khái niệm đọc — hiểu Ông da dé ra hai cách hiểu về khái niệm
“đọc — hiểu”, tùy theo cách hiểu “đọc” là một kĩ năng hay là một kiểu tiếp
nhận văn bản
+ Cách một: với quan niệm “đọc” là một kiểu tiếp nhận văn bản thì
đọc — hiểu có nghĩa là đọc ( theo cách thức nào đó) nhằm mục đích hiểu văn bản Tất nhiên với môn văn thì “hiểu” là không có giới hạn nhưng bên trong thì vẫn cần có những quy định nhất định, tức là chuẩn kiến thức ở mỗi cấp
học Còn về “cách thức đọc” ( sao cho đạt yêu cầu về mức độ “hiểu”) xét ở thời điểm hiện tại, có thể nói phần chính thức có thể kiểm soát được ( trường hợp SGK) là ít hơn so với phần khó lường ( thuộc về người đạy và người
học) Và tác giả cho rằng “cách thức đọc” cũng phải được coi là một sản
phẩm của việc đọc — hiểu
+ Cách hai: Với quan niệm “đọc — hiểu” là một kĩ năng đọc ( ví dụ kĩ
năng đọc trong các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết) của môn Tiếng Việt bản thân
nó cũng đòi hỏi một sự tích hợp những năng lực khác nhau, bên trong đó có
năng lực đọc được văn bản va năng lực hiéu được nghĩa của câu chữ, của van
Trang 28“đọc” là thừa, bởi vì đọc ( như là một kĩ năng) đã bao hàm hiểu ( như là một năng lực)
Khi đặt “đọc - hiểu” trong giờ đạy văn tác giả cho rằng đọc — hiểu vẫn luôn đúng với tư cách là một hoạt động dạy cơ sở về tác phẩm văn chương (kế cả văn bản văn chương và văn bản nghị luận), không phụ thuộc vào chỗ
nó được gắn hay không gắn với giảng văn hoặc phân tích tác phâm| 1 5;5 1] Như vậy có thể phân biệt bằng một cách quy ước: đọc, hiểu theo nghĩa
là một kĩ năng (gọi là kĩ năng đọc), chủ yếu dùng trong môn Tiếng Việt còn
đọc — hiểu theo nghĩa là một kiểu tiếp nhận văn bản ( gọi là đọc — hiểu) chủ
yếu dùng trong môn văn
Hiểu trong quá trình đọc là mục đích mà tất cả mọi người đều mong
muốn đạt được Hiểu tức là tìm hiểu, nắm vững và vận dụng được Hiểu tức là
biết kĩ và làm tốt Hiểu một đối tượng không chỉ đừng lại ở quan sát, nắm bắt
cái bề ngoài mà còn là sự nắm vững nội dung và ý nghĩa của nội dung bên
trong văn bản Như vậy đọc — hiểu vừa là tri thức, vừa là phương pháp, vừa là mục đích, vừa là kết quả của việc học văn
Nhưng đọc -hiểu phải nhìn từ góc độ học tập của học sinh, nghĩa là học
sinh tự đọc-hiểu Người giáo viên là người thiết kế, xây dựng những việc làm
cụ thể để học sinh tự đọc văn bản, hiểu được các tầng nội dung ý nghĩa chứa
trong văn bản Nhưng việc làm này học sinh phải tự thao tác lấy
* Quy trình đọc-hiễu chung cho các văn bản
Xung quanh vấn đề lập quy trình cho đạy văn, còn nhiều quan niệm
khác nhau vì văn chương có nhiều cách tiếp cận Văn chương không chấp
nhận một công thức nào cho sẵn Văn chương là tự do sáng tạo, là cá thé hoa
Quy trình hoá làm mất vẻ sinh động của giờ văn Điều đó đúng, tiếp cận văn
chương phải bằng tình cảm, cảm xúc, kinh nghiệm, sự trải nghiệm của cá
nhân, bằng năng lực “đồng sáng tạo” ở mỗi người đọc
NUgauyén Thi Thu Grang -28 - K31A - Ugd van
Trang 29Lĩnh vực văn chương là lĩnh vực của sự đa dạng, phong phú, không nên khuôn vào một cung cách nào.Nhưng đó là cách nghĩ của lý thuyết, còn thực tiễn dạy và học văn của thày và trò thì rất cần một quy trình để tham
khảo.Chúng tôi xin nêu ra một quy trình đọc -hiểu văn bản nghệ thuật cho học sinh THCS, THPT như sau:
A Giới thiệu bài mới
B Bài mới
Việc 1: Đọc hiểu những thông tin về ngữ cánh (tiểu dẫn)
1 Đọc thông tin về hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh cảm hứng
2 Đọc thông tin về nhà văn, về sáng tác của nhà văn
3 Đọc thông tin về thể loại, đặc điểm thể loại
Việc 2: Đọc văn bản, tìm hiểu cấu trúc văn bản
1 Đọc văn bản, đọc chú thích, suy nghĩ về tên văn bản, xác định các nhân
tố giao tiếp trong văn bản
2 Xác định bố cục văn bản
3 Xác định nhân vật, nhân vật chính trong văn bản
4 Nhận diện các phương thức biểu đạt trong văn bản
5 Kể lại cốt truyện, xác định các tình huống truyện, xung đột truyện
Việc 3: Đọc hiểu nội dung văn bán
Phuong an 1: Doc-hiéu theo kết cấu
Phuong 4n 2: Doc-hiéu theo nhân vật
Phuong an 3: Doc-hiéu theo khia canh cht dé
Viée 4: Doc-hiéu y¥ nghia van ban Hoc sinh thao luan
1 Ý nghĩa do người viết gửi vào văn bản (thông điệp của nhà văn)
2 Ý nghĩa do mối quan hệ giữa nhà văn và cuộc sông đặt ra
3 Y nghĩa do người đọc nhận ra, đề xuất (tạo cơ hội để học sinh tự khẳng
định mình trước những gì học sinh tiếp nhận được)
Trang 30
Việc 5: Tổng kết Đọc-hiểu phần ghi nhớ
Việc 6: Luyện tập Thực hiện các bài tập có sẵn trong SGK
KET LUAN CHUONG 1: Dua vào cơ sở lý luận của dạy học và dạy học theo hướng công nghệ, chúng tôi đưa ra quy trình chung của việc đọc — hiểu
văn bản Quy trình gồm 6 việc do học sinh thực hiện, giáo viên đóng vai trò
người hướng dẫn Từ đó, chúng tôi tiến hành xây dựng quy trình cụ thể của việc đọc-hiểu thê loại truyện cổ tích theo hướng công nghệ Nội dung này được thê hiện ở chương sau
Trang 31
CHƯƠNG 2
DẠY HỌC THẺ LOẠI TRUYỆN CỎ TÍCH THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ TRONG TRƯỜNG THPT
2.1 Thể loại, kiểu văn bản và phương pháp đọc — hiểu theo thể loại
2.1.1 Thể loại và kiểu văn bán
2.1.1.1 Thể loại là gì?
* Khái niệm
“Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành
và tồn tại tương đối ôn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, thé hiện sự giống nhau về cách thức tô chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại
hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà
văn với các hiện tượng đời sống ấy”[4; ]
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng các phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thê hiện những quan niệm thâm mĩ khác nhau với hiện thực, có những cách xây dựng hình tượng khác nhau Các phương thức ấy ứng với các hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con người
(hoặc trầm tư, hoặc chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung
đột, ) làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn
nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, Người ta có thê tập
hợp thành từng nhóm tác phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả
và hình thức tổn tại Đó là cơ sở khách quan của sự tồn tại thể loại văn học và
cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học Thể loại văn học trong bản chất phán ánh những khuynh hướng phát triển bền vững, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tai dé giữ gìn, đối mới thường xuyên các khuyng hướng ấy Do đó, mà thể loại văn học
luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biên đôi, vừa ôn định
Trang 32
Bàn về thê loại văn học, nhà nghiên cứu văn học người Nga là
D.Li-kha-chốp cho rằng: các thể loại văn học là một phạm trù lịch sử Nó xuất hiện trong một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi,
được thay thế
* Sự phân loại các tác phẩm văn học
Người ta chia tác phẩm văn học thành ba thể loại chính dựa trên phương thức phản ánh cuộc sống đó là:
- Tự sự
- Trữ tình
- Kịch
Ngoài ra còn nhiều cách phân loại tác phâm văn học khác, mỗi cách
phân loại tác phẩm văn học đều có ưu điểm và hạn chế riêng Tuy nhiên, cách
phân loại tác pham văn hoc thành ba thể loại chính như trên được các nhà
nghiên cứu cho là phù hợp hơn cả
2.1.1.2 Kiểu văn bản văn học
* Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm tư tưởng thỏa mãn nhu cầu thâm mĩ của con người Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật có tính
hình tượng, tính thắm mĩ cao
Mỗi văn bản văn học đều thuộc một thể loại văn học nhất định, tuân
theo những quy ước, cách thức thê loại đó
* Nhà văn trong quá trình sáng tác ra văn bán văn học Khi ấy văn bản
văn học mới chỉ tồn tại trên giấy mà chưa có tác động với xã hội Chỉ khi nào
thông qua người đọc thì hệ thống kí hiệu ( con chữ trên giấy của văn bản) mới
hiện lên trong tâm trí của người đọc những sự việc, những hình tượng nhân
vật, những cảm xúc, suy nghĩ của con người và cuộc đời Lúc này những giá
trị văn học von tiêm ân trong văn bản sẽ được người đọc tiêp nhận, văn ban
Trang 33mới thực sự phát huy chức năng của tác phẩm văn học Như vậy, chỉ khi văn bản đến với người đọc nó mới được coi là tác phẩm văn học Tương ứng với
ba thể loại tác phẩm văn học sẽ có ba kiểu văn bản: tự sự, trữ tình và kịch
Sự thay đổi trong quan niệm về phương pháp dạy học hiện nay: coi dạy
văn là day cach doc — hiểu kiêu văn bản phù hợp với nội dung chương trình
SGK Ngữ văn, thì việc xác định rõ ràng các kiểu văn bản văn học là cần thiết Điều đó sẽ giúp giáo viên có cách đạy, học sinh có cách học thích hợp và hiệu quả tùy theo từng kiêu văn bản văn học
2.1.2 Thế loại truyện cỗ tích
2.1.2.1 Vấn đề thuật ngữ
* Thuật ngữ “truyện cỗ tích”trong một số nước trên thế giới
GS Chu Xuân Diên khi đi vào tìm hiểu thuật ngữ “truyện cổ tích” đã dựa vào những nghiên cứu của Prốp Prốp cho rằng ở Châu Âu chỉ có hai ngôn ngữ của Nga và Đức có hai danh từ riêng chỉ thể loại “truyện cổ tích” như từ ngữ của chúng ta ngày nay
Trong ngôn ngữ của Đức có từ “Marchen” nghĩa là chuyện kế nho nhỏ, thú vị xuất hiện từ thế ki XIII, đần dần được hiểu là truyện cổ tích
Ở ngôn ngữ của Nga có từ “Ckajkn” nghĩa là truyện kế bịa đặt, xuất
hiện từ thế ki XVII và được hiểu là truyện cổ tích
* Thuật ngữ “truyện cố tích” trong tiếng Việt
“Cô tích” là thuật ngữ Hán Việt, theo nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngữ:
“cỗ” có nghĩa là chuyện xưa; “tích” có nghĩa là tích xưa, chuyện cũ Theo nhà
nghiên cứu văn học dân gian Chu Xuân Diên: “ cổ” là xưa cũ, gần vời thuật
ngữ “cỗ” có từ “truyện cổ” ( tương đương với khái niệm này trong tiếng Hán
có từ “ cổ sự”, trong dân gian có từ “cố sự” ) Còn từ “tích” phức tạp hơn, có tới hơn 29 nghĩa Theo Chu Xuân Diên, “tích” cũng có nghĩa là dấu xưa, vết tích, khi gắn với từ “cổ” là hợp lí hơn ca
NUgauyén Thi Thu Grang -33 - K31A - Ugd van
Trang 34Ý kiến này được nhiều người công nhận Từ đó, Chu Xuân Diên đưa ra
nhận xét:
+ Khái niệm “truyện cổ”, “truyện đời xưa” dùng đề chỉ nhiều loại truyện
dân gian khác nhau trong đó có truyện cô tích Và có khái niệm “truyện cổ tích” để chỉ riêng thé loại này
+ Truyện cô tích có quan hệ với thời quá khứ xa xưa cả về nội dung lẫn nguồn gốc phát sinh Dấu tích của truyện kể này vẫn còn tới ngày nay
2.1.2.2 Khái niệm truyện cỗ tích
Ở nước ta, quá trình nghiên cứu truyện cô tích gắn khá chặt với quá trình nhận thức khu biệt các loại truyện dân gian khác ( như thần thoại, truyền
thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn, giai thoại, ) Trước đây ( khoảng từ
Cách mạng tháng Tám 1945 về trước ), danh từ “truyện cổ tích” ( còn được gọi là “truyện đời xưa” ) thường được dùng để chỉ chung hầu như toàn bộ lĩnh vực truyện dân gian truyền miệng kề xuôi ( tương tự như danh từ “truyện
cổ dân gian” hay “truyện kế dân gian” sau này) VỀ sau, phạm vi của truyện
cô tích được thu hẹp dần song với quá trình nhận thức các loại truyện dân gian khác và tách chúng ra khỏi cô tích Bộ phận ra đời muộn nhưng được tách ra khỏi cô tích khá sớm ở nước ta có lẽ là truyện cười ( trước hết là những truyện có yếu tố tục, thường gọi là “truyện tiếu lâm”), sau đó mới đến
thần thoại và các loại truyện khác Hiện nay bộ phận truyện kể về các nhân
vật lịch sử từ thời Bắc thuộc về sau ( thường được gọi là “ cổ tích lịch sử” ) cũng đang nằm trong quá trình được nhận thức lại về thê loại (để chuyền từ cổ tích sang truyền thuyết) Có thê nói rằng truyện cô tích vẫn là một thê loại mà không một truyện dân gian nào có thể so sánh được
Việc xác định nội dung của khái niệm truyện cổ tích càng thêm khó khăn, phức tạp do có quan hệ chẳng những với hầu hết truyện dân gian, mà
Trang 35
còn với nhiều lĩnh vực khác của văn học và văn hóa dân gian ( như tục ngữ,
ca dao, nghệ thuật sân khấu, phong tục, tín ngưỡng, )
Nói tóm lại, truyện cổ tích là một truyện kế dan gian ra đời từ thời cố
đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội; nó hướng vào những
vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân,
đặc biệt là những xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình và xã hội Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là “ tưởng tượng và hư cấu cổ tích” ), kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đới sống và mơ ước của nhân dân đáp ứng nhu cầu của nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp
SGK Ngữ văn I0, tập 1, trang 26 đã định nghĩa về thể loại truyện cổ
tích, đây cũng là khái niệm được nhiều người chấp nhận.Truyện cỗ tich là
thé loại tự sự bằng văn xuôi, thường kế về số phận của các kiểu nhân vật ( người mồ côi, người em, người dũng sĩ, chàng ngốc, ), qua đó thế hiện quan niệm về đạo đức, lí tưởng và ước mơ của nhân dân về hạnh phúc, công lí xã hội
2.1.2.3 Nguồn gốc và vấn đề phân loại truyện cỗ tích
a Nguồn gốc và sự sinh thành của truyện cố tích
Lịch sử hình thành, phát triển của truyện cổ tích được tạo nên bởi chính lịch sử hình thành và phát triển của từng tiêu loại hay từng kiểu truyện cổ tích
cụ thể Cho nên muốn giải quyết vấn đề phân loại truyện cô tích một cách đúng đắn, vững chắc không thể không chú ý đến nguồn gốc và sự sinh thành của nó Về nguồn gốc sinh thành của truyện cô tích thường được hiểu và xét đoán theo nhiều góc độ và bình diện khác nhau, trong đó có ba phương diện đáng chú ý:
NUgauyén Thi Thu Grang -35 - K31A - Ugd van
Trang 36+ Su phat sinh đầu tiên của truyện cơ tích ( tức là nguồn gốc ban đầu
của thê loại)
+ Nguồn gốc trực tiếp của các bộ phận, các tiểu loại, các kiểu truyện cổ
tích ( tức là nguồn gốc riêng, nguồn đề tài và chất liệu cụ thé)
+ Nguyên nhân tư tưởng, ý thức xã hội đã thúc đây sự phát sinh, phát
triển và biến hĩa của thể loại
Ba phương diện trên gắn bĩ với nhau trong một thê thống nhất Nếu hiểu nguồn gốc của truyện cơ tích như là nơi phát sinh đầu tiên của thể loại
này thì phải nĩi tới thần thoại và thời kì bắt đầu tan rã của xã hội thị tộc
nguyên thủy Thần thoại giống như một nguồn nước chung của nhiều dịng,
nhiều loại nghệ thuật trong đĩ cĩ truyện cơ tích Truyện cổ tích Việt chỉ cĩ thé nay sinh từ mánh đất của thần thoại Việt chứ khơng thể sinh ra từ nguồn thần thoại bất kì nào khác được Nhưng bắt nguồn từ thần thoại khơng cĩ nghĩa là truyện cơ tích hồn tồn giống với thần thoại Ngay từ lúc ra đời, truyện cổ tích đã khác với thần thoại, vừa kế thừa, vừa phủ định và đổi mới thần thoại về nhiều phương diện (chức năng, đề tài, phương pháp sáng
tác, ) Truyện cổ tích được sinh ra từ thần thoại, đặc biệt từ những lớp thần
thoại “cuối mùa” đã chứa đựng, ấp ủ những nhân tố, những cái mầm của các thé loại kế tục và thay thế nĩ ( như sử thi, truyền thuyết, truyện cơ tích, ) Một truyện thần thoại cĩ thể phát triển thành sử thi hay truyền thuyết hoặc truyện cơ tích tùy theo nhu cầu, mục đích và phương pháp sử dụng của tác giả dân gian
Thần thoại chuyển thành cơ tích dù bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp thi chủ yếu cũng là chuyển những cốt truyện, những mợtíp (nghĩa là cái
“phần xác” của thần thoại) Cịn cái “phần hồn” của nĩ bị phủ định, loại trừ đi
để cho tác phâm trở thành cơ tích mang linh hồn của thể loại mới
NUgauyén Thi Thu Grang -36 - X37c† - tg# oăn
Trang 37Khi xét đến nguyên nhân và nguồn gốc trực tiếp, cụ thê của truyện cổ tích, các nhà nghiên cứu còn chú ý đến phong tục tín ngưỡng ( nhất là những
tục lệ cô), những cảnh vật thiên nhiên ( chim muông, cây cỏ, núi sông, ), những câu nói vần vè, ca dao, tục ngữ có liên quan, những người thực việc
thực trong lịch sử hoặc trong đời sống bình thường của nhân dân Quả thực có nhiều truyện cô tích gắn chặt với nguồn gốc, ý nghĩa của tục lệ ( ví dụ: truyện
“Trầu Cau”, truyện “Bánh chưng bánh dày”, truyện “Sự cây nêu ngày
Tết”, ) Nhiều truyện gắn với việc giải thích các loài vật, cây cỏ hoặc phong cảnh thiên nhiên của đất nước ( như: sự tích con quạ, con sam, con than lin,
sự tích cây huyết du, ) v v
b Vấn đề phân loại truyện cỗ tích
Phân loại truyện cô tích là một trong những vấn đề tồn tại đáng kế của khoa học về truyện cổ tích trên thế giới cũng như ở nước ta Phương pháp
phân loại, tiêu chí và thuật ngữ chỉ loại đều chưa được xây dựng có hệ thống
Đến nay tuy đã có một số cách phân loại truyện cô tích Việt được nêu lên, nhưng chưa có bản phân loại nào được thuyết giải đầy đủ trên cơ sở những tiêu chí rõ ràng và nhất quán Có một số nhà nghiên cứu văn học dân gian đã
có kiến giải về việc phân loại truyện cổ tích: người thì chia ra hai loại (cổ tích sinh hoạt và cổ tích thần kỳ hoặc cô tích hoang đường và cô tích thế sự);
người thì chia ba loại ( cổ tích thần kỳ, cổ tích sinh hoạt, cổ tích lịch Sử);
người chia làm bốn loại hoặc nhiều hơn ( cổ tích thần kỳ lịch sử, sinh hoạt,
ma quái ) Sự thiếu thống nhất ý kiến trong vấn đề phân loại truyện cổ tích bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: một là sự phức tạp của đối tượng ( tức là của bản thân truyện cô tích), hai là, sự thiếu thống nhất về quan niệm và
phương pháp của các nhà nghiên cứu thể loại truyện cỗ tích Một trong những
cách phân loại chung ( phân loại tổng quát hay phân loại lớn) về truyện cổ
tích được nhiều người tán thành và vận dụng hiện nay là cách chia truyện cố
Trang 38tích thành ba loại chính: truyện cổ tích loài vật, truyện cô tích thần kỳ và
truyện cổ tích sinh hoạt
Sau đây, chúng tôi xin được trình bày một số điểm cơ bản của ba biến thể của truyện cô tích:
* Truyện cô tích thần kỳ: là bộ phận cơ bản và tiêu biểu nhất
của thể loại truyện cổ tích, đồng thời là một trong những bộ phận quan trọng
và tiêu biểu của nền văn học dân gian mỗi dân tộc Hầu như những truyện cổ tích hay nhất có nhiều giá trị nhất của người Việt đều thuộc về cổ tích than
kỳ Ở loại truyện này, nhân vật chính vẫn là con người trong thực tại, nhưng các lực lượng thần kì, siêu nhiên có vai trò rất quan trọng Hầu như mọi xung
đột trong thực tại giữa con người với con người đều bế tắc, không thê giải
quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kỳ Cái “thần kỳ” phải giữ vai trò chủ yếu trong việc tham gia giải quyết các xung đột, mâu thuẫn trong truyện
VD: Truyện “Tấm Cám”, truyện “Thạch Sanh”, truyện “Sọ Dwa” truyén da thể hiện mối quan hệ dì ghẻ- con chồng: chị em cùng cha
khác mẹ ( truyện “Tấm Cám”); tình cảm anh em kết nghĩa ( truyện “Thạch
Sanh” ); mối quan hệ giữa chị em gái, vợ chồng, me con (truyén “ So
Dừa” ) Những mối quan hệ ấy chứa nhiều mâu thuẫn, những mâu thuẫn đời
thường như tranh giành hơn thua về vật chất Sâu xa hơn, đó là những mâu
thuẫn xã hội Để giải quyết những mâu thuẫn ấy, tác giả dân gian đã nhờ đến
các yếu tô siêu nhiên, thần kì như ông Bụt ( truyện “Tắm Cám”), Đàn thần,
Niêu thần (truyện “ Thạch Sanh” ), sự biến hóa thần kỳ, con Gà thần ( truyện
“So Dừa”) Nhờ những yếu tô thần kỳ, nhân vật chính diện được giúp đỡ và
Trang 39Yếu tố kì ảo tham gia như một phần không thể thiếu trong cốt truyện, làm cho truyện hấp dẫn và thường kết thúc theo mong ước của nhân dân Trong truyện cô tích thần kỳ, các nhân vật thường bao gồm 3 loại:
Nhân vật chính diện hay phe thiện (như Thạch Sanh, cô Tam, Chir Đồng Tu,
Sọ Dừa, vợ Sọ Dừa, hoàng tử, công chúa, ) ; nhân vật phản diện hay phe ác (như Lí Thông, mẹ con Cám, ); và các nhân vật thần kì hay vật báu có tác dụng kì diệu ( như Tiên, Bụt, chim thần, Đàn thần, Rắn thần, Niêu thần, ‹}
* Truyện cô tích sinh hoạt ( hay cô tích thế sự): là những truyện không có hoặc ít có yếu tố thần kì Ở đây các mâu thuẫn, xung đột xã hội giữa người với người được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến yếu tố
siêu nhiên Những yếu tố thần kì nếu có cũng không giữ vai trò quan trọng và
nhiều khi chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ li kì, hấp dẫn Hay nói cách khác, truyện cô tích sinh hoạt giải quyết xung đột trong cõi đời thực và bang cái lôgic của đời sống xã hội
VD: truyện “Vợ chàng Trương”, “Sự tích chim Hít-cô”, “ Sự tích con
muỗi”, “Cây tre trăm đốt”, ) Truyện đã hướng đến giải quyết một cách hiện thực các mối mâu thuẫn trong xã hội như: mâu thuẫn giữa vợ - chồng ( trong truyện “ Vợ chàng Trương” ), mâu thuẫn giữa chủ - tớ (trong truyện “ Cây tre trăm đốt” ) hay tác giả dân gian còn nhằm giải thích nguồn gốc sự vật, hiện tượng trong cuộc sống thông qua mối quan hệ giữa con người với con người như trong truyện “ Sự tích chim Hít-cô”, “ sự tích con muỗi”,
Truyện cổ tích thế sự thường có tính khuynh hướng xã hội gay gắt,
trong đó nhân vật chính thường là nông dân, thợ thuyền, binh lính nghèo, đối
kháng với các giai tầng bóc lột trong xã hội (địa chủ, ông chủ, nhà vua)
Truyện phản ánh sinh hoạt đời thường, gần gũi với bình dân Qua nhóm truyện về người thông minh, người nghèo khổ có tình nghĩa truyện
Trang 40
phan ánh hiện thực, đề cao đạo đức, lí trí sáng suốt và tinh thần hiện thực của nhân dân
* Truyện cổ tích loài vật: là truyện cổ tích chủ yếu lấy các loài vật ( phần lớn là động vật) làm đối tượng phản ánh, lấy đề tài trong sinh hoạt của
xã hội loài vật, nhất là những vật gần gũi và có quan hệ nhiều với đời sống
của nhân dân ( như mèo, chuột, chó, gà, thỏ, cáo, cóc, bồ câu, Sáo, ) nhằm
tường thuật và lí giải nguồn gốc, đặc điểm của các loài vật Loại truyện này ở thời kì cỗ xưa hầu hết các dân tộc đều có Ở đây, các loài vật được nhân cách hoá một cách hồn nhiên trong trí tưởng tượng của nhân dân thời cổ Ở Việt Nam, do những truyện cổ tích loài vật không được sưu tầm ghi chép sớm nên tính chất cô xưa, cô tích loài vật đã biến tướng thành truyện ngụ ngôn hoặc có tính chất ngụ ngôn
VD: “Sự tích con công và con quạ”, “Vì sao trâu không có hàm trên”,
“Vi sao gà trồng có mào”,
Truyện kế chủ yếu giải thích theo cách hiểu dân gian đặc điểm và quan
hệ của các con vật trong thế giới loài vật Qua đó, dân gian muốn phản ánh xã hội xon người và mối quan hệ giữa con người với con người
Có nhân vật chính là các loài vật, truyện cổ tích loài vật là một trong
những thể loại truyện cô tích phổ biến nhất, có ở hầu hết các dân tộc trên thé
giới Nhiều tác phẩm trong số đó xuất xứ từ giai đoạn xã hội chưa phân chia giai cấp, còn gắn với tín ngưỡng vật tô Truyện cô tích loài vật, theo thời gian,
dần dần mất đi tính chất thần thoại và ma thuật, tiệm cận với thể loại truyện
ngụ ngôn giáo huấn ở giai đoạn về sau
Cách phân loại truyện cổ tích thành ba biến thể như trên, được ứng
dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu về thể loại truyện cổ tích Ba biến
thê ấy chứa trong mình những nét chung của thể loại và những nét riêng của biến thể Sau đây, chúng tôi trình bày cụ thể về đặc điểm truyện cô tích
NUgauyén Thi Thu Grang -40 - K31A - Ugd van