Vốn là tiền đề, là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, là một trong ba yếu tố đầu vào quan trọng nhất của sản xuất lao động, kỹ thuật, thiếu vốn lại là
Trang 2
Nếu muốn biết giá trị của tiền bạc, hãy ra ngoài và thử vay một ít
If you would know the value of money, go and try to borrow some.
Trang 3ang Ngoại hồi
Sơ đồ tư duy về thị trường tài chính
Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiền tệ
Thị trường tài chính
.„rcxờng tài chính yw 2S
wnéi niệm
“tực trạng
Các yếu tố ảnh hưởng Giải pháp
Trang 4A THỊ TRƯỜNG CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH . - - c2 E22 126111 11111111 211111115 %2 11
1 Thi trong tién t8 o.oo eee cece 1111111111111 1k1 TK TK TK TK TK TK kg Ti 12
Trang 5
B Thi trong chitng ‹ (1 —— 4 30
I Khái niệm và đặc điểm của thị trường chứng khoán ccccŸSSccSsS*2 30
1 Khải niệm .- CC ng g9 9 90 9000 0 HH HH HH HH ĐH ti B938 30
Il Vai trò của thị trường chứng khoán ảnh hưởng tới nền kinh tế vĩ mô Việt Nam 31
1 Tác động tích cực của thị trường chứng khoản .- <<cc << << s+ 3l
3 Ảnh hưởng của TTCK năm 2012 - Lc-c E111 6110 21111 31115 111111115 1111 11 se 35
II Các yếu tố ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán . c SE} SE Ỳ va 40
IV Nguyên nhân và giải pháp cho thị trường chứng khoán .- - 41
2 Gia Pap 43 42
V Kết luận về thị trong nay oo cece ccc eceeccceccee cece cecuceeuecesavesaucesaseceeeeaeeeeaeeeaneeeans 43
C Thị trường ngoại hối - CC Q11 SH TY TK SH TK TT TH TT TK TT kh tk cha 44
I Téng quan vé thi trường ngoại hối cc CS S111 S1 KT ky ky vn nen 45
1 Khái niệm CƠ Q0 022 HH HH HH HH HH HH HH HH ĐH ni kg 45
2 Hàng hóa chính trên thị trường ngoại hối . - -cc- cQ 1H91 SH cv ren 46
Trang 6
3 Các thành viên tham gia thị trường ngoại hối - Lcc QS 1S Ỳ SH SE Y va 51
4 Các đặc điểm cơ bản của thị trường ngoại Gi oo cecceccecccecceccceccecceccueccuseuceeeceeceuseueceneeeeen 52
5 Các chức năng cơ bản của thị trudng ngoai h6i oo eee cece eeecceeecuecceusceeueceaeceeueseaseeaes 53
I Tỷ giá hối đoái LH TH ky TT TT TK TT TT TK TT và 54
1 Khái niệm e eee e seen esses eee eens eeeeeeegeeeeeueugeeeeeuuaeeeeueeeeeeesnes 54
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối dodi oo ccc eeecceeccuecccueceeusecueeceuseueeeeuans 55
3 Sự tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái đến kinh tế vĩ mô .- 58
II Thị trường ngoại hối 2012 - - cc Q1 21112111 11k TK TT TK TK TT Tàu 63
IV Một số giải pháp phát triển thị trường ngoại hối - ccc SE c1 Ỳ SE st 64
1 Hướng tới chính sách tỷ giá cân bằng cung cầu . S911 kY Sky sa 64
2 Hoàn thiện và phát triển thị trường lien ngân hàng - c CS c1 sen 64
Trang 7
LO'I NOI DAU
Tri trường tài chính - một thị trường đang trên đà hình thành là nơi diễn ra các hoạt động luân chuyển, đầu tư các nguồn
lực xã hội, cung ứng các nguồn vốn cho hoạt động kinh tế Điều này đã góp phần làm thay đổi sâu sắc, từ những thói quen tiêu dùng, tiết kiệm tiền nhãn rỗi trong tiêu đùng đến những bước phát triển vĩ mô đánh dấu sự hoàn thiện của nền kinh tế thị trường
Nó góp một phần đắc lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tạo thế và lực mới cho dân tộc ta bước vào thế kỷ XXI
Tuy vậy, sau 16 năm đổi mới, thị trường tài chính còn là một vấn đề khá mới mẻ khi mà phát triển và hoàn thiện thị trường
tài chính là một tất yếu khách quan cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Những hình thành ban đầu còn nhỏ bé, manh mún, chưa thực sự tạo được động lực cho phát triển Chúng ta không chỉ tụt hậu so với sự phát triển hàng trăm năm của thị trường tài chính thế giới mà còn so với cả sự phát triển của khu vực
Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực năm 97 xảy ra còn để lại nhiều hậu quả nặng nề buộc chúng ta phải nhận thấy rằng vẫn đề phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính càng trở nên quan trọng hơn, cấp thiết hơn cho việc xây
đựng một thị trường tài chính lành mạnh, ổn định, năng động
Sau khủng hoảng năm 2008, nay nước ta cũng như các nền kinh tế trên toàn thế giới lại đứng trước một cơn đại suy thoái mới Thị trường tài chính đường như là nơi thu hút tất cả mọi sự chú ý của giới truyền thông, các nhà đầu tư, cũng như đại bộ phận dân chúng Ai cũng hiểu, nó quan trọng, tuy nhiên Thị trường tài chính có vai trò như thế nào trong ổn định kinh tế vĩ mô thời kì này lại là một câu hỏi khó trả lời Và chúng tôi, các thành viên của nhóm 2 hy vọng, những tài liệu mà nhóm cung cấp sẽ phần nào giải đáp được thắc mắc của mọi người
Trang 8
PHAN 1: TONG QUAN VE THI TRUONG TAI CHINH
1 Tiền đề ra đời và tôn tại của thị trường tài chính
Tài chính, thị trường tài chính (TTTC) chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà những hiện tượng
kinh tế xã hội khách quan xuất hiện, tồn tại
Như vậy, phạm trù TTTC cần được đánh giá xem xét như là một vấn đề kinh tế xã hội khách quan, nó có tính kinh tế và lịch
SỬ
Cùng với sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu phát triển bước đầu hình thành nên một nền kinh tế hàng hoá giản đơn Tiền tệ cũng xuất hiện như một đòi hỏi khách quan để có thể trao đổi, mua bán hàng
hoa
Chủ nghĩa tư bản trải qua quá trình hình thành và phát triển đã đưa kinh tế hàng hoá lên thành kinh tế thị trường, đưa ra
những tiền đề cần thiết để nảy sinh, hình thành TTTC Như vậy sự phát triển của kinh tế thị trường sự tham gia của tiền tệ vào hoạt động kinh tế, sự tích lũy tập trung tư bản là những tiền tệ quan trọng hình thành TTTC
Các nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển và hoàn thiện TTTC, từ việc in ấn, phát hành đều lưu thông, huy động tiền tệ và các nguồn lực sản xuất quốc gia đến việc phân bổ các nguồn lực tài chính ra toàn xã hội và còn vượt
qua khỏi phạm vi quốc gia hình thành nên TTTC quốc tế
Những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho sự phát triển của TTTC và ngược lại, đến lượt mình, TTTC đã làm cho nền kinh tế
xã hội phát triển ở bước cao hơn
Ngày nay, trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá các nền kinh tế, TTTC đã mở rộng ra phạm vi toàn thế giới và đang ngày
càng đóng góp và nền kinh tế thế giới Chính xu thế toàn cầu hoá đã hội nhập các TTTC lại với nhau biến các TTTC nhỏ bé độc
lập thành những TTTC khổng lồ, hoạt động phụ thuộc lẫn nhau và tạo động lực cho nhau cùng phát triển
7 [Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 9
Việt Nam chúng ta cần đánh giá đúng bản chất ra đời, tồn tại của TTTC từ đó mà đựa trên các quy luật khách quan để xây
dựng một TTTC hợp lý, từng bước phát triển, hội nhập vào quốc tế, khu vực
2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của TTTC
TTTC là nơi điễn ra các hoạt động luân chuyển vốn trực tiếp từ các tổ chức cá nhân có vốn sang các tổ chức cá nhân cần vốn đảm bảo cho các hoạt động kinh tế xã hội hàng ngày
Mọi nền kinh tế đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển vào có thể được huy động từ nhiều nguồn nhà nước, ngân hàng và cuối cùng là qua trung gian TTTC - một công cụ hết sức quan trọng của nền kinh tế thị trường về phương điện cung cấp và luân chuyển vốn
Nếu như trên thị trường hàng hoá, đối tượng mua bán là các loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ thì trên TTTC, đó là vốn, một
loại hàng hoá đặc biệt Người bán dư thừa tiền đem nhượng đi với tư cách là vốn - hàng hoá nhằm thu một khoản tiền lãi nhất định
đáp ứng được vốn cho người mua để phát triển mở rộng kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng Thực chất của mua, bán trên TTTC là mua bán quyền sử dụng vốn
Giá cả trên TTTC chính là lợi tức tiền cho vay hay lợi tức cổ phần và giá cả này nhiều khi không được xác định trước (như lợi tức cỗ phần) và đem lại sự hấp dẫn cũng như rủi ro là rất cao
Như vậy, TTTC là một thực thể trừu tượng gắn liền với việc phân bổ sử đụng các nguồn lực tài chính với các loại hàng hoá đặc biệt, đó là vốn, quyền sử dụng vốn Các công cụ chủ yếu trên TTTC là các loại chứng khoán có giá đưa lưu hành qua lại trong các hoạt động tài chính
Thị trường tài chính có một số vai trò chủ yếu sau:
+ TTTC đóng vai trò to lớn trong việc thu hút các nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong xã hội tài trợ cho nhu cầu phát triển kinh
tế xã hội Vốn là tiền đề, là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, là một trong ba yếu tố đầu vào quan trọng nhất của sản xuất (lao động, kỹ thuật), thiếu vốn lại là trở ngại chính kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là
Trang 10
giai đoạn CNH, HĐH Nền kinh tế phát triển nhanh đòi hỏi phia sử đụng tối đa các nguồn lực tài chính Thông qua cơ chế hoạt
động của TTTC đã thu hút tất cả những nguồn vốn nhỏ bé, phân tán rải rác thành những nguồn lực to lớn tài trợ kịp thời cho nhu cầu phát triển kinh tế
+ TTTC đóng vai trò quan trọng nâng cao hiệu quả vốn tài chính, tạo điều kiện thuận lợi đễ dàng cho việc luân chuyển vốn từ
lĩnh vực kém hiệu quả sang lĩnh vực kinh doanh đạt hiệu quả cao
Sử dụng vốn - hàng hoá luộn phải trả một giá nhất định, điều đó buộc người sử dụng vốn phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng đồng vốn đảm bảo phương án kinh đoanh tối ưu, đưa ra các biện pháp từ đa giảm chỉ phí, nâng cao hiệu quá sản xuất và trả lãi của vốn Mặt khác, do sự tự do lựa chọn hình thức đầu tư, sự dễ dàng mua đi bán lại giúp luân chuyển vốn trong nền kinh tế được linh hoạt hơn
+ TTTC đóng vai trò quan trọng để thực hiện các chính sách tiền tệ và chính sách tài chính, điều hoà các hoạt động kinh tế xã hội, thực hiện giám sát điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô
Thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính trên thị trường, các hệ thống giám sát của nhà nước có thể theo đối sát sao các hoạt động không chỉ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ mà cả sản xuất kinh doanh
Chính phủ có thể điều tiết lượng cung - cầu tiền tệ đảm bảo bình ổn hoạt động của nền kinh tế, bù dap thâm hụt kích cầu tiêu dùng Mặt khác, nhà nước có thể thông qua chính sách lãi suất hướng hoặc hạn chế vào một số lĩnh vực sản xuất, ưu tiên các ngành hướng về xuất khâu, mũi nhọn v.v
+ TTTC tạo điều kiện thuận lợi trong hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài
Do việc hình thành và phát triển TTTC quốc gia hàng năm ngoài xu thế quốc tế hoá TTTC tạo điều kiện cho nền kinh tế
quốc đân hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, giúp các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn mua cỗ phiếu trực tiếp trên thị trường, góp vốn
liên đoanh đầu tư sản xuất Thông qua hệ thống luật hoàn chỉnh và tính chất "mở cửa" có thể cho phép nới lỏng, thu hẹp hoạt động đầu tư nước ngoài Điều đó đảm bảo tính hợp lý cho phát triển kinh tế đối ngoại
9 | Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 11Nhu vay, TTTC đóng một vai trò hết sức to lớn trong phát triển kinh tế xã hội vai trò đó chỉ được phát huy khi nó được hình
thành trong một điều kiện thích hợp và hoạt động trong một cơ chế linh hoạt, lành mạnh Tuy vậy, bản thân nền KTTT cũng như
TTTC đều có những khuyết tật của nó đòi hỏi phải nằm vững cơ chế vận hành của TTTC, có những biện pháp hữu hiệu giám sát
và thúc đây hoạt động của nó
PHAN 2: CAU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Trên lý thuyết, thị trường tài chính được phân chia thành:
- Thi trường nợ và thị trường vốn cỗ phần : phân chia theo tiêu chí hình thức huy động vốn
- Thi trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: phân chia dựa trên thời gian phát hành các giấy tờ có giá
- _ Thị trường tiền tệ và thị trường vốn: phân chia theo kỳ hạn thanh toán các công cụ tài chính
Tuy nhiên, thị trường tài chính theo nghĩa hiểu của chúng tôi đó là nơi diễn ra hoạt động trao đổi mua bán tất cả các loại giấy tờ có giá theo đúng quy định của pháp luật Vì vậy, việc phân chia thị trường tài chính theo tiêu chí đặc điểm các loại giấy tờ
có giá được giao dịch trên thị trường sẽ giúp mọi người hiểu rõ ràng hơn về các giấy tờ có giá cũng như tác động của việc mua
bán các loại giấy tờ đó đến thị trường tài chính và nền kinh tế
Thị trường tài chính được phân chỉa thành 3 thị trường nhỏ :
1 Thị trường chứng khoán
2 Thị trường ngoại hối
3 Thị trường giao dịch các giấy tờ có giá khác
Trang 12chứng chỉ tiết kiệm, khế ước giao hàng, quỹ dự phòng
1.1 Tin phiéu kho bạc
- KN: Tín phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngăn hạn do Bộ Tài chính phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách Nha
nước
- Kì hạn:Có các loại kỳ hạn: 91 ngày, 182 ngày, 273 ngày và 364 ngày
- Phát hành:Tín phiếu kho bạc phát hành qua Ngân hàng Nhà nước được thực hiện dưới hình thức đấu thầu lãi suất Việc t6 chức
và giám sát thị trường thứ cấp (mua bán lại tín phiếu sau khi đấu thầu) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện.Ngoài khối lượng tín phiếu Kho bạc được phát hành qua Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính còn được tiếp tục phát hành một khối lượng nhất
định tín phiếu Kho bạc để bán lé trực tiếp cho dân chúng
11 |Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 13-Lợi tức chiết khẩu (%)= * 100%
Trang 14- Tình hình huy động vốn qua tín phiếu
Bang 1:
2008 2009 2010 2011 2012 Huy dong | 20.730 10.714 8.350 6.000 30.000
tin phiéu( ty
- Tổng khối lượng giao dịch tín phiếu trên thị trường chủ yếu phụ thuộc vào 2 chủ thể là chính phủ và NHTM:
+ Tín phiếu kho Bạc là loại công cụ có tính thanh khoản cao nhất trong tất cả các loại công cụ bởi vì chúng được mua bán rộng rãi và hầu như không có khả năng vỡ nợ.Nhờ đặc tính này, tín phiếu kho Bạc cũng trở thành công cụ quan trọng nhất trong chính sách tiền tệ của chính phủ
NHNN có thể phát hành tín phiếu để thu hút tiền về, giảm lượng tiền trên thị trường để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm chống lạm phát hay ngược lại, NHNN mua vào tín phiếu để tăng lượng cung tiền, nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích thích tăng trưởng khi nguy cơ lạm phát cao không còn hoặc ít nhất là đã giảm
Nam 2012, với việc bơm hút nhịp nhàng trên thị trường mở đã giúp cho các NHTM ổn định thanh khoản, dong thời Ổn định lạp
phát: vào ngày 5/11, NHNN đã bơm qua OMO 341 tỷ đông, lãi suất 8/năm, kỳ hạn 7 ngày Cùng với việc bơm vốn, NHNN hút
về 522 tỷ đồng, đưa mức hút ròng đạt 181 tỷ đồng Trong khi cuối tuân trước (ngày 2/11), NHNN đã bơm ra thị trường mở tới
Trang 15
5.396 tỷ động, lớn nhất kế từ ngày 22/8/2012.Ngày 7 /11,trên thị trường OMO, NHNN bơm ra 322 tỷ đông, lãi suat 8%/nam
Đông thời, NHNN cũng hút vê 204 ty dong, dua mức bơm ròng vốn trong ngày đạt 118 tỷ dong
Có thể lí giải việc NHNN hút tiền trong nghiệp vụ thị trường mở thông qua tín phiếu là cách làm cần thiết, vừa tạo thanh khoản cho NHTM, làm dịch chuyển nguôn vốn từ NHTM thừa vốn đến các NH đang kém thanh khoản mà không làm tăng lượng tiền lưu thông, lam giảm áp lực lạm phát
Năm 2012, với nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn được ban hành nhất là việc 24/8/2012, tín phiếu chính thức được giao
dịch trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tạo bước ngoặt trên thị trường này, tăng tính thanh khoản cho tín phiếu, giup cho công cụ này hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư, tăng khả năng huy động vốn ngắn hạn bủ đắp kịp thời cho ngân sách nhà nước
+ NHTM : đây vừa là chủ thê hưởng nhiều lợi ích trong qua trình lưu thông nguồn vốn qua tín phiếu kho bạc, đồng thời
cũng là chủ thể quyết định đến quá trình lưu thông đó khi là đối tượng nắm giữ chủ yếu tín phiếu
Năm 2012, khi nhiều NH “đư thừa vốn? do tín dụng tăng trưởng thấp(<10%) thì các NHTM đã tích cực mua tín phiếu trên thị trường mở như một cách kinh doanh an toàn Dự báo năm 2013, lượng tin phiếu giao dich sẽ đạt 30000 tỉ đồng do nhu cầu từ các NHTM không giảm
Trang 16
1.2 Giấy chứng nhận tiền gửi của ngân hàng
- KN:Giấy chứng nhận tiền gửi (CD) là một công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi Người gửi được thanh toán lãi hàng năm theo một tỉ lệ nhất định và khi đến kì hạn thanh toán thì hoàn trả sốc theo giá mua ban đầu
- Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh đấu sự thay đối căn bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: Chuyên từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi
tiền Khác với gửi tiết kiệm người gửi có thể gửi vào bất kì thời gian nào trong năm, chứng chỉ tiền gửi chỉ được NHTM phát hành theo từng đợt khi có nhu cầu về vốn, lúc này nó sẽ có lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm thông thường cùng kì hạn Mặt khác,
chứng chỉ tiền gửi cũng là một giấy tờ ghi nợ, nó có thể được đem đi cầm cố tại NH khi khách hàng có nhu cầu về vốn mà chưa tới ngày đáo hạn
VD:
Chứng chỉ tiền gửi của Ngân hàng BIDV phát hành đợt I/2009 có lãi suất với các chứng chỉ kì hạn 1 năm là 8.2-8.6% trong
khi lãi suất tiền gửi có kì hạn tương đương là 7.8-8.4%
- Với các NHTM:Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn dài hơn kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm thông thường (tối thiểu 1 năm) kèm thêm
khá năng “thanh toán trước hạn” vì thế thông qua việc phát hành chứng chỉ tiền gửi, ngân hàng sẽ “yên tâm” hơn trong kế hoạch
sử dụng nguồn vốn bởi sự ôn định của số tiền thu được đo phát hành chứng chỉ tiền gửi
15 |Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 17
- Với người gửi tiền: chứng chỉ tiền gửi thường có lãi suất cao hơn so với các khoản tiết kiệm thông thường, nó cũng có thể được cầm có để vay số vốn mới khi chưa đến hạn thanh toán nhưng nó cũng có nhược điểm là CD có hình phạt nếu bạn muốn rút tiền trước hạn( với nhiều ngân hàng là 10% tài sản gốc hoặc có ngân hàng không chấp nhận rút trước hạn)
Với các công dụng như trên, các NHTM đang đây mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi với nhiều loại kì hạn, nhiều mệnh giá ở cả tiền đồng và ngoại tệ, nhiều hình thức lãi suất, nhiều ưu đãi khi tham gia chương trình
1.3 Kỳ phiễu thương mại (Thương phiễu)
Trong thực tế, do có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất — kinh doanh giữa các doanh nghiệp, nên việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu Trong điều kiện thành phẩm của doanh
nghiệpthừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời
hạn nhất định thì ca hai đều có lợi Đó chính là quan hệ tín dụng thương mại Vì vậy, thương phiếu ra đời trên cơ sở quan hệ mua bán chịu giữa các chủ thể trong nền kinh tế
- KN: Thuong phiéu là những giấy nhận nợ ngắn hạn do các công ty lớn pháthành để vay vốn ngắn hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Thương phiếu tồn tại đưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
- Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở
một địa điểm nhất định cho người thụ hưởng
Trang 18
- Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá đo người mua chịu lập, cam kết trả một số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm
nhất định cho người thụ hưởng
- _ Tính chất của thương phiếu:
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền
phải trả, thời hạn trả tiền và người trả tiền
- tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn
việc trả tiền
- tính lưu thông: Thương phiếu được chuyền nhượng từ người thụ hưởng sang người khác bằng phương pháp kí hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm có tính chất này khiến thương phiếu trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực và mệnh giá thương phiếu
-Hiện nay thị trường thương phiếu Việt Nam đang trên đà phát triển, đặc biệt là trong thanh toán quốc tế, các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu cũng được mở rộng tại các NHTM
+Thanh toán quốc tế sử dụng thương phiếu vì luật thương mại của các nước có nhiều điểm khác nhau nên việc vận chuyển hàng có thể diễn ra nhanh chóng hơn rất nhiều so với việc thanh toán cho việc đó Lúc ấy, thương phiếu đóng vai trò như một công cụ ghi nợ, giúp người bán có thể đòi lại người mua dễ đàng hơn Một đặc điểm khác của thương phiếu là người bán có thể yêu cầu người mua cung cấp lại lệnh phiếu trong trường hợp bị hư hỏng hay mất mát vì vậy tính an toàn của nó được tăng lên đáng kể so với việc ghi số thông thường
17 |Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 19lớn thay mặt người nhập khẩu cam kết với người xuất khẩu sẽ trả tiền trong thời hạn), chiết khấu thương phiếu ( hình thức các
NHTM mua lại thương phiếu chưa đáo hạn với mức giá thấp hơn giá trị, với hình thức này NH có thể truy thu tất ca các chủ thể xuất hiện trên tờ thương phiếu nên đây là nghiệp vụ tín dụng an toàn, mang lại nguồn thu không nhỏ cho NH)
-Mua bán thương phiếu nói chung hay nghiệp vụ cấp tín dụng bằng CKTP nói riêng mang lại nhiều lợi ích trong tiến trình mở hiện nay Thứ nhất, nó là một hình thức cấp tín dụng an toàn cho nền kinh tế vì khi cấp tín dụng bằng chiết khấu thương phiếu sẽ đảm bảo nguyên tắc hàng - tiền do khi tiền tung ra từ ngân hàng thì trong nền kinh tế cũng đã có sẵn một lượng hàng hoá tương ứng đang luân chuyền, do đó giảm thiểu áp lực lạm phát Hơn nữa,cũng cần chú ý rằng hàng hoá mua chịu của doanh nghiệp chủ yếu là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho nên, cấp tín đụng bằng hình thức CKTP tạo điều kiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng hàng hoá cho nền kinh tế
Trang 20
1.4 Hợp đồng mua lại
- KN:Hợp đồng mua lại cho phép người đi vay sử dụng một số chứng khoán tài chính như vật thế chấp cho 1 khoản vay tiền
mặt với 1 mức lãi suất nhất định
-Trong hợp đồng mua lại hầu hết các loại chứng khoán đều có thê dùng làm vật thế chấp chắng hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty, cỗ phiếu (là những khoản vay không có thế chấp).Người đi vay sẽ bán cho người cho vay những giấy tờ có giá này, và người bán sẽ thực sự mua lại quyền sở hữu hợp pháp của số chứng khoán đó sau khi kết thúc hợp
đồng Tuy nhiên, quyền sở hữu khi chuyền trực tiếp từ người bán đến người mua (nhà đầu tư),thì Cu-pon (khoản tiền thanh toán
định kỳ trả cho người chủ sở hữu của chứng khoán) vẫn được trả trực tiếp cho người bán
-Có 3 loại thời gian đáo hạn của hợp đồng mua lại : qua đêm, theo định kỳ và đáo hạn mở (không ghi ngày đáo hạn)
- Hợp đồng mua lại là một nguồn vốn quan trọng đối với các NHTM trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản nhất thời, và người cho vay quan trọng nhất ở thị trường này là các công ty lớn, có nguồn vốn dồi đào
2 Thị trường vốn
Công cụ thị trường vốn là công cụ nợ với kỳ hạn thanh toán trên Inăm Chúng có dao động giá rộng hơn nhiều so với công cụ thị trường tiền tệ Với người cho vay đây được coi là những đầu tư thực sự có rủi ro nhưng mức sinh lời cao hơn vì chứng khoán dài hạn thường đem lại lợi tức lớn Với người đi vay thì các công cụ trên thị trường vốn là kênh huy động vốn quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế hiện nay
19 | Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 21
2.1 Trái phiếu
- Trái phiếu là một chứng thư xác nhận nghĩa vụ trả những khoản lãi theo định kỳ và vốn gốc đến hạn của tổ chức phát
hành.Nó có bản chất là một công cụ nợ, phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa người đi vay là nhà phát hành và người cho vay là
các nhà đầu tư
- Các đặc tính kỹ thuật của trái phiếu cần lưu ý khi giao dịch là:
1.Thời hạn của trái phiếu (ngày phát hành, ngày đáo hạn)
2 Mức lãi được trả
3 Kỳ trả lãi (nửa năm hay một năm, hay một lần duy nhất)
4 Địa điểm và loại mệnh giá phát hành
5 Có được niêm yết và chuyển nhượng dễ dàng hay không (tính thanh khoản)
Các loại trái phiếu trên thị trường hiện nay
-_ Trái phiếu chính phủ: là các công cụ vay nợ do Chính phủ phát hành, có kì hạn trên 1 năm như: trái phiếu kho bạc nhà nước, công trái Quốc gia, Trái phiếu NHNN,trái phiếu công trinh,
+Tính đến tháng 8/2012, đã có 430 mã TPCP được niêm yết với tổng giá trị niêm yết đạt hơn 320.000 tỷ đồng, đạt hơn 14%
GDP
Đồ thị 1:Giá trị đấu thầu TPCP từ 2008-2012:
Trang 22
HÌNH 1: GIÁ TRỊ ĐẤU THẦU TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ (Tỷ đồng) +Ta có thể thấy một sự tăng đột biến về
156 544 khối lượng TPCP từ năm 2011, đặc biệt là
năm 2012(tăng 54.6% so với cùng kì năm trước), điều này được giải thích bởi hành vi của 2 chủ thể quan trọng nhất trên thị trường nay:
- Chinh phu: diéu chinh khuén khé phap
lý đôi với thị trường sơ câp với sự ra đời của
Luật Quản lý nợ công, Luật sửa đôi, bô sung
2008 2009 2010 2011 2012 một số điều của Luật Chứng khoán với hàng
Nguồn: Sở Giao dich Chứng khoán Hà Nội loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn từ
chính phủ;Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, Nghị định số 15/2011/NĐ-CP; Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp; Nghị định số 58/2012/NĐ-CP
-_ Các NH hạn chế cho vay vì không nhiều đoanh nghiệp hiện nay đáp ứng được các yêu cầu của Nh khi cho vay, mặt khác tỉ
lệ nợ xấu tăng cao khiến các NH cũng e đè không đám cho vay ra nhiều nên coi đây là một kênh đầu tư an toàn, đám bảo nguồn
Trang 23+Tuy nhiên, mức vốn hóa thị trường trái phiếu hiện nay khoảng % GDP là khá thấp nếu như so sánh với thị trường trái phiếu của các nước trong khu vực (bình quân khoảng 50-70%, trừ Nhật Bản trên 100% GDP ) Điều đó có nghĩa là kênh huy động vốn của Chính phủ thông qua thị trường trái phiếu để đáp ứng nhu cầu đầu tư của ngân sách còn hạn chế và vì vậy cần có sự đầu tư thích đáng hơn cho thị trường này
+.Trén thi trường trái phiếu Chính phủ hiện nay, được chào đón và thu hút nhiềunhất các nhà đầu tư là trái phiếu phát hành
bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế.VN đã tăng gấp rưỡi lượng trái phiếu phát hành, lên 750 triệu USD trị giá trái phiếu thay vì
500 triệu USD như dự tính ban đầu được giao dịch ở thị trường này Lãi suất trái phiếu Chính phủ trong đợt phát hành này đã được điều chỉnh giảm xuống mức 7,125%, thay cho mức dự tính ban đầu là 7,250% Lãi suất này cao hơn so với Trái phiếu kho bạc Mỹ là 4,56 1%/trái phiếu 10 năm.Đây là bước đầu tiên giúp VN bước chân vào thị trường tài chính quốc tế Điều đáng mừng là
cau trái phiêu này cao hơn mong đợi rât nhiêu, các tô chứa xêp hạng uy tín của thê giới cũng xêp hang trái phiêu Việt Nam ở mức
ôn định.S&P đã nâng mức tín nhiệm của VN từ BB- lên BB Moody cũng định mức Ba2 trong khi một tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế nỗi tiếng khác là Fitch cũng xếp VN hạng B+
Trang 24
-Huy động TPCP là kênh thu hút vốn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước trong dài hạn:
+Trai phiéu chính phủ được sử dụng phổ biến trong Nghiệp vụ thị trường mở bởi tính an toàn, khối lượng phát hành, tính én định trong phát hành và khả năng tác động trực tiếp đến giá cả trái phiếu kho bac trên thị trường tài chính
+Lãi suất trái phiếu định hình lãi phiếu trên thị trường
_—ỐỒ —< ——— Lãi suất TPCP 10 năm
10 ——— Lãi suắt cơ bản
Trang 25-Trái phiếu chính quyền địa phương: là các giấy tờ vay nợ do chính quyền địa phương phát hành
+ Năm vừa qua, trái phiếu địa phương cũng không ngừng tăng trưởng,HN và TP HCM đã phát hành 5000 tỉ đồng, Đà Nẵng cũng phát hành 1500 tỉ đồng, kéo theo là hàng loạt các tỉnh thành khác cũng đề xuất lên Bộ Tài chính phát hành trái phiếu
+ Việc phát hành trái phiếu địa phương là 1 con đao 2 lưỡi, 1 mặt nó có thể giúp kinh tế địa phương phát triển nhờ vào các khoản chỉ đầu tư nhưng nếu nó được đùng không đúng cách (đo nhà nước khó kiểm soát khoản tiền này) thì nguy cơ vỡ nợ rất Cao
- Trai khoán công ty: là loại trái khoán dài hạn do các công ty phát hành với lãi suất cao, giúp công ty huy động vốn trong thời gian ngắn Ngoài ra trái khoán công ty còn có khả năng chuyên đổi thành cỗ phiếu Do vậy nó là một công cụ được lưu hành rộng rãi trên thị trường von
+Trái phiếu công ty có ý nghĩa rất lớn với hoạt động huy động vốn kinh doanh của công ty: người sở hữu trái phiếu là chủ nợ, không phải chủ sở hữu vì vậy việc phát hành trái phiếu không làm ảnh hưởng đến công việc quán lí công ty Hơn nữa,vay đài hạn
ở NH, các doanh nghiệp sẽ phải chịu mức lãi suất thả nỗi nhiều bất lợi nhất là khi nền kinh tế vĩ mô có nhiều diễn biến bất thường
trong khi đi vay bằng trái phiếu các doanh nghiệp chỉ phải trả mức lãi suất thả nỗi
+Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn được đánh giá là hầu như chưa phát triển Ở
Việt Nam, đù được phép phát hành 20 năm nay nhưng mới có gần 30 doanh nghiệp phát hành trái phiếu và hầu hết vẫn là các ngân
hàng thương mại và doanh nghiệp bất động sản Hết năm 2012, tổng dư nợ TPDN chỉ đạt 1.07% GDP, việc kinh tế vĩ mô thiếu ôn định trong thời gian qua càng làm cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp khó phát triển, đặc biệt là các trái phiếu với kỳ hạn đài
Trang 26
+Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do:
- trái phiếu công ty chứa đựng rất nhiều rủi ro, có thể kể ra là rủi ro về tín đụng(công ty khôn có khả năng thanh toán), rủi ro
về lạm phát(do mức lãi suất được cố định), rủi ro về thanh lí( khó bán khi cần thiết), rủi ro về các biến cố bất ngò( thiên tai, quy định mới ảnh hưởng tới hoạt động của đông ty),
- Thị trường trái phiếu không dành cho mọi đối tượng DN, mà chỉ đành cho những DN lớn, có uy tín, thương hiệu Thực tế,
nhiều DN chưa có uy tín phát hành trái phiếu, công tác phát hành bị buông lỏng, việc chuẩn bị phát hành rất sơ sài; báo cáo tài
chính không cụ thể; DN không có trong danh mục định hạng tín nhiệm, nên không thu hút được nhiều nhà đầu tư Bên cạnh đó, một số ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng thường áp dụng biện pháp bảo lãnh phát hành (mua hết trái phiếu của DN khi
không có nhà đầu tư mua) Đây thường là hình thức ngân hàng hỗ trợ vốn cho các DN thân thuộc, thông qua việc mua trái phiếu
Điều này cũng dẫn đến việc DN “dựa dẫm”, ỷ lại trong việc phát hành
2.2 Vay thế chấp
-KN: Vay thế chấp là khoản tiền cho các cá nhân hoặc công ty vay đầu tư (mua hoặc xây dựng) vào nhà, đất, hoặc những bất
động sản khác , các bất động sản và đất đó sau đó lại trở thành vật thế chấp để đảm bảo cho chính các khoản vay
-Ở Việt Nam hiện nay, thị trường các khoản vay thế chấp có qui mô khá lớn( các khoản vay thế chấp thương mại và nông
nghiệp), đặc biệt là thị trường các khoán vay thế chấp bằng bất động sản( nhà ở)
-Kháo sát về thực tiễn hoạt động cho vay gần đây nhất của Công ty Tài chính
25 [Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 27
Quốc tế (IFC) và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy 93% các ngân hàng đều muốn nhận bất động sản làm tài sản thế chấp cho các khoản vay thương mại Hiện nay, tổng dư nợ cho vay trực tiếp bất động sản vào khoảng 115 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 9,5% tông dự nợ cho vay của các ngân hàng thương mại Điều này đã dẫn đến khó khăn của hệ thống trung gian tài chính khi thị trường bất động sản đóng băng trong thời gian vừa qua
Ông Lê Xuân Nghĩa, vụ trưởng vụ Chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhànước cho biết: “ Xét về định tính, cho
vay kinh doanh bất động sản chỉ bằng 10% tổng tài sản ngân hàng Tuy nhiên, bất động sản thế chấp lên tới khoảng 50% tổng tài sản ngân hàng, nghĩa là bằng GDP Việt Nam Vì vậy, nếu thị trường bất động sản sụp đồ là nguy hại ngay toàn bộ hệ thống tài chính Vì vậy, chính phủ đã đưa ra một gói giải pháp cương quyết không để thị trường bất động sản tiếp tục bong bóng, mà cũng không để cho nó sụp đỗ Nó phải xì hơi từ từ.”
Nhưng giấy tờ vay thế chấp mới chỉ phổ biến ở thị trường sơ cấp, còn rất hạn chế ở thị trường thứ cấp
Vì thế 18/01/2013, BIDV đề xuất thành lập cơ quan tái cho vay thế chấp nhà ở dưới 2 hình thức hoạt động là tái cho vay
thế chấp và mua lại các khoản nợ cho vay nhà ở thu nhập thấp từ các NHTM
Một cách giải quyết khác đó là chứng khoán hóa các khoản vay thế chấp, nghĩa là quá trình phát hành chứng khoán nợ trên
cơ sở đảm bảo bởi đòng tiền mặt tương lai sẽ thu được từ các bất động sản sẵn có Như vậy với nghiệp vụ chứng khoán hóa, người cho vay không nhất thiết phải nắm giữ rủi ro tín đụng mà có thể chuyển hóa sang cho người khác một cách đễ dàng thông qua việc
phát hành chứng khoán nợ lấy danh mục tín dụng làm tài sản đảm bảo Chính điều này là cơ sở để các ngân hàng đầu tư đã tự tin
bơm vốn vào hoạt động cho vay nợ đưới chuẩn một cách dễ dàng Hy vọng những động thái này sẽ làm tăng tính thanh khoản cho các khoản vay này, giúp cho đòng vốn ứ đọng lâu ngày được lưu thông
Trang 28
2.3 Vay thwong mai va tiéu dung
-KN:Đây là các khoản vay dành cho các công ty kinh đoanh và người tiêu dùng, chủ yếu là đo các ngân hàng thương mại cung cấp Riêng các khoản vay tiêu dùng cũng có thể do các công ty tài chính cung cấp
-Các khoản vay này thường không chuyên nhượng được nên chúng kém lỏng nhất trong các công cụ tài chính trên thị trường vốn
-Mặc dù các sản phẩm cho vay tiêu dùng đã xuất hiện tại VN được gần 10 năm, đặc biệt kể từ năm 2007 với sự tham gia của
các Cty tài chính tiêu dùng nước ngoài, nhưng phân khúc ngân hàng bán lẻ này đường như vẫn chưa khai thông được hết các tiềm năng của nó
Bảng 2: dư nợ vay tiêu dùng từ 2007-2012:
Dac-07 Sep-08 ị Dee-09 ; Dec-10 Jun-11 _Dee-11 _ Jun-12 :
ames Du nacho way (tiUSD) ——% dutnd cho vay Liêu dùng/GDP
—s— % khodn way tiêu dùng/tổng đư nợ
27 \Nhom 2 - Ly thuyét Tai chính tiển tệ
Trang 29
-Thi trường này được coi là tiềm năng trong các năm tiếp theo: với gần 90 triệu dân có cơ cấu dân số trẻ - cơ cấu sử dụng các sản phẩm tài chính tiêu dùng chiếm tỉ trọng lớn, và một mức thu nhập ngày càng được cải thiện cho hơn 51% dân số đang ở độ tuổi “vàng”, tiêu đùng của các hộ gia đình đóng góp 65% vào GDP của Việt Nam, hơn nữa các khoản vay mà người tiêu dùng sử
dụng ban đầu chỉ mới là một sự xâm nhập tỉ lệ thắp(Tổng các khoản vay tiêu đùng của VN tại thời điểm 31/12/2009 là 7,2 USD,
chiếm 7,8% GDP danh nghĩa và thấp hơn nhiều so với các nước như Indonesia (10%), Malaysia (42,5%) và Thái Lan (18%)) Thị trường này đặc biệt được đây mạnh trở lại trong mấy tháng gần đây, khi việc cho vay các DN và tổ chức lớn của hệ thống ngân hàng trở nên khó khăn hơn, với độ rủi ro tín dụng thấp hơn và các tiềm năng sẵn có, đó là hướng đi mới cho các NHTM trong các năm tiếp theo
3 Kết luận
Mỗi công cụ tài chính đều có ưu nhược điểm riêng, chúng góp phần cho dòng vốn trên thị trường luân chuyển đễ dàng từ
người thừa vốn tới người cần vốn, từ đó giảm thời gian của chu kì sản xuất, giảm chi phí huy động vốn, giúp nền kinh tế phát triển
nhanh Sử dụng các công cụ này thay cho tiền mặt trong thanh toán là một cách tiết kiệm tiền mặt, giảm ứ đọng tiền mặt, tác động tích cực tới lạm phát Các công cụ tài chính là công cụ chủ yếu của chính phủ trong nghiệp vụ thị trường mở cũng như thu hút ốn
bù đắp thâm hụt ngân sách, ôn định kinh tế vĩ mô
Bởi những vai trò to lớn của nó, để phát triển kinh tế bền vững nhất thiết phải tạo ra thị trường các công cụ tà chính minh bạch, tăng các công cụ tài chính cả về lượng và tính thanh khoản
Giải pháp:
Trang 30
-Hoàn thiện các văn bản pháp luật, quy định hướng dẫn, hành lang pháp lí hoàn thiện thị trường, cũng như cho từng loại công
cụ, có các biện pháp khuyến khích sử dụng các công cụ tài chính
- Với trái phiếu chính phủ, tín phiếu: công bố ra thị trường kế hoạch phát hành trái phiếu trong năm theo kỳ hạn và phương thức phát hành ngay từ đầu năm Tiếp tục công bố lịch biểu phát hành chỉ tiết và thực hiện đầy đủ Nghiên cứu và đưa ra đường cong lợi suất của các loại trái phiếu trên thị trường
- Hoàn thiện hành lang pháp lí cho thương phiếu: đưa ra các văn bản hướng dẫn nghị định, giải thích luật, hướng dẫn chỉ tiết cho cácdoanh nghiệp Ưu đãi khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các loại giấy tờ có giá thay cho tiền mặt trong thanh toán qua thuế
-Lập ra tổ chức đánh giá tín nhiệm,tạo lập lòng tin vào các công cụ tài chính
e Thanh lap tổ chức định mức tín nhiệm của các công ty, sự phát triển của các loại chứng khoản để định hướng thị
trường, đồng thời để lành mạnh hóa thị trường, bảo vệ các nhà đầu tư.Tổ chức này phải đảm bảo tính cộng đồng và khách
quan bằng cách thành lập qua công ty cỗ phần có giứoi hạn tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ
-Trang bị kiến thức cho các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, mở rộng ra là toàn xã hội về các công cụ tài chính
e Tang cường đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lí thị trường, và nguồn nhân lực đang và sẽ tham gia thi trường
e©_ Mở các hội thảo, khuyến khích các nghiên cứu trong lĩnh vực các công cụ tài chính
e Dan dần đưa vào các công cụ tài chính phái sinh: hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai,
29 | Nhóm 2 - Lý thuyết Tài chính tiển tệ
Trang 31Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Ti frường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn
vốn tiết kiệm nhồ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát
triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các đự án đầu tư
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường § ơợ cấp và thứ cấp do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đôi đỗi Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cỗ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác thời hạn (rên 1 năm
2 Đặc điển chủ yếu của Thị trường chứng khoán:
Được đặc trưng bởi hình thức đài chính trực tiếp, người cần vốn và người cung cấp vốn đều trực tiếp tham øia thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính;
Là thị trường gần với Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Mọi người đều tự do tham gia vào thị trường Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán, mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cưøg — câu:
Về cơ bản là một fhị trường liên tuc, sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thê được mua
đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đám bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ thành tiền mặt bắt cứ lúc nào họ muốn
Trang 32
II VAI TRO CUA THI TRUONG CHUNG KHOAN TOI KINH TE Vi MO CUA VIET NAM
1 Tác động tích cực của thị trường chứng khoán
- TTCK Việt Nam di vào hoạt động từ tháng 7/2000, qua hơn 11 năm hoạt động, TTCK đã từng bước trở thành kênh dẫn vôn trung và dài hạn của nên kinh (tê, ho trợ tien trình cô phân hoá và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đông thời góp phân huy động vôn cho ngân sách nhà nước (NSNN) và cho đâu tư phát triên góp phân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cụ thể, TTCK đã tạo điều kiện cho Chính phủ, các doanh nghiệp huy động vốn cho đầu tư phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh Thông qua thị trường, Chính phủ đã huy động được 625 nghìn tỷ đồng trái phiếu; doanh nghiệp đã huy động được 203 nghìn tý đồng thông qua đâu giá cỗ phần hoá và phát hành cô phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư góp phần làm tăng quy mô von đầu tư xã hội và thúc đây tăng trướng kinh tế
TTCK Việt Nam: Vốn hóa và mức huy động vốn qua TTCK hàng năm
(Nguôn: Nguyễn Sơn, Kinh tế 2010-2011 Việt Nam và Thế giới; và thu thập của tác giả)