MỞ ĐẦU Tại Đồng Bằng Sơng Cửu Long ĐBSCL các khu vực nơng nghiệp đã sử dụng một lượng lớn phân bĩn, thuốc trừ sâu cĩ chứa arsenic đã gĩp phần thúc đẩy phát tán arsenic vào mơi trường nướ
Trang 1LÊ VĂN HÀ
KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM ARSENIC TRONG NƯỚC BỀ MẶT Ở HUYỆN TÂN CHÂU, CHỢ MỚI, THỊ XÃ CHÂU ĐỐC, THÀNH PHỐ LONG
XUYÊN TẠI TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã ngành: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHÙNG THÚY PHƯỢNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2- Chân thành cảm ơn TS Phùng Thúy Phượng, Trường Đại Học Khoa Học
Tự Nhiên TP HCM đã tận tình hướng dẫn trong quá trình thực hiện luận văn;
- Chân thành cảm ơn BS.CKII Vũ Trọng Thiện, Phó Viện trưởng Viện Vệ Sinh Y tế Công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian thực hiện luận văn;
- Chân thành cảm ơn Ths Đặng Ngọc Chánh, Trưởng Khoa sức khỏe cộng đồng - Viện Vệ Sinh Y tế Công cộng, đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện luận văn;
- Chân thành cảm ơn các Y/BS của Viện Vệ Sinh Y tế Công cộng, là những người đã hỗ trợ và giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn;
- Chân thành cảm ơn Bs Phạm Hồng Dũng, Trưởng Khoa sức khỏe cộng đồng – Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Tỉnh An Giang và các Y/BS trong khoa, các Y/BS ở địa phương tại nơi lấy mẫu đã giúp đỡ trong các đợt khảo sát thực địa và lấy mẫu, điều tra hộ gia đình;
Tp Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 01 năm 2011
Lê Văn Hà
Trang 3MỞ ĐẦU
Tại Đồng Bằng Sơng Cửu Long (ĐBSCL) các khu vực nơng nghiệp đã sử dụng một lượng lớn phân bĩn, thuốc trừ sâu cĩ chứa arsenic đã gĩp phần thúc đẩy phát tán arsenic vào mơi trường nước mặt, do đĩ mơi trường cĩ nhiều nguy cơ bị ơ nhiễm Bên cạnh đĩ việc người dân khoan giếng tự phát, cùng với việc xây dựng các khu cơng nghiệp, nhà máy, xí nghiệp nên nguy cơ ơ nhiễm arsenic trong mơi trường nước là đáng quan tâm Tại khu vực thành thị người dân sử dụng nước sạch
từ các nhà máy nước cấp tập trung – cĩ đầu tư quy trình xử lý và kiểm sốt chất lượng nước, chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 25%, phần lớn người dân khu vực nơng thơn
sử dụng nước từ lưu vực nước sơng Mêkơng cho mục đích sinh hoạt và ăn uống khá phổ biến (chiếm tỷ lệ trên 70%)
Những nghiên cứu gần đây cho thấy dấu hiệu ơ nhiễm arsenic trong nước ngầm tại một số tỉnh ở ĐBSCL như Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Bến Tre, …rất cao Kết quả khảo sát của Viện Vệ sinh – Y tế Cơng cộng (2002 - 2005) cho thấy một số tỉnh thuộc ảnh hưởng của sơng Mêkơng đã cĩ dấu hiệu ơ nhiễm arsenic trong nước ngầm Trên địa bàn tỉnh An Giang trong tổng số 2.699 mẫu khảo sát cĩ 545 mẫu, chiếm 20,18% với hàm lượng arsenic cao hơn 10 ppb (Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống, ban hành kèm theo Quyết định số: 1329/2002/BYT - QĐ) An Giang là địa phương cĩ tỷ lệ ơ nhiễm arsenic cao nhất Tại một số Huyện như An Phú, Phú Tân, Tân Châu thuộc tỉnh An Giang và Cao Lãnh, Tam Nơng, Thanh Bình thuộc tỉnh Ðồng Tháp, hàm lượng arsenic trong nước ngầm của các giếng khoan là từ 830 ppb đến 1070 ppb, cao hơn gấp hàng trăm lần
so với tiêu chuẩn cho phép là 10 ppb Đặc biệt các xã thuộc huyện An Phú tỉnh An Giang cĩ 97,30% số giếng điều tra bị ơ nhiễm arsenic với hàm lượng cao hơn 100 ppb (253 mẫu trên tổng số 260 mẫu khảo sát) mức ơ nhiễm nặng và nguy hiểm, kế đến là huyện Phú Tân và Tân Châu
Trang 4Kết quả nghiên cứu xác định trường hợp nhiễm độc arsenic do sử dụng nước ngầm tại huyện Tri Tôn và An Phú đã phát hiện một số trường hợp nhiễm độc arsenic: có hàm lượng arsenic trong tóc và nước tiểu cao hơn hẳn so với tiêu chuẩn quy định của Bộ Y Tế, một số đã có biểu hiện của bệnh arsenic ở giai đoạn đầu – dày sừng lòng bàn tay, bàn chân, tăng giảm sắc tố da [13]
Trong khi các nghiên cứu về sự ô nhiễm arsenic trong nước mặt (sông, kênh, rạch) tại khu vực này chưa được nghiên cứu, đề tài “Khảo sát hiện trạng ô nhiễm arsenic trong nước bề mặt ở Huyện Tân Châu, Chợ Mới, Thị Xã Châu Đốc, TP Long Xuyên tại tỉnh An Giang” được tiến hành để có cơ sở đánh giá mức độ ô nhiễm ở 4 huyện tại tỉnh An Giang thuộc lưu vực sông Mêkông, cũng như cảnh báo sớm những tác hại do ô nhiễm arsenic trong nước mặt tới sức khỏe cộng đồng
Trang 5MỤC LỤC
Mục lục i,ii
Các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các biểu đồ iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN 3
1.1 Khái quát về arsenic 3
1.1.1 Giới thiệu tổng quan 3
1.1.2 Nguồn gốc ô nhiễm arsenic trong môi trường 5
1.1.3 Ảnh hưởng của nhiễm độc arsenic đến sức khỏe 9
1.1.4 Cơ chế gây độc 13
1.2 Tình hình nhiễm độc arsenic trên Thế Giới và Việt Nam 15
1.2.1 Tình hình nhiễm độc arsenic trên Thế Giới 15
1.2.2 Tình hình nhiễm độc arsenic tại Việt Nam 16
1.3 Một số phương pháp giảm thiểu khả năng nhiễm độc arsenic trong nước sinh hoạt và ăn uống 18
1.4 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội tỉnh An Giang 21
1.4.1 Vị trí địa lý và đơn vị hành chính 21
1.4.2 Sông ngòi 23
1.4.3 Khí hậu, thủy văn 23
1.4.4 Tài nguyên đất 24
1.4.5 Dân số 25
1.4.6 Thành tựu kinh tế - xã hội 25
Chương 2 – MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Mục tiêu 27
2.2 Nội dung 27
Trang 62.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.4 Địa điểm nghiên cứu 27
2.5 Đối tượng nghiên cứu 27
2.6 Phương pháp nghiên cứu 28
Chương 3 - KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 37
3.1 Kết quả, đánh giá và bản đồ ô nhiễm As trong nước bề mặt (sông, kênh, rạch) ở 4 huyện Tân Châu, Chợ Mới, TX Châu Đốc, TP Long Xuyên tại tỉnh An Giang 37
3.1.1 Kết quả khảo sát ô nhiễm arsenic theo từng vị trí lấy mẫu 37
3.1.2 Tổng hợp đánh giá ô nhiễm arsenic trong nước bề mặt ở huyện Tân Châu, Chợ Mới, TX Châu Đốc, TP Long Xuyên 53
3.2 Kết quả điều tra tình trạng nhiễm độc arsenic (arsenicosis) tại địa bàn khảo sát ô nhiễm arsenic 56
3.3 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm arsenic trong nước sinh hoạt và ăn uống, bảo vệ sức khỏe cộng đồng 60
3.3.1 Các giải pháp kinh tế - xã hội 60
3.3.2 Các giải pháp kỹ thuật – xử lý nước ô nhiễm arsenic 61
Chương 4 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
4.1 Kết luận 62
4.2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 7CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ARSENIC:
1.1.1 Giới thiệu tổng quan:
Arsenic (hay còn gọi là thạch tín) là một hợp chất vô cơ, nếu có lẫn tạp chất thì màu hơi hồng hoặc vàng Ở dạng tinh khiết arsenic có màu trắng không mùi, vị hơi ngọt và rất độc, ít tan trong nước Arsenic (As) là nguyên tố tự nhiên, có mặt ở khắp mọi nơi trên trái đất Là nguyên tố vi lượng cần thiết đối với sự sinh trưởng và phát triển của động, thực vật song tính độc của arsenic rất cao và được xếp vào nhóm kim loại nặng cực độc Tác hại của arsenic lên thực vật là giảm quá trình quang hợp, rụng lá cây Đối với người và động vật sau khi ăn, uống phải lượng arsenic vô cơ từ 0,3 – 30 mg sẽ xảy ra nhiễm độc cấp trong vòng từ 30 – 60 phút, thường dẫn đến tử vong sau vài giờ hoặc sau vài ngày Nếu được cứu sống vẫn có thể để lại các di chứng nặng nề về não, suy tủy, suy thận, tổn thương đa dây thần kinh ngoại biên Khi sử dụng lâu dài nguồn nước bị nhiễm arsenic để ăn, uống sẽ có khả năng nhiễm độc arsenic mãn tính, gây tác hại tới chức năng của nhiều hệ cơ quan: thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, sinh sản Quá trình phát triển bệnh âm ỉ kéo dài Mức độ bệnh phụ thuộc vào liều lượng, thời gian tiếp xúc và độ nhạy cảm của từng cá thể [7], [24], [32]
Arsenic và vòng tuần hoàn của As:
Phản ứng oxy hóa khử có dạng cơ bản sau:
H3As+3O3 + H2O ↔ H3As+5O4 + 2 H+ + 2e- Trong vỏ trái đất, nồng độ As trung bình khoảng từ 2÷10 mg/kg nằm trong thành phần của nhiều loại khoáng, quặng như phosphat với khoáng As2S3, FeAsS,
As2O3 Trong thủy quyển, As thường ở dạng muối arsenat hoặc arsenic Trong sinh quyển As ở dạng metyl arsenic do chuyển hóa sinh học Hợp chất As trong khí quyển là do các quá trình luyện quặng 50.103 tấn/năm, sản xuất năng lượng 5.103tấn/năm, sản xuất ximăng 3,2.103 tấn/năm Các bụi trong khí quyển chứa As và nồng độ lớn hơn 300 lần so với nồng độ As trong vỏ trái đất Trên mặt đất, As ở
Trang 8dạng AsO33- hoặc AsO43- là do bụi công nghiệp lắng đọng Nhờ tuần hoàn tự nhiên
do quá trình phong hóa, vận chuyển theo dòng chảy mà khoảng chừng 20.103tấn/năm As được biến đổi chuyển hóa Hợp chất arsenic As5+ được khử bằng vi sinh
về As3+ rồi sau đó được metyl hóa bởi nấm hoặc vi khuẩn Quá trình metyl hóa của
As3+ dưới điều kiện môi trường có thể theo nhiều cơ chế khác nhau Các dimetyl- và trimetyl arsenic khuếch tán như là chất dễ bay hơi và là chất rất độc đi vào khí quyển, sẽ được oxy hóa thành các hợp chất As hữu cơ hóa trị +5 Sau đó lại tiếp tục tham gia vào chu kỳ oxy hóa khử [8]
Cấu tạo arsenic [3]
− Nguyên tố nhóm V thuộc hệ thống tuần hoàn Mendeleep
Trang 9− Nhiệt độ nóng chảy: 817,0 0C (1090,15 K, 1502,6 0F)
− Nhiệt độ sôi: 613,0 0C (886,15 K, 1135,4 0F)
− Phân loại: Semi-metallic ( bán kim loại )
Ứng dụng:
− Các hợp chất arsenic dùng làm chất diệt nấm, bảo quản gỗ
− Dùng để sản xuất thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu
− Arsenic có thể dùng để chế tạo hợp kim Arsenic được thêm vào một số hợp kim với lượng 0,3 – 0,5% để tăng độ cứng và chịu nhiệt
− Trong công nghiệp arsenic dùng để tẩy màu xanh do sắt gây ra
− Arsenic cũng được dùng trong sản xuất thuốc nhuộm, xà phòng, chế tạo dung dịch tắm cho cừu, bảo quản da thú,…
− Hợp chất arsenic cũng được làm nhân tố kích thích tăng trưởng ở gia súc, gia cầm
− Một số hợp chất như Gallium arsenic và Indium arsenic được dùng để sản xuất vật liệu bán dẫn như các vi mạch điện và transtor…
− Ngoài ra, arsenic còn được dùng làm “chất tìm đường” hay phân tử chỉ thị khi phương pháp thăm dò hóa học để nhận biết trầm tích khoáng [11]
1.1.2 Nguồn gốc ô nhiễm arsenic trong môi trường
Arsenic tồn tại trong một chu trình kín: Từ các quá trình phong hóa các đá chứa arsenic, từ các hoạt động của con người sẽ thải một lượng arsenic vào trong môi trường đất, không khí và nước Các dạng arsenic trầm tích trong môi trường nước (dạng hòa tan, hấp thụ lơ lửng), một phần trở lại môi trường đất, không khí, một phần đi vào các vi sinh vật thủy sinh, đi vào cơ thể con người Sự ô nhiễm các đối tượng môi trường như đất, không khí, sẽ dẫn đến sự ô nhiễm trong môi trường nước [6]
Ô nhiễm arsenic do quá trình tự nhiên:
Arsenic phát tán vào môi trường tự nhiên do quá trình nhiệt dịch, tạo quặng sulphur, đa kim, vàng; hoạt động núi lửa; quá trình phong hóa và phân rã các hợp chất vô cơ và hữu cơ, cũng như đất phát triển trên chúng dẫn đến sự dịch chuyển
Trang 10arsenic vào nguồn nước Sau đó, arsenic bị hấp thu bởi các hạt sét, các trầm tích thực vật và cuốn trôi theo phù sa các con sông
Quá trình xói mòn, phong hóa làm giàu arsenic trong quặng oxyhydroxit sắt sau
đó là những quá trình bù đắp phù sa, trầm tích hóa, dẫn tới hình thành trầm tích chứa arsenic trong các địa tầng [19]
Người ta xác định nguồn gốc gây ô nhiễm chủ yếu của arsenic đối với môi trường nước là do quá trình khử hóa, hòa tan các khoáng chất giàu arsenic trong đất vào nguồn nước ngầm Do đó, những vùng có nhiều khoáng giàu arsenic thì khả năng gây ô nhiễm nguồn nước càng cao [10]
Sự tuần hoàn toàn cầu của arsenic cho thấy rằng thiên nhiên đã đưa vào bầu khí quyển 45.000 tấn/năm Trong khi nguồn nhân tạo chỉ đưa vào bầu khí quyển 28.000 tấn/năm Arsenic là nguyên tố dễ bị oxy hóa khử, sự hiện diện và vận chuyển của nó phụ thuộc vào sự tương tác của các yếu tố địa hóa gồm: Phản ứng oxy hóa khử, pH,
sự hoạt động của vi sinh vật, các loại ion khác và sự hòa tan trong nước mặt hay nước ngầm [11]
Trang 11Hình 1.2: Sơ đồ tuần hoàn của As trong môi trường [1]
Nước mặt lục địa, As5+
Động vật bám đáy
Con người và hoạt động nhân sinh
Sinh vật dưới nước
Trầm tích
Đá trầm tích
Nước biển Hoạt động
núi lửa, As
Trang 12Ô nhiễm arsenic do hoạt động nhân sinh:
Quá trình sản xuất arsenic trên thế giới phát triển mạnh vào những năm
1940, năm 1943 sản xuất khoảng 7.000 tấn/năm Đến khi những thuốc trừ sâu có chứa arsenic dần dần được thay thế bởi những thuốc trừ sâu khác thì sự sản xuất arsenic giảm dần, đến năm 1975 trên thế giới có khỏang 60.000 tấn [11]
Nguồn tạo ra arsenic phát sinh chủ yếu từ các quá trình sản xuất nông, công nghiệp và một số hoạt động khác:
* Trong công nghiệp:
Arsenic xâm nhập vào môi trường qua nguồn nước thải công nghiệp, khí thải, từ
sự lắng đọng không khí xử lý các khoáng arsenic, sự đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch, các chất thải rắn trong công nghiệp…
- Các quá trình xử lý quặng arsenic, chiết xuất arsenic từ các quặng chứa nó, luyện kim màu Cu, Pb, Zn, Ca, Sb; Chế tạo, sản xuất các hóa chất bảo vệ thực vật
- Trong kỹ nghệ da, làm rụng lông ở da, xử lý các con thú nhồi rơm và bảo quản các sản phẩm thuộc da
- Trong kỹ nghệ thủy tinh, một số hợp chất arsenic được dùng để cải tiến chất lượng sản phẩm [4]
* Trong nông nghiệp:
Arsenic phức hợp được dùng làm chất diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ như trioxid arsenic; các hợp chất muối của arsenic với Pb, Ca, Na: Arsenat natri, arsenat canxi, arsenat mononatri metan, chất làm khô giúp cho bông vải được thu hoạch dễ dàng hơn sau khi rụng lá
Ước lượng trên thế giới khoảng 8.000 tấn arsenic/năm được dùng làm thuốc diệt cỏ; 12.000 tấn arsenic/năm để làm khô bông vải và 16.000 tấn arsenic/năm để bảo quản
gỗ Tỷ lệ dùng thuốc sát trùng từ 2 - 4 kg arsenic/ha, hay 6 - 12 kg dimethylarsenic acid/ha Một lượng nhỏ arsenic hữu cơ dùng làm thức ăn thêm cho gia súc ở mức 10 -
15 mg/kg arsenic, để thúc đẩy sự tăng trưởng của gà tây và heo [2]
Trang 131.1.3 Ảnh hưởng của nhiễm độc arsenic đến sức khỏe:
Mặc dù rất độc nhưng trong đông y arsenic (thạch tín) được sử dụng với liều lượng nhỏ làm thuốc kích thích ăn ngon, kích thích sự trao đổi chất, tác dụng như thuốc trợ lực, bồi dưỡng (thường sử dụng trong các thành phần thuốc bổ) trị các bệnh biến ăn, thiếu máu, suy nhược Trong tây y ghi nhận thạch tín có tác dụng làm
dễ thở trong hen suyễn, do có thể bài tiết qua da nên thạch tín còn được dùng làm thành phần trong một số thuốc trị bệnh về da như: Chàm khô, vẩy nến Khi ngành hóa hữu cơ phát triển thì thạch tín đã được đưa vào các hợp chất hữu cơ nhằm loại bớt các tính độc để sử dụng làm thuốc điều trị cho người, trước khi các kháng sinh được tìm thấy, các hợp chất hữu cơ chứa thạch tín được sử dụng để điều trị bệnh giang mai (thuốc Arspheamine), bệnh amid (thuốc Stovrasl hay Carbasone)…[4] Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã có những công trình nghiên cứu dược lý học về thạch tín cho thấy những tác dụng phụ về lâm sàng và sinh học rất nghiêm trọng có mối liên hệ giữa ung thư phổi và một vài dạng ung thư khác (bàng quan, da,…) khi điều trị bằng thạch tín Dược điển của nhiều nước đã loại trừ thạch tín trong điều trị [14]
Độc tính của arsenic là khi hấp thụ vào cơ thể nó làm bất hoạt các men (enzyme)
có chứa nhóm chức –SH (Sulphydryl) bằng cách gắn nguyên tố arsenic vào Khi uống arsenic vào cơ thể thì nó được hấp thụ rất nhanh nhưng lại thải trừ rất chậm và không hoàn toàn, một phần được tích tụ lại các bộ phận của cơ thể Các triệu chứng thường gặp ở người khi bị nhiễm độc arsenic thường xuất hiện rất chậm những tổn thương về da, thường gặp hiện tượng dày sừng kết hợp với dày da, dày sừng có thể bắt đầu bằng những hạt sẩn như hạt tấm, hơi nổi gồ lên mặt da tùy theo mức độ
Trang 14bệnh nặng, nhẹ mà số lượng các hạt nhiều hay ít, vị trí tìm thấy ở lòng bàn tay, bàn chân có tính chất đối xứng hai bên Đôi khi còn thấy ở những vùng kín như: Lưng, bụng, cẳng chân,… Các hạt dày sừng tiến triển, lan rộng thành mảng Da vùng tổn thương có màu vàng, có kèm theo vết nứt nẻ hoặc “đục lổ sừng” lõm sâu trong vùng
da bị sừng hóa, bệnh nhân cảm thấy đau Các biểu hiện da đục lổ sừng chỉ thấy được sau 5 năm đến 12 năm [36] Việc sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm trong thời gian dài có thể dẫn tới những ảnh hưởng sức khỏe và nhiều dạng ung thư khác nhau
Ở dạng hợp chất vô cơ arsenic rất độc nếu sử dụng với liều lượng cao, chỉ 0,06g arsenic vào cơ thể cũng đủ gây ngộ độc Ảnh hưởng arsenic lên sức khỏe con người nghiêm trọng nhất là gây nhồi máu cơ tim, thiếu máu cục bộ cơ tim và não, đột biến gen, sẩy thai…[24], [31] Trong tự nhiên arsenic thường đi cùng S, hợp chất arsenic rất độc, được xếp vào nhóm 1 Arsenic được hấp thụ vào cơ thể theo đường hô hấp,
ăn uống hoặc qua da: 75% được thải ra nước tiểu, phần còn lại vào gan, thận, tim, rồi đến xương, lông, tóc, móng, não Arsenic gây ung thư da, phổi, xương, làm sai lệch nhiễm sắc thể
Những triệu chứng biểu hiện đầu tiên thường gặp của nhiễm độc arsenic là tăng sắc tố trên da với các nốt thâm đen nhỏ, có thể xuất hiện khắp nơi trên cơ thể người, nhưng đặc trưng nhất là ở những vùng được che kín Cùng với tăng sắc tố, nhiễm độc arsenic mạn tính còn có biểu hiện giảm sắc tố Các nốt giảm sắt tố thường xuất hiện ở ngực, bụng, lưng… Sau khoảng 12 năm có thể chuyển thành ung thư da và việc tiếp xúc với arsenic ở nồng độ cao trong thời gian từ 20 – 30 năm có thể dẫn đến ung thư các cơ quan nội tạng [35]
Trang 15Hình 1.3: Các con đường As xâm nhập vào cơ thể con người [21] Một số nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, Anh, Trung Quốc chỉ ra rằng nhiễm độc arsenic qua đường hô hấp và tiêu hóa có thể dẫn đến các tổn thương da như tăng hoặc giảm sắc tố da, tăng sừng hóa và ung thư da, phổi, bàng quan, thận, mũi, ruột Ngoài ra, arsenic còn có thể gây ra các bệnh: To chướng gan, đái tháo đường, xơ gan Khi cơ thể bị nhiễm độc arsenic, tùy theo mức độ và thời gian tiếp xúc sẽ biểu hiện những triệu chứng với những tác hại khác nhau, chia ra làm 2 trường hợp sau:
Nhiễm độc cấp tính: [7], [37]
* Qua đường tiêu hóa: Arsenic vô cơ hấp thu tốt qua đường tiêu hóa và hấp thu
kém hơn ở đường hô hấp và rất kém qua da Khi nuốt arsenic anhydryd hoặc arsenat chì vào cơ thể (quá 100 mg) sẽ biểu hiện các triệu chứng nhiễm độc như bỏng và khô miệng, rối loạn tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy nhiều và cơ thể bị mất nước…) Bệnh cũng tương tự như bệnh tả có thể dẫn tới tử vong trong vòng từ 12 –
18 giờ Trường hợp sống sót thì nạn nhân có thể bị viêm da tróc vảy và viêm dây
biến khoáng sản: Đa
kim, than và dầu mỏ
Luyện kim, cơ khí
Nhiệt điện và đốt
than dầu
Giao thông vận tải
Ô nhiễm thực phẩm
Con người
Trang 16thần kinh ngoại vi Một tác động đặc trưng khi bị nhiễm độc arsenic dạng hợp chất
vô cơ qua đường miệng là sự xuất hiện các vết màu đen và sáng trên da
* Qua đường hô hấp: Hít thở không khí có bụi, khói hoặc hơi chứa arsenic
+ Kích ứng đường hô hấp với biểu hiện ho, đau khi hít vào và khó thở
+ Rối loạn thần kinh như: Nhức đầu, chóng mặt, đau các chi
+ Hiện tượng tím tái ở mặt được cho là do tác dụng gây liệt của arsenic đối với các mao mạch
+ Các tổn thương ở mắt như viêm da mí mắt, viêm kết mạc
có các biểu hiện khác như tê các đầu chi, đau các chi, bước đi khó khăn, suy nhược
cơ (chủ yếu ở các cơ duỗi ngón tay và ngón chân)
+ Nuốt phải hoặc hít phải arsenic trong không khí một cách thường xuyên, liên tiếp
có thể dẫn đến các tổn thương thoái hóa gan, từ đó có thể dẫn tới xơ gan
+ Tác động đến hệ tim mạch do arsenic có thể tác động tới cơ tim (biểu hiện ở các rối loạn điện tim)
Trang 17Giai đoạn 3:
+ Ung thư da có thể xảy ra khi tiếp xúc với arsenic như thường xuyên nuốt phải arsenic trong thời gian dài hoặc da liên tục tiếp xúc với arsenic
+ Rối loạn toàn thân ở người tiếp xúc với arsenic như làm gầy mòn, chán ăn
Ngoài các tác dụng toàn thân nói trên, arsenic còn gây ra tác dụng cục bộ trên cơ thể người tiếp xúc do tính chất ăn da của các hợp chất arsenic, với các triệu chứng như loét da gây đau đớn ở những vị trí tiếp xúc trong một thời gian dài với arsenic hoặc loét niêm mạc mũi, có thể làm thủng vách ngăn mũi
Trong môi trường sinh thái, các dạng hợp chất arsenic hóa trị 3 [arsenic (3)] có độc tính cao hơn dạng hóa trị 5 Tính độc arsenic phụ thuộc vào dạng tồn tại (tức công thức hóa học hợp chất), trạng thái oxy hóa và độ tan của nó trong môi trường sinh học Mức độ độc của arsenic giảm dần theo thứ tự arsenicH3 > arsenic (3) vô
cơ > arsenic (3) hữu cơ > arsenic (5) vô cơ > arsenic (5) hữu cơ > các hợp chất arsenicH4 Arsenic (3) độc gấp 10 lần arsenic (5) Môi trường khử là điều kiện thuận lợi cho nhiều hợp chất arsenic hóa trị 5 chuyển sang hóa trị 3 Trong những hợp chất acid arsenic thì hợp chất H3AsO3 độc hơn H3AsO4 dưới tác dụng của các yếu tố oxy hóa trong môi trường thì H3AsO3 có thể chuyển thành dạng H3AsO4 Thế oxy hóa khử, độ pH của môi trường và lượng kaloit giàu Fe3+… là những yếu tố quan trọng tác động đến quá trình oxy hóa – khử của các hợp chất arsenic trong tự nhiên, arsenic có khả năng kết tủa cùng các ion sắt những yếu tố này có ý nghĩa làm tăng hay giảm độc tính của các hợp chất arsenic trong môi trường sống [32]
Trang 18SH O S [Enzim] + As_O- [Enzim] As_O- +2OH-
Các enzim sản sinh năng lượng của tế bào trong chu trình của acid citric bị ảnh hưởng rất lớn Bởi vì các enzim bị ức chế do tạo phức với As+3, dẫn đến quá trình tạo ra các phân tử ATP bị ngăn cản
As+3 ở nồng độ cao còn làm đông tụ các protein do sự tấn công liên kết của nhóm sulphur bảo toàn các cấu trúc bậc 2 và bậc 3
CH2_OPO32- phosphat CH2_OPO32- quá trình phụ
2-Glixerandehyd-3-phosphat 1,3- diphosphoglixerin
CH2OPO3
2-H_C_OH C=O O- O_As = O
Trang 191.2 TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC ARSENIC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.2.1 Tình hình nhiễm độc arsenic trên thế giới:
Hiện nay vấn đề ô nhiễm arsenic trong nguồn nước không còn là vấn đề riêng của nước nào mà đã trở thành mối quan tâm của toàn thế giới Tại hội nghị về arsenic ở Bắc Kinh năm 1999, San Diago (Mỹ) năm 2000 có tới 50 nước tham gia
và đặc biệt là tình hình nhiễm độc arsenic của hàng triệu người do sử dụng nguồn nước nhiễm arsenic tại Bangladesh đã nói lên tầm quan trọng của vấn đề này [29] Theo ước tính có khoảng hàng chục triệu người trên thế giới đang sống trong những môi trường giàu arsenic có nguy cơ đe dọa đến sức khỏe và tính mạng [34] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), riêng ở Bangladesh ước tính khoảng 80 triệu người có thể bị ảnh hưởng do hàm lượng arsenic rất cao có trong hệ thống nước ngầm trên toàn lãnh thổ của nước này và WHO xem đây là “vụ ngộ độc lớn nhất trong lịch sử loài người” Đầu tiên, những vết tím xuất hiện trên da những bệnh nhân bị nhiễm độc Sau khi loại trừ những nguyên nhân khác, thì người ta bắt đầu nghi ngờ nguồn nước đã sử dụng Sau đó việc phân tích các mẫu nước được tiến hành và chuẩn đoán các triệu chứng gây ra bởi tác nhân arsenic Nguồn nước mà bệnh nhân sử dụng để uống là nước giếng khoan, khai thác từ nước ngầm Đến năm
1983, khi những trường hợp tổn thương về da được phát hiện thì người ta nhận ra một thảm họa do nhiễm arsenic Với thời gian sử dụng nước nhiễm arsenic lâu dài thì hậu quả của việc nhiễm độc này đối với sức khỏe con người tại Bangladesh đã hiện ra rất rõ [30], [33]
Từ đầu những năm 80 có nhiều báo cáo về tình trạng nguồn nước đã phát hiện
có chứa arsenic tại nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn Độ, Chile, Mỹ, Trung Quốc, Argentina, Thái Lan,… Cảnh báo các ca bệnh đầu tiên khi các bác sỹ Ấn Độ phát hiện một số trường hợp tổn thương da do arsenic tại khu vực Tây Bengal, Ấn Độ năm 1983 Các nghiên cứu tại khu vực Tây Bengal cho thấy có khoảng 5 triệu người uống nước có chứa arsenic vượt quá 0,05 mg/l, trong đó ước khoảng 220.000 người có những dấu hiệu nhiễm độc arsenic Ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới phát hiện trong nước uống có hàm lượng arsenic vượt quá tiêu chuẩn của WHO
Trang 20(0,01 mg/l) hay tiêu chuẩn của chính quốc gia đó Những quốc gia này gồm Argentina, Australia, Bangladesh, Chile, Trung Quốc, Hungary, Mexico, Peru, Mỹ
và một số quốc gia khu vực Đông Nam Á
Tại Thái Lan, trong một khảo sát về arsenic trong nước ngầm vào năm 1993 tại huyện Ronpibonn thuộc tỉnh Thammarat, cho thấy có hơn 90% số mẫu nước có hàm lượng arsenic vượt hơn tiêu chuẩn 0,05 mg/l (tiêu chuẩn của Thái Lan) Trong một cuộc điều tra sức khỏe vào tháng 8 năm 2000, người ta đã ước lượng được có từ 6 đến 120 người có khả năng đang phát bệnh nhiễm arsenic trong số 24.566 người phơi nhiễm ở huyện Ronpibonn
Tại Myanmar, trong một khảo sát từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2000 tại khu vực Thabaung, Laymyethan và Hethada cho thấy có 35% trong số 125 mẫu nước từ các ống dẫn nước của các giếng, thì có hàm lượng arsenic vượt quá mức là 0,05 mg/l [14]
Quá trình phát triển công nghiệp, nông nghiệp và đô thị hóa cùng với sự khai thác nước ngầm một cách không khoa học và sự phá hủy môi trường tự nhiên là những yếu tố làm gia tăng mức độ ô nhiễm arsenic trong môi trường Theo ước tính hiện nay hàm lượng arsenic trong môi trường không khí trung bình khoảng 0,5 ng/m3, ở vùng ô nhiễm là 20 ng/m3, khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ 2,4 ng/m3, Nam
Mỹ 0,9-1,6 ng/m3, Nhật Bản 0,3-150 ng/m3 Hàm lượng arsenic trong nước mưa ở khu vực Thái Bình Dương khoảng 0,6 µg/l Hàm lượng arsenic trong nước biển 3,7 µg/l Trong nước sông ở Mỹ là 1,5 µg/l, Đức 3,6 µg/l, Thụy điển 10 µg/l, Anh 15 µg/l Ở Liên Xô trước đây việc đốt than làm nhiên liệu đã thải vào không khí khoảng 5.000 tấn arsenic mỗi năm [4]
1.2.2 Tình hình nhiễm độc arsenic tại Việt Nam:
Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu toàn diện về ô nhiễm arsenic Tuy nhiên, sau những sự kiện ở Bangladesh thì Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh Môi trường của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và UNICEF Hà Nội đã chủ động điều tra 1.200 mẫu nước giếng khoan tại Hà Nội và những vùng lân cận thuộc châu thổ Sông Hồng Kết quả cuộc điều tra đã báo động mức ô nhiễm arsenic cao ở
Trang 21tầng Holocene của châu thổ Sông Hồng [12] Kết quả nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy khoảng 15% mẫu nước giếng (chủ yếu là giếng khoan) ở Hà Nội và các vùng phụ cận có hàm lượng arsenic vượt quá 50 µg/l và 92,2% tất cả các mẫu nước giếng khoan vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới Hà Nội là khu vực
bị ảnh hưởng nhiều nhất, với 34% mẫu nước giếng vượt quá mức 50 µg/l và 3,4% vượt quá mức 100 µg/l [17]
Theo GS Phạm Hùng Việt (2000) từ tháng 4/1999 - 2/2000 sự biến động arsenic trong nước ở bãi giếng của các nhà máy nước Hà Nội, các bãi giếng Yên Phụ, Hạ Đình, Pháp Vân dao động 0,02 – 0,08 mg/l, có thể là biểu hiện nhiễm arsenic Nhìn chung mức độ ô nhiễm arsenic trong nước ngầm ở Hà Nội không phân bố đều trên diện tích và chiều sâu các tầng chứa nước, mà thường tập trung ở một số khu vực có địa hình thấp và trũng và đặc biệt là khu công nghiệp tập trung Về mặt phân vùng ô nhiễm arsenic thì khu vực Nam Hà Nội bị ô nhiễm nặng hơn các khu vực khác Các vùng khác như ngoại thành Hà Nội, Nam Định nước giếng cũng bị nhiễm arsenic ở mức độ không chấp nhận được Theo Hồ Vương Bích (2000), mẫu bùn hồ Linh Đàm ở phía Tây Nam Hà Nội ô nhiễm arsenic lên đến 1,75 lần giá trị giới hạn Nước sông ngòi tại Việt Nam cũng bị ô nhiễm arsenic Hàm lượng arsenic trong nước Sông Hồng ở Hà Nội (2003 - 2005) khoảng 0,011 - 0,022 mg/l, sông Kim Ngưu và đặc biệt là sông Tô Lịch cũng có biểu hiện ô nhiễm arsenic Ngoài khu vực
Hà Nội thì một số tỉnh thành phía Bắc hàm lượng arsenic trong nước uống cũng vượt mức 50 µg/l Đặc biệt là nước suối ở Bản Phúng (thượng nguồn Sông Mã) bị ô nhiễm arsenic với hàm lượng từ 430 µg/l đến 1.114 µg/l [20]
Tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cấu tạo địa tầng giống Bangladesh do đó có nguy cơ ô nhiễm arsenic cao Các nghiên cứu trên 500 giếng UNICEP ở An Giang cho thấy hơn 1/3 số giếng nhiễm arsenic
Kết quả điều tra nghiên cứu của Trung tâm Ðịa chất Khoáng sản biển và Ðại học khoa học tự nhiên ÐHQG Hà Nội (2005) cho thấy nước biển ven bờ Việt Nam cũng
có biểu hiện ô nhiễm arsenic: Đông nam cửa Ghềnh Hào (Cà Mau), arsenic = 0,36 - 0,4 mg/l Trầm tích biển ven bờ của nhiều vùng Việt Nam chưa có biểu hiện ô
Trang 22nhiễm arsenic: đông nam rạch Ba Quan, Vàm Cái Công, nam Hòn Bung (Cà Mau, Bạc Liêu), hàm lượng ion hấp phụ arsenic = 2 - 3,5 ppm, nam cửa Hàm Luông, cửa Cung Hầu (4,4 ppm), cửa Trần Ðề, cửa Ðịnh An (3 – 5 ppm), đông nam Vũng Tàu (arsenic = 26 ppm) Tuy nhiên, phía Đông Hòn Trâu (Phú Yên), đông mũi An Hoà (Quảng Ngãi), hàm lượng arsenic ở dạng ion hoà tan là 190 – 200 ppm [18]
Hình 1.4 Bản đồ các khu vực ô nhiễm arsenic trên toàn quốc Việt Nam [41]
1.3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIẢM THIỂU KHẢ NĂNG NHIỄM ĐỘC ARSENIC TRONG NƯỚC SINH HOẠT VÀ ĂN UỐNG
Có nhiều phương pháp xử lý arsenic trong nước ngầm đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng vào thực tế Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm riêng và được
áp dụng trong phạm vi nhất định, phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng kinh tế của từng vùng, từng quốc gia, tính chất ô nhiễm arsenic
Trang 23Quá trình keo tụ/lọc:
Trong quá trình keo tụ, khi sử dụng các chất như phèn, FeCl3; FeSO4 để xử
lý As+3 sẽ kém hiệu quả hơn As+5 (Hering, et al., 1996; Edward, 1994; Shen, 1973; Gulledge and O’Conner,1973; Sorg and Logsdon, 1978) Vì thế phải dùng các quá trình oxy hóa để chuyển As+3 thành As+5 rồi mới xử lý
Oxy hóa sắt và mangan:
Theo Edward (1994), khi sử dụng riêng lẻ phương pháp hấp phụ, loại bỏ 2 mg/l sắt có thể loại bỏ được khoảng 92,5% As+5 với nồng độ ban đầu 10 µg/l Khi
xử lý 1 mg/l sắt có thể loại bỏ được khoảng 83% As+5 của hàm lượng ban đầu 22 µg/l Tuy nhiên nếu so sánh việc loại bỏ As trong quá trình kết tủa mangan (Mn) với kết tủa sắt thì khi kết tủa 3mg/l Mn thì chỉ có 69% As+5 được loại bỏ trong 12,5 µg/l ban đầu
Quá trình hấp phụ:
Arsenic có thể hấp phụ lên bề mặt của các vật liệu dạng hạt, hạt sét hay vật liệu gốc Xenlulo như: than hoạt tính, than hoạt tính đã xử lý bằng một số hợp chất kim loại như oxyt sắt, oxyt silic, sét khoáng (cao lanh, bentonit ) Mỗi loại vật liệu có đặc tính và chi phí khác nhau, một số loại được sản xuất riêng để xử lý
Trang 24arsenic Hiệu suất xử lý của từng loại vật liệu còn tùy thuộc vào việc sử dụng các chất oxy hóa hỗ trợ qúa trình hấp phụ arsenic [5]
Trao đổi ion:
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các ion cạnh tranh như tổng chất rắn (TDS), sulphat, nitrat, Fe+3, làm giảm khả năng trao đổi của As trong nước Loại nhựa thường được áp dụng trong quá trình loại bỏ As là nhựa bazơ mạnh [5]
Qúa trình lọc màng:
Là quá trình sử dụng màng bán thấm, chỉ cho nước và các chất hòa tan đi qua
để làm sạch nước Theo một số nghiên cứu thì quá trình lọc màng loại bỏ As cũng chịu ảnh hưởng một số yếu tố sau:
- Nếu As tồn tại trong nước dưới dạng As+3 thì hiệu quả của quá trình khử As không phụ thuộc vào pH, trong khi nếu tồn tại dạng As+5 thì hiệu quả quá trình xử lý phụ thuộc pH
- Đối với lọc micro thì: As trong nước ngầm chỉ có thể xử lý đạt 10%, trong khi nếu nguồn nước là nước mặt thì hiệu quả có thể đạt 70% (theo McNeill và Edwards, 1997), nếu lực đẩy tĩnh điện cao thì hiệu suất xử lý cũng khá cao > 70%, khi lực đẩy nhỏ thì hiệu quả < 60%
- Đối với RO (thẩm thấu ngược) thì hiệu quả xử lý As hòa tan trong nước ngầm khoảng 80-90% Khi pH ở giá trị trung tính thì chỉ có As+5 được loại bỏ khoảng 96%, còn As+3 thì hầu như không được xử lý [43]
Các phương pháp xử lý ô nhiễm arsenic áp dụng tại Việt Nam:
- Xử lý ô nhiễm Amoniac và arsenic trong nước ngầm bằng phương pháp lọc kết hợp với thủy thực vật [5]
Trang 25Cyperus alternifolius (Cây thủy trúc) Colocasia esculenta (khoai dáy)
- Xử lý ơ nhiễm arsenic trong nước ngầm bằng phương pháp lọc kết hợp khử sắt (Viện y học Lao động và Vệ sinh Mơi trường, năm 2003 – 2004)
- Xử lý ơ nhiễm arsenic trong nước ngầm bằng phương pháp lọc trao đổi ion (Sở khoa học cơng nghệ tỉnh An Giang, năm 2007 – 2008)
- Xử lý ơ nhiễm arsenic trong nước ngầm bằng phương pháp lọc trao đổi ion, quy
mơ hộ gia đình (Viện VS - YTCC Tp HCM, năm 2008 – 2009)
Trong một nghiên cứu vào năm 2002, Phạm Hùng Việt và cộng sự khảo sát hiệu quả xử lý arsenic bằng các bể lọc cát khử sắt tại 54 hộ gia đình ở Hà Nội Nồng độ sắt trong nước ngầm dao động từ 1 - 50 mg/l, nồng độ arsenic từ 30 - 380ppb, kết quả cho thấy hiệu quả xử lý đạt trên 80%
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH AN GIANG: 1.4.1 Vị trí địa lý và đơn vị hành chính
An Giang là một tỉnh phía Tây Nam của Tổ quốc, trong vùng Đồng bằng sơng Cửu Long, một phần nằm giữa sơng Tiền và sơng Hậu, thuộc hệ thống sơng Mêkơng Tọa độ địa lý từ 10o10’ đến 11o37’ vĩ độ Bắc và 104o47’ đến 105o35’ kinh
độ Đơng Phía Đơng và phía Đơng Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp, phía Nam và Tây Nam giáp Tỉnh Kiên Giang, phía Đơng Nam giáp Thành Phố Cần Thơ, phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài trên 95 km
An Giang là tỉnh nằm ở đầu nguồn sơng Cửu Long, là một phần nằm trong vùng
Tứ giác Long Xuyên, cĩ diện tích tự nhiên là 3.424 km2 , chiếm khoảng 1,04% tổng diện tích cả nước và khoảng 8,71% tổng diện tích khu vực Đồng bằng Sơng Cửu Long
Phần lãnh thổ nằm giữa sơng Tiền và sơng Hậu tạo thành vùng cù lao, chiếm 30% diện tích của tỉnh; Phần lãnh thổ ở phía Tây sơng Hậu nằm trong tứ giác Long Xuyên, chiếm 70% diện tích của tỉnh An Giang là tỉnh đồng bằng nhưng một phần lãnh thổ cĩ núi, với nhiều khối núi, khơng thành dãy như núi Dài, Cơ Tơ, cao nhất
là núi Cấm trên 710 m Tỉnh An Giang cĩ 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, và 9 huyện là Châu Thành, Thoại Sơn,
Trang 26Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu và An Phú, với 154 đơn vị xã, phường và thị Trấn
Trang 27Hình 1.5 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang [42]
1.4.2 Sông ngòi:
Ngoài 2 con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu, An Giang còn có một hệ thống kênh rạch tự nhiên, ao hồ và kênh đào lớn nhỏ phân bố khắp lãnh thổ của tỉnh Hệ thống kênh rạch rất đa dạng có độ dài từ vài km đến 30 - 50 km, độ rộng từ vài mét đến hàng trăm mét và độ sâu thay đổi theo mùa Các kênh rạch nối giữa sông Tiền và sông Hậu thường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu Các rạch nằm trong hữu ngạn sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu vào nội đồng vùng trũng Tứ giác Long Xuyên Những rạch lớn hiện có ở An Giang gồm Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (huyện Phú Tân); Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng, Kênh Mới (huyện Chợ Mới); Long Xuyên (thành phố Long Xuyên); Chắc Cần Đao, Mặc Cần Dưng (huyện Châu Thành); v.v
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch An Giang có vai trò quan trọng về sinh thái môi trường, tài nguyên, thủy lợi - nông nghiệp, giao thông vận tải và nhiều hoạt động dân sinh khác Hệ thống kênh rạch là những dòng chảy mang đầy phù sa và chất dinh dưỡng từ sông vào đồng ruộng trong mùa lũ; Dòng chảy trên lưu vực sông được phân chia thành 2 mùa tương phản nhau khá sâu sắc, mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% tổng lượng; mùa khô từ tháng 12 đến tới tháng 4 chỉ chiếm 10% Lưu lượng trung bình năm 28.000 – 30.000 m3/s, với lũ lớn xảy ra vào tháng 8 tháng 9, lưu lượng lớn nhất 38.000 – 40.000 m3/s, kiệt nhất xảy ra trong 2 tháng là tháng 3 tháng 4 chỉ còn 2.000 – 2.400 m3/s
1.4.3 Khí hậu, thủy văn:
Khí hậu: An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có
2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C; lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm, có năm lên tới 1.700 - 1.800 mm; độ ẩm trung bình 80% - 85% và có sự dao động theo chế độ mưa theo mùa Khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Trang 28Thủy văn: An Giang nằm ở vùng trung tâm của hạ lưu lưu vực sông Mê Kông, nguồn nước mặt và nước ngầm rất dồi dào có hệ thống sông ngòi chằng chịt với hai hệ thống sông chính là sông Tiền dài 80km và sông Hậu dài 100km chảy song song từ Tây Bắc xuống Đông Nam trong địa phận của tỉnh, lưu lượng trung bình 13.800 m3/s Do đó lưu lượng và trữ lượng nước mặt ở An Giang khá dồi dào, phục vụ chủ yếu cho mục đích sinh hoạt và nông nghiệp Chính sự phong phú về nguồn nước đã tạo cho An Giang xu thế phát triển kinh tế nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn Với hệ thống kênh rạch chằng chịt đã điều tiết nguồn nước phục
vụ sản xuất vào mùa khô và đặc biệt là hệ thống đê bao điều chỉnh nước phục vụ tưới tiêu trong mùa lũ
Bên cạnh đó có 280 tuyến sông, rạch và kênh lớn, nhỏ, mật độ 0,72 km/km2 Với sự đang xen giữa lũ – mưa - triều, tạo nên môi trường nước phong phú và hệ sinh thái đa dạng Về mùa lũ, lưu lượng trên sông Tiền lớn hơn rất nhiều so với trên sông Hậu (84,9%/15,1%), sau đó nhờ sự điều chỉnh của sông Vàm Nao mà dòng chảy của 2 con sông được điều hòa hơn với tỷ lệ 51% và 49% Vào mùa lũ, cường suất lũ ở An Giang thường không ổn định, dao động từ 17 - 36cm/ngày Khi lũ chảy tràn vào đồng ruộng, cường suất lũ giảm dần và ổn định từ 2 - 4cm/ ngày Độ dốc lũ lớn nhất có thể đạt 5 cm/km đối với sông Tiền và 4cm/km đối với sông Hậu Chế độ thủy văn của tỉnh phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước của sông Mêkông, hàng năm
bị ngập lụt từ tháng 8 đến tháng 11 gọi là mùa nước nổi Nước dâng cao từ 1 m đến
3 m, có năm lên đến 4,5 m, thời gian lụt từ 3 - 4 tháng Mùa ngập vừa đem lại lợi ích to lớn như đưa lượng phù sa về, vệ sinh đồng ruộng, mang theo nguồn lợi thủy sản từ thượng nguồn sông Mêkông, v.v nhưng cũng có gây ra những tác hại nghiêm trọng như gây thiệt hại mùa màng, nhà cửa, cơ sở hạ tầng làm cho chi phí đầu tư của tỉnh mức cao nhưng hiệu quả mang lại còn bị hạn chế
1.4.4 Tài nguyên đất:
An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa với diện tích khoảng 151.600 ha, chiếm 44,5%; nhóm đất phù sa có phèn khoảng 93.800 ha, chiếm 27,5%; nhóm đất hình thành tại chổ và
Trang 29đất phù sa cổ gần 24.724 ha, chiếm 7,3% diện tích đất tự nhiên, còn lại là đất phèn
Trình độ văn hóa của dân cư từng bước được nâng cao, An Giang đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học từ năm 1998
Nguồn lao động: lực lượng lao động của tỉnh khá dồi dào, nhưng chất lượng lao động thấp Lao động có kỹ thuật so với nhu cầu xã hội còn thiếu nghiêm trọng; tốc độ đào tạo chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển Năm 2000, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 12%, và đến năm 2005 khoảng 19%
1.4.6 Thành tựu kinh tế - xã hội:
Năm 2008, tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh gặp nhiều khó khăn do những biến động của nền kinh tế thế giới, lạm phát, giá cả trong nước tăng cao, giá nông sản hàng hóa (lúa, cá) biến động bất lợi trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nông dân và đời sống của người dân Sự biến động của thị trường đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, với sự quyết tâm phấn đấu của Đảng bộ, của doanh nghiệp và người dân đã tập trung phát triển sản xuất, kinh doanh, thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững góp phẩn thực hiện thắng lợi nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm
vụ kinh tế năm 2008
Trang 30Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 14,20%, (Nghị quyết HĐND tỉnh đặt
ra là 14,0 – 14,5%); nông nghiệp tăng 8,14% (NQ 4,97%); công nghiệp – xây dựng tăng 15,57% (NQ 22,84%); dịch vụ tăng 17,25% (NQ 17,20%)
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt 35,03% (năm 2007 là 35,96%), công nghiệp – xây dựng đạt 11,70% (năm 2007 là 12,04%), dịch vụ đạt 53,27% (năm 2007 là 52,00%) GDP bình quân đầu người là 14,336 triệu đồng/năm (NQ 13,647 triệu đồng), tương đương 874 USD (NQ 851 – 853 USD) [15]
Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng chống dịch bệnh, giải quyết việc làm, chương trình xóa đói giảm nghèo, văn hóa – thể thao, vệ sinh môi trường và nước sạch đang chuyển biến tích cực theo lộ trình kế hoạch đề ra
Sản lượng lúa mùa và vụ Đông Xuân (2009 - 2010) đạt 1,738 triệu tấn, tăng 1,9% so cùng kỳ Sản lượng một số cây màu chủ yếu cũng có mức tăng đáng kể so với cùng kỳ như: rau dưa các loại đạt 25,44 tấn/ha, tăng 9,5 tạ/ha, đậu nành đạt 3,13 tấn/ha, tăng 2,2 tạ/ha.v.v riêng cây bắp, tuy năng suất tăng không nhiều nhưng diện tích tăng nhiều nên sản lượng tăng hơn cùng kỳ 1.424 tấn
Tình hình chăn nuôi vẫn phát triển tương đối ổn định về quy mô đàn Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, là 1.806 ha (kể diện tích sản xuất giống), bằng 88,5% (giảm 233,7 ha) so cùng kỳ [16]
Trang 31CHÖÔNG 2 - MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP
- Khảo sát thực tế để xác định các vị trí lấy mẫu
- Thu mẫu và phân tích
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm arsenic
- Điều tra tình hình sức khỏe và các bệnh lý liên quan vấn đề nhiễm độc arsenic
- Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu khả năng nhiễm độc arsenic trong nước sinh hoạt và ăn uống
2.3 Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 7/2009 đến tháng
9/2010
2.4 Địa điểm nghiên cứu:
Đề tài tiến hành chọn các huyện Tân Châu, Chợ Mới, Thị Xã Châu Đốc, TP Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang nằm dọc theo Sông Cửu Long, nhằm giúp cho ngành y tế tỉnh An Giang có chứng cứ khoa học để giám sát chất lượng nước mặt
mà người dân đang sử dụng cho mục đích sinh hoạt và ăn uống
2.5 Đối tượng nghiên cứu:
- Arsenic trong nước sông, kênh rạch, nước ăn uống và sinh hoạt tại hộ gia đình ở 4
huyện tại tỉnh An Giang thuộc lưu vực Sông Cửu Long
Trang 32- Các hộ dân sống xung quanh khu vực lấy mẫu có sử dụng nước sông cho mục đích sinh hoạt và ăn uống
2.6 Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập số liệu:
Thu thập các số liệu về việc sử dụng nước tại tỉnh An Giang, những tài liệu
về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội, tình hình sức khỏe bệnh tật, những yếu tố có liên quan đến nguồn nước Nguồn thu thập số liệu từ Trung Tâm Y Tế Dự Phòng tỉnh An Giang
- Xác định các vị trí lấy mẫu:
Kết hợp kết quả thu thập từ tài liệu và khảo sát địa bàn để xác định vị trí lấy mẫu Vị trí được chọn khảo sát ô nhiễm As phân bố đều trên 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu chạy qua các huyện Chợ Mới, Châu Đốc, Tân Châu và thành phố Long Xuyên Tại mỗi huyện tiến hành lấy mẫu tại 3 vị trí: Chọn các vị trí trên sông Tiền
và sông Hậu, nơi bắt đầu và kết thúc của mỗi huyện; và 1 vị trí trên sông hay kênh rạch nơi nhận nước thải nông nghiệp, công nghiệp, cửa sông, khu vực tập trung dân
cư đông có sử dụng nước mặt trong sinh hoạt và ăn uống
Vị trí lấy mẫu thể hiện qua hình 2.1 và các bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4
Trang 33Hình 2.1: Vị trí các điểm thu mẫu
Sông, kênh, rạch