1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích chiến lược kinh doanh của khách sạn sheraton sài gòn towers

28 3,5K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 726 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN : Tầm nhìn chiến lược : Khách sạn Sheraton Sài Gòn luôn nỗ lực cung cấpcác dịch vụ tốt nhất tới khách hàng, Ban quản lý khách sạn còn xác địnhmục tiê

Trang 1

PHIẾU PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP

I TỔNG QUAN VỀ KHÁCH SẠN SHERATON SÀI GÒN &

TOWERS

Tên đầy đủ DN : Khách sạn Sheraton Saigon & Towers

Tên viết tắt DN : Khách sạn Sheraton Saigon

Trụ sở : 88 Đồng Khởi, Quận 1, TP Hồ Chí Minh

Ngày tháng năm thành lập : 07/05/2003

Loại hình doanh nghiệp : Liên Doanh

Tel : 08.38 244 767 - 08.38 244 897

Website: www.sheraton.com/saigon

1 Ngành nghề kinh doanh của DN : Khách sạn

2 Các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) :

1- Dịch vụ lưu trú : 470 phòng nghỉ được trang bị điều hòa nhiệt độ tạiSheraton Sài Gòn Hotel And Towers bao gồm két đặt được máy tính xáchtay và quầy bar nhỏ Phòng khách có quang cảnh thành phố, sông hoặc bểbơi Các phòng được trang bị TV LCD với các kênh truyền hình cáp chấtlượng cao và kênh phim miễn phí Tất cả phòng ở có bàn, ghế làm việc vàđiện thoại liên lạc trực tiếp với thư thoại Có truy cập Internet tốc độ cao códây (có tính phí) Giường có chăn bông và bộ đồ giường cao cấp Tất cảphòng nghỉ đều bao gồm khu ngồi riêng biệt Tất cả phòng ở có tủ lạnh, máypha cà phê/trà và nước đóng chai miễn phí Phòng tắm có bồn tắm và hoasen riêng với bồn tắm ngâm sâu và vòi tắm Phòng tắm cũng có điện thoại,

áo choàng tắm và đồ dùng trong nhà tắm

Trang 2

3- Dịch vụ bổ sung : Giải trí Sheraton Sài Gòn có dịch vụ spa trọn gói, bểbơi ngoài trời, bồn spa, tắm hơi và phòng hoặc trung tâm thể dục thẩmmỹ, Có sẵn truy cập Internet tốc độ cao (có dây) miễn phí ở các khu vựccông cộng.

3 Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN :

Tầm nhìn chiến lược : Khách sạn Sheraton Sài Gòn luôn nỗ lực cung cấpcác dịch vụ tốt nhất tới khách hàng, Ban quản lý khách sạn còn xác địnhmục tiêu tiết kiệm năng lượng vừa góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế vừahướng tới tiêu chí của một khách sạn xanh Khởi nguồn từ suy nghĩ và quyếttâm đó, nhiều giải pháp về quản lý và cải tiến, đầu tư công nghệ mang tínhđột phá đã đưa Sheraton Hotel vào danh sách những khách sạn xanh củaViệt Nam và khu vực

Sứ mạng kinh doanh : Mục tiêu của chúng tôi là phục vụ quý khách tận

tình nhất nhằm thỏa mãn sự hài lòng của quý khách Dịch vụ cam kết củaSheraton đảm bảo bạn sẽ có một kỳ nghỉ lý tưởng, hoặc chúng tôi sẽ dànhcho bạn những ưu tiên giảm giá, cơ hội tham gia các trò chơi trúng thưởng –hoặc thậm trí quý vị còn tham gia trò chơi dành lại được phần tiền mà bạn

đã chi phí Quý vị hãy cho chúng tôi biết những mong muoonscuar quý vị,chắc chán chúng tôi sẽ đáp ứng yêu cầu đó

Khách hàng: Là những cá nhân hay tập thể sử dụng dịch vụ của khách sạnSản phẩm, dịch vụ cốt lõi:

Dịch vụ lưu trú

Cho thuê xeMassageĐặt tour, vé máy bay, dịch vụ du lịchNhà hàng khu ăn uống

Dịch vụ hội họpPhòng tập thể dụcĐưa đón sân bayTrông giữ trẻGiặt ủi

Xông hơi

Trang 3

Thị trường: Cạnh tranh tại thị trường Việt Nam

Tự đánh giá về mình: Cung cấp các dịch vụ tốt nhất tới khách hàng

Mối quan tâm đối với nhân viên: Được quan tâm chu đáo nhiệt tình

4 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản :

Trang 4

Tổng doanh thu : từ bảng số liệu trên ta có thể nhận thấy doanh thu

của khách sạn từ năm 2008 đến 2009 đã giảm đi rất nhiều (giảm 21.6%),còn từ năm 2009 đến 2010 thì doanh thu cũng đã tăng lên 6,39% nhưng nếu

so với năm 2008 thì doanh thu năm 2010 vẫn thấp hơn rất nhiều

Lợi nhuận trước thuế : Tính đến năm 2010 thì lợi nhuận trước thuế của khách sạn là 3 153 056 000 VNĐ

Lợi nhuận sau thuế : Sau khi đã trừ những khoản phải thu phải nộp

khác thì lợi nhuận sau thuế năm 2010 của khách sạn là 1 246 303 000 VNĐ

Trang 5

Tổng tài sản của Sheraton Sài Gòn là 248 tỷ đồng vào cuối năm 2008 và

đã tăng lên 347 tỷ đồng tính đến ngày 31/12/2010 là 347 tỷ đồng, trong

đó tài sản cố định là 270 tỷ đồng chiếm 77,81% So với năm 2009, tổngtài sản của Sheraton Sài Gòn năm 2010 tăng 69 tỷ đồng, tức là tăng24,82% chủ yếu là do cơ sở vật chất kỹ thuật mới được đưa vào sử dụng

Tỷ đồng/ năm

0 100

Trang 6

0 50 100 150 200 250 300

Năm

Qua biểu đồ ta thấy:

- Tổng tài sản ngắn hạn của Sheraton Sài Gòn tính đến thời điểm331/12/2010 là 77 tỷ đồng tăng 23 tỷ đồng tương đương tăng 43% so vớithời điểm 31/12/2009 chủ yếu do tăng tiền và các khoản tương đương tiền

15 tỷ đồng, tăng khoản phải thu từ khách hàng là 8 tỷ đồng do tăng doanhthu năm 2010,… (doanh thu năm 2010 tăng 6,39% so với năm 2009).Sheraton Sài Gòn vẫn đang thực hiện tốt việc thu tiền từ khách hàng, đạtkiểm soát trong công tác kiểm soát đồng tiền, tránh ứ đọng vốn trongkinh doanh khách sạn

- Tổng tài sản dài hạn tăng từ 224 tỷ đồng vào thòi điểm 31/12/2009 lên

270 tỷ đồng vào 31/12/2010, tức là tăng 46 triệu đồng

Tỷ trọng tài sản dài hạn đã tăng từ 77,81% trong năm 2008 lên 80,64%vào năm 2010, chứng tỏ Sheraton Sài Gòn đang phát triển nhanh vàmạnh, với tốc độ tăng trưởng cao nhằm mở rộng quy mô kinh doanh vàchiếm lĩnh thị trường kinh doanh

Tổng nguồn vốn :

Tỷ đồng/ năm

Trang 7

0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200

- Tổng nợ phải trả của khách sạn tính đến cuối năm 2010 là 184 tỷ đồng

So với năm 2009, đã tăng 31 tỷ đồng trong đó tăng nợ vay ngân hàng là

37 tỷ đồng và giảm khoản phải trả cho nhà cung cấp và phait trả khác là 6

- ROA : Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản tăng từ 0,26% vào cuối năm

2008 lên 0,51% vào cuối năm 2010, tức tăng 0,25%

Trang 8

- ROE : Tỷ suất sinh lời trên nguồn vốn chủ sở hữu tăng 0,94% từ năm

2008 đến cuối năm 2010

Điều đó cho thấy lợi nhuận đã cải thiện đáng kể và sẽ tiếp tục tăng cảtrong việc đầu tư tài sản và nguồn vốn

II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI

1 (Các) Ngành kinh doanh của doanh nghiệp :

Tốc độ tăng trưởng năm 2004 : Theo Tổng cục Du lịch, quý I năm 2004

có gần 743.480 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, tăng 4,3% so với cùng

kỳ năm ngoái Trong đó khách du lịch đến từ Hàn Quốc tăng cao nhất tới34,5%, tiếp đến Trung Quốc tăng 27,7% và tiếp theo là Liên bang Nga, NewZealand, Thái Lan, Australia, Indonesia tăng từ 8,8 đến 21,2% Số liệu củaTổng cục Thống kê cho thấy, năm 2004, có khoảng 12.250 khách du lịch từLiên bang Nga đến Việt Nam, tăng hơn 42% so với năm trước

Tốc độ tăng trưởng năm 2005 : Riêng tháng 3 năm 2005 đã có gần

223.130 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, tăng 3,1 % so với thángtrước.Trong tháng 2 đã có gần 300.000 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam,nâng tổng số khách du lịch quốc tế trong hai tháng đầu năm lên 600.000người, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái Số khách du lịch nội địa ước đạt2,7 triệu người năm 2005, lượng khách tăng đột biến, lên tới 23.800, tănghơn 94% so với năm 2004

Tốc độ tăng trưởng năm 2006 : Trong 8 tháng đầu năm 2006, con số này

là gần 19.000 khách, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm ngoái.Trong năm

2006 có khoảng 3,6 triệu người nước ngoài đến thăm VN so với con số 1,5triệu người năm 1995, và số lượt khách du lịch nước ngoài tới VN tăng 16%lên tới 4,1 triệu người

2 Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành :

Mới xuất hiện

Tập đoàn quản lý khách sạn Starwood khai trương khách sạn năm sao mangtên Sheraton Saigon tại toà nhà Ocean Place vào tháng 5/2003 nhằm đápứng nhu cầu đang tăng về khách sạn cao cấp tại TP HCM

Ocean Place là toà nhà 24 tầng nằm trên góc đường Đồng Khởi - Đông Du.Đây là dự án liên doanh với tổng vốn đầu tư trên 100 triệu USD giữa cáccông ty Keck Seng, Resco, Invesco và Saigontourist Nơi đây đã mở cửacho thuê căn hộ cao cấp vào đầu năm và đến nay đã cho thuê hết 92 căn hộ

Tăng trưởng

Trang 9

KS Sheraton Saigon: tốt nhất trong khu vực châu Á-TBD của tập đoàn Starwood

Ngày 24/3/2006, Phó chủ tịch tập đoàn Starwood hotels & resorts woldwideInc phụ trách kinh doanh khu vực châu Á-Thái Bình Dương Neil Palmervừa trao cho Tổng giám đốc KS Sheraton Saigon Kim Powley giải thưởng

KS tốt nhất năm 2005 trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Cùng trao giải thưởng này có Phó chủ tịch trụ trách kinh doanh khu vựcchâu Á-TBD Neil Palmer, phó chủ tịch phụ trách tiếp thị và định vị thươnghiệu Chad Waetzig của tập đoàn tập đoàn Starwood hotels & resortswoldwide Inc Giải thưởng này dựa trên những thành quả của KS thông quacác chỉ số hài lòng của khách hàng, chuẩn mực thương hiệu, tài chính, sựphát triển và thành công của thương hiệu Sheraton tại TP.HCM

Trong năm 2005, KS Sheraton Saigon đã đạt được khá nhiều danh hiệu như

KS tốt nhất cho doanh nhân tại VN năm 2005 do tạp chí Business Asia phốihợp với đài truyền hình CNBC bình chọn, hai giải thưởng của tập đoànStarwood châu Á-TBD cho KS tốt nhất về chuẩn mực thương hiệu 2005.Được biết đây là giải thưởng được chọn ra trong tổng số 121 KS của tậpđoàn này tại khu vực châu Á-TBD

Sheraton Sài Gòn: Khách sạn tốt nhất cho doanh nhân năm 2006

Khách sạn Sheraton Sài Gòn nhận giải thưởng "Khách sạn tốt nhất chodoanh nhân năm 2006" Thông tin này được Tạp chí Business TravellerChâu Á - Thái Bình Dương chính thức công bố ngày 21.9

Đây là giải thưởng du lịch hàng năm, được trao cho các hãng hàng không,sân bay và các khách sạn hàng đầu cho giới doanh nhân tại 19 thành phố lớncủa khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Khách sạn Sheraton Saigon được bình chọn vào “Danh Sách Vàng 2007”

Sheraton Saigon Khách sạn Sheraton Saigon vừa được bình chọn vào ‘DanhSách Vàng 2007’- một trong 700 khách sạn và khu nghỉ mát tốt nhất thếgiới do tạp chí du lịch uy tín của Mỹ Condé Nast Traveler tiến hành khảosát Tại Việt Nam, có hai khách sạn nằm trong danh sách vinh dự này, đó làkhách sạn Sheraton Saigon và khách sạn Sofitel Metropole Hanoi

Danh sách vàng lần thứ 13 này bao gồm những khách sạn, khu nghỉ mát và

du thuyền tốt nhất tại hơn 70 quốc gia trên thế giới, được bình chọn khắtkhe bởi độc giả của tạp chí du lịch đầy uy tín của Mỹ Condé Nast Traveler

Có khoảng 21.000 độc giả đã tham gia cuộc bình chọn trong năm 2006

Trang 10

Khách sạn Sheraton Saigon liên tục nhận được các giải thưởng quốc tế từkhi mở cửa vào tháng 5, năm 2003 Các giải thưởng này gồm: ‘Khách sạnTốt Nhất dành cho Doanh Nhân tại Việt Nam 2004 và 2005’ do tạp chíBusiness Asia bình chọn phối hợp cùng CNBC Châu Á Thái Bình Dương vàgần đây là giải thưởng ‘Khách sạn Tốt Nhất Dành Cho Doanh Nhân tạiTp.HCM 2006’ do tạp chí Business Traveler Châu Á Thái Bình Dương traotặng.

3 Đánh giá động của môi trường vĩ mô :

Môi trường kinh tế

Kinh tế là yếu tố quan trọng và quyết định đến công tác xây dựng chiến lượckinh doanh Khách sạn Bởi vì kinh tế quyết định đến khả năng thanh toáncủa du khách Như vậy trong chiến lược kinh doanh Khách sạn của mình,các nhà quản lý phải xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng nền kinh tếtrong nước và thế giới và triển vọng của nó Sự đánh giá này sẽ giúp chocông tác xây dựng giá phòng trong Khách sạn phù hợp với khả năng thanhtoán của Khách sạn du lịch

Năm 2011, kinh tế thế giới tiếp tục được dự báo sẽ phục hồi với mức tăngtrưởng khá cao Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế thếgiới năm 2011 là 4,3%, trong đó khu vực châu Á là 6,8% và các nướcASEAN-5 là 6,5% (trong nhóm này tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được

dự báo đạt mức 6,8%), song vẫn chứa đựng những bất ổn khó lường Nhữngbiến động của kinh tế thế giới, nhất là những xu hướng được hình thànhtrong năm 2010 có những tác động tới phát triển kinh tế – xã hội Việt Namtrong năm 2011, nhất là đối với tỷ giá ngoại tệ, chính sách tiền tệ và giá cả,xuất nhập khẩu, đầu tư, lao động và việc làm

Doanh nghiệp

Nhân tố kinh tế

Nhân tố văn hóa – xã hội

Trang 11

Về tình hình trong nước, năm 2011, nền kinh tế nước ta có những thuận lợicăn bản, đó là những thành tựu to lớn của 25 năm đổi mới đất nước; cơ chếkinh tế thị trường định hướng XHCN đã hình thành, ngày càng hoàn thiện;năng lực của nền kinh tế và hệ thống cơ sở hạ tầng được tăng cường Sauthời gian bị suy giảm do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế thế giới, trên tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đã phục hồinhanh và đang dần lấy lại đà tăng trưởng cao, nhất là trong lĩnh vực côngnghiệp và dịch vụ Các cân đối kinh tế vĩ mô, như thu chi NSNN, tiền tệ, tíndụng đang diễn biến theo chiều hướng tích cực Bội chi NSNN giảm dần,xuất khẩu tăng nhanh góp phần giảm thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế.Lạm phát được kiềm chế Tuy nhiên nền kinh tế nước ta cũng gặp phải một

số khó khăn đó là hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ là cản trở lớn cho sựphát triển; thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu, dịch bệnh có thể tác độngxấu đến sự phát triển của các ngành, trước hết là sản xuất nông nghiệp vàđời sống nhân dân

Đặc trưng về chính trị - luật pháp

Với quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ xã hội, mầu da, tôn giáo hợp tác đôi bên cùng cólợi, không can thiệp vào công việc nộ bộ của nhau, giải quyết các tranh chấpbằng con đường hoà bình Chính sách quan điểm nhất quán dó đã thúc đẩyhoạt động đầu tư vào Khách sạn cũng như thúc đẩy khách du lịch quốc tếđến Việt Nam

Đặc biệt trong năm 1999 chính pủ có chương trình hành động quốc gia về

du lịch, sự ra đời của pháp lệnh du lịch Đó là những nền tảng cơ sở pháp lýgiúp cho sự phát triển của ngành du lịch - Khách sạn

Đại hội Đảng VIII xác định “Phát triển nhanh du lịch, dịch vụ - từng bướđưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch, thương mại dịch vụ có tầm cỡtrong khu vực”

Tuy nhiên do mới chuyển đổi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thịtrường Sự nhận thức của các ngành các cấp về vai trò của du lịch đối vớinền KTQD còn hạn chế Sự thiếu đồng bộ trong các văn bản pháp quy vềkinh doanh Khách sạn Sự thiếu nhất quán trong các thuật ngữ cũng như nộidung của các thuật ngữ trongkd Khách sạn (Được thể hiện trong pháp lệnh

du lịch) đã dẫn đến sự kinh doanh không lành mạnh của các thành phần kinh

tế với kinh doanh Khách sạn

Trang 12

Như vậy sự ổn định về chính trị, sự đồng bộ về pháp luật sẽ thúc đẩy ngànhKhách sạn phát triển Trong chiến lược kinh doanh của mình các nhà quảntrị cũng phải nghiên cứu kỹ lưỡng Bởi vì nó ảnh hưởng tới quá trình kinhdoanh Khách sạn Sự nhận thức sâu sắc và thấu đáo về pháp luật cho phépcác nhà kinh doanh Khách sạn kinh doanh đúng pháp luật và lợi dụng triệt

để các kẽ hở hợp pháp luôn có lợi cho Khách sạn mà không vi phạm phápluật

Môi trường kỹ thuật - công nghệ

Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ trong vài thập kỷ vừa qua đãđưa tới sự phát triển rực rỡ về kinh tế trên thế giới Sự phát triển kinh tế làmtăng thu nhập của người dân và thúc đẩy nhu cầu đi du lịch

Không những nhân tố khoa học công nghệ tác động đến kinh tế và thúc đẩy nhu cầu đi du lịch mà nó còn tác động tới trang thiết bị, CSVCKT trongkinh doanh Khách sạn Bởi vì nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp Do đótrang thiết bị trong kinh doanh Khách sạn ngày càng được đổi mới và nângcấp Sự đổi mới và nâng cấp đó đòi hỏi nguồn vốn lớn do đó trong quá trìnhxây dựng chiến lược kinh doanh cần nghiên cứu kỹ nên áp dụng trang thiết

bị nào, khi nào thì cần nâng cấp đổimới

Để cho trang thiết bị trong Khách sạn không quá lạc hậu so với thế giới vàtuỳ từng đối tượng khách mà trang thiết bị có mức độ hiện đại khác nhau.Thực trạng trang thiết bị ở Khách sạn Sài Gòn là tương đối hiện đại đáp ứngtót nhu cầu của du khách

Môi trường văn hoá xã hội

Cộng đồng người Việt Nam có 54 thành phần dân tộc khác nhau, cũng cónghĩa là có 54 nếp văn hoá khác nhau Từ đó cho ta thấy đất nước chúng ta

có nền văn hoá phong phú và đa dạng Nó là một trong những nguồn lực (tàinguyên du lịch) thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển

Những thay đổi về lối sống, tâm lý, chuẩn mực đạo đức, thói quen tiêudùng sẽ có những phát động ảnh hưởng nhất định đến hoạt động kinhdoanh du lịch, hoạt động kinh doanh Khách sạn

Nhân tố văn hoá xã hội ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh Khách sạn Do đó trong quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh của mình cầnxây dựng đặc điểm văn hoá lành mạnh trong Khách sạn, xây dựng thiết kếKhách sạn mang đậm bản sắc dân tộc Từ đó tạo nên cái nền của Kháchsạn và thúc đẩy mọi người tìm đến tiêu dùng sản phẩm của Khách sạn

Trang 13

4 Đánh giá cường độ cạnh tranh

Tồn tại các rào cản ra nhập ngành :

Hiện nay ngành kinh doanh khách sạn – du lịch đang là một ngành chủ chốt

và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế nước ta Đặc biệt là từ khi Vịnh HạLong được công bố chính thức lọt vào Top 7 kì quan thiên nhiên thế giới thì

sự gia tăng về lượt khách đến với Việt Nam sẽ ngày càng lớn mạnh Chính

vì vậy mà ngành này đang thu hút rất nhiều các nhà đầu tư, các doanhnghiệp ngoài ngành gia nhập vào ngành Nhưng điều khó khăn hiện tại màcác doanh nghiệp gia nhập mới sẽ gặp phải là vốn đầu tư ban đầu và chi phícao Bởi hiện nay ở nước ta số lượng các khách sạn là rất lớn, những kháchsạn xếp hạng 4 sao – 5 sao cũng không ít Do đó khi mới bước chân vàongành mà muốn thu hút được nhiều khách thì trước tiên phải có sự đầu tưlớn về cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực có trình độ chuyên môncao, Ngoài ra còn do tính chất, đặc điểm của ngành kinh doanh khách sạn

là các sản phẩm dịch vụ trong các khách sạn là tương đối giống nhau, chỉ có

sự khác nhau về chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật, quy trình và phong cácphục vụ Vì vậy mà muốn tạo ra sự khác biệt hóa về sản phẩm là rất khó đốivới các doanh nghiệp mới gia nhập, còn nếu như doanh nghiệp không có sựkhác biệt hóa về sản phẩm khi mới gia nhập thì rất khó có thể thu hút kháchhàng đến với mình

 Từ đó có thể nhận thấy các rào cản gia nhập mới đối với các doanhnghiệp ngoài ngành là lớn, do đó nguy cơ từ các gia nhập mới đối với cácdoanh nghiệp hiện tại trong ngành là thấp Có thể đánh giá điểm cho Đe dọagia nhập mới là 5 điểm

Đe dọa từ các sản phẩm thay thế :

Các sản phẩm thay thế sẽ làm ảnh hưởng tới mức giá, tới thị trường sảnphẩm dịch vụ hiện có của khách sạn Khi giá của sản phẩm dịch vụ hiện tạicủa khách sạn tăng lên thì khách hàng có xu hướng sử dụng sản phẩm thaythế của các khách sạn cùng hạng khác hay các khu vui chơi giải trí, các nhàhàng và nhà cung ứng đơn lẻ Nhưng các sản phẩm dịch vụ thay thế đó đềuthuộc các sản phẩm dịch vụ của các doanh nghiệp trong cùng một ngành

Do đó có thể nói các sản phẩm thay thế các sản phẩm dịch vụ trong ngànhkinh doanh khách sạn – du lịch là rất ít, gần như là không có Vì vầy mà đedoa từ các sản phẩm thay thế đối với ngành là rất thấp Có thể đánh giá vớimức điểm là 2

Trang 14

Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng :

Trong kinh doanh khách sạn thì đầu vào cho khách sạn từ các nhà cung ứng

sẽ là khách du lịch, các trang thiết bị tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật,… Do đócác nhà cung ứng cho khách sạn sẽ bao gồm các công ty lữ hành, đại lý dulịch, các khách sạn trao đổi với nhau, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóavật tư trang thiết bị,… cho khách sạn Mà hiện nay trên thị trường du lịch ởnước ta, số lượng các công ty lữ hành, các khách sạn, các doanh nghiệp sảnxuất hàng hóa vật tư trang thiết bị,… là rất nhiều Do đó mức độ tập trungngành là không cao, từ đó suy ra quyền lực thương lượng của các nhà cungứng đối với khách sạn thấp Có thể đánh giá điểm cho yếu tố này là 4 điểm

Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng :

Hiện nay nhu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm dịch vụ là quantrọng, họ đòi hỏi chất lượng sản phẩm dịch vụ phải hoàn hảo hơn, giá cảphù hợp hơn và phải tạo ra được sự khác biệt hóa trong sản phẩm dịch vụ.Hơn thế nữa, do mức độ tập trung trong ngành cao quyền lực thương lượngcủa nhà cung ứng thấp nên chi phí sản xuất của các khách sạn sẽ giảm, theo

đó thì giá cả sản phẩm dịch vụ cũng giảm theo Khi đó khách hàng sẽ cónhiều sự lựa chọn, và như vậy cũng có nghĩa là quyền lực thương lượng từkhách hàng hiện nay là cao Có thể đánh giá điểm 8 cho yếu tố này

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành :

Đối với bất kỳ một ngành nào không riêng gì ngành kinh doanh khách sạn –

du lịch thì sự cạnh tranh là tất yếu Song trong ngành kinh doanh khách sạn– du lịch thì không phải tất cả các doanh nghiệp đều là đối thủ cạnh tranhcủa nhau, mà chỉ có vài doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp vớinhau Ví dụ như đối với khách sạn Sheraton Sài Gòn thì chỉ có một vài đốithủ cạnh tranh trực tiếp là Khách sạn Caravell, Khách sạn Newword, Kháchsạn Part Hyatt… Còn hầu hết các doanh nghiệp đều có sự liên kết với nhau,như các công ty lữ hành, đại lý du lịch liên kết với khách sạn để tạo ra cáctour trọn gói, các khách sạn liên kết với nhau để đáp ứng nhu cầu kháchhàng một cách tốt nhất Do vậy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tạitrong ngành kinh doanh khách sạn – du lịch là không cao Đánh giá điểmcho yếu tố này là 5

Ngày đăng: 27/09/2014, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w