1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đọc hiểu tác gia Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh trong chương trình trung học phổ thông

49 507 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 7,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Đọc — hiểu tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong chương trình Ngữ văn trung học phố thông đề nghiên cứu với hi vọng góp một phầ

Trang 1

Khoa Nyt van ớ #

1 Lí do chọn đề tài

Xã hội Việt Nam đang trong thời kì hội nhập - nhu cầu vươn tới một nền giáo dục chất lượng cao đào tạo ra những con người có trình độ khoa học,

có kiến thức và có khả năng thích nghi được với cuộc sống hiện đại Đó là cái

đích hướng tới của giáo dục nói chung trong đó môn Ngữ văn là môn học đóng vai trò quan trọng nằm trong việc thực hiện mục tiêu chung ấy

Từ trước tới nay, môn Ngữ văn được coi là môn học đặc thù với rất nhiều chức năng: rèn luyện ngôn ngữ, rèn luyện tư duy hình tượng, rèn năng lực cảm thụ cái đẹp Trong đó Văn học sử là một phần kiến thức quan trọng Theo GS.Phan Trọng Luận thì “Văn học sử là phân môn chủ đạo của bộ môn văn học ”[tr.714 — Tuyến tập Phan Trọng Luận] Văn học sử hoàn thiện tri thức văn học cho học sinh ở cấp độ khái quát và hệ thống hóa kiến thức cao Trong chương trình Ngữ văn ở THPT thực hiện từ năm 2007 đã rất chú ý đến tri thức Văn học sử và được dành một vị trí xứng đáng trong chương trình Ngữ văn

Theo điều tra của nhiều nhà giáo có tâm huyết về việc dạy - học Ngữ

văn hiện nay thì số học sinh yêu thích bộ môn này rất đáng báo động Trong

tình hình chung đó thì phân môn Văn học sử đáng báo động hơn cả Nhiều giáo viên và học sinh không hứng thú với phần kiến thức này Hơn nữa, giờ Văn học sử ở trường THPT chưa được thực sự chú ý

Là sinh viên sắp tốt nghiệp, chúng tôi xác định: trong các kiến thức Văn học sử thì kiến thức về tác gia chiếm một vị trí quan trọng Không có tác gia văn học sẽ không có nền văn học với đỉnh cao sáng tạo nghệ thuật Bài học về tác gia giúp học sinh hiểu được cuộc đời, sự nghiệp văn học, tài năng

và những đóng góp của họ trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc Làm thế

Nguyén Thi Hing - K32 C 1

Trang 2

nào để đạt được mục đích đó trong một tiết học một cách hiệu quả đã thực sự

trở thành câu hỏi lớn đặt ra đối với các nhà sư phạm

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Đọc — hiểu tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong chương trình Ngữ văn trung học

phố thông đề nghiên cứu với hi vọng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng bài dạy Văn học sử nói chung và bài học về Tức gia Nguyễn Ai

Quốc - Hồ Chí Minh nói riêng ở trường THPT hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Theo tiến trình phát triển lịch sử xã hội, nhu cầu đổi mới toàn diện

trong đó đổi mới sách giáo khoa và chương trình Ngữ văn THPT là một yêu cầu tất yếu Sách giáo khoa Ngữ văn có sự thay đổi không chỉ về nội dung mà

còn thay đổi về phương pháp Cho đến nay phương pháp đọc - hiểu văn bản

nói chung và phương pháp đọc - hiểu Văn học sử nói riêng đã được một số

nhà nghiên cứu đề cập đến

TS Đỗ Ngọc Thống là người đã phân tích về phương pháp đọc - hiểu trong bài viết “Sách giáo khoa Ngữ văn cân giúp học sinh tự đọc - hiểu van bản tác phẩm văn học”” Tác giả đã lí giải cu thé “Với chương trình và Sách giáo khoa Ngữ văn mới, dạy văn thực chất là dạy cho học sinh phương pháp

đọc - hiểu Đọc - hiểu ở đây được hiểu một cách khá toàn diện Đọc hiểu bắt

đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm hiểu ý nghĩa trong quá trrình học, đọc Học sinh sẽ biết cách đọc để tích luy kién thúc, đọc để lí giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện [18.16]

PGS.TS Lê Nguyên Cần cũng có những đóng góp rất lớn khi ông đi sâu giải thích phân tích về phương pháp đọc - hiểu “Dạy cách đọc - hiểu là

dạy cách tự học để học suốt đời đọc - hiểu chính là cách đọc thẩm mĩ, đọc

để khám phá Do đó vai trò của học sinh là chú đạo trong mọi hoạt động kể

cả học trên lớp lẫn tự học ở nhà Hiểu ở đây là một khái niệm triết học bao gồm sự nhận thức, đánh giá bao gôm cả việc đánh giá, sáng tạo [12.37]

Nguyén Thi Hing - K32 C 2

Trang 3

Khoa Nyt van ớ # Như vậy có thể thấy PGS.TS Lê Nguyên Cẩn đã giúp người dạy người học có cách nhìn, cách hiểu sâu sắc, toàn diện hơn về phương pháp đọc

- hiểu về tác giả, tác phẩm

Trong chương trình Ngữ văn THPT, Văn học sử là một phần kiến thức quan trọng Phương pháp đọc - hiểu Văn học sử mặc dù vẫn mang những nét chung của phương pháp đọc - hiểu văn bản văn học song vẫn có những nét riêng biệt SGK Ngữ văn 10 nâng cao tập 2 đã biên soạn tiết học “Luyện tập

về đọc - hiểu ”” Trong tiết học này, sách giáo khoa giúp người học nắm được phương pháp đọc - hiểu nói chung cũng như phương pháp đọc - hiểu Văn học

Sử nói riêng

Với đề tài Đọc - hiểu tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chi Minh trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông người nghiên cứu từng bước di

sâu tìm hiểu phân tích bản chất của phương pháp đọc - hiểu trong một bài dạy

về tác gia văn học trên cơ sở sự kế thừa những tài liệu nghiên cứu đó đồng thời có sự bố sung phát triển và hoàn thiện

Từ cơ sở lí thuyết về phương pháp đọc - hiểu khoá luận đã vận dụng vào việc thiết kế bài học về Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nhằm hiện thực hoá lí thuyết và vận dụng vào giảng dạy Ngữ văn THPT

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu phương pháp đọc - hiểu trong bài dạy học tác gia văn

học và bài bài dạy Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

- Đưa ra một số quan điểm mới giúp giáo viên phổ thông có quan điểm tiếp cận và phương pháp giảng dạy tác gia một cách đúng đắn, đạt hiệu

quá cao theo hướng đổi mới bài dạy Tác gia Nguyễn Ấi Quốc - Hồ Chi

Minh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những phương pháp truyền thống trong dạy học Văn học sử và bước đầu tìm hiểu về phương pháp đọc - hiểu

Nguyén The Hing ~ K32 C 3

Trang 4

- Những hiểu biết về nhà văn, sự nghiệp sáng tác và các tác phẩm (Cuộc đời, sự nghiệp văn học, phong cách, quan điểm nghệ thuật )

- Những tri thức về lí luận văn học, về hình thức và thể loại văn học

- Vận đụng những kiến thức đó lựa chọn, bé sung và kết hợp phương

pháp đọc - hiểu để thiết kế bài học về Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí

Minh

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tra cứu

- phương pháp lịch đại và đồng đại

- Phương pháp khảo sát phân tích tổng hop

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thực nghiệm

6 Phạm vi nghiên cứu

* Nội dung

Khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu tìm hiểu về Tác gia Nguyễn Ái

Quốc - Hà Chí Minh trong SGK Ngữ văn lớp 12 tập 1 và SGK Ngữ văn lớp

12 nâng cao tập 1

* Tư liệu

Khoá luận nghiên cứu tư liệu bằng tiếng Việt và sách dịch, không nghiên cứu sách nước ngoài

7 Đóng góp của khóa luận

Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu mong muốn khóa luận sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa việc dạy học Văn học sử nói chung cũng như nâng cao chất lượng dạy bài học về Tác gia Nguyễn Ái Quốc —- Hồ Chí

Minh nói riêng trong chương trình Ngữ văn THPT

8 Bố cục khoá luận

Khoá luận gồm 3 chương :

Nguyén The Hing ~ K32 C 4

Trang 5

Khoa Nyt van ớ # Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Vận dụng phương pháp đọc - hiểu vào bài dạy tác gia

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

Chương 3: Thiết kế giáo án thử nghiệm bài dạy tác gia Nguyễn Ái

Quốc - Hồ Chí Minh

Nguyén The Hing ~ K32 C 5

Trang 6

NỘI DUNG

CHUONG 1: NHUNG VAN DE CHUNG

1 Những phương pháp thường dùng trong dạy học Văn học sử ở trường Trung học phố thông

Dạy học Văn học sử Việt Nam là đi tìm hiểu một lịch sử văn học phát triển - tiến bộ Do đó mà trong từng thời kì, từng môi trường giáo dục khác nhau, vị trí, vai trò của thầy và trò đã có sự thay đôi Phương pháp dạy học hiện đại coi trọng việc phát huy tối đa khả năng tiếp thu chủ động sáng tạo của học sinh Trong nhiều năm qua dạy Văn học sử đã được sử dụng nhiều phương pháp khác nhau

1.1 Phương pháp diễn giảng

* Định nghĩa

Phương pháp diễn giảng là phương pháp mà trong đó “Giáo viên phân tích, trình bày các tri thức kết hợp với việc ghỉ bảng còn học sinh thì nghe,

hiểu và ghỉ vào vở riêng” [3.247]

Không chỉ với phân môn Văn học sử, nhiều phân môn khác cũng sử dụng phương pháp này như một phương tiện phổ biến đề truyền đạt tri thức

Về bản chất, đây là phương pháp giáo viên dựa vào sách giáo khoa trình bày

lại nội dung hình thức trong sách giáo khoa trên cơ sở giảng giải, cắt nghĩa minh hoa thém đề học sinh hiểu sách giáo khoa Từ đó, học sinh có thể tự

khái quát theo cách hiểu của mình

Trong bài Túc gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có nhiều nội dung kiến thức có thể sử dụng sử dụng phương pháp diễn giảng như ở phần Tiéu

sử, đặc biệt là ở phần sự nghiệp văn học có khá nhiều nội dung có thể sử dụng phương pháp này như: quan điểm sáng tác, di sản văn học Đôi với phần phong cách nghệ thuật sử dụng phương pháp này sẽ giúp giáo viên có thể

truyền đạt kiến thức một cách hệ thống hơn

Nguyén Thi Hing - 22 C 6

Trang 7

Khoa Nyt van ớ # Tuy nhiên, trên đây là những phương pháp quen thuộc đã sử dụng phổ biến trong dạy học Văn học sử nhưng chưa là những phương pháp tối ưu duy nhất Bởi vì nó có những ưu, nhược sau:

* Uu điểm

Văn học sử với lượng kiến thức lớn lại mang tính khái quát cao, sử dụng phương pháp diễn giảng sẽ tiết kiệm được thời gian mà vẫn truyền tái tri thức cho học sinh đầy đủ hệ thống và lôgic Nếu người giáo viên biết lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu sinh động, hấp dẫn kết hợp với khả năng diễn thuyết phù hợp sẽ tạo ra được hiệu quả cao trong giờ dạy học

* Nhược điểm

Sử dụng phương pháp này người làm việc chính là giáo viên, học sinh

thụ động trong việc tiếp nhận tri thức Học sinh không phát huy được vai trò

chủ động, tích cực của mình dễ nảy sinh thái độ chán nản, không thích học

1.2 Phương pháp đặt câu hỏi

* Định nghĩa

Phương pháp đặt câu hỏi là “phương pháp trong đó thầy giáo tác động đến hoạt động quan sát, tư duy độc lập của học sinh bằng các câu hỏi của mình về bài học và bắt học sinh phân tích, so sánh các hiện tượng, các nhận

định trên cơ sở đó dẫn dắt học sinh đến các kết luận và khái quát cần định hướng ˆ' [3.248]

Khi áp dụng phương pháp đặt câu hỏi, giáo viên phải căn cứ vào nội dung, mức độ khó đễ để đặt câu hỏi hợp lí Phương pháp đặt câu hỏi có thể vận dụng cho cả bài học hoặc một phần của bài học Câu hỏi Văn học sử có thể có các nội dung sau đây: câu hỏi phân tích khái quát Văn học sử, câu hỏi phân tích minh hoạ Văn học sử, câu hỏi so sánh — khái quát đồng đại, câu hỏi liên kết — khái quát lịch đại

* Ưu điểm

Nguyén The Hing ~ K32 C 7

Trang 8

Đây là phương pháp phát huy đầy đủ năng lực, trí tuệ của học sinh trong

giờ Văn học sử nhất là khi sử dụng những câu hỏi mang tính phát hiện, khái

quát

Trong bài dạy Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, giáo viên có thể

đưa ra một số tình huống gợi ý có tính chất phát hiện như “Yéu t6 ndo chi phối đến hoạt động văn nghệ của Hồ Chí Minh?” hay “Quan niệm nào đã chỉ phối tạo nên sự nghiệp văn chương phong phú và đa dạng của Người?”,

“Ở mỗi thể loại, Người đã có những đóng góp lớn nào?” với mỗi câu hỏi như vậy sẽ khơi gợi khả năng phân tích, tư duy của học sinh giúp các em hiểu sâu bài học

* Nhược điểm

Sử dụng phương pháp này, giáo viên khó làm chủ được kiến thức nếu

thiếu năng lực Sư phạm Nhiều ý kiến của học sinh tản mạn, chệch quỹ đạo kiến thức đã định hướng Hơn nữa, nội dung và thời gian qui định của bài đạy

có giới hạn nên có thể xảy ra tình trạng hết thời gian mà nội dung kiến thức chưa truyền tải hết

1.3 Phương pháp nghiên cứu sách giáo khoa

* Định nghĩa

Sách giáo khoa là tài liệu chứa đựng đầy đủ, chính xác nhất nội dung chương trình, được sắp xếp một cách có hệ thống, lôgic và khoa học Sach giáo khoa là công cụ, phương tiện đắc lực giúp cho quá trình giảng dạy của

giáo viên và quá trình lĩnh hội của học sinh

Phương pháp nghiên cứu sách giáo khoa là phương pháp trong đó “Học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tự lĩnh hội bài học Giáo viên chỉ có thể hướng dẫn học sinh tự học và kiểm tra kết quả đó trên

lớp” [3.249]

Nguyén The Hing ~ K32 C 8

Trang 9

Khoa Nyt van ớ #

Ví dụ trong bài dạy Tác gia Nguyễn Ấi Quốc - Hồ Chí Minh, các phần mục đều có thể áp dụng phương pháp này Giáo viên gọi học sinh đọc bài, kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh ở nhà, yêu cầu học sinh tóm tắt, nêu những ý chính của kiến thức cần nắm vững, giáo viên sử đụng những câu hỏi mang tính định hướng, gợi mở hay tạo những tình huống co van dé dé hoc sinh được làm việc một cách hiệu quả

* Ưu điểm

Phương pháp này góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện năng lực tự học, tự lĩnh hội trong quá trình tiếp thụ văn bản

* Nhược điểm

Học sinh tự học là việc làm khó khăn Phương pháp này chỉ phù hợp với

học sinh lớp chọn, chuyên, những lớp nhiều học sinh khá Học sinh tự mình tìm ra những nhận định, những nội dung then chốt không phải em nào cũng làm được sẽ dẫn đến tình trạng nhiều em ý nại, lười suy nghĩ

1.4 Phương pháp trần thuật và kế chuyện có nghệ thuật

* Định nghĩa

Phương pháp trần thuật và kể chuyện có nghệ thuật là phương pháp trong đó“ Giáo viên hướng dẫn trần thuật theo sách giáo khoa hoặc kể có nghệ thuật về lịch sử thời đại, về cuộc sống nhà văn, về sự ra đời của tác phẩm, về một sự kiện văn hoá có liên quan đến tác phẩm để đi đến những

két ludn van hoc can thiết cho bài giảng ” [3.250]

Phương pháp này dùng vào việc trình bày lôgic về bối cảnh, về tiểu sử tác giả, về kết cầu tác phẩm góp phần làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn Trong bài dạy Tác gia Nguyễn Ái Quốc —- Hồ Chí Minh, phương pháp nay giáo viên có thê kết hợp với phương pháp diễn giảng dé dạy phần tiêu sử tác gia Nguyễn Ái Quốc giúp các em thấy được những nét chính về cuộc đời

Nguyén The Hing ~ K32 C 9

Trang 10

* Nhược điểm

Sử dụng phương pháp này nếu giáo viên không khéo léo dễ dẫn đến kể

lan man, dài dòng làm học sinh phân tán tư tưởng, thiếu tập trung trong việc lĩnh hội tri thức Đồng thời, với lượng thời gian có hạn nên việc đảm bảo truyền thụ hết kiến thức là rất khó

1.5 Phương pháp trực quan

Đây là phương pháp quan trọng trong phân môn Văn học sử Giờ học sẽ trở nên hấp dẫn sinh động khi được đồ dùng trực quan được sử dụng trong giờ học Phương pháp trực quan không dùng độc lập luôn được kết hợp với các phương pháp đã trình bày ở trên Phương pháp trực quan là phương pháp mà trong đó “Người giáo viên vẽ ra bức tranh của xã hội, dựng lại cuộc đời nhà văn sao cho tất cả trở nên sống động, truyền cảm, tạo không khí ấi vào tác

phẩm” [3.250]

Trong bài dạy Văn học sử, phương tiện trực quan là tranh ảnh về lịch sử, con người, Sơ đồ, đường biểu diễn mô tả các giai đoạn lịch sử, văn học, cuộc đời tác giả Hiện nay, với phương tiện kĩ thuât hiện đại băng hình, máy ghi bảng và hình ảnh trong máy tính với chương trình Powerpoint có thê hỗ trợ đắc lực cho giờ Văn học sử

Trong bài dạy Tác gia Nguyễn Ái Quốc —- Hồ Chí Minh, phương pháp trực quan có thê áp dụng ở tất cá các phần Ngay từ phần mở đầu, giáo viên

Nguyén The Hing - K32 C 10

Trang 11

Khoa Nyt van ớ #

có thể cho học sinh nghe một đoạn nhạc hát về Bác để vào bài, đặc biệt trong phần tiểu sử thì việc minh họa bằng những hình ảnh hay đoạn băng tư liệu về những chặng đường hoạt động của Nguyễn Ái Quốc sẽ giúp cho giờ học trở nên cuốn hút và sinh động hơn

* Uu điểm

Phương pháp trực quan có khả năng tác động trực tiếp tới sự tri giác của

học sinh, khiến học sinh hứng thú tiếp nhận hơn khi phối hợp với lời thuyết

giảng sẽ đạt hiệu quả cao

việc hiểu văn bản như một sự giải mã

Tri thức Văn học sử là loại tri thức mang tính khái quát cao mang sức nặng của độ nén thông tin Đọc làm sao đề hiểu được nội dung tri thức cần tiếp thu và minh hoạ được nó là một điều đáng phải bàn, suy nghĩ Phương pháp đọc - hiểu mới được đề xuất và được biết đến như một “gương mặt lạ trong môi trường doc văn quen thuộc (chữ dùng của GS.Nguyễn Thanh

Hùng) Cụ thể về phương pháp đọc - hiểu như thế nào chúng tôi sẽ trình bày ở

phần tiếp sau

Trang 12

2 Phương pháp đọc — hiểu trong dạy học Văn học sử ở nhà trường phố thông hiện nay

2.1 Khái niệm đọc - hiểu

Một trong những điểm quan trọng của chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới là đối mới về phương pháp dạy học Xuất phát từ thực té day hoc ma nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng đúng phương pháp trong dạy học trong đó đọc — hiểu được coi là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất ở trường phổ thông hiện nay

Về khái niệm đọc, đã có khá nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa

hay những quan niệm khác nhau Chẳng hạn đọc là “công việc giải mã những

kí hiệu đã được viết ra thành văn bản” (C.C.Walcutt) “là dung nạp và suy nghĩ về một hay những thông tin nào đó”(M.A.Tunker) Một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng “Đọc là một hoạt động văn hóa — một hoạt động đặc trưng của con người Con người thực hiện hoạt động này là một hình thức tiếp nhận thông tin hướng tới thỏa mãn một nhu cầu nào đó trong cuộc sống

Và theo GS Nguyễn Thanh Hùng thì “đọc văn chỉ thực sự là một hoạt động khoa học khi người đọc biết kết hợp hoạt động nhận thức nội dung, tư tưởng cua tác phẩm với đánh giá những điều đọc trên lớp, trường cá nhân của kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghệ thuật và thưởng thức thẩm mĩ.” [9.56]

Mục đích chính trực tiếp của việc đọc là hiểu Cũng theo GS Nguyễn Thanh Hùng hiểu trong dạy đọc — hiểu về phương diện nào đó là sự vượt qua khoảng cách mơ hồ, chưa nhận thức ra một cách đầy đủ hoàn chỉnh giữa chủ thê đọc tác phẩm và văn bản nghệ thuật

Theo đó, hiểu còn được xem xét là “một khái niệm triết học bao gốm sự nhận thức, đánh giá, bao gầm cả việc đánh giá sáng tạo, tạo nghĩa mới, cách

hiểu mới ” [8.28]

Trang 13

Biết chữ và biết đọc là có thể đọc mọi văn bản Điều đó đúng nhưng chưa đủ để đọc văn bản văn học Yêu cầu đặt ra là người đọc văn bản văn học phải có tri thức nền tảng về văn và phải có phương pháp đọc - hiểu Khái niệm đọc — hiểu mới chỉ chính thức xuất hiện ở Việt Nam trong may nam gan đây và trong chương trình Ngữ văn THPT thành ra thuật ngữ này vừa quen lại như “một gương mặt lạ” trong họat động học văn, đọc văn từ xưa đến nay Điều đó dẫn tới một thực tế việc đưa ra một khái niệm thống nhất, cố định

duy nhất về khái niệm đọc — hiểu là điều khó khăn, chưa thé thực hiện được

Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 2 đưa ra khái niệm về đọc — hiểu như sau: “Đọc — hiểu là phương thức đọc văn nhằm mục đích hiểu biết chính xác, cặn kẽ tác phẩm văn chương, khám phá những giá trị văn chương (văn hóa,

xã hội) mới mẻ, lớn lao, hữu ích” [20.38]

Theo PGS.TS Nguyễn Thái Hòa thì “một cách khái quát đọc — hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác, để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghỉ nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản ”[11.264]

Coi đọc — hiểu là một phương pháp, PGS.TS đã trình bày rất kĩ lưỡng những khía cạnh, đặc điểm trong nội dung của phương pháp Còn GS.TS

Nguyễn Thanh Hùng thì cho rằng “đọc — hiểu văn chương là cái chú quan

của người viết bằng cách đồng hóa tâm hôn tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách Đọc — hiểu không chỉ tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình nhuân thấm tin hiệu nghệ thuật chứa mã văn hóa đồng thời với việc huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm văn chương” [8.15]

Có thể thấy, mỗi người lại có cách phát biểu, định nghĩa hay quan niệm

khác nhau về đọc — hiểu nhưng chung quy lại thì đọc — hiểu là con đường tiếp cận văn bản văn học một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất

Nguyén The Hing - K32 C 13

Trang 14

2.2 Các bước đọc — hiểu

2.2.1 Đọc thông — đọc thuộc

Đọc thông là một hoạt động tri giác ngôn ngữ Yêu cầu của nó là đọc rõ ràng, mạch lạc, chính xác đúng chính âm, đúng ngữ điệu Là hoạt động nhằm chuyển đổi ngôn ngữ từ dạng kí hiệu — chữ viết sang tín hiệu âm thanh nhằm tạo ra sự tác động đồng thời của các giác quan vào kí ức vào tưởng tượng và liên tưởng của người đọc Trước hết phái hiểu ngôn ngữ văn bản, có cái nhìn bao quát toàn bộ văn bản, độ dài hình thức tổ chức, lượng thông tin Nó được xem như một hoạt động mở đầu cho quá trình khám phá Hoạt động này khá đơn giản nhưng không thể thiếu trong quá trình tiếp nhận văn bản

Đọc thuộc là ghi nhớ văn bản Văn học sử mà không cần có văn bản in

hoặc viết Để đạt được yêu cầu này người đọc phải chú ý đến các tình tiết,

chỉ tiết tiêu biểu, có khả năng tóm tắt văn bản đó một cách ngắn gọn, đầy đủ

nhất Đây cũng là một bước không thê thiếu trong việc lĩnh hội văn bản Văn

học sử

2.2.2 Đọc kĩ — đọc sâu

Đọc kĩ là đọc lại nhiều lần, chú ý các từ ngữ, chỉ tiết, sự kiện, hình ảnh hoặc những biến có, tình tiết của văn bản Từ đó hiểu văn bán một cách chính xác Đọc kĩ phải gắn liền với hoạt động ghi nhớ

Đọc sâu không chỉ là đọc nhiều lần ghi nhớ về một số thông tin Đọc sâu

là đọc để phát hiện ra cấu trúc nội tại của các thông tin chứa đựng trong văn bản Trong dạy học Văn học sử, đọc sâu giúp người đọc ghi nhớ các lôgic của luận điểm, hệ thống các sự kiện, chỉ tiết quan trọng

2.2.3 Đọc hiểu — đọc sáng tạo

Đọc là để tiếp nhận thông tin, tìm hiểu văn bản Muốn hiểu văn bản thì phải khám phá văn bản ấy bằng một hệ thống kiến thức Đọc hiểu vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu để đón nhận lượng thông tin Người đọc phải có kiến thức

về ngôn ngữ, lịch sử, văn hoá như vậy gọi là đọc — hiểu

Nguyén The Hing - K32 C 14

Trang 15

Khoa Nyt van ớ #

Đọc sáng tạo được áp dụng chủ yếu cho các văn bản nghệ thuật vì tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm của tưởng tượng, hư cấu Trong Văn học sử, văn bản vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật nên có thé sử dụng phương pháp đọc sáng tạo Học sinh có thể tưởng tượng, tái tạo lại cuộc đời của nhà văn — chân dung người nghệ sĩ Như vậy đọc sáng tạo là một yêu cầu dành cho các văn bản Ngữ văn trong đó có văn bản Văn học sử (khi đọc bắt buộc người đọc phải tưởng tượng, phải phán đoán suy xét ) Nghĩa của văn bản không hoàn toàn phụ thuộc vào văn bản mà lệ thuộc vào người đọc 2.2.4 Đọc đánh giá — đọc ứng dụng

Đọc đánh giá bao gồm hai nội dung Thứ nhất người đọc đánh giá khách quan về hình thức tổ chức, về nội dung thông tin của văn bản Ngữ văn Thứ

hai là bày tỏ thái độ cá nhân của người đọc Những thái độ này có thê rất chủ

quan riêng tư Nó phụ thuộc vào thái độ của người đọc đối với văn bản Sự đánh giá góp phần dân chủ hóa quá trình nhận thức làm phong phú thêm các giá trị phù hợp với quy luật Mỗi độc giả là một cá nhân duy nhất

2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy đọc — hiểu tác gia Nguyễn

Ái Quốc - Hồ Chí Minh

Công nghệ thông tin là một trong những khái niệm khá mới trong dạy học đặc biệt đối với giờ dạy văn học Theo nghĩa rộng, công nghệ thông tin có

thể được hiều một cách khái quát nhất là toàn bộ phương tiện kĩ thuật dạy học

hiện dai Theo nghĩa hep thì nó là một trong những thuật ngữ dùng đề chỉ một

số phương tiện kĩ thuật thông tin liên lạc, truyền thông hiện đại có thể ứng

dụng trong dạy học bao gồm: mạng internet (webside, blog, chat ), các loại

từ điển điện tử, thư điện tử e-mail

Với những tiện ích hết sức to lớn, ngày nay công nghệ thông tin đã và

đang được ứng dụng rộng rãi không chỉ trong dạy học mà còn với nhiều

ngành khác Đặc biệt trong dạy học, việc áp dụng công nghệ thông tin đã thể hiện được nhiều tính năng vượt trội như:

ANguyén Thi Ming - K32C 15

Trang 16

2.3.1 Phần mềm Powerpoint

Phần mềm powerpoint 2007 là một phần mềm “théng minh” do hang Microsoft sản xuất Nhờ có nhiều hỗ trợ đa phương tiện về hình ảnh, âm thanh, các đoạn phim, các dòng chữ chuyên động theo nhiều kiểu mà làm cho bản trình diễn sinh động, hấp dẫn và có hiệu quả cao nhất

Thao tác tiến hành một bài trình diễn tạo bởi powerpoint như sau: người dung sẽ nhập vào các slide trống nội dung cần trình diễn, sau đó sử dụng các công cụ phong phú của powerpoint để bài trí bài trình điễn sao cho đẹp mắt và hấp dẫn người xem Powerpoint chỉ cung cấp các công cụ còn viêc sử dụng các công cụ đó như thế nào cho hợp lí lại tùy thuộc vào khả năng thâm mĩ của từng người Sau khi soạn thảo xong bản trình điễn sẽ được lưu lại trên đĩa của

máy tính dưới dạng các file và có thể in ra giấy phát cho mọi người Đề trình

diễn các file này cho nhiều người cùng xem cần phải có thêm một máy Projecter nối với máy tính chứa file trình diễn làm nhiệm vụ chiếu nội dung

của file trình diễn lên bảng theo từng slide dưới sự điều khiển của một thuyết

Nguyễn Ái Quốc là một một việc khó Tuy nhiên nếu giáo viên biết khai thác

tiện ích cũng như tính năng ưu việt của phần mềm powerpoint chắc chắn bài dạy sẽ đạt hiệu quả cao Chang han khi hoc phan I — Vai nét vé tiéu str, giao viên có thể cho học sinh xem một số hình ảnh về những năm tháng hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài Đề giúp học sinh hiểu thêm về một số tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Người trong phần II, cần khai thác thêm các hình ảnh hoặc các đoạn băng tư liệu sau đó đặt câu hỏi để dẫn dắt các em vào vấn đề trọng tâm của bài học

ANguyén Thi Ming - K32C 16

Trang 17

Khoa Nyt van ớ #

2.3.2 Giáo án điện tử

Giáo án điện tử là giáo án đang được sử dụng rộng rãi trong nhà trường THPT Đây là cách áp dụng công nghệ thông tin thay cho bảng đen, phấn trắng Sử dụng giáo án điện tử thành thạo hiệu quả giờ dạy sẽ cao hơn Giáo

án điện tử được thiết kế và triển khai trong môi trường đa phương tiện nghĩa

là các nội dung và hoạt động dạy học đều được Multimedia hóa tức là được chuyên hóa dưới nhiều dạng thức khác nhau như: Text, Picture, Image, Animation, Graphic, Sound, Film, Videoclip

2.3.3 Bài học tác gia Nguyễn Ái Quốc —- Hồ Chí Minh với việc ứng dụng

công nghệ thông tin

Vị trí của bài học tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

- Bài học Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tìm hiêu nghiên cứu sau bài Tuyên ngôn độc lập Mục đích của bài học này nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về tác gia Nguyễn Ái Quốc — Hé Chí Minh Giúp học sinh hiểu được cuộc đời cách mạng và quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh, nhận thức được một cách khái quát tính chất phong phú, đa dạng của

văn thơ Hồ Chí Minh từ nội dung đến hình thức Từ đó, học sinh nắm được

những đặc điểm chung nhất của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh, làm tiền

đề cơ sở để học sinh đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm Lôgic nội dung bài học Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được triển khai như sau:

Trang 18

Trình tự trình bày các nội dung và mức độ kiến thức của bài khi ứng dụng công nghệ theo lôgic trên Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng những

hình ảnh âm thanh liên quan đến nội dung bài học để làm phong phú sinh

động giờ học

Nguyén The Hing - K32 C 18

Trang 19

Khoa Nyt van ớ #

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC - HIỂU VÀO BÀI

DẠY TÁC GIA NGUYỄN ÁI QUÓC - HÒ CHÍ MINH

1 Đặc trưng của văn bản Văn học sử

Từ thực tiễn văn học của một đất nước qua các giai đoạn lịch sử, các nhà nghiên cứu khái quát thành những tri thức văn học sử Đề phù hợp với đối tượng học sinh trong nhà trường phô thông, việc tổ chức và phân bố những tri

thức mang tính khoa học ấy phải phù hợp theo lứa tuổi cũng như thời lượng

qui định cho phép Các nhà nghiên cứu khẳng định “Bộ môn văn học trong nhà trường phổ thông có hai đặc trưng kết hợp chặt chẽ với nhau và ẩược quán triệt qua nội dung, phương pháp giảng dạy các phân môn Đó là hai đặc trưng khoa học và đặc trưng nghệ thuat’’ [16.21] Phân môn Văn học sử cũng mang những đặc trưng chung đó

1.1 Đặc trưng khoa học

Bắt kì một dạng văn bản Văn học sử nào cũng chứa đựng trong nó tri thức khoa học Nói đến tri thức và tư duy mang tính khoa học là nói đến “hệ

thống khái niệm và nhận định văn học sử về giai đoạn, về thể loại, về tác gia,

về tác phẩm có khi bao gầm cả tri thức về lịch sử, địa lí, nghệ thuật, xã hội,

văn hoá Đẳng thời cũng nói đến năng lực định nghĩa, phát hiện và phân tích luận điểm, mình họa luận điểm, năng lực khái quát hơn, hệ thống tri thức hóa, đối chiếu trí thức ” [16.12]

Thông thường, trình tự sắp xếp các tri thức về Văn học sử theo tiến trình lịch sử Điều gì xảy ra trước, có trước sẽ phản ánh vào văn học qua các bài học Văn học sử được phân bố theo từng cấp học, lớp học Tri thức Văn học sử

đồ sộ, phong phú song không hề chồng chéo, lắn lướt mà chỉ là sự bao hàm,

bổ sung tương tác lẫn nhau Tập hợp hệ thống tri thức Văn học sử làm nên bản chất khoa học của môn học

Nguyen Thi Hang

Trang 20

Chương trình Văn học sử ở cấp THPT đã thực sự góp phần hình thành đặc trưng khoa học của bộ môn văn học trên cơ sở tiếp nối và nâng cao các kiến thức văn học phổ thông cơ sở Nó đem đến cho học sinh những tri thức

cơ bản về lịch sử của nền văn học dân tộc và những khái niệm Văn học sử như: giai đoạn, tác giả, tác phẩm, thể loại, nội dung kiến thức, trào lưu, phương pháp cũng như những nhận định Văn học sử mang tính khái quát cao

Trong bài học Tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh học sinh sẽ

được cung cấp một số tri thức khoa học về quan điểm sáng tác văn học của Người Từ đó hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của văn thơ Hồ Chí Minh từ nội dung đến hình thức và nắm được phương pháp tìm hiểu các tác phẩm của Người Những khái niệm và nhận định Văn học sử được lựa chọn một cách cơ bản và được trình bảy sắp xếp theo một hệ thống chặt chẽ Tính

hệ thống không chỉ được trình bày có tính lịch đại mà còn được xác lập chặt chẽ trong mối quan hệ giữa tri thức khái quát với tri thức cụ thê trong từng chương, mục, bài học Vì vậy, khi học bài Tác gia Nguyễn Ai Quéc — Hé Chi Minh trước hết cần cho học sinh tìm hiểu phan I (Vai nét về tiểu sử ) để thay được những nét khái quát nhất trong quá trình hoạt động dẫn đến sự nghiệp văn chương của Người Sau đó dẫn dắt học sinh đến việc nắm bắt được những đặc điểm quan trọng trong quan điểm sáng tác văn học: đó là quan điểm hết sức nhất quán và chính nó giải thích vì sao Người đã tạo nên một sự nghiệp văn học phong phú và đa dạng Từ đó, giúp học sinh hiểu được những nét thống nhất trong phong cách nghệ thuật của Người — một phong cách nghệ thuật độc đáo, đa dạng ở mỗi thể loại Qua cấu trúc bài học như vậy học sinh mới có cái nhìn toàn diện về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn học hết sức phong phú của một bậc “đi #rí, đại nhân, đại dũng ” [13.27]

Đặc trưng khoa học của bài học Văn học sử còn được thể hiện ở tính hiện đại của các tri thức Văn học sử, ở sự lựa chọn tác giả, tác phẩm, ở sự

Nguyén The Hing - K32 C 20

Trang 21

Khoa Nyt van ớ #

mạnh dạn khai thác các yếu tố mới về nội dung nhân bản, về thi pháp lịch sử, phong cách nghệ thuật Do đó mà tư duy cũng như nhận thức của học sinh ngày càng được rèn luyện và nâng cao

Đối với bài dạy Tức gia Nguyễn Ấi Quốc - Hồ Chí Minh khi dạy giáo viên cần lưu ý để học sinh hiểu việc lựa chọn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - một vị nguyên thủ quốc gia ở vị trí tác gia văn học lớn của chương trình văn học trong nhà trường là một việc hiếm thấy xưa nay nhưng không

phải vì người là lãnh tụ mà là vì Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một nhà

thơ, nhà văn thực thụ, một tác gia văn học lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại như các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định Chính giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật ở các tác phẩm văn chương của Người đã tạo

dựng cho Người vị thế tác gia văn học lớn Không riêng gì ở phổ thông mà

trong các giáo trình văn học Việt Nam từ trước đến nay tác gia Nguyễn Ái

Quốc - Hồ Chí Minh cũng có một vị trí đặc biệt như thế Và không phải chỉ ở Việt Nam mà nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ, nhà hoạt động chính trị

thế giới cũng coi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một tác gia văn học lớn

Axtroghindo Perel (Braxin) “Tôi thật ngạc nhiên khi đọc những bài thơ của chủ tịch Hô Chí Minh in trong cuốn Nhật kí trong tù Một con người vừa làm lãnh tụ cách mạng lớn lại vừa làm nhà thơ lớn thì van là một chuyện hiếm thấy xưa nay” Rôger Denuc (Pháp) “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những nhà thơ Việt Nam lớn nhất hiện nay”

1.2 Đặc trưng nghệ thuật

“Nói đến tri thức và tư duy mang tính nghệ thuật là nói đến nghệ thuật mình họa cho văn học sử bằng tác phẩm ” [L7.37] Nghệ thuật minh họa trước

hết đòi hỏi tính toàn diện, cụ thé, tiêu biểu và đặc biệt là thẩm mĩ, có ý nghĩa

là phải tạo ra được rung động cho học sinh Những rung động ngắn ngủi như

thé lại tạo cho học sinh khắc sâu các khái niệm, nhận định vào tâm hồn Nó

Trang 22

đòi hỏi khả năng của giáo viên biết dồn nén vao trong vài câu bình mà toát lên được cái “¿hân ” của tác phẩm hoặc tập hợp tác phẩm dẫn chứng gây một xúc cảm lắng đọng trong học sinh Khi giới thiệu các khái niệm, phân tích diễn giảng, lí giải các nhận định có thể sử dụng cách điễn đạt hình tượng dựa trên

tư đuy hình tượng Điều này thể hiện ở những đoạn văn có sử dụng những từ ngữ, hình ánh bóng bảy, trau chuốt giàu sức gợi hình

Chang han, khi danh gia vé van phong của Hồ Chí Minh, Tố Hữu nhận xét: “Văn phong Hỗ Chí Minh là tiêu biểu rõ ràng nhất của văn chương mới theo phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng Văn Hồ Chủ Tịch bao giờ cũng bình dị và sâu sắc, sáng rõ và gọn gàng, mãnh liệt và đầm ấm thiết thực

mà bóng bảy, lắm khi hài hước mà vẫn giữ mức trang nghiêm soi vào trí thắm vào long của nhân dân như ảnh sáng mùa xuân ấm áp Nó kết hợp một cách

kì diệu những tư tưởng khoa học với điệu cảm, cách nói của dân lộc.”

[21.437]

Chính những cách diễn đạt kiểu như vậy trong Văn học sử đã gây ấn

tượng sâu đậm, lâu bền trong kí ức học sinh Điều đó cũng đồng nghĩa với

việc học sinh có thể phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng cần thiết trong các giờ Văn học sử

Đề làm rõ nhận định trên giáo viên có thể dẫn ra một số tác phẩm văn chính luận của Bác như: Tuyên ngôn độc lập, Lời than văn của bà Trưng

Trắc, Con Rồng Tre, Vi hành để thấy được tính “dân tộc, khoa học, đại

chúng” đồng thời còn là những áng văn chính luận mẫu mực có giá trị hết sức to lớn của Người

Có thể thấy, một trong những điểm khác biệt của văn bản Văn học sử với các loại văn bản nghệ thuật khác thể hiện ở sức khái quát, trừu tượng của tri thức Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách đọc, khám phá, đánh giá để hiểu sâu sắc và trọn vẹn văn bản Văn học sử Muốn làm được điều đó

Trang 23

Khoa Nyt van ớ # đòi hỏi giáo viên phải tìm ra cách truyền đạt có hiệu quả nhất Phương pháp

đọc — hiểu đưới sự tổ chức điều khiển của giáo viên sẽ giúp học sinh bóc trần

những lớp vỏ đa nghĩa, trừu tượng từ những dẫn chứng cụ thể sẽ soi sáng cho những nhận định, khái niệm mang tính khái quát cao Học sinh sẽ chuyên được những tri thức từ văn bản Văn học sử vào sự tiếp nhận của chính mình

2 Những tri thức cơ bản trong bài học tác gia Nguyễn Ái Quốc —- Hồ Chí Minh

2.1 Tri thức khái quát

Theo Từ điển tiếng Việt của GS Đào Duy Anh thi “Tri thirc khái quát

là những hiểu biết có hệ thống mang tính chung nhất cho một loạt sự vật, hiện tượng phải có mối liên hệ nhất định ” [1.56]

Trong Văn học str, theo GS Phan Trong Luan thi “tri thirc khái quát bao gầm chú yếu là các nhận định Văn học sử (giai đoạn, xu hướng, tác giả,

thể loại, tác phẩm) ”[17.32] Đồng tình với cách hiểu trên TS Nguyễn

Trọng Hoàn cũng cho rằng: “7?¡ thức khái quát là những nhận định, nhận xét

đánh giá, kết luận là kết quả khái quát nhất những giá trị văn học Nó nói lên

bản chất của các vấn đề văn học” [6.10]

Như vậy là các tác giả đều có chung một nhận định rằng tri thức khái quát trong các bài Văn học sử chính là những nhận định, nhận xét đánh giá về các sự kiện, hiện tượng văn học Vì nó là kết quả tổng hợp về các sự kiện, hiện tượng văn học nên nó bao hàm một lượng thông tin rất lớn, cô đọng, hàm súc và trừu tượng Nắm được tri thức khái quát tức là đã nắm được chân giá trị của các sự kiện, hiện tượng văn học

Cấp độ khái quát lớn nhất trong bài học tác giả là những nhận định về vai trò, vị trí của tác gia trong giai đoạn tác gia sống và sáng tác cũng như trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc Tri thức khái quát ở cấp độ nhỏ sẽ là những nhận xét, đánh giá về tác phẩm được giới thiệu như một minh chứng

cho sự nghiệp sáng tác của tác gia

Nguyén The Hing - K32 C 23

Trang 24

Trong bài học về tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có thể xem đây là nhận định khái quát nhất: “Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một đi sản văn học lớn lao về tầm vóc, tư tưởng, phong phú

về thể loại và đa dạng về phong cách nghệ thuật ”[13.25]

Nhận định trên đã thâu tóm được vai trò, vị trí không thể thay thế được của Nguyễn Ái Quốc trong lịch sử văn học nước nhà

Không chỉ có những nhận định khái quát như vậy mà bài học về tác gia còn bao gồm những nhận định khái quát ở cấp độ nhỏ về tác phẩm Chẳng hạn, khi đánh giá về Nhật kí rong tù Đặng thai Mai đã nói “Đọc Nhật kí trong tù chúng ta thực sự cảm thấy đứng trước một thì sĩ và một con người cao cả vĩ đại ” hay có nhà phê bình đã từng nhận xét “7hơ Nhật kí trong tù có bài hỗn hậu trong trẻo như thơ dân gian, cũng có bài trang trọng bát ngát như thơ Đường, thơ Tống”, giữ cốt cách Á Đông mà thơ vẫn hiện đại, giản đị phong phú mà vẫn có phong cách riêng Nhật kí trong tù là một tập thơ có

nghệ thuật đặc sắc ” [21.43]

Trong các bài Văn học sử nói chung và bài học tác gia nói riêng thì

dung lượng tri thức khái quát là rất lớn Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã xác định đặc điểm bài khái quát giai đoạn văn học là “bao gồm một khối lượng kiến thức đô sộ, khái quát nhiều tằng bậc về những vẫn đề lón lao của nễn văn học đân tộc” [5.320] Bài học về tác gia cling vay, no bao gồm các nhận định, đánh giá về cuộc đời, đặc điểm con người, đặc điểm từng chặng đường sáng tác, những kết luận về vị trí tác gia trong giai đoạn và trong nền văn học

Những nhận định, đánh giá ấy sẽ đề cập đến các khái niệm lí luận, khái niệm

văn học sử như: quan điểm nghệ thuật, phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật cá nhân, nội dung tư tưởng, quan điểm thâm mĩ, các khái niệm về

hình thức và thé loại văn học (thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút ) Bởi vì,

một trong những yêu cầu quan trọng của bài học tác gia là phải hình thành

Nguyén The Hing - K32 C 24

Ngày đăng: 27/09/2014, 01:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học văn chương, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn chương
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
9. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và ?iếp nhận văn chương, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và ?iếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2002
10. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học văn ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Phan Trọng Luận (2004), Phương Pháp dạy học văn tập 2, Nxb Đại học Sư phạm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp dạy học văn tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
20. Trần Đình Sử (2001), Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 2, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 2
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2001
1. Dao Duy Anh, (2001), Tờ điển tiếng Việt, Nxb giáo dục Khác
2. Nguyễn Văn Bình (1998), Dạy văn dạy cái hay cái đẹp, Nxb giáo dục Khác
4. Lê Bá Hán (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
5. Nguyễn Trọng Hoàn (2003), Rèn luyện tr duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb giáo dục Khác
6. Nguyễn Trọng Hoàn (1991), Tập bài giảng phương pháp dạy lịch sử văn học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
7. Lê Văn Hồng (2001), Tâm li lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
11. Nguyễn Thái Hòa (2004 ), Vấn đề đọc — hiểu và dạy đọc — hiểu, Thông tin khoa học Sư phạm trang 4 — 7 Khác
12. Nguyễn Thái Hòa (2004), Dạy văn và vấn đề đọc — hiểu, Nxb giáo dục Khác
13. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2003), Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập I, Nxb giáo dục Khác
14. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2003), Sách giáo viên Ngữ văn 12 tập 1, Nxb giáo dục Khác
15. Phan Trọng Luận (chủ biên) (2003), Thiét ké bài giảng Ngữ văn 12 tập 1, Nxb giáo dục Khác
16. Phan Trọng Luận (2003), Phương Pháp dạy học văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội) Khác
18. Phương Lựu (1998), Lí luận văn học tập 3, Nxb giáo dục Khác
19. Hoàng Phê (2002), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Khác
21. Nhiều tác giả (2003), Văn thơ Hồ Chí Minh, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  nghệ  thuật  sinh  động - Đọc hiểu tác gia Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh trong chương trình trung học phổ thông
nh thức nghệ thuật sinh động (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w