1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Danh nhân văn hoá Mạc Đĩnh Chi và lễ hội đền thờ Mạc Đĩnh Chi trên quê hương Nam Tân Nam Sách, Hải Dương

80 894 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 26,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người viết chọn để tài này với mong muốn làm sáng lên những giá trị văn hóa đang tồn tại trên quê hương mình, mong muốn giới thiệu về con người Mạc Đĩnh Chi đến với mọi người và quảng bá

Trang 1

TRUONG DAI HOC SU PHAM HA NOI 2

KHOA NGU VAN 36S 3 2g 2 2 2k 2k 2k ok

MAC THI NHUNG

DANH NHÂN VĂN HÓA MẠC ĐĨNH CHI

VÀ LẺ HỘI ĐÈN THỜ MẠC ĐĨNH CHI

TREN QUE HUONG NAM TAN

NAM SACH - HAI DUONG

KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC

Chuyén nganh: Viét Nam hoc

Hà Nội, 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

MẠC THỊ NHUNG

DANH NHÂN VĂN HÓA MẠC ĐĨNH CHI

VÀ LẺ HỘI ĐÈN THỜ MẠC ĐĨNH CHI

TRÊN QUÊ HƯƠNG NAM TÂN

NAM SACH - HAI DUONG

KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC

Chuyén nganh: Viét Nam hoc

Người hướng dẫn khoa học

ThS.GVC.Vũ Văn Ký

Trang 3

LOI CAM ON

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ

Văn Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô, đặc biệt là thầy

giáo ThS.GVC Vũ Văn Ký, người đã trực tiếp tận tình giúp đỡ tôi trong quá

trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận này

Hà Nội, tháng 05, năm 2010

Tác giả khoá luận

Mạc Thị Nhung

Trang 4

LOI CAM DOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong khoá luận là kết quả

nghiên cứu của bản thân tôi đưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th§.GVC Vũ

Văn Ký Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác

giả khác Những câu trích trong đề tài có nội dung chính xác và các tài liệu có

xuât xứ rõ ràng

Hà Nội, tháng 05, năm 2010

Tác giả khóa luận

Mạc Thị Nhung

Trang 5

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu . - 2-2 ©+£+z+++£+zs+rxe+rxrrxerrs 4

6 Phương pháp nghiÊn CỨU - - << 64119911 51 1 9 1 1 1 ni, 4

7 Đóng góp của khóa luận .4

NỘI DƯNG 2.-5ccccccccS2 wd

Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung .- 2-2 s2 ssss=s 5

1.1 Khái niệm Danh nhân văn hóa - 255552255 ***++2<+++eeeezzeesss 5

1.2 Khái niệm Lễ hội -©55+22++EEkthErgHH re 6 1.3 Tổng quát về lễ hội Việt Nam -2-:¿222222EEtEEEEESEEErrkrrkerree 8

1.4 Cơ sở nghiên cứu của khóa luận -¿- +5 +5 £++ + ++s+seseeses 11 1.4.1 Xuất phát từ yêu cầu giữ gin va phat huy bản sắc dân tộc trong

In" dad MOL 11

1.4.2 Xuất phát từ thực trạng lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chi trên quê

hương Nam Tân - Nam Sách - Hải Dương 55 «+<<+<<£+x++ 12

Chương 2: Danh nhân văn hóa Mạc Đĩnh Chỉ . - 13

Pu g0: 7 13

2.2 Mac Dinh Chi - Cuộc đời và sự nghiỆp - - 55+ 5<<+<xs+ss+<+ 16

2.2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội thời Mạc Đĩnh Chi - 55s =s+s+=+2 16

p0 0 0n 19

Trang 6

Tân - Nam Sách - Hải Dương . s5 5= se se sex xe se 30

3.1 Khu di tích Đền thờ Mạc Đĩnh Chi (Khu đi tích Đền Long Động) 30

3.1.1 So luge lich SU 30 3.1.2 Khu di tích hiện nay 6 6< xxx ng re 30

3.3.3 Diễn biến lễ hội c2cccc HH re 35

3.3 Thực trạng về lễ hội Đền Long Động và một số giải pháp đề xuắt 45

Trang 7

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Dân tộc Việt Nam có nền văn hóa rực rỡ hơn 4000 năm, với nhiều giá

trị tinh thần sâu sắc và phong phú Đó là tỉnh thần yêu nước thiết tha, lòng nhân ái, trí thông minh, đức tính cần cù sáng tạo, chủ nghĩa anh hùng trong

bảo vệ và xây dựng đất nước Qua các thời đại, nhân dân ta bảo ton va phat

huy các giá trị tinh thần quý giá đó, sản sinh ra nhiều vị anh hùng, danh nhân

Đó là những người con ưu tú của dân tộc Những đóng góp của họ đã tác

động không nhỏ làm thay đối tiến trình lịch sử dân tộc Nhưng nhiều khi họ

lại đần bị lãng quên khi quá khứ dần lùi xa Mạc Đĩnh Chi là một trong số đó Hơn 7 thế ki đã trôi qua nhưng những công trình nghiên cứu về Danh nhân

văn hóa Mạc Đĩnh Chỉ còn nhỏ lẻ, hạn chế Ngay cá ở hiện tại cũng rat it

người biết đến nơi thờ phụng cũng như lễ hội nhằm tôn vinh, tưởng nhớ ông tại quê nhà (thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) Như vậy, những gì đương đại biết về Mạc Đĩnh Chi chưa tương xứng với tài năng và công lao của ông với đất nước cách đây 7 thé ki

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Long Động, nơi mà 3/4 số người sinh sống mang họ Mạc, người viết thấy được lòng tôn kính, niềm tự hào của nhân dân nơi đây về Mạc Đĩnh Chi Mạc Đĩnh Chi là Thành hoàng của họ, những

dấu tích về Mạc Đĩnh Chi đối với họ là báu vật, lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chi

luôn là sự mong đợi của họ Người viết chọn để tài này với mong muốn làm sáng lên những giá trị văn hóa đang tồn tại trên quê hương mình, mong muốn giới thiệu về con người Mạc Đĩnh Chi đến với mọi người và quảng bá Khu di

tích Đền thờ Mạc Đĩnh Chi tại thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam

Sách, tỉnh Hải Dương cũng như hoạt động lễ hội được tổ chức ở đây (còn gọi

là lễ hội Đền Long Động) với hi vọng nơi đây sẽ là một điểm đến du lịch văn hóa tâm linh mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Trang 8

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa đặc sắc trong truyền thống văn hóa

Việt Nam, là nhu cầu không thê thiếu trong đời sống nhân dân Nó xuất hiện

ngay từ buổi bình minh của loài người Qua quá trình tồn tại lâu dài với những lần tiếp biến văn hóa, lễ hội ngày càng có nhiều đổi thay Trong thời đại bùng nỗ của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong xu hướng toàn cầu hóa

được đây mạnh thì lễ hội càng có nhiều biến thiên Bên cạnh những mặt tích

cực trong lễ hội, thì tiêu cực đã xuất hiện và làm xấu toàn cảnh bức tranh lễ

hội Việt Nam nói chung, và lễ hội Đền thờ Mac Dinh Chỉ nói riêng Người

viết chọn đề tài này với mong muốn đóng góp một số giải pháp để phát huy

mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của hoạt động lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh

Chi trên chính quê hương mình

2 Lịch sử vấn đề

Đã có một số công trình, sách viết về vấn đề này, như:

Mạc tộc phả, sách cổ của tác giả Mạc Hoài Thương Phạm Tú Đây là cuốn sách viết về cội nguồn dòng họ Mạc, gia phả họ Mạc bắt đầu từ Mạc

Đĩnh Chi cho đến đời thứ 16 của ông, trong đó đặc biệt chú ý đến những người nồi tiếng như Mạc Đĩnh Chi, Mạc Đăng Dung

Chí Linh phong vật chí, là sách cô do Nguyễn Huy Đại và Nguyễn Thanh Giản dịch Cuốn sách tông hợp những gì là niềm tự hào của vùng đất

Chí Linh xưa Đó là những “địa linh” (Côn Sơn, Kiếp Bạc, Lục Đầu Giang,

núi Phượng Hoàng ), “nhân kiệt” (Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Quang Trạch,

Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Mại ) Quê hương của Mạc Đĩnh Chi ngày nay

trước đây thuộc đất Chí Linh nên ông cũng được giới thiệu ở đây

Ban lién lac dong ho Mac (2001), Hop bién thé pha ho Mac, Nha xuat

bản văn hóa Thông Tin, Hà Nội

Phan Kế Bính (1999), Nam Hải đị nhân, Nxb Thanh niên, Hà Nội Hoàng Tâm (1950), Nưm Hải kì nhân liệt truyện, Nxb Cây thông

Trang 9

Ngoài ra còn có những cuộc hội thảo cấp quốc gia về Danh nhân văn hóa Mạc Đĩnh Chỉ và những cuộc hội thảo cấp tỉnh bàn về những vấn đề liên quan đến Khu di tích Đền thờ Lưỡng quốc Trạng nguyên Mac Dinh Chi (thon Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), trong đó có lễ

hội Tiêu biểu như hội thảo “Cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân văn hóa

Mac Dinh Chi” ngay 8/9/2004 dưới sự đề dẫn của nhà sử học Dương Trung

Quốc - Tổng thư kí hội khoa học lịch sử Việt Nam

Kế thừa và tiếp thu kết quả của những tác giá đi trước, kết hợp với nguồn tư liệu của Ban quản lý Di tích Đền thờ Mạc Đĩnh Chi, đề tài mong

muốn thực hiện việc tìm hiểu, nghiên cứu về Danh nhân văn hóa Mạc Đĩnh

Chỉ và lễ hội tại nơi thờ phụng ông ở quê nhà góp phần giúp thế hệ ngày nay

hiểu được một phần nào đó về một nhân vật của quá khứ và quảng bá hình

ảnh, giá trị Khu di tích Đền thờ Mạc Đĩnh Chi đến với mọi người

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu để thấy được tài năng, đức độ cũng như đóng góp to lớn

của Mạc Đĩnh Chỉ đối với dân tộc Qua đó giới thiệu về Danh nhân văn hóa

Mạc Đĩnh Chi đến với mọi người

Nghiên cứu về lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở thôn Long Động, xã

Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương để thấy được mặt tích cực và

tiêu cực đang tồn tại trong lễ hội này, qua đó đề xuất những giải pháp để phát

huy tích cực, hạn chế tiêu cực

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Tìm hiểu, làm rõ được cuộc đời, sự nghiệp, công lao của Danh nhân

văn hóa Mạc Đĩnh Chi với nước Việt cách đây 7 thé ki

Trang 10

Tìm hiểu sâu về lễ hội Đền thờ Mac Dinh Chi tai qué hương ông dé

miêu tả, tìm ra những điểm tích cực, tiêu cực, qua đó đề xuất những giải pháp

nhằm phát huy tích cực, hạn chế tiêu cực

5, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu về Danh nhân văn hóa,

Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chỉ và lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chi

trên quê hương Nam Tân - Nam Sách - Hải Dương

Phạm vỉ nghiên cứu: Con người Mạc Đĩnh Chỉ ở cuối thé ki 13, dau thé

ki 14 dưới thời nhà Trần và lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chi ở Long Động- Nam

Tân - Nam Sách - Hải Dương

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điền dã: Người viết trực tiếp, trao đôi với một số người cao tuổi ở địa phương để thu thập tài liệu, thông tin về Mạc Đĩnh Chi Ngoài

ra người viết cũng đến khảo sát khu di tích đền Long Động và lễ hội ở đây

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Người viết tiễn hành hệ thống hóa và

và phân tích tài liệu có được như băng, đĩa, sách, báo liên quan đến Mạc

Đĩnh Chỉ và lễ hội đền Long Động

7 Đóng góp của khóa luận

Lý luận: đề tài góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận về việc nghiên cứu về nhân vật lịch sử và hoạt động lễ hội

Thực tiễn: giới thiệu về Danh nhân văn hóa Mạc Đĩnh Chi và lễ hội

Đền thờ Mạc Đĩnh Chi đến với mọi người Góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát

huy giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc

Trang 11

Chương 2: Danh nhân văn hóa Mạc Đĩnh Chỉ

Chương 3: Lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chỉ trên quê hương Nam Tân

- Nam Sách - Hải Dương

Trang 12

NOI DUNG

Chương 1: MỘT SÓ VẤN ĐÈ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm Danh nhân văn hóa

Trang web điện tử Bách khoa toàn thư mở Wikipedia nêu định nghĩa về Danh nhân văn hóa như sau: Danh nhân văn hóa là những con người, những

nhân vật nồi tiếng, kiệt xuất, có cống hiến lớn lao cho nền văn hóa dân tộc,

được lịch sử, dân tộc biết đến, ghi nhận và đánh giá cao; đại diện và biểu

trưng cho nền văn hóa dân tộc

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Danh nhân văn hóa là những người nỗi tiếng được mọi người thừa nhận

Hai định nghĩa trên có khác nhau, nhưng đều chung một quan điểm là

người được công nhận là Danh nhân văn hóa là những người nỗi tiếng và có

những đóng góp to lớn cho đất nước khiến mọi người không thể phủ nhận

Chiết tự “đanh nhân” thì “danh” là danh tiếng, là tiếng tăm, “nhân” là người

Như vậy, bản thân từ “danh nhân” đã cho ta hiểu một khía cạnh, đó là người

có tiếng tăm Tuy nhiên nghiên cứu về các danh nhân ta sẽ hiểu rằng, không phải ai nỗi tiếng cũng sẽ được gọi là “Danh nhân văn hóa” Để được công nhận là Danh nhân văn hóa thì người đó phải hội tụ được cả đức và tài Cái tài của họ phải tác động làm thay đổi tiến trình lịch sử, văn hóa đất nước theo hướng tích cực, cái đức của họ phải khiến người người, đời đời kính phục Chi dite cao hay chỉ tài trọng thì chưa hắn được suy tôn làm Danh nhân văn hóa Đành rằng con người thì không ai hoàn hảo, cũng như ngọc còn có vết xước Nhưng ở Danh nhân văn hóa, cái không hoàn hảo đó chỉ là rất ít, và nó

sẽ bị tài năng đức độ lấn át Cũng giống như vết xước viên ngọc chỉ là nhỏ, và

nó sẽ bị cái vẻ đẹp, cái ánh hào quang tỏa ra che khuất Danh nhân văn hóa là một danh hiệu cao quý mà đối tượng được vinh danh phải phấn đấu cả cuộc

đời và phái đem cả cuộc đời của mình ra để xã hội thẩm định

Trang 13

1.2 Khái niệm Lễ hội

Truyền thống là những cái đã trở thành nề nếp được truyền lại và kế thừa từ đời này sang đời khác Truyền thống tổn tại thông qua lao động, sáng

tao, sản xuất, lỗi sống, sự tìm tòi Truyền thống tinh hoa da chat loc qua thir

thách của thời gian và được nâng cao theo yêu cầu trình độ dan tri mà không

Xã rời nguồn cội sản sinh ra truyền thống

Nền văn hoá truyền thống Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ thăng trầm của lịch sử và bị ánh hưởng không ít của văn hoá phương Đông với nghìn năm Bắc thuộc và một số chế độ thực dân phương Tây Song nền văn hoá Việt Nam vẫn mang đậm phong thái của nền văn hoá lúa nước Trong

thời kỳ đổi mới thời kỳ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, văn hoá

Việt Nam đã được bảo tồn và phát huy (Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc) Nói đến văn hoá- văn hoá dân gian là chúng ta nói đến các phong tục, các lễ

hội cổ truyền của các dân tộc trên đất nước chúng ta

Đối với phần lớn các tộc người trên thế giới, đặc biệt là nhóm cư dân

nông nghiệp, lễ hội giữ một vai trò quan trọng Lễ hội chứa đựng nhiều mặt

của đời sống văn hoá chính trị, xã hội, tâm lý, tôn giáo và tín ngưỡng của cư

dân lúa nước Lễ hội là loại hình văn hoá tập thể, phản ánh tín ngưỡng, các sinh hoạt của người dân lao động Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như

một phần tất yếu trong đời sống Lễ hội có thể thoá mãn được yêu cầu tâm linh của người nông dân

Xét về cội nguồn, lễ hội là sinh hoạt tín ngưỡng làng xã Bởi mỗi lễ hội

đều bắt nguồn từ làng xã Mỗi hội làng có phong tục, nghỉ lễ, tổ chức, truyền thống riêng Nói chung, tính đa dạng là bản chất của lễ hội Lễ hội còn là nơi

sinh hoạt văn hoá cộng đồng được hình thành, biến đối và phát triển Do vậy

nó tích hợp nhiều tầng văn hoá Mỗi lớp văn hoá gắn liền với một biểu tượng,

Trang 14

mang một ý nghĩa nhất định, nên lễ hội mang tính đa nghĩa, đa biểu và tạo

nên sự thăng hoa từ cuộc sống hiện thực Nó là sản phẩm của van hoa tinh thần đo nhân dân sáng tao ra, là một hiện tượng xã hội

Vậy chúng ta hiểu “lễ hội” như thế nào?

Khái niệm “lễ hội” ở Việt Nam xuất hiện khoảng hơn chục năm trở lại

đây, trước đó chỉ có khái niệm "lễ", "hội" Thêm chữ "lễ" cho " hội" người

thời nay mong muốn gắn hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng này có ít

nhất hai yếu tố cũng là hai đặc trưng đi liền với nhau Trước hết là tế lễ, sau là

vui chơi

"Lễ" là những "nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hay kỷ niệm một sự

việc, sự kiện nào đó có ý nghĩa lịch sử"(Từ điển Tiếng Việt) Lễ còn là nơi thể hiện các phép tắc, các nghi thức ứng xử của người với người, với tự nhiên và

xã hội Các nghỉ lễ của" lễ" toát lên sựu cầu mong phù hộ độ trì của thần linh

giúp con người tìm các giải pháp tâm lý Có thể nói " lễ" là phần đạo- tâm linh của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh và bảo đảm nề nếp, trật tự

cho "hội"

"Hội" là những cuộc vui chơi tổ chức chung cho đông đảo người tham gia theo phong tục tập quán hay nhân dịp đặc biệt “Hội” là các hoạt động, các trò diễn có tính nghi lễ có nhiệm vụ bổ xung hoàn chỉnh ý nghĩa và nội dung cho ngày lễ

Trên cơ sở tìm hiểu và làm rõ nguồn gốc, bản chất cũng như nội dung

cơ bản của khái niệm “lễ hội”, chúng ta thấy lễ hội truyền thống không chỉ là

hiện tượng văn hoá mà còn là hiện tượng tinh thần của xã hội đo nhân đân lao

động sáng tạo ra Bởi vậy những yếu tố và khía cạnh thuộc về bản sắc văn hoá

của dân tộc Việt Nam vốn rất đặc sắc, nguyên thuỷ và đích thực được lưu

truyền và phát huy từ đời này sang đời khác trong dạng thức sinh hoạt của văn hoá dân gian

Trang 15

Tóm lại “lễ” và “hội” là một thê thống nhất, tồn tại song song với nhau

trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của con người Nếu nói “lễ” là phần đạo

thì “hội” chính là phần đời Đạo là tâm linh mà đời chính là cuộc sống hiện

thực

Người nông dân Việt Nam đã sáng tạo ra lễ hội như “cuộc sống thứ

hai”, lễ hội là báo tàng sống, bảo tàng tự nhiên Đó là cuộc sống hội hè sống

động, mang đậm màu sắc dân gian, cái đẹp của đời sống được bộc lộ trong sự

hòa hợp giữa con người với con người, con người với tự nhiên, sự ngưỡng

vọng với các lực lượng thần thánh, siêu nhiên Bởi vậy, lễ hội mang đậm tính

nhân văn, là động lực, là sức sống của con người

1.3 Tổng quát về lễ hội Việt Nam

Đất nước Việt Nam có một kho tàng văn hóa dân gian của 54 tộc người rất đa dạng, đang tồn tại một cách sống động trong nhân dân Tiêu biểu trong

đó là lễ hội

Lễ hội ở nước ta rất đa dạng và phong phú Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mỗi lễ hội mang

một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối

tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu

nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao

tổ tiên, thêm tự hảo về truyền thống quê hương, đất nước Đặc biệt, lễ hội ở

nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thê

thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân Phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong

Trang 16

chién tranh chéng giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa),

đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, ném còn (ở

vùng đồng bảo dân tộc phía Bắc) v.v Trong các lễ hội của bà con dân tộc

Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất Trong lễ hội nảy,

ngoài nghỉ lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa khiên, ném lao,

đấu gậy Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn

hoá, xã hội khác như thi hát quan họ, thi thối cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật,

đánh đu Đặc biệt là thi đánh đu, không chỉ xuất hiện trong địp lễ hội lớn mà

còn là một trò vui chơi đân đã trong những ngày Tết ở nhiều làng xã

Người Việt Nam có câu “xuân thu nhị kì” để nói về hoạt động lễ hội trên đất nước mình Nghĩa là phần lớn các lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân và

mùa thu, đặc biệt là mùa xuân Ngày xuân, người ta thường di choi đông hơn

bình thường Kẻ đi xa, người đi gần, trang phục lộng lẫy, hân hoan phần khởi

làm cho không khí đầu xuân càng thêm rạo rực Sau những ngày lao động vắt

vả, ai cũng muốn đành ít thời gian dé van cảnh thiên nhiên dat trời, tận hưởng bầu không khí trong lành với mùa xuân tươi đẹp Họ đến với các di tích lịch

sử, danh thắng, đền, chia dé tham dự các lễ hội truyền thống Chỉ tính riêng

tháng Giêng cũng đã có rất nhiều lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, những người có công chống giặc ngoại xâm như: Hội Đống Đa, kỷ niệm chiến thắng của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và tưởng niệm các chiến sĩ vong trận trong đại chiến thắng Đống Đa vào ngày mùng 5; Hội đền An Dương Vương (Cô Loa - Hà Nội) ngày mùng 6 tưởng niệm Thục Phán -

người có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa; Hội đền Cửa Suốt

(Quảng Ninh) tưởng niệm Trần Quốc Toản có công đánh đuổi giặc Nguyên;

Hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng; Hội "Cơm hòm" ở Phố

Yên, Thái Nguyên ngày mùng 6 tưởng niệm người đàn bà vô danh thời Hậu

Trang 17

Lê có công bày mưu đánh giặc Minh Cũng vào thời điểm này, du khách bốn phương về Hội hoa Vị Khê (Nam Định) từ ngày 20 đến ngày 30 tháng Giêng

để chiêm ngưỡng hoa, cây cảnh của làng nghề truyền thống Vị Khê; Hội du xuân lễ bái cầu mong một năm mới thịnh vượng ở núi Bà Đen (Tây Ninh) Đặc biệt vào mùa này, du khách đồ lên núi Yên Tử dự lễ hội chùa, vãn cảnh

hùng vĩ của đất nước và thử thách lòng thành của mình Đến Hòa Bình để

được xem hội Chơi hang, hội Xên bản, Xên mường của người Thái; lên Sơn

La cùng thả hồn vào những cánh rừng ban trắng trong ngày hội hoa ban; đi chơi núi, đu thuyền độc mộc trên thắng cảnh hồ Ba Bề Ngoài ra, người Tày, Nùng Tây Bắc còn có hội Lồng Tổng, người Dao có hội Tết Nhảy, người Mông có hội Sắc bùa, hội chơi núi chơi xuân, người Khơ me Nam Bộ có hội mừng năm mới

Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoải nước

Lễ hội mang hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng và tạo nên tính

cộng đồng Lễ hội chính là nơi cấu kết mọi người trong một mối cộng cảm Đến với lễ hội người ta cùng chung vui, cùng ăn uống, con người sẽ cảm thấy gần gũi hơn bao giờ hết Người Việt Nam vốn có ý thức “đồng bào”, chính vì

vậy một lễ hội thường không mang tính tách biệt của một bộ phận người nào

Ai cũng có thể tham gia lễ hội, chỉ cần thực hiện đúng quy tắc mà lễ hội đề ra

Lễ hội góp phần nâng cao tình đoàn kết dân tộc Qua lễ hội mà phát huy cao

độ bản sắc văn hoá dân tộc, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống quê hương,

tỉnh thần đoàn kết cộng đồng, tạo niềm phấn khởi trong nhân dân khiến họ càng thêm yêu làng xóm quê hương Người nông dân Việt Nam đã sáng tạo

lễ hội như “cuộc sống thứ hai” là bảo tàng sống, báo tàng tự nhiên Đó là cuộc

sống hội hè sống động, mang đậm màu sắc dân gian, cái đẹp của đời sống

Trang 18

được bộc lộ trong sự hoà hợp giữa con người với con người, con người với tự nhiên, sự ngưỡng vọng đối với các lực lượng thần thánh siêu nhiên Bởi vậy

lễ hội mang đậm tính nhân văn, là động lực là sức sống của con người

Lễ hội là nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt

Nam Lễ hội là một bảo tàng sống về văn hóa và sinh hoạt của cộng đồng Vì

lễ hội là nơi biểu hiện các giá trị văn hóa dân gian của cộng đồng, là nơi phản ánh đời sống tinh thần, phong tục tập quán của nhân dân ta dưới nhiều hình thức Phố biến trong các nghi lễ và phong tục các dân tộc trên đất nước Việt Nam là lễ hội phôn thực, giao duyên, xuất phát từ quan niệm điều hòa âm

dương Các lễ hội vẫn gắn với chu kì sản xuất, tái hiện các hoạt động sản xuất

nông nghiệp Các trò diễn thường tái hiện lịch sử của cộng đồng, qua đó phản

ánh sinh hoạt thường ngày của người dân lúa nước Bên cạnh đó lễ hội còn

mang tính chất tín ngưỡng dân gian bản địa Xét về cấu trúc, lễ hội là hình

thức, còn tín ngưỡng là nội dung, là thế giới tâm linh sâu lắng của con người Chủ thê đích thực trong lễ hội là những người nông dân lúa nước, văn hóa dân

gian là nơi giải tỏa những ước muốn của họ và họ mở lễ hội chính là sự lặp lại

cân bằng trong quan hệ giữa người với người, với tự nhiên, với thần linh họ

mở hội để cầu quốc thái dân an, nhân khang vật thịnh Thông qua lễ, con người dường như giao cảm được với thế giới siêu nhiên Đó là các vị tổ tiên,

thần linh, Thành hoàng do nhân dân sáng tạo ra, và cầu mong chở che cho vận mệnh của mình Chính nhờ có lễ hội mà các vị anh hùng sống mãi trong lòng con cháu bây giờ và mai sau Lễ hội chính là tắm gương phản ánh văn hóa dân tộc Sự phản chiếu đó thông qua các nghỉ lễ, trò diễn thống nhất

xung quanh một biểu hiện là vị thần được lễ hội tôn thờ Lắng đọng trong lễ

và hội là tín ngưỡng bản địa của người dân đã gửi gắm vào các nhân vật được tôn thờ Các nghỉ lễ, lễ thức đều toát lên một niềm tin chung là cầu mong hạnh phúc và giải phóng con người Chính vì là nhu cầu thiết yếu của con

Trang 19

người nên trải qua bao thăng trầm, biến cố mà lễ hội vẫn tồn tại và trở thành

một đặc trưng của văn hóa Việt Nam

1.4 Cơ sở nghiên cứu

1.4.1 Xuất phát từ yêu cầu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân

tộc trong thời đại mới

Trong thời đại ngày nay, khi mà công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại

hóa được day mạnh, khi mà xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, khi mà

giới trẻ gọi những gì của Tây là “mốt”, thì nghiên cứu về Danh nhân và lễ hội chính là một cach dé ching ta lưu giữ những gì tốt đẹp của quá khứ để mà học tập, mà noi theo, là cách để chúng ta trở về với đạo lý uống nước nhớ nguồn - một nét văn hóa đẹp đã tồn tại từ hàng ngàn đời nay trong truyền thống văn

hóa Việt Nam

Trải qua những đối thay của lịch sử, qua những lần tiếp biến văn hóa, lễ hội truyền thống Việt Nam cũng đã có nhiều thay đổi phức tạp Bên cạnh

những mặt tích cực, thì hạn chế đã xuất hiện nhiều hơn Chính vì vậy Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 27/CT-TW về thực hiện nếp sống văn minh trong việc

cưới, việc tang, lễ hội Đó là cơ sở pháp lý để người viết tiến hành nghiên cứu

đề tài này

1.4.2 Xuất phát từ thực trạng lễ hội ớ Đền thờ Mạc Đĩnh Chỉ tại

thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương (còn gọi

là lễ hội Đền Long Động)

Sinh hoạt lễ hội là hoạt động mang tính chất chu kì, thường là chu kì

năm Lễ hội Đền thờ Mạc Đĩnh Chỉ cũng vậy Hàng năm cứ đến ngày mùng

9, 10, 11 tháng 2 âm lịch, là dân làng Long Động, các làng lân cận, con cháu

họ Mạc khắp mọi miền đất nước lại nô nức đến với lễ hội Qua trực tiếp quan sát, người viết thấy có nhiều vấn đề bất cập đã xuất hiện trong lễ hội này

Điều đó đã làm bộ mặt của bức tranh lễ hội Đền Long Động nói riêng và bức

tranh lễ hội Việt Nam nói chung xấu đi Người viết thấy rằng cần lên án

Trang 20

những thói xấu, tìm ra những biện pháp phát huy tích cực, hạn chế tiêu cực để giữ gìn nét đẹp cho lễ hội này

Trang 21

Chương 2: DANH NHÂN VĂN HÓA MẠC ĐĨNH CHI

2.1 Dòng họ Mạc

Từ thời hỗn mang đến các bộ lạc chia cắt đất đai, lập thành nước để trị,

mỗi nước đều có cương vị riêng, lãnh thổ riêng Mỗi họ ăn ở theo lễ nghĩa

riêng, hậu trị một nước hay để trị thiên hạ đều do chế độ Gia tộc Nước có sử

ghi chép sự thịnh suy của các thời đại, các đắng minh quân, tôi hiền lương

tướng, hưng quốc hay phản dân, trung hay nịnh Trong họ có gia phả biên ghi

từ đời nọ sang đời kia, chia ra các ngành mà kế tiếp mãi mãi về sau, còn sự

thăng trầm của một nước hay sự hưng suy của một họ là lẽ thường tình của tạo hóa và là luật thừa trừ vậy

Họ Mạc nguyên thủy từ Trung Hoa:

Từ Trung Hoa Nam Thổ thiên cư Đắt Lũng Động hấu tỉnh giáng thế

Họ Mạc nguyên thủy ở Trịnh ấp (bây giờ là huyện Nhân Châu, tỉnh Hà Giang) Trung Quốc, hay còn gọi là Mạc Châu, là nơi thác tịch nhà Mạc Theo các nhà sử học Việt Nam cũng như Trung Hoa, họ Mạc có nguồn gốc từ họ

Cơ, khi đến Nhân Châu mới đối thành họ Mạc Họ Mạc đã từng có một số

người ra làm quan đời nhà Đường, triều đại Đường Đại Tông (660) có ông Mạc Tuyên Khanh thi đậu Trạng nguyên Lĩnh Nam (phía nam núi Lĩnh), và

phát khoa bắt đầu từ đó

Mạc Tuyên Khanh sinh ra Mạc Tấn Công lam quan đến Thứ Sử

Mạc Tấn Công sinh ra Mạc Như Tùng làm đến chức Đoan Minh Đại Hoc Si

Cuối đời Đường ông Mạc Hữu Hoài đời sang xóm Làng Thúy, châu

Nam Hùng

Đời nhà Tống niên hiệu Cảnh Hựu Tống Nhân Tông, có ông Mạc Vĩnh

Xương đỗ Tiến sĩ làm quan huấn học Châu Quảng, sau dời đến đến xóm

Trang 22

Thanh Phong sinh được ba con trai là Mạc Ngu, Mạc Lễ và Mạc Đôn đều đỗ

Đại khoa làm quan đến chức Đại Phu

Sau ông Mạc Ngu dời sang Phiên Ngung, còn ông Mạc Lễ dời đến Lô

Thôn, ông Mạc Đôn dời đến thôn Tiêu Lợi, tỉnh Quảng Đông

Cổ nhân có nói “Đặc địa sinh nhân” nghĩa là được đất sinh người, dân

tộc dòng đõi Thần Nông từ bên Tàu ba lần bị Hán xâm, ba lần bị đồng hóa ,

nên có nhiều họ đi cư xuống phía Nam chứ không riêng gì họ Mạc Song họ Mạc nguyên thủy là dòng họ Cơ, nền nhân nỗi đức, văn học lưu truyền, cho nên đù thời cuộc đổi thay thì nhân tài vẫn không hạn, dù ở Bắc hay Nam Trong khi con cháu họ Mạc di cư xuống phía Nam thì có một chỉ ở

Phiên Ngung di cư sang làng Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương

(nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) sinh cơ lập nghiệp ở đó được sáu đời thì sinh ra ông Mạc Hiển Tích đỗ Trạng nguyên khoa Bính Dần (1068)

Niên hiệu Quảng Hựu nhà Lý, em ruột ông là Mạc Kiến Quan cũng đậu Trạng

nguyên, anh em đều được bổ làm Hàn Lâm Viện và giữ chức Thượng Thư đầu tiên dưới triều Lý Nhân Tông Từ đó về sau, qua bốn đời gia phá không ghi rõ và đời nào cũng thanh bần Đến đời thứ năm sinh ra ông Mạc Đĩnh Chi

Họ Mạc bấy giờ lại hưng thịnh Mạc Đĩnh Chi được phong “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, làm quan đến chức Nhập Nội Hành Khiển Trung Thư Môn

Hạ, rồi đến Tả Bộc Xạ Kiêm Trung Tán Chi Quân Trọng Sự Vụ (tức Tế

tướng) Cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đăng Dung đậu chức Đô Lực

Sĩ triều vua Lê Uy Mục Mạc Đăng Dung cũng là người lập ra nhà Mạc trong

lịch sử phong kiến Việt Nam Nhà Mạc làm vua được 65 năm ở đất Thăng

Long (1527-1592), cố thủ ở đất Cao Bằng được ba đời nữa từ năm 1593 đến

1676 (84 năm) Khi Cao Bằng thất thủ, một số con cháu nhà Mạc chạy sang Trung Quốc, nhà Thanh dấy nghiệp bắt con cháu nhà Mạc Việt Nam giao cho chúa Trịnh, một số trốn được theo triển núi xuống Đồng Chum (Lào) rồi đi

Trang 23

dần xuống Cao Miên, có chi chạy về Hà Tiên là chỉ Mạc Cửu Những người ở Trung Châu thì cải họ đối tên xuôi xuống phía Nam nay là Nam Định, Thái Bình để tránh họa Những người ở lại Cao Bằng thì đi vào làng La Nữ đối họ

thành họ Vương, họ Hoàng Một số chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh

Một chỉ con vợ hai cụ Mạc Đĩnh Chỉ hiện ở Hàn Quốc đổi thành họ Lý

Do biến thiên của lịch sử, con cháu họ Mạc phân tán khắp nơi trong nước, cho nên cha ông đã dé lại bài thơ sau để con cháu sau này vấn tổ tam tông:

Quê nhà ở huyện Chí Linh Hải Dương là tỉnh, Lũng Động là làng,

Bãi Nhạn là chốn nghĩa trang

Ma Tổ để đó chớ nhàng lãng quên

Phải chi hoạn lạc trưng lên Cải tên đổi họ xuôi miền Nam Sơn,

Ở đấy ruộng đất tốt hơn

Làm ruộng cô gắng, chăn tằm con chăm

Ví mà gặp buối khó khăn

Làm thuê làm mướn kiếm ăn lần đầu,

Chờ cho thiên hạ vần xoay Bấy giờ con cháu dần dần hồi hương

Ra tay dựng lại miễu đường

Cháu con thì phải tìm phương đắp bồi,

Mấy lời căn dặn con ơi

Ghi vào gia phả đề rồi tìm nhau

Khuyên con có bấy nhiêu câu

May trăm năm qua kể từ khi lịch sử nước ta có nhà Mạc, có rất nhiều

những nhận định về dòng họ này, ca ngợi có, lên án có, nhưng theo những lời

Trang 24

tuyên phán của Đà Quốc Công Mạc Ngọc Liễn được ghi trong “Việt Nam sử

lược”: “Nước là của trăm họ, nếu vận Mạc suy vong thì nên nhường cho Họ khác trị vì thiên hạ Ta không nên cầu cứu Tàu về làm khé dan ta”, thì con

cháu của đòng họ Mạc có quyền kiêu hãnh vì tổ tiên của họ không phản bội tổ quốc và vẫn giữ được truyền thống anh hùng [xem tài liệu tham khảo (TLTK)

19.1-4]

2.2 Mạc Đĩnh Chỉ - cuộc đời và sự nghiệp

2.2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội thời Mạc Đĩnh Chỉ

Về năm sinh, năm mất của Mac Dinh Chi thi hiện nay có nhiều tài liệu

viết khác nhau, như 7? điển bách khoa Việt Nam (tập 2) xuất bản năm 2002

ghi ông sinh năm 1280 và mất năm 1350, hay ông sinh năm 1272 mắt năm

1346 [xem TLTK 1] Cho di có ít nhiều sai lệch, nhưng trên đại thể ta biết

Mạc Đĩnh Chi sống vào khoảng vài thập kỉ cuối thé ki 13 và gần hết nửa đầu

thế kỉ 14

Như vậy Mạc Đĩnh Chi sống trải qua các triều vua Trần Thánh Tông

(1258-1278), Trần Nhân Tông (1279-1293), Trần Anh Tông (1293-1314),

Trần Minh Tông (1314-1329), Trần Hiến Tông (1329-1341) và đầu thời Trần

Dụ Tông (1341-1369) Đây là thời kì đẹp, thịnh vượng vủa vương triều Trần với những chiến công lừng lẫy, nhiều năm tháng thanh bình, vua sáng tôi

hiền, xã hội ôn định

Về các vua thời này, sách Đại Việt sử kí toàn thự lần lượt chép như sau:

vua Trần Thánh Tông “vua trung hiếu nhân thứ tôn hiền trọng đạo, cha khai sáng trước, con thừa kế sau, cơ nghiệp nhà Trần được bền vững vậy”

[14.287], vua Trần Nhân Tông “vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự

nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần”

[14.298], vua Trần Anh Tông “vua khéo biết kế thừa cho nên thời cuộc đi

đến thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng,

Trang 25

cũng là bậc vua tốt của triều Trần” [14.323], Trần Minh Tông “vua đem văn minh sửa sanh đạo trị nước, làm rõ cống nghiệp của người xưa, giữ lòng trung hậu, lo nghĩ sâu xa, trong yên, ngoài phục, kỉ cương đầy đủ” [14.350], vua

Trần Hiến Tông “vua tư trời tỉnh anh, vận nước thái bình” [14.365], vua Trần

Dụ Tông “vua tính rất thông tuệ, học vấn cao, chăm lo việc võ, sửa sang việc

văn, các đi đều thần phục”, “đời Thiệu Phong chính sự tốt đẹp, từ năm Đại Trị

về sau chơi bời quá độ, cơ nghiệp nhà Trần suy yếu từ đó” [14.374]

Về quân sự: hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai

(1285) và thứ ba (1287-1288) với các chiến thắng Tây Kết, Chương Dương,

Hàm Tử và chiến thắng Bạch Đẳng lịch sử là những chiến công hiển hách của

quân và dân ta vào thời vua Trần Nhân Tông, diễn ra vào thuở thiếu thời của

Mạc Đĩnh Chỉ Sau hai lần chiến thắng Nguyên Mông, vị thế của Đại Việt

được nâng lên tầm cao mới Không những nhà Nguyên không dám xâm lược,

mà vua Trần còn đánh dẹp các nước Ai Lao (1290, 1298, 1235), Chiêm

Thành (1312, 1318, 1326) để thị uy, nhằm bảo vệ biên cương, nâng cao uy thế của đất nước trong khu vực

Về ngoại giao: thiết lập mối quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng

sau những cuộc đụng độ Mạc Đĩnh Chi đã 2 lần đi sứ Trung Hoa Với Chiêm

Thành, năm 1310, Thượng hoàng Trần Nhân Tông nhân chuyến vân du 6 tháng đã sang đất nước này, hứa gả công chúa cho chúa Chiêm, năm 1306, cuộc hôn nhân chính trị này đã mang lại cho Đại Việt 2 châu Ô, châu Lý Như vậy, quân sự hùng mạnh kết hợp ngoại giao khôn khéo, nhà Trần không chỉ giữ yên được bờ cõi, mà còn mở rộng được biên cương đất nước

Về chính trị: mọi tổ chức, định chế của nhà nước quân chủ quý tộc Trần đã được sắp đặt từ thời Thái Tông, Thánh Tông Các vua kế nghiệp sau này điều chỉnh chút ít, chủ yếu là giữ gìn, củng cố , phát huy tác dụng trong quản lí đất nước Điểm nổi bật nhất trong tô chức chính trị thời kì này là bố

Trang 26

sung Nho sĩ vào hàng ngũ cầm quyền Nhưng đội ngũ quý tộc tai ba, anh hùng trong chống giặc và đựng nước đã thưa thớt dần Trần Quốc Tuắn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật lần lượt mất Lớp quý tộc cũ thưa dần, quý tộc mới kế tiếp nhìn chung năng lực kém hơn trong khi xã hội đã có nhiều biến đổi trên con đường vận động và phát triển của nó

Về văn hóa, giáo dục: Nhà Trần mở nhiều khoa cử hơn, ngoài khoa thi

tam giáo, nhà Trần mở 12 khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ - Thi đình) Qua đó

đã chọn được nhiều nhân tài cho đất nước

Về xã hội: Sự xuất hiện của quý tộc Trần cùng với đặc quyền, đặc lợi

của vương hầu quý tộc như việc ban điền trang thái ấp, nuôi nô tì khiến cho

mâu thuẫn giai cấp xuất hiện, nhưng đó chưa phải là cơ bản của xã hội Trần

thời kì này Xã hội phân tầng, phân hóa giai cấp rõ rệt, nhưng nét bao trùm

vẫn là quan hệ gắn bó, hài hòa với chính sách thân dân của các vua Trần

Ngoài ra sử sách có ghi chép về nạn đói, mất mùa ở thời Mạc Đĩnh Chi,

nhưng không thấy nói đến sự nồi dậy của dân nghèo

Về tôn giáo: đạo Phật thịnh không kém thời Lý, đáp ứng được nhu cầu

đời sống tinh thần của nhân dân, nhưng thời kì này đạo Phật không còn có vai

trò trong chính trường Nho giáo được chú trọng và đã có tác động đến thể

chế chính trị, vai trò của Nho sĩ được đề cao Sự hiện hữu song song của hai luồng tư tưởng chủ đạo Phật và Nho đều được Nhà nước bao dung, xã hội tiếp nhận, hội nhập với tín ngưỡng bản địa cố truyền tạo nên một sắc thái hài hòa,

êm ả của buổi thịnh thời

Trần Nguyên Đán đã có bài thơ “ Đề quan Lỗ Bạ thi tập hậu” viết về

thời kì này như sau:

Trung hưng văn vận mại Hiên Hy Triệu tính âu ca lạc thịnh thì Đấu tướng tòng thần giai thức tự

Trang 27

Lại viên tượng thị diệc năng thi

( Vận hội học thuật buổi trung hưng Hơn cả đời Hiên Viên, Phục Hy Muôn họ hát ca vui thời thịnh trị

Tướng võ và quan hầu đều biết chữ

Thơ lại và thợ thuyền cũng biết làm thơ)

Như vậy xã hội thời Mạc Đĩnh Chỉ là thời xã hội thịnh trị của vương triều Trần Nó tạo điều kiện cho tài năng của Mạc Đĩnh Chỉ có dịp nở rộ, dé

ông có thể hoạt động và cống hiến hết mình cho đất nước

2.2.2 Cuộc đời

Về ngày sinh, ngày mất cũng như năm sinh, năm mất của Mac Dinh

Chỉ vẫn còn nhiều nghi vắn Hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào

có kết luận chính xác Đại thể Mạc Đĩnh Chi sống vào khoảng vài thập kỉ cuối

thế kỉ 13 và gần hết nửa đầu thé ki 14

Về quê quán của Mạc Đĩnh Chi, các bộ sách thông sử thời phong kiến chép rất ngắn gọn: “là người Chí Linh” [13.88], [16.570], [17.402]; hay “Đĩnh Chi là người Đống Cao, huyện Bình Hà, tức làng Long Động, Chí Linh bây giờ” [9.105] Mỗi tài liệu ghi chép khác nhau là do tên gọi địa danh có khác nhau qua từng thời kì lịch sử, chứ tất cả đều thống nhất quê hương của Mạc

Dinh Chi là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

ngày nay

Về sự ra đời của Mac Đĩnh Chỉ: Ngày nay người Long Động vẫn kế

cho nhau nghe về sự ra đời kì lạ của vị Thành hoàng tôn kính của họ Tục

truyền làng Long Động xưa kia (còn gọi là Lũng Động), có một khu rừng ram, cay céi um tum, lắm giống hầu (con khi) ở Mẹ ông khi ấy thường vào

rừng kiếm củi Một hôm bà bị một con khi độc bắt hiếp Bà về nói với chồng,

ông chồng tức giận cải trang làm đàn bà, giắt sẵn con dao vào rừng giả làm

Trang 28

người kiếm củi Con hầu kia quen thói lại ra, bị ông chồng chém chết bỏ thây

lại đấy Được vài hôm, ở chỗ xác con khi thấy mối đùn lên thành một gò mả

Sau đấy ít lâu, ông chồng bị bệnh nặng, lúc hấp hối đã căn đặn người nhà

chôn mình vào chỗ gò má mối đùn của con khi Mẹ Mac Dinh Chi tir khi bi

con khi hiếp đã có thai, đủ tháng sinh ra Mạc Đĩnh Chi vô cùng xấu xí: lùn,

đen, người nhỏ loat choat giống khi, mồm rộng, mũi tẹt Mọi người đều bảo

đó là con tỉnh khỉ nghiệm vào

Trong cuốn gia phả của dòng họ Mạc có tên la Mac téc pha lai ghi vé

sự ra đời của Mạc Đĩnh Chi như sau: “Mạc Đĩnh Chỉ tự là Tiết Phu, cha là

Lũng Động tiên sinh, mẹ là bà Hoàng Thị Ông bà ngoài 40 tuổi vẫn chưa có

con nên đã đi cầu tự ở đền Chử Đồng Tử (Hưng Yên) Một đêm bà nằm mơ

thấy vật sáng từ trên trời rơi xuống giữa nhà rồi hóa thành một con hầu rơi vào lòng bà Cụ bà tỉnh dậy thuật lại truyện cho cụ ông nghe Cụ ông nghe xong mừng rằng: “Cứ như mộng thì nếu có thai sẽ sinh quý tử” Quả nhiên một thời gian sau, cụ bà có thai rồi sinh ra nam tử đặt tên là Mạc Đĩnh Chỉ”

[19.5]

Cũng theo Mạc Tóc pha: “Mac Dinh Chi sinh ngay mồng 6 (ngày Thân), tháng 7 (tháng Thân), năm Giáp Thân và giờ Thân, năm niên hiệu

Thiệu Bảo thứ 6 đời vua Trần Nhân Tông Người giống khi, lại thêm việc

sinh vào ngày, giờ, tháng, năm Thân nên người đời càng tin là Hầu tinh giáng

thế” [19.5]

Như vậy cũng như một số nhân vật có tài khác, sự ra đời của Mac Dinh

Chi đã gắn liền với những sự kiện mang màu sắc huyền bí Đó là sự ứng xử

thường thấy của người dân Việt Nam với những gì họ không thê lí giải, hoặc

với những gì họ tôn kính Họ gắn những gì họ tôn kính với truyền thuyết để đối tượng trở thành bắt tử

Trang 29

Về cuộc đời của Mạc Đĩnh Chỉ: ông mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai

mẹ con phải đi vào rừng hái củi để kiếm sống hàng ngày Từ nhỏ Mạc Đĩnh Chi đã tỏ ra thông minh khác người Khi ông lên bốn, lên năm, Hoàng tử

Chiêu Quốc công mở trường dạy học, ông đã theo học Mẹ ông đã chịu hi

sinh tat ca dé cố nuôi con, cho con đi học Trong những năm tháng nhọc nhẵn,

tủi nhục, mẹ ông vẫn cắn răng chịu đựng, mẹ chỉ ao ước con mình có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời, thoát khỏi nghèo khổ Niềm tin lớn lao giúp mẹ vượt

qua mọi gian khổ Hiểu được lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập

Vốn là cậu bé có tư chất thông minh, lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo

khổ, bị người đời khinh rẻ vì nghèo, vì xấu xí, nên Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra

rằng chỉ có học tập, học hành thành tài mới là con đường đưa cậu bé thoát khỏi nghèo khổ, và cũng là để thê hiện phẩm chất thanh cao của con người từ

sự đỗ đạt mà đi lên Vì vậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách,

nghiền ngẫm sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán Không có sách học thì mượn

thầy, mượn bạn Mạc Đĩnh Chi có học nhiều cuốn sách quý Không có tiền

mua nến để đọc sách, Mạc Đĩnh Chỉ đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên mà

học Dù vô cùng gian khổ, nhưng chú bé không hề nản chí Do có nghị lực phi thường, cộng với tính cần cù, trí tuệ thông minh trác việt, nên chẳng bao lâu Mac Đĩnh Chi đã nồi tiếng thần đồng Nho học xứ Hải Đông

Đến đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12, khoa thi Giáp Thin (1304), thi hội Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình ông được chấm

đỗ Trạng nguyên Nhưng khi vào ra mắt vua, vua Trần thấy ông tướng mạo

xấu xí, có ý không muốn cho đỗ Biết ý, Mạc Đĩnh Chỉ đã làm bài thơ “Ngọc tỉnh liên phú” [xem TLTK 17.403-404] Do là bài phú đề gửi gắm chí khí của

ông Bài phú đề cao phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường, vượt xa người khác về mọi mặt, song không muốn adua với người tầm thường để mong người đời biết đến Trong bài phú, ông dùng hình

Trang 30

tượng bông hoa sen trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ ky di hái mang xuống cõi trần Vua xem xong khen là thiên tài, mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiển vinh quy bái tổ Nhân dân gọi ông là Trạng Hầu (Trạng

khi)

Từ đó Mạc Đĩnh Chi bước vào sự nghiệp làm quan Mạc Đĩnh Chi từng

được hai lần cử đi xứ nhà Nguyên Tài năng của ông lừng vang cá đất Nguyên, không chỉ làm rạng danh đất Việt mà còn khiến vua tôi nhà Nguyên hết lòng nê phục Kết quả là vua Nguyên công nhận ông là Trạng nguyên của Trung Hoa Mạc Đĩnh Chi trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên Đó là danh hiệu cao quý mà ở nước ta từ cổ chí kim chỉ có 3 người được phong (Mạc

Đĩnh Chi triều vua Trần Anh Tông, Nguyễn Trực triều vua Lê Thái Tông,

Nguyễn Đăng Đạo triều vua Lê Hy Tông) Bằng tài năng của mình, ông từ

chức Hàn lâm học sĩ thăng dần lên chức Thượng thư, rồi Đại liêu ban Tả Bộc

Xa (tương đương chức Té tướng), con đường hoạn lộ đạt cực đỉnh Trong gần

40 năm làm quan của mình, Mạc Đĩnh Chi đã đóng góp nhiều công lao to lớn cho đất nước Là người quyền cao chức trọng, nhưng cá trong chốn quan trường lẫn đời thường, ông vẫn giữ được phâm chất cao quý của người quân

tử, sống cuộc sống thanh ban, tinh khiết như bông hoa sen trong giếng ngọc Theo sử sách ghi chép, Mạc Đĩnh Chi là một Trạng nguyên tiêu biểu cho sự đối lập giữa vẻ bề ngoài xấu xí, nhút nhát với một nội tâm phong phú, nhân cách thanh cao và tài năng mẫn tiệp Giữ đến chức Hành khiển nhưng

vẫn nghèo, vẫn giữ gìn quy củ, sống liêm khiết, đạm bạc Đạm bạc đến nỗi

nhà vua phải sai người ban đêm lén đem trăm quan tiền bỏ vào nhà ông Cho

tiền theo cách ấy chứng tỏ nhà vua rất hiểu bề tôi của mình, nhưng “Mạc Đĩnh Chỉ giữ ý, sáng sớm hôm sau vào chầu, ông đem việc ấy tâu lên vua, vua bảo

“Không có ai nhận, khanh giữ lấy mà tiêu” [13.109], [15.205-206], [18.87], [2.61]

Trang 31

Xưa kia, học giỏi thi đỗ rồi ra làm quan là con đường chính đáng Nếu

có đức cao vọng trọng, hoạn lộ hanh thông đề trở thành một trong vài viên

quan đứng đầu triều đình, thì đó không chỉ là ước mơ của cả dòng họ mà còn

là niềm tự hào của quê hương, làng xã nơi người ấy sinh thành Nếu quan cao chức lớn mà mà cuộc sống lại sang quý sẽ trở thành sự ngưỡng mộ của nhiều người Cái quy luật muôn đời ấy, xét cho cùng là sự thường tình của con người, thậm chí quá thường tình, ai ai cũng muốn như vậy Nhưng Mạc Đĩnh

Chi của Đại Việt đã không đi theo lỗi mòn ấy, vì ông là người có tư đuy vượt

lên trên thói thường, hành vi ứng xử của ông có tính uốn nắn tệ nạn, hủ tục

của xã hội đương thời và cũng định hướng tới một phong tục mới tốt đẹp

Mạc Đĩnh Chỉ sống cuộc sống bình dị và kiệm ước, ông đã noi gương và phát

huy học tập tính liêm khiết và ưa sống đạm bạc của tổ tiên, cả sự đạy đỗ, rèn

luyện của đắng bề trên

Nguyên nhân thứ hai quan trọng hơn, có tính quyết định tới nhân cách

thanh liêm của Mạc Đĩnh Chỉ đó là: Mạc Đĩnh Chi đã thấm nhuần cách ứng

xử của một kẻ sĩ chân chính, làm tròn bốn phận của một vị quan tài đức theo hình mẫu người quân tử Nho giáo Những vị quan thời xưa, khi đương chức

họ đều ghi nhớ ba quy tắc làm quan(Gọi là Tam quy): Thanh liêm - Thận

trọng - Cần mẫn Có nhiều người còn khắc ba chữ Thanh - Thận - Cần đặt bên

chỗ ngồi như lời răn dạy mình để luôn nhớ tới nó Họ rất hiểu “Cái đạo làm

quan” cũng như “cái đạo làm người” Người xưa quan niệm rằng, làm quan có

giữ được “Thanh - Thận - Cần” thì mới lâu bền, mới tạo nên âm đức về sau

Cách sống liêm khiết của Mac Dinh Chi còn chịu ảnh hưởng từ phong

cách thanh cao, đượm màu nghệ sĩ của chính vua Trần Nhân Tông Nhà vua

đã ca ngợi Mạc Đĩnh Chỉ: “Ông vẫn là một bậc quý nhân cao sang, một đóa

sen vàng luôn tỏa hương thơm ngát trong tòa giếng Ngọc - non sông Đại

Việt” [xem TUTK 17]

Trang 32

Những năm tháng cuối đời, Mạc Đĩnh Chi về quê dạy học, ông mắt tại quê nhà năm 1346

2.2.3 Sự nghiệp

Về sự nghiệp của Mạc Đĩnh Chi, các sách hoặc ít hoặc nhiều đều có ghi

chép Các mốc đánh dấu các sự kiện quan trọng trong sự ngiệp Mạc Đĩnh Chi đều trùng khớp với nhau

2.2.3.1 Sự nghiệp làm quan

Năm 1304, Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên và được phong chức Thái học sinh hỏa dũng, sung làm Nội thư gia [12.10]

Năm 1308, vua Trần Anh Tông cử Mạc Đĩnh Chi đi xứ nhà Nguyên

Trong lần đi sử này, ông đã để lại rất nhiều giai thoại về tài ứng đối thông

mỉnh, sắc sảo và nhanh nhẹn của minh Ông vừa thể hiện được sự “không

phải bên trong trống rỗng không có gì” được khoác bên ngoài bởi một tướng mạo xấu xí, vừa giữ vững được khí phách của người đi xứ Đồng thời với việc

nêu cao được tinh thần dân tộc, vị thế ngắng cao đầu, ngang hàng, không sợ

nước lớn của dân tộc Việt qua hàng nghìn năm, ông vẫn giữ được sự mềm dẻo, khôn khéo trong ngoại giao (giai thoại “Chim sẻ đậu cành trúc; Phương Nam mạnh hay phương Bắc mạnh; Trăng là cung, sao là đạn ” [7.31-36]) Điều đó khiến cho “Nhà Nguyên rất nể phục ông, vua Nguyên khuyên chữ

“Y” và phong Mạc Đĩnh Chi là Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai

nước)” [15.200], [2.57], [18.84]

Năm 1324, vua Thái Định để nhà Nguyên lên ngôi, sứ giả nhà Nguyên

sang nước ta báo tin Vua Trần Minh Tông đã sai Mạc Đĩnh Chi sang mừng

Tháng 5 năm 1342, Mạc Đĩnh Chỉ sang sứ nhà Nguyên lần hai Cũng như lần đầu, ông đã không những làm tròn trách nhiệm với dân tộc, mà còn nâng cao

được vị thế dân tộc, vị thế của mình

Trang 33

Đến đời vua Trần Hiến Tông (1330-1341), Mạc Đĩnh Chi làm quan đến

chức Nhập nội hành khiển Hữu ty Lang trung, Tả ty Lang trung, rồi lại thăng

Thượng thư tả bộc xạ kiêm Trung thư coi việc quân dân, tước Đại liêu ban

(tương đương Tề tướng - người có quyền hành chỉ đứng đưới vua) [12 10] Như vậy con đường làm quan của Mạc Đĩnh Chi đã đạt cực đỉnh Ông

tiến dần trên hoạn lộ bằng chính tài năng của mình Làm quan thì liêm khiết

ngay thẳng, suốt đời phân đấu và cống hiến vì chữ Trung, sống với đạo làm

người quân tử Điều đó đã lưu danh tiếng thơm muôn đời cho Mạc Đĩnh Chỉ

Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn còn chép về chuyến đi sứ của Chu Xán thời nhà Thanh (Khang Hi) sang nước ta và ra về có dâng một tập

thơ Sứ giao ngâm, trong đó có câu “nhân vật nước này, về phần lý học có

Trình Tuyền, Vũ Duệ, Nguyễn Đăng Cảo và Hồ Sĩ Dương; về phần kinh tế có Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi và Lương Thế Vinh .” [8.333-334] Nhu vay, sau may tram nam thi tai nang vé chinh tri, tri quốc an dân của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi vẫn được nhìn nhận và khăng định dưới con mắt của một sứ thần nhà Thanh-có thể sánh ngang với Ức Trai tiên sinh 2.2.3.2 Sự nghiệp văn chương

Mạc Đĩnh Chỉ đã đi vào sử sách và đi vào tiềm thức nhân dân bằng

chính tài năng văn chương của mình Tuy nhiên, do những biến cố của lịch

sử, cụ thể hơn là của chính dòng họ Mạc sau này, nên những trước tác của

ông còn lại không nhiều

Hiện nay, các sáng tác của Mạc Đĩnh Chi còn được lưu lại chủ yếu

trong các cuốn biên sử, các cuốn tuyên tập thơ văn cổ của những người nỗi tiếng Đó là các bài “Ngọc tỉnh liên phú” [17.403-404], cuốn /oàng Việt thi văn tuyển cô chép bài thơ Văn cảnh Ngoài ra, Thơ Văn Lý - Trần có sưu tập

và tuyển chọn được tất cả 7 bài thơ của ông, đó là: Hý tình (Mừng trời tạnh), Văn cảnh (Cảnh chiều), Tảo hành (Đi sớm), Quá Banh Trach phỏng Đào

Trang 34

Tiềm cựu cư (Qua Bành Trạch, thăm nơi ở cũ của Đào Tiềm), Phiến minh (Bài thơ đề quạt), Giáo tử phú (Phú dạy con) [3.846-875]

Ngoài ra, các sách Kiến văn tiểu lục và Công dư tiệp chí còn chép ông

có một bài biểu tạ, một bài văn bia dựng ở mộ Bùi Mộc Đạc nhan để là Bùi

công Mộc Đạc than dao bi kí, nhưng hai tác phẩm này đến nay chưa tìm thấy

Tuy những tác phẩm của Mạc Đĩnh Chi còn lại không nhiều, nhưng

những sáng tác đó đã cho ta hiểu được tài năng văn chương cũng như khí tiết con người ông Chính tài năng văn chương là nền tảng cho sự nghiệp làm quan của ông, là bệ phóng cho sự thăng quan tiến chức của ông sau này

2.3 Vai trò của Mạc Đĩnh Chỉ đối với dân tộc

2.3.1 Trong lĩnh vực chính trị, ngoại giao

Ở Mạc Đĩnh Chí, sự nghiệp văn chương kết hợp nhuan nhuyễn sự nghiệp chính trị ngoại giao, góp phần xây dựng quan hệ ngoại giao với các

nước láng giềng Chính văn chương là nhân tố quan trọng góp phần cho thắng

lợi ngoại giao, chính nhờ tư duy sắc bén của Mạc Đĩnh Chi trong chính trị, ngoại giao mà văn chương của ông lại càng xuất sắc Hơn nữa nếu văn thơ của ông không trác tuyệt thì ông đã không được công nhận là Trạng nguyên

có điều kiện thi thố tài năng chính trị - ngoại giao, phò vua giúp nước

Mac Đĩnh Chi xuất thế năm 1304 vào lúc nhà nước Đại Việt đang ở

cuối kì “Trần thịnh”, lúc này nhà Nguyên (Trung Quốc), đời Vũ Tông cũng là lúc triều Nguyên còn thịnh Sự vị nể của nhà Nguyên đối với Đại Việt sau chiến thắng Nguyên Mông của Đại Việt không phải là đã hoàn toàn đập tắt được mộng xâm lược nước ta của Nguyên Mông, nếu Đại Việt tỏ ra suy yếu

Vũ Tông lại là vị vua yêu chuộng thơ phú, kính trọng văn tài, do đó vai trò ngoại giao của Mạc Đĩnh Chi lúc này là vô cùng quan trọng Sự nghiệp văn chương và ngoại giao của ông có thé nói là “ưu thời mẫn thế” Bằng tri thông

Trang 35

minh, tỉnh thần tự tôn, tự hào dân tộc và tài thơ văn, ông đã thu phục được lòng tin yêu của triều đình nhà Nguyên, sự quý mến của sứ thần Cao Ly Tài năng của Mạc Đĩnh Chi đã góp phần làm rạng danh non sông Đại Việt qua đối đáp với người Nguyên và vua Nguyên Một lần, vua Nguyên

muốn thử tài văn chương và dò la khí tiết của sứ thần Đại Việt đã ra câu đối:

Nhat hoa, van yên, bach dan thiêu tàn ngọc thỏ

Nghĩã là:

Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vừng trăng

Mac Dinh Chi biét là vua Nguyên kiêu hãnh tự xem mình là mặt trời và

coi Đại Việt như là mặt trăng, ban ngày nhất định phải bị mặt trời thôn tính,

ông bèn ứng khâu lại ngay:

Nguyệt cung, tỉnh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim 6 Nghia là:

Trăng là cung, sao là đạn, chiêu tối bắn rơi mặt trời

Như thế, câu ra đã giỏi câu đối lại còn tài hơn, vua Nguyên nghe đối

biết mình bị trả miếng rất đau nhưng cũng hết sức kính phục tài năng của Mạc

Dinh Chi

Với tài năng xuất chúng, ứng đối mẫn tiệp khí phách kiên cường và công lao to lớn ấy, ông đã được giữ trọng trách trong các đời vua nhà Trần

như: Hàn Lâm Đại học sĩ; Nhập Nội hành khiển; Hữu Ty Lang Trung; Tả Bộc

xạ Như vậy, hoạn lộ của Mạc Đĩnh Chi đã đạt tới cực phẩm Năm 1339 ông

được phong Tước Hầu

Co thé khang dinh Mac Dinh Chi voi 2 lần đi sứ đều hoàn thành trọng

trách của mình do vua giao phó Ông đã đảm đương trọn vẹn vai trò sử thần của mình trong khi giao tiếp với triều Nguyên, nêu cao được vị thế của quốc gia Đại Việt khiến cho nhà Nguyên phải “thán phục”, góp phần tích cực trong việc ngăn chặn ý đồ xâm lược của phương Bắc, nâng cao danh tiết Đại Việt

Trang 36

Sách sử đã ghi “Nước ta đời nha Tran ứng tiếp với sứ nhà Nguyên, khi cương,

khi nhu, đều là đắc thế cả, cho nên từ năm Trùng Hưng về sau mới có thể hết việc binh đạo, mà Bắc xứ thường phải khắc phục Trong khoảng hơn trăm năm không những ngăn được sự nhòm ngó của Trung Quốc mà còn tăng thêm

thanh danh cho Văn hiến nước nhà, đó là nhờ vào sự giao tiếp đắc nghỉ giúp

sức vậy” [5.1 80]

2.3.2 Trong lĩnh vực văn hóa

Các tác phâm văn chương của Mạc Đĩnh Chi hiện nay chỉ đếm được trên đầu ngón tay Nhưng mỗi tác pham lai mang một sắc thái riêng đóng góp cho nền thơ văn Việt Nam Bài Quá Bành Trạch phỏng Đào Tiềm cựu cư

(Qua Bành Trạch, thăm nơi ở cũ của Đào Tiềm) nói lên mối cảm phục đối với

nhân cách cứng cỏi “không vì đấu gạo mà chịu khom lưng” của Đào Tiềm, nhưng đồng thời cũng gợi cho người khác về lí tưởng sống của mình Lý tưởng sống đó hoàn toàn không mâu thuẫn với tắm lòng hăng hái nhập cuộc

của Mạc Đĩnh Chi mà bài thơ Tảo hành (Đi sớm) thê hiện rất rõ Tuy bài thơ

chỉ nói về một cuộc khởi hành bằng thuyền vào lúc trời còn mờ tối, nhưng qua đó cũng cho thấy Mạc Đĩnh Chi là người có thừa tráng khí, biết dứt khoát với những mộng mị không tưởng, và dám xông vào giữa biển lớn đề “phá sóng tạnh”, “mở mây mù” Những bài thơ tả cảnh của ông, dù là cảnh buổi sáng (Hỷ tình) hay cảnh chiều hôm (Văn cảnh), và dù ông viết lúc lòng còn nặng ưu tư, vẫn không hề nhuốm cảnh buồn Cái đẹp của trời đất quyện với cái khoáng đãng, huy hoàng của non sông, đó chính là niềm lạc quan của ngòi

bút thi nhân Nhận thức được mặt tích cực của thời đại, đất nước mình, mở

tâm hồn ra để gắn bó và làm nòng cốt tư tưởng của tác phẩm Đó là đặc trưng phong cách trữ tình của thơ phú Mạc Đĩnh Chi Ông xứng đáng là nhà văn Việt Nam, là đanh nhân văn hóa của đất nước [xem TLTK 12]

Trang 37

Cách đây gần 300 năm đã có những dòng tâm huyết như thế này viết về Mạc Đĩnh Chỉ: “Ôi ! Học vấn của ông đứng đầu quần Nho, danh tiếng của ông lừng lẫy hai nước Từ thời nhà Trần đến nay hơn 500 năm, mà nam phụ lão ấu, ai ai cũng biết tên ông Nói đến sự nghiệp của ông thì rõ như trước mắt Đọc đến văn chương của ông, thì vẫn còn thấy sống động Thực là một nhân vật độc đáo trăm đời vậy Như thế không có lẽ vì cớ con cháu đời sau

mà bị ảnh hưởng đến thanh danh Chỉ giận bút sử lịch triều ghi chép không

được tường tận, và các danh nhân đời trước không chịu viết về ông, để văn

chương trước nghiệp của ông không được lưu truyền ở đời” [15.208]

Chỉ gói gọn trong 7 câu ngắn ngủi, Trần Quý Nha đã khái quát được toàn bộ sự nghiệp, con người và vị trí của Mạc Đĩnh Chi trong lịch sử văn hóa dân tộc và trong lòng nhân dân Song cũng chỉ với mấy đòng ấy, ông đã nhận định xác đáng về sự không công bằng của hậu thế đối với những công trạng

của Mạc Đĩnh Chi Có lẽ đời trước đã ít viết về Mạc Đĩnh Chi, cho nên các sử

gia thời hiện đại cũng không có mấy tư liệu và cũng không mấy chú ý đến vị trí và vai trò của ông trong tiến trình lịch sử, văn hóa dân tộc Đây là những điều cần bổ khuyết, để thế hệ hôm nay và mai sau hiểu được mà không phụ tắm lòng của một người hết lòng vì dân, đất nước

Trang 38

Chuong 3: LE HOI DEN THO MAC DINH CHI TREN QUE HUONG

NAM TAN - NAM SACH - HAI DUONG

3.1 Khu di tích đền thờ Mạc Dinh Chi tai qué hwong (Dén Long Động)

3.1.1 Sơ lược lịch sử

Trước kia ở làng Long Động có hai ngôi Đình: Đình Trên và Đình

Dưới Đình Trên tọa lạc ngay phía Nam đền thờ Mạc Đĩnh Chi bây giờ, Đình

này quay hướng Nam thờ hai vị tổ của họ Mạc là Mạc Hiền Tích và Mạc Kiến

Quan Còn Đình Dưới ở cuối làng Long Động thờ cụ Mạc Đĩnh Chi So với

Đình Trên, Đình Dưới to hơn nhiều Đình Trên dược nhân dân xây dựng từ lâu, không rõ niên đại Đình Dưới theo sử sách thì được xây dựng từ khi Mạc

Đĩnh Chỉ tạ thế Nghe tin Mạc Đĩnh Chi tạ thế, vua Trần Dụ Tông sai quan về

dự tế và ban cho đân sở tại 500 quan tiền để xây dựng Qua nhiều biến cố của

lịch sử, đặc biệt là thời kì nhà Mạc thất thế, cả hai ngôi Đình đều bị thiêu hủy

Sau này, nhân dân trong làng đã góp tiền của xây dựng lại Đền ở vi trí hiện nay Đền thờ chung ba vị Trạng nguyên: Mạc Hiển Tích, Mạc Kiến Quan, Mac Dinh Chi Hiện nay, trong Đền vẫn còn lưu giữ một số hiện vật như: bát hương thời Lê và Nguyễn Trước năm 1953, khu đi tích này rất đồ sộ, bao gồm Đền, Đình, Chùa Đền kiến trúc theo kiểu chữ Đinh gồm 5 gian tiền tế

và ba gian hậu cung, có kiến trúc thời Nguyễn Tượng Pháp và đồ tế tự được

bố trí rất uy nghi Nhưng đến năm 1953, thực dân Pháp đã dùng chất nô phá

hủy nặng nề khu di tích này Đến năm 1992, cán bộ, nhân dân địa phương và

con cháu họ Mạc trong cả nước đã góp công, góp của tu sửa và tôn tạo lại như hiện nay

3.1.2 Khu di tích hiện nay

Bao gồm 3 bộ phận:

3.1.2.1 Đền thờ Mạc Đĩnh Chi( đền Long Động)

Trang 39

Dén Long Dong nằm trên mặt đất cao ráo, bốn mặt ao, ngòi, cảnh quan

thoáng đãng, đẹp đẽ, mặt tiền quay về hướng Đông Bắc, trước Đền là sân gạch nổi đường thôn với khu vực Đền

Công trình kiến trúc của Đền Long Động gồm: 5 gian tiền tế, 2 gian

hậu cung, 5 gian tiền tế có diện tích là 52,07 m7 (chiều đài 12,7 m, chiều rộng

4,1 m), kiến trúc Nguyễn, muộn, chắc chắn, kết cấu kèo kiểu kẻ chuyền, các

câu đầu, đấu, xà chất liệu bằng gỗ lim, đăc biệt các xà lách được trạm trỗ điêu

khắc Rồng Phượng, cây cối, nho, sóc, nghệ thuật Phần mái lợp ngói truyền thống, phần tường nền, nhà cao, lát gạch vuông có chiều dài là 22 em Gian

trung tâm được bố trí một long đình sơn son thiếp vàng, hai bên la bộ bát bửu

sơn son, phía trên được bồ trí một bức đại tự với dòng chữ "Mạc Đĩnh Chi

linh từ” ở 6 hàng cột có 4 đôi câu đối nền đỏ chữ vàng

Sau Long đình có hương án cao 1,2 m, phía trên gồm một bát hương

sành thời Lê, hai bên 2 lọ hoa có hoa văn đề tài

Qua 5 gian tiền tế nhà bia, nhà bia cách phía sau bậc tam cấp của nhà

tiền tế 2,5 m, đây là công trình kiến trúc mới được xây dựng Nhà bia 8 mái,

đao góc uốn cong, lợp ngói truyền thống, phần tường và mái làm theo kiểu

chong diêm, bia cao 2,5 m, rộng 2 m, dài 2,5 m, 4 mặt trang trí Rồng Phượng

và một số câu đối Trong bia ghi rõ Đền thờ Mạc Hiển Tích, Mạc Kiến Quan

và Mạc Đĩnh Chi Toàn bộ khu vực nhà bia được lát gạch chỉ, sau nhà bia là 2

gian hậu cung ; Đây là tòa nhà quan trọng nhất trong việc thờ cúng của Đền Tòa hậu cung trùng tu năm 1992, kiến trúc nặng về phần nề, bao gồm tường gạch xây cao, phía trong 2 gian ngăn cách xây cuốn vòm, mái lợp ngói

ta, hoành dui làm bằng gỗ, mặt tiền xây cao các bức phù điêu như Rồng chau, mặt Nguyệt Bước vào tòa hậu cung bằng 3 cửa : Cửa chính có chiều rộng

1,8m và 2 cửa nách rộng l m, mặt tiền của tòa hậu cung bố trí 2 đôi câu đối Phía trong tòa hậu cung : Gian thứ nhất dài 4,5m, rộng 2,6 m, bố trí một bát

Trang 40

hương án trên có bát hương đá thời Nguyễn, gian thứ 2 của tòa hậu cung được

bố trí ngai thờ, tượng thờ Ngai và tượng Mac Dinh Chi Bén trái là ngai thờ

và bài vị thờ cụ Mạc Kiến Quan, bên phải là ngai thờ và bài vị thờ cụ Mạc

Hiến Tích, phía trước ngai thờ cụ Mạc Hiển Tích là bát hương sành thời

Nguyễn Toàn bộ 3 ngai thờ đặt trên cao hắn so với các đồ thờ khác trong tòa

hậu cung ở cửa nách bên trái gian thứ 2 treo một chuông đồng thời Nguyễn

(niên hiệu Khải Định, thập niên, thập nguyệt, thập lục nhật, tức đúc ngày

16/10/1925)

3.1.2.2 Điện sùng Đức

Cách Đền Long Động 300m, về phía đông bắc là di tích Điện Sùng

Đức điện do Mạc Đăng Dung xây dựng khi mới lên ngôi để thờ Mạc Đĩnh

Chi ngay trên nền nhà cũ của Trạng nguyên Điện khá đồ sộ, bao gồm 3 gian nhà công và nhà bia Tương truyền điện bị phá cuối thế kỷ 16 khi nhà Mạc thất thủ ở đồng bằng phải rút lên Cao Bằng (1593), nhưng nền và phế tích gạch vẫn còn Đó là gạch từ thời Mạc Gạch hình vuông, cạnh 40 em, dày 12

cm, có màu đen, không phái là gạch nung nhưng rất rắn chắc Năm 1995 nhân dân trong thôn đã xây dựng lại Điện Sùng Đức theo kiến trúc cỗ 4 mái Như

cái tên của nó, Điện Sùng Đức thể hiện sự kính trọng, biết ơn đối với bậc tổ tông của con cháu họ Mạc

3.1.2.3 Lăng Quan Trạng

Cách đền 500m về phía Đông là Lăng Quan Trạng (hay còn gọi là Đống Lăng) Có hai luồng ý kiến khác nhau nói về Đống Lăng Những người tin vào chuyện con khỉ độc ở rừng thì nói đây là nơi ngày trước bà mẹ của

Mac Dinh Chi di kiém cui va bi con khi độc hiếp Nói cách khác, Đống Lăng chính là nơi phát tích của Mạc Đĩnh Chi Đây cũng là nơi con khi bị giết chết

và mộ của nó bị mối đùn đầy Và là nơi mai táng bố của Mạc Đĩnh Chi Ở Đống Lăng hiện có ba ngôi mộ Theo họ thì đó là mộ của bố mẹ Mạc Đĩnh

Ngày đăng: 27/09/2014, 00:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w