Các câu hỏi cho nghiên cứuXuất phát từ đặc thù kinh doanh, tính cấp thiết về lập và trình bày báo cáo tàichính các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực Hà Nội cũng như nhu cầu về thông tin củ
Trang 1Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, quý báu củaPGS.TS.Nguyễn Phú Giang, Trường Đại học Thương mại đã giúp đỡ tác giả hoànthành luận văn này.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu cựng cỏc thầy cô giáoKhoa Sau Đại học, Trường Đại học Thương mại đã tận tình giảng dạy, cung cấpnhững kiến thức quý giá trong suốt quá trình tác giả học tập tại Trường cũng nhưtrong quá trình thực hiện Luận văn này
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Ban lãnh đạocác doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội đã giúp đỡ, hỗ trợtận tình và cung cấp các dữ liệu liên quan để tác giả hoàn thành tốt luận văn này
Khi thực hiện đề tài: “Lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội”, dự đó cố gắng hết sức, song
do những hạn chế của bản thân cũng như khó khăn trong thu thập các thông tin, sốliệu cập nhật, nên tác giả không tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong nhậnđược sự đóng góp ý kiến của các thầy, cụ, cỏc bạn và những người quan tâm để cócái nhìn, đánh giá chinh xác và toàn diện hơn về vấn đề này
Trang 2LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY 1 BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về lập và trình bày báo cáo tài chính 3
1.2.1 Lập và trình bày báo cáo tài chính tại Việt Nam: 3
1.2.2 Lập và trình bày báo cáo tài chính trên thế giới: 4
1.3 Nhận dạng và xác lập vấn đề nghiên cứu trong đề tài 6
1.4 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 7
1.4.1 Đối tượng: 7
1.4.2 Mục tiêu và nhiệm vụ: 7
1.5 Các câu hỏi cho nghiên cứu 9
1.6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 9
1.7 Kết cấu đề tài 10
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 11 2.1 Một số định nghĩa, khái niệm liên quan đến lập và trình bày báo cáo tài chính11 2.2 Một số lý thuyết về lập và trình bày báo cáo tài chính 14
2.2.1 Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính 14
2.2.2 Nội dung lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp: 16
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lập và trình bày báo cáo tài chính 31
2.3.1 Nhân tố bên ngoài 31
2.3.2 Nhân tố bên trong 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34 3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề 34
3.1.1 Phương pháp điều tra 34
3.1.2 Phương pháp quan sát 35
3.1.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 35
3.1.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 35
Trang 33.2.1 Mô hình tổ chức của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Điện lực
thành phố Hà Nội 38
3.2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức công tác kế toán 48
3.2.3 Thực trạng việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội 56
3.3 Nhận dạng và phân tích các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến Lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội 67
3.3.1 Tổng quan các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến lập và trình bày BCTC tại các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực thành phố Hà Nội 67
3.2.2 Kết quả điều tra dữ liệu sơ cấp, thứ cấp và đánh giá của các chuyên gia 68
3.4 Phân tích thực trạng Lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội 72
3.4.1 Về cơ sở dữ liệu và công tác chuẩn bị 72
3.4.2 Về quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính 72
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LẬP VÂ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI 75 4.1 Các kết luận, đánh giá chung và nguyên nhân thực trạng 75
4.1.1 Những ưu điểm của việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội 75
4.1.2 Những hạn chế 77
4.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế 79
4.2 Các phát hiện và vấn đề đặt ra cần tập trung xử lý 80
4.3 Các dự báo triển vọng về vấn đề nghiên cứu 82
4.4 Đề xuất giải pháp hoàn thiện lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội 82
4.5 Kiến nghị về thực hiện hoàn thiện lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội 92
4.5.1 Đối với Nhà nước 92
4.5.2 Đối với Tổng công ty 94
4.5.2 Đối với các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội .94
4.6 Những hạn chế và các vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 95
Trang 5TCT Tổng công ty
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
IAS Chuẩn mực kế toán Quốc tế
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhBCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Trang 6Bảng 4.1 Bảng tổng hợp chi tiết tài khoản 85
Bảng 4.2 Bảng cân đối kế toán bộ phận 89
Hình 3.1: Màn hình tổng hợp tài khoản 58
Hình 3.2: Màn hình kết quả Tổng hợp tài khoản 59
Hình 3.3: Màn hình tổng hợp báo cáo kế toán 60
Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức của các công ty điện lực 47
Sơ đồ 3.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực thành phố Hà Nội 53
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Bất kể một nhà quản lý nào, khi muốn đánh giá năng lực thực hiện của doanhnghiệp mình hoặc xác định các lĩnh vực cần thiết phải được can thiệp hay các cổđông muốn theo dõi tình hình vốn đầu tư của mình đang được quản lý như thếnào… thì đều cần đến một công cụ hết sức quan trọng đó là Báo cáo tài chính(BCTC) Thông tin trên BCTC giúp cho hầu hết các đối tượng quan tâm đến doanhnghiệp có thể hiểu và đánh giá được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đó Xãhội càng phát triển thì ngày càng có nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng đến cácBCTC, từ những đối tượng bên trong doanh nghiệp là các nhà quản lý đến nhữngnhà đầu tư bên ngoài, các cổ đông, các chủ nợ, cơ quan quản lý nhà nước… BCTC
có vai trò quan trọng như vậy, do đó việc lập và trình bày nên một BCTC để phảnánh được chính xác và toàn diện tình hình tài chính của doanh nghiệp có ý nghĩa vôcùng to lớn
Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa kinh tế của BCTC cũng như của việc lập
và trình bày BCTC, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những quy định, hướng dẫn
về việc lập và trình bày báo cáo tài chính Cụ thể, Luật Kế toán ban hành ngày17/6/2003, Điều 29 quy định các doanh nghiệp phải lập BCTC tuân thủ chuẩn mực
kế toán và chế độ kế toán Việt Nam Theo đó, ngày 30/12/2003 Bộ Tài chính banhành Chuẩn mực số 21 – Trình bày báo cáo tài chính, quy định và hướng dẫn cácnguyên tắc, phương pháp lập và trình bày BCTC Bên cạnh đú cú Chuẩn mực số 24– Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháplập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ - một trong bốn BCTC của hệ thống báocáo tài chính Và một số chuẩn mực khỏc cú đề cập đến nội dung lập và trình bàycác thông tin trên BCTC
Trang 8Trải qua rất nhiều năm, kể từ khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến nay nước ta đó cú vô số các doanh nghiệpđược thành lập rồi chuyển đổi loại hình kinh doanh…Gần đây, phổ biến là việc thayđổi mô hình sở hữu và quản lý của doanh nghiệp như các tập đoàn kinh tế nhà nướcthành lập nhiều công ty con, công ty thành viên và công ty liên kết Đồng hành với
đó là thông tin tài chính của các doanh nghiệp cũng được chuyển đổi theo, các báocáo tài chính cũng được thay đổi về quy định lập và trình bày để có thể phản ánhtình hình tài chính của doanh nghiệp một cách sát thực nhất Bên cạnh đó, quy trình
và hệ thống kế toán tại mỗi doanh nghiệp được xây dựng trên cơ sở đặc thù mô hình
sở hữu và quản lý của mỗi doanh nghiệp Do đó nhà quản lý cũng phải có nhữngthay đổi về tổ chức và vận hành công tác kế toán sao cho phù hợp với mô hìnhchung của tập đoàn cũng như đáp ứng được yêu cầu thông tin cho quá trình lậpBCTCHN của cả tập đoàn Qua tìm hiểu thực tế, công tác lập và trình bày BCTCcủa nhiều doanh nghiệp còn có những bất cập hạn chế, chưa có kế hoạch thực hiệnmột cách chi tiết, đầy đủ:
Thông tin trên BCTC của các công ty con, công ty thành viên chưa đầy đủ, kịp thời, đôi khi chưa phù hợp cho công tác lập BCTCHN của tổng công ty Tại nhiều đơn vị, việc các công ty con, công ty thành viên nộp BCTC lên công ty mẹ một cách định kỳ cho mục đích quản lý nhiều hơn là cho mục tiêu hợp nhất BCTC.
Do đó, các thông tin này không được thiết kế cho mục tiêu hợp nhất, dẫn đến không cung cấp đầy đủ thông tin phù hợp cho quá trình hợp nhất BCTC Hơn thế, trong cùng một tập đoàn, một tổng công ty thì đôi khi số liệu báo cáo của các đơn vị thành viên cũng không nhất quán với nhau về chính sách, mẫu biểu… làm cho quá trình hợp nhất gặp nhiều khó khăn.
Với nhiều doanh nghiệp mới chuyển đổi mô hình sở hữu nhiều khi còn chưa lựa chọn được cho mỡnh cỏch tổ chức và vận hành công tác kế toán sao cho phù hợp với mô hình chung của tập đoàn dẫn đến thông tin tài chính thiếu sát thực Bên cạnh đó, kinh nghiệm, trình độ của một bộ phận đội ngũ nhân sự kế toán thực hiện công tác lập và trình bày BCTC chưa cao.
Trang 9Tổng công ty (TCT) điện lực thành phố Hà Nội được thành lập vào ngày 05tháng 02 năm 2010 trên cơ sở nâng cấp và tổ chức lại Công ty điện lực thành phố
Hà Nội, TCT hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Với mô hình hoạtđộng mới này, định kỳ TCT điện lực thành phố Hà Nội phải lập báo cáo tài chínhhợp nhất theo quy định của Bộ tài chính Theo đó tại các công ty điện lực thànhviên cũng phải lập các BCTC, các BCTC này phải vừa phản ánh được chính xáctình hình tài chính của doanh nghiệp theo yêu cầu của nhà nước, vừa phải đảm bảođáp ứng nhu cầu thông tin cho việc lập BCTCHN của Tổng công ty điện lực thànhphố Hà Nội Tuy nhiên, do thời gian chuyển đổi mô hình cho đến nay chưa nhiềunên hầu hết các BCTC còn đang được hoàn thiện dần, việc tập hợp số liệu để lêncác báo cáo còn chưa đi vào quy chuẩn; đội ngũ kế toán viên cũng chưa có nhiềuthời gian để tích lũy kinh nghiệm cho công tác lập và trình bày báo cáo kế toán củacông ty mình Chính vì vậy việc nghiên cứu vờ̀ lọ|p và trình bày BCTC là vô cùngcấp thiết đối với các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về lập và trình bày báo cáo tài chính
1.2.1 Lập và trình bày báo cáo tài chính tại Việt Nam:
Các vấn đề về lập và trình bày báo cáo tài chính đã được một số tác giả ở ViệtNam nghiên cứu Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu tại các doanh nghiệp
thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội Như đề tài “Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp ngành điện khu vực phía Bắc” Luận văn
thạc sỹ kinh tế của tác giả Đỗ Quỳnh Trang( năm 2006); hay đề tài luận án Tiến sỹ
về ”Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính tại tập đoàn Phỳ Thỏi ” của tác giả Phạm
Thị Thanh ( năm 2007), và luận án thạc sỹ kinh tế " Phương pháp và giải pháp hoànthiện hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam" của tácgiả Trần Ngọc Dung, các đề tài này chủ yếu đề cập tới các lý luận về báo cáo tàichính, tìm hiểu thực trạng về cỏc cỏc báo cáo tài chính tại các đơn vị trên, qua đóđưa ra các giải pháp cần thiết cho đơn vị
Luận văn của Thạc sỹ Hoa Phong Lan – Trường ĐH Thương Mại nghiên cứu về
“Kế toán lập, trình bày báo cáo tài chính tại Tổng công ty Sông Đà” Luận văn đã
Trang 10trình bày và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán lập và trình bày BCTCtrong doanh nghiệp Trên cơ sở đó, luận văn đã khảo sát và đánh giá thực trạng kếtoán lập và trình bày BCTC tại TCT Sông Đà theo hướng từ BCTC riêng, BCTCtổng hợp và BCTC hợp nhất Luận văn đã đánh giá khách quan ưu điểm cũng nhưđưa ra những tồn tại trong kế toán lập và trình bày BCTC tại TCT Sông Đà, nhữngtồn tại đó cần phải tiếp tục hoàn thiện Từ đó trình bày các dự báo triển vọng về vấn
đề nghiên cứu và đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện kế toán lập và trình bàyBCTC tại TCT Sông Đà phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp tronghiện tại và xu thế phát triển trong tương lai Bên cạnh đó, luận văn cũng làm rõnhững hạn chế nghiên cứu và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trongtương lai của luận văn
1.2.2 Lập và trình bày báo cáo tài chính trên thế giới:
BCTC là đối tượng quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức nghề nghiệp, nhànghiên cứu, thực hành kế toán trên thế giới trong nhiều năm qua, với nhiều giác độtiếp cận khác nhau, và đã được thể hiện trong nhiều tài liệu quan trọng như: “Cỏckhái niệm về BCTC” của Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (trong Khái niệm
số 1, viết tắt là CON1), “Khuụn mẫu cho việc soạn thảo và trình bày BCTC” củaHội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (viết tắt Framework), “Những ranh giới củaBCTC và làm sao để mở rộng chỳng” của Baruch Lev (1998), “Những thay đổitrong tương quan giá trị giữa thu nhập và giá trị ghi sổ hơn bốn mươi năm qua” củaCollins, Maydaw và Weiss (1997), hay “Đỏnh giỏ tổng thể chất lượng thông tinbằng cách tiếp cận theo khuôn mẫu khái niệm và hàm tin cậy” của Rajendra P.Srivastava và cộng sự (2003) Nội dung chủ yếu của các tài liệu này là hướng tớiviệc thảo luận và đưa ra các khuôn khổ hoặc gợi ý để trợ giúp cho việc soạn thảo,trình bày BCTC để cung cấp thông tin hữu ích Cụ thể như:
(a) Nhóm tác giả Collins, Maydaw và Weiss (1997), trên cơ sở đánh giá hồiquy trong giai đoạn từ 1953 đến 1993, nhận thấy: “sự kết hợp giữa giá trị phù hợpcủa lợi nhuận và giá trị ghi sổ của tài sản không bị suy giảm trong bốn mươi nămqua, thậm chí còn tăng lên một ớt”[5], hơn nữa các tác giả Fransis và Schipper
Trang 11(1996), Eley và Waymire (1996)… đều đồng tình cho rằng mối liên hệ giữa cácbiến số của thị trường vốn và các dữ liệu tài chính cũng nhận được sự quan tâmđáng kể [6], và “họ thông báo rằng qua nhiều cách tiếp cận khác nhau – dựa trên sự
am hiểu sâu sắc về lợi nhuận – đã không cho thấy một sự giảm sút nào về tính hữuớch” [2, trang 11] Nhìn chung, những nhà nghiên cứu này có cái nhìn lạc quan vềtính hữu ích của thông tin tài chính
(b) Nhóm tác giả Baruch Lev và Paul Zarowin (1998) của Đại học NewYorkthỡ cú quan điểm ngược lại Theo những phát hiện của họ thỡ “liờn kết chéo giữa cổtức và lợi nhuận báo cáo, và liên quan đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đốivới các nhà đầu tư, đã suy giảm trong hơn hai mươi năm qua”, và “tớnh nhất quángiữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo cáo và thông tin phù hợp với cácnhà đầu tư đó sỳt giảm, bất chấp chất lượng của các dự báo của các nhà phõn tớch”[2, trang 7] Thậm chí, cho dù theo Collins thì sự liên kết giữa giá trị thị trường vàlợi nhuận cùng giá trị ghi sổ có thể ổn định trong bốn mươi năm qua, nhưng “nhữngbằng chứng thu thập được cho thấy sự liên kết ấy bị giảm sút trong nửa giai đoạnsau” [2, trang 11] Lý giải về sự việc trên, Lev và Zarowin cho rằng hệ thống đolường và báo cáo kế toán không đối phó tốt với sự thay đổi đang tác động sâu sắcđến hoạt động kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp; và “chớnh tốc độthay đổi quá nhanh của doanh nghiệp cùng với sự kém hiệu quả của hệ thống kếtoán trong xử lý các hậu quả của sự thay đổi là những nguyên nhân chính được việndẫn cho sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chớnh”[2, trang 13] Điềuđáng ghi nhận ở đây là từ kết quả khảo sát, thống kê trong giai đoạn gần hai mươinăm (tính đến 1998) và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác, Lev và Zarowinđặt ra vấn đề là làm sao để ngăn chặn sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tàichính, và từ đó đưa ra hai đề xuất để nâng cao tính hữu ích của thông tin tài chínhgồm “vốn húa cỏc khoản đầu tư vụ hỡnh” và “trỡnh bày lại một cách có hệ thốngcác BCTC hiện hành”
(c) Ở một giác độ khác liên quan đến tính hữu ích của thông tin là sự cần thiếtcủa hoạt động kiểm toán độc lập đối với BCTC, bởi lẽ có quá nhiều vấn đề nảy sinh
Trang 12trong quá trình soạn lập, cung cấp thông tin kế toán cho người sử dụng (như mâuthuẫn về lợi ích, khác biệt về nhu cầu sử dụng thông tin, quy trình thông tin - kếtoán phức tạp, khả năng kiểm tra thấp) khiến cho thông tin kế toán trở nên thiếu độtin cậy, không khách quan, chứa đựng nhiều rủi ro về sai sót, gian lận và do vậy cầnphải có sự kiểm tra độc lập, đủ trình độ chuyên môn của bên thứ ba Tuy nhiên, việcxem xét vai trò của kiểm toán độc lập đối với BCTC được tiếp cận theo nhiều khíacạnh khác nhau Trên quan điểm lợi ích của người sử dụng thông tin, các nhànghiên cứu như Campbell (1985), Shaw (1980),… cho rằng kiểm toán là phươngthức mang lại sự tin cậy cho BCTC, “luận điểm này dựa trên giả thiết là BCTC sẽhữu ích hơn cho những nhóm người sử dụng khác nhau khi chúng được kiểm toánviên độc lập kiểm tra và báo cáo, và sự hữu ích tăng thêm này xuất phát từ việc hạnchế bớt rủi ro do việc BCTC chứa đựng những gian lận trọng yếu” [1, trang 11].Trong khi đó, đứng từ phía người quản lý, Chow và Rice (1982) cho rằng ngườiquản lý tự nguyện chấp nhận kiểm toán vì nhờ đó làm tăng độ tin cậy của thông tintrên BCTC, cải thiện lợi thế so với trường hợp không kiểm toán; hơn nữa những lợiích mang lại, theo Campbell, sẽ vượt quá chi phí cho cuộc kiểm toỏn”[1, trang 12].Một điều nữa, việc báo cáo (tài chính) là một trách nhiệm phải thực hiện của ngườiquản lý đối với chủ doanh nghiệp và cũng là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đốivới cỏc bờn liên quan trong xã hội Do vậy, lợi ích của xã hội sẽ được đảm bảo hợp
lý từ việc kiểm toán – được xem như là một phần của hệ thống kiểm soát của xã hội– đối với thông tin trên BCTC Nói tóm lại, “kiểm toán độc lập là một phương thứcđảm bảo ở mức độ hợp lý nhất định độ tin cậy của thông tin (…) để bảo vệ quyềnlợi chung của xã hội và cỏc bờn liên quan trong nền kinh tế thị trường mà thông tin
là cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế”[1, trang 16]
1.3 Nhận dạng và xác lập vấn đề nghiên cứu trong đề tài
Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội là một đơn vị có rất nhiều công ty trựcthuộc Số lượng các đơn vị thành viên lên tới 37 đơn vị, để quản lý về vấn đề tàichính của cả TCT cần phải có một hệ thống báo cáo tài chính hết sức ưu việt và rõràng Với mong muốn được nghiên cứu để hiểu rõ hệ thống báo cáo tài chính của
Trang 13các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực thành phố Hà Nội tác giả đã lựa chọn luận
văn với đề tài “Lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội”
Qua nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu có rất nhiều công trình nghiên cứu về lập vàtrình bày báo cáo tài chính nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổngquát về Lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công tyĐiện lực thành phố Hà Nội
Do vậy đề tài nghiên cứu về việc “Lập và trình bày báo cáo tài chính tại cácdoanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội” là đề tài hoàn toànmới
1.4 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tượng:
TCT Điện lực thành phố Hà Nội là một doanh nghiệp với 37 đơn vị thành viên.Đối tượng nghiên cứu của đề tài ở đây chính là báo cáo tài chính của các đơn vịthành viên đó với việc lập và trình bày báo cáo tài chính của nó
về điện nói chung cũng như các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực thành phố HàNội nói riêng thực hiện công tác kế toán của mình dễ dàng hơn, chính xác hơn vàđảm bảo đúng quy định hơn
Trang 14b Khảo sát, đỏnh giá thực trạng và tìm ra những ưu điểm, hạn chế trong lập
và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc TCT Điện lực thành phố Hà Nội.
Viợ̀c lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực
Hà Nội hiện nay là một hoạt động rất cấp thiết trong công tác kế toán Tiến hànhkhảo sát, đánh giá thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính của các doanhnghiệp này sẽ giúp các doanh nghiệp thấy được mức độ phù hợp của công tác kếtoán hiện hành với mô hình hoạt động mới của toàn doanh nghiệp mình Bên cạnh
đó các nhà quản lý cũng nắm được mức độ chính xác của các thông tin tài chínhtrờn cỏc báo cáo tài chính Từ đó, phát hiện được những ưu điểm, hạn chế của việclập và trình bày báo cáo tài chính tại doanh nghiệp mình Những ưu điểm sẽ tiếp tụcphát huy, còn hạn chế sẽ tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục để thông tin củacác báo cáo tài chính phản ánh chính xác hơn tình hình tài chính của doanh nghiệp
Do đó việc đi tìm hiờ̉u đờ̉ đánh giá chính xác được thực trạng lập và trình bày báocáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực thành phố Hà Nội cũng làmột mục tiêu nghiên cứu của đề tài
c Tìm nguyên nhân của những hạn chế trong lập và trình bày báo cáo tài chính tại đơn vị.
Với những hạn chế trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanhnghiệp thuộc TCT điện lực thành phố Hà Nội Đề tài sẽ làm rõ nguyên nhân củanhững hạn chế đó, từ những nhân tố tác động bên trong doanh nghiệp đến nhữngnhân tố tác động bên ngoài để từ đó có một cái nhìn xác thực hơn về những hạn chế
mà doanh nghiệp gặp phải
d Đề xuất hướng giải pháp nhằm hoàn thiện việc lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng lập và trình bày báo cáo tài chính tại các doanhnghiệp thuộc TCT điện lực thành phố Hà Nội , hiểu rõ nguyên nhân của những hạnchế, tác giả sẽ đề xuất một số hướng giải pháp nhằm hoàn thiện viợ̀c lọ|p và trìnhbày báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này
Trang 151.5 Các câu hỏi cho nghiên cứu
Xuất phát từ đặc thù kinh doanh, tính cấp thiết về lập và trình bày báo cáo tàichính các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực Hà Nội cũng như nhu cầu về thông tin
của các đối tượng quan tâm, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Lập và trình bày
báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội” Đề tài sẽ làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến công tác lập và trình bày
BCTC tại các doanh nghiệp thuộc TCT điện lực Hà Nội thông qua việc trả lời 3 câuhỏi lớn:
- Lý luận chung về báo cáo tài chính như thế nào?
- Thực trạng công tác lập và trình bày báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội.
- Những tồn tại và các giải pháp nào nhằm hoàn thiện công tác lập và trình bày báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố
Hà Nội?
1.6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội là một doanh nghiệp lớn với 37 đơn vịthành viên gồm 29 Công ty điện lực thành viên và một số Trung tâm, ban quản lý
dự án kinh doanh trong rất nhiều lĩnh vực như: Phát điện, truyền tải điện, phân phốiđiện, bán buôn điện, bán lẻ điện, bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông,kinh doanh dịch vụ viễn thông Tất cả các doanh nghiệp này đều không có công tycon Trong khuôn khổ và phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứucác vấn đề liên quan đến lập và trình bày báo cáo tài chính riêng rẽ tại các doanhnghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về lập và trình bày báo cáo tài chính tại 2nhóm doanh nghiệp: Nhúm cỏc công ty điện lực như Điên lực Ba Đình, điện lựcĐống Đa…; Nhúm cỏc đơn vị phụ trợ như: Trung tâm Điều độ thông tin, Công tylưới điện cao thế thành phố Hà Nội, Ban quản lý dự án nhà điều hành sản xuất…
- Về thời gian: Số liệu khảo sát, nghiên cứu thực tế để minh họa cho đề tài là sốliệu năm 2010 tại các doanh nghiệp thuộc TCT Điện lực thành phố Hà Nội
Trang 161.7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đề tài : “Lập và trình bày Báo cáo tài chínhtại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội”
Chương 2: Một số vấn đề lý thuyết cơ bản về việc Lập và trình bày Báo cáo tàichính doanh nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng việc Lập vàtrình bày Báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thànhphố Hà Nội
Chương 4: Kết luận và giải pháp hoàn thiện việc Lập và trình bày Báo cáo tàichính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP
VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm liờn quan đến lập và trình bày báo cáo tài chính
Nói đến những thông tin tài chính của bất cứ doanh nghiệp nào, chắc hẳn không
ai là chưa từng nghe đến thuật ngữ Báo cáo tài chính Tuy nhiên, thế nào là mộtbáo cáo tài chính? Có lẽ không phải ai cũng có có thể đưa ra một câu trả lời đầy đủ
và rõ ràng Sau đây tác giả xin đưa ra một số khái niệm và định nghĩa liên quan đờ́nviợ̀c lọ|p và trình bày BCTC:
Bỏo cáo tài chính: là những báo cáo tổng hợp được lập dựa vào phương
pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phátsinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định Các báo cáo tài chính kế toán phảnánh một cách có hệ thống tình hình tài sản, công nợ, tình hình sử dụng vốn và kếtquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong những thời kỳ nhất định, đồngthời chúng được giải trỡnh giỳp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính nhậnbiết được thực trạng tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để đề racác quyết định cho phù hợp
Theo Luật kế toán, chuẩn mực kế toán, và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hànhcủa Việt Nam, hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm bốn báo cáo sau đây:
1 Bảng cân đối kế toán,
2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ,
4 Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Theo chế độ kế toán Việt Nam, hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tàichính năm (được lập khi kết thúc năm tài chính) và báo cáo tài chính giữa niên độ(báo cáo tài chính quý) Hệ thống báo cáo tài chính năm được áp dụng cho tất cảcác loại hình doanh nghiệp thuộc các ngành và các thành phần kinh tế Hệ thốngbáo cáo tài chính giữa niên độ được áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 18(DNNN), các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, và các doanhnghiệp khỏc cú nhu cầu lập báo cáo tài chính giữa niên độ.
Hệ thống báo cáo tài chính năm bao gồm các mẫu báo cáo:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 – DN
Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B09 – DN
Hệ thống báo cáo tài chính giữa niên độ, bao gồm hai dạng là dạng đầy
đủ và dạng tóm lược.
Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ gồm các mẫu báo cáo:
Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng đầy đủ) Mẫu số B01a – DNBáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ (dạng đầy đủ) Mẫu số B02a – DNBáo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng đầy đủ) Mẫu số B03a – DNBản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc Mẫu số B09a – DNBáo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược gồm các mẫu báo cáo:
Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược) Mẫu số B01b – DNBáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ (dạng tóm lược) Mẫu số B02b – DNBáo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng tóm lược) Mẫu số B03b – DNBản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc Mẫu số B09a – DN
(Nguồn: Bộ Tài chính, 2006)
Ngoài báo cáo tài chính, doanh nghiệp có thể lập báo cáo quản lý trong đó mô tả
và diễn giải những đặc điểm chính về tình hình kinh doanh và tài chính, cũng nhưnhững sự kiện không chắc chắn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó nếu bangiám đốc xét thấy chúng hữu ích cho những người sử dụng trong quá trình ra cácquyết định kinh tế
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT): là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánhtổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanhnghiệp tại một thời điểm nhất định
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD): Là BCTC phảnánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm kếtquả kinh doanh và kết quả khác
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT): Là BCTC phản ánh nguồn hìnhthành và cách thức sử dụng tiền trong quá trình hoạt động của đơn vị
Trang 19 Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC): là một bộ phận hợp thànhkhông thể tách rời của BCTC doanh nghiệp, dùng để mô tả hoặc phân tích chi tiếtcác thông tin số liệu đã được trình bày trong BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTTcũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụthể, các thông tin cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý BCTC.
Các yếu tố của BCTC: liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài
chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu; liênquan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh
- Tài sản: Là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích
kinh tế trong tương lai
- Nợ phải trả: Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch
và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình
- Vốn chủ sở hữu: Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh
lệch giữa giá trị Tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả
- Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp
thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thôngthường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sởhữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu
- Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh cáckhoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho
cổ đông hoặc chủ sở hữu
2.2 Một số lý thuyết về lập và trình bày báo cáo tài chính
2.2.1 Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính
Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ sáu (6) nguyên tắc đượcquy định trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trỡnh bày báo cáo tài chớnh”,
Trang 20gồm: (1) hoạt động liên tục, (2) cơ sở dồn tích, (3) nhất quán, (4) trọng yếu và tậphợp, (5) bù trừ, và (6) có thể so sánh.
a Hoạt động liên tục:
Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đanghoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương laigần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạtđộng hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tếkhác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sởkhác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính
Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, Giám đốc (hoặcngười đứng đầu) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoánđược tối thiểu trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán
tế chi tiền hoặc tương đương tiền Doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo cơ
sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền
c Nhất quán:
Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính phải nhấtquán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chấtcác hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày báo cáo tàichính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn cácgiao dịch và các sự kiện; hoặc được một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thayđổi trong việc trình bày
d Trọng yếu và tập hợp:
Trang 21 Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tàichính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà đượctập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, thông tin được coi là trọng yếutrong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thểlàm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế củangười sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chấtcủa thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếucủa thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính
e Bù trừ:
Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính khôngđược bù trừ mà phải trình bày riêng biệt tất cả các khoản mục tài sản và công nợtrên báo cáo tài chính, trừ khi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép
bù trừ Các khoản mục doanh thu và chi phí chỉ được bù trừ khi được qui định tạimột chuẩn mực kế toán cụ thể khác hoặc các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quanphát sinh từ các giao dịch và các sự kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tínhtrọng yếu Các tài sản và nợ phải trả, các khoản thu nhập và chi phí có tính trọngyếu phải được báo cáo riêng biệt Việc bù trừ các số liệu trong báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh hoặc bảng cân đối kế toán sẽ không cho phép người sử dụng hiểuđược các giao dịch hoặc sự kiện được thực hiện và dự tính được các luồng tiềntrong tương lai của doanh nghiệp, ngoại trừ trường hợp việc bù trừ này phản ánhbản chất của giao dịch hoặc sự kiện
f Có thể so sánh:
Các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính nhằm để so sánh giữa các
kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong báocáo tài chính của kỳ trước Các thông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tindiễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết để giúp cho những người sử dụng hiểu rõđược báo cáo tài chính của kỳ hiện tại
Trang 22 Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáotài chính, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thựchiện được) nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại, và phải trình bày tínhchất, số liệu và lý do việc phân loại lại Nếu không thể thực hiện được việc phânloại lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanh nghiệp cần phải nêu rõ lý
do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện.(Bộ tài chính, 2003)
2.2.2 Nội dung lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp:
Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tàichính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảmbảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bàytrên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liênquan hiện hành
Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáotài chính được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam.Báo cáo tài chính được coi là lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kếtoán Việt Nam nếu báo cáo tài chính tuân thủ mọi quy định của từng chuẩn mực vàchế độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam của BộTài chính
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chính sách kế toán khác với quy định củachuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, không được coi là tuân thủ chuẩn mực vàchế độ kế toán hiện hành dự đó thuyết minh đầy đủ trong chính sách kế toán cũngnhư trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
Để lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, doanh nghiệpphải:
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với các quy định củachuẩn mực và chính sách kế toán;
- Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thôngtin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu;
Trang 23- Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không
đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặcnhững sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanhcủa doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập
và trình bày báo cáo tài chính phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán.Trường hợp chưa có quy định ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thìdoanh nghiệp phải căn cứ vào chuẩn mực chung để xây dựng các phương pháp kếtoán hợp lý nhằm đảm bảo báo cáo tài chính cung cấp được các thông tin đáp ứngcác yêu cầu sau:
- Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
- Đáng tin cậy, khi:
Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp;
Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉđơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
Trình bày khách quan, không thiên vị;
Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kếtoán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong quá trình lập và trình bày báo cáo tàichính
Trong trường hợp không có chuẩn mực kế toán hướng dẫn riêng, khi xâydựng các phương pháp kế toán cụ thể, doanh nghiệp cần xem xét:
- Những yêu cầu và hướng dẫn của các chuẩn mực kế toán đề cập đến nhữngvấn đề tương tự và có liên quan;
- Những khái niệm, tiêu chuẩn, điều kiện xác định và ghi nhận đối với các tàisản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí được quy định trong chuẩn mực chung;
Trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin sau đây:
Trang 24- Tên và địa chỉ của doanh nghiệp báo cáo;
- Nêu rõ báo cáo tài chính này là báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp haybáo cáo tài chính hợp nhất của tập đoàn;
- Kỳ báo cáo;
- Ngày lập báo cáo tài chính;
- Đơn vị tiền tệ dùng để lập báo cáo tài chính
Các thông tin trên được trình bày trên mỗi báo cáo tài chính Tuỳ từngtrường hợp, cần phải xác định cách trình bày thích hợp nhất các thông tin này.Trường hợp báo cáo tài chính được trình bày trờn cỏc trang điện tử thỡ cỏc trangtách rời nhau đều phải trình bày các thông tin kể trên nhằm đảm bảo cho người sửdụng dễ hiểu các thông tin được cung cấp
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải được lập ít nhất cho từng kỳ kế toánnăm Trường hợp đặc biệt, một doanh nghiệp có thể thay đổi ngày kết thúc kỳ kếtoán năm dẫn đến việc lập báo cáo tài chính cho một niên độ kế toán có thể dài hơnhoặc ngắn hơn một năm dương lịch Trường hợp này doanh nghiệp cần phải nêu rõ :
- Lý do phải thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm; và
- Các số liệu tương ứng nhằm để so sánh được trình bày trong báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và phần thuyết minh báocáo tài chính có liên quan, trong trường hợp này là không thể so sánh đượcvới các số liệu của niên độ hiện tại
Trong trường hợp đặc biệt, chẳng hạn một doanh nghiệp sau khi được mualại bởi một doanh nghiệp khác có ngày kết thúc niên độ khác, có thể được yêu cầuhoặc quyết định thay đổi ngày lập báo cáo tài chính của mình Trường hợp nàykhông thể so sánh được số liệu của niên độ hiện tại và số liệu được trình bày nhằmmục đích so sánh, do đó doanh nghiệp phải giải trình lý do thay đổi ngày lập báocáo tài chính
2.2.2.1 Phương pháp lập và trình bày Bảng cân đối kế toán:
a Cơ sở số liệu để lập bảng cân đối kế toán:
- Căn cứ vào các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết
Trang 25- Căn cứ vào Bảng Cân đối kế toán kỳ trước.
b Lập và trình bày bảng cân đối kế toán
Những thông tin chung về doanh nghiệp
Khi lập bảng cân đối kế toán, doanh nghiệp phải trình bày các thông tin chungsau đây:
- Tên và địa chỉ của doanh nghiệp
- Ngày kết thúc kỳ kế toán
- Ngày lập báo cáo
- Đơn vị tiền tệ dùng để lập báo cáo tài chính
Ngoài ra, doanh nghiệp cần nêu rõ bảng cân đối kế toán này là bảng cân đối kế toánriêng của doanh nghiệp hay bảng cân đối kế toán hợp nhất của tập đoàn
Nguyên tắc lập và trình bày bảng cân đối kế toán
Thứ nhất, đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh trong vòng 12 thỏng, thỡ
tài sản và nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo tiêu chí sau:
- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng 12 tháng tới kể từngày kết thúc năm tài chính, được xếp vào loại ngắn hạn
- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán sau 12 tháng tới kể từ ngàykết thúc năm tài chính, được xếp vào loại dài hạn
Thứ hai, đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 thỏng, thỡ tài
sản và nợ phải trả được phân thành ngắn hạn và dài hạn theo tiêu chí sau:
- Tài sản và nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong vòng một chu kỳ kinhdoanh được xếp vào loại ngắn hạn
- Tài sản và Nợ phải trả được thu hồi hay thanh toán trong khoảng thời gian dàihơn một chu kỳ kinh doanh được xếp vào loại dài hạn
Thứ ba, đối với các doanh nghiệp do tính chất hoạt động không thể dựa vào chu
kỳ kinh doanh để phân biệt giữa ngắn hạn và dài hạn, thỡ cỏc tài sản và nợ phải trảđược trình bày theo tính thanh khoản giảm dần Việc trình bày các loại tài sản theothứ tự tính thanh khoản giảm dần có nghĩa là loại tài sản nào dễ chuyển đổi thànhtiền nhất được xếp trước tiên và loại nào khó chuyển nhất được xếp cuối cùng
Trang 26Mỗi loại tài sản hoặc một vài loại tài sản có cùng tính chất hoặc chức năngđược trình bày thành chỉ tiêu riêng trong Bảng cân đối kế toán được gọi là “khoảnmục” của bảng cân đối kế toán Các tài sản có cùng tính chất chức năng được tậphợp và được trình bày vào một khoản mục, nếu mỗi tài sản này không có tính trọngyếu, còn nếu nó là trọng yếu thì phải trình bày mỗi tài sản này riêng một khoảnmục Ngược lại các tài sản có tính chất, chức năng khác nhau thỡ dự trị giá của nó
là nhỏ (không trọng yếu) thì phải được trình bày vào một khoản mục riêng
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, thì tài sản được trình bày thànhcác khoản mục sau:
Tài sản ngắn hạn, gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, Các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn, Các khoản phải thu ngắn hạn, Hàng tồn kho, Tài sản ngắnhạn khác
Tài sản dài hạn, gồm: Các khoản phải thu dài hạn, Tài sản cố định, Bất độngsản đầu tư, Các khoản đầu tư tài chính dài hạn, Tài sản dài hạn khác
Đối với các khoản nợ phải trả trình bày ở phần “nguồn vốn” Các khoản nợ phải trảđược trình bày theo các loại có cùng tính chất và đồng thời cùng thời hạn thanh toán
là dài hạn hay ngắn hạn Cụ thể:
Nợ ngắn hạn, gồm: Vay và nợ ngắn hạn, Phải trả người bán, người mua trảtiền trước, thuế và các khoản phải nộp nhà nước, Phải trả người lao động, Chi phíphải trả, Phải trả nội bộ, Phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, Cáckhoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác
Nợ dài hạn, gồm: Nợ phải trả người bán, Phải trả dài hạn nội bộ, Phải trả dàihạn khác, Vay và nợ dài hạn, Thuế thu nhập hoãn lại phải trả, dự phòng trợ cấp mấtviệc làm Như vậy, bảng cân đối kế toán phải thể hiện được tính chất cân đối của nó
đó là tổng tài sản phải bằng tổng nguồn vốn Để thể hiện được điều này thì bảng cânđối kế toán phải trình bày được hai phần tài sản và nguồn vốn Các chỉ tiêu ở haiphần tài sản và nguồn vốn được tính dựa trên số dư cuối kỳ của các tài khoản nàytrên sổ kế toán tại thời điểm lập báo cáo (Mẫu B 01 – DN Ban hành theo QĐ số15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính)
Phương pháp lập và trình bày bảng cân đối kế toán
Trang 27Bảng cân đối kế toán phản ánh tổng quát tình hình tài sản hiện có cũng nhưnguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp và hơn thế nữa nú cũn phải phảnánh được tính chất cân đối của kế toán (phương trình kế toán cơ bản) đó là tại mộtthời điểm xác định (thời điểm lập báo cáo tài chính (quý, năm)) khi biểu hiện bằngthước đo tiền tệ thì tổng tài sản và tổng nguồn vốn phải bằng nhau Chính vì vậy,kết cấu của bảng cân đối kế toán phải trình bày được hai chỉ tiêu cơ bản đó là phầntài sản và phần nguồn vốn.
Để lập Bảng cân đối kế toán, kế toán phải sử dụng rất nhiều nguồn số liệu,nhưng chủ yếu từ các nguồn số liệu sau đây:
- Bảng cân đối kế toán cuối kỳ trước, năm trước
- Sổ cái cá tài khoản tổng hợp và các tài khoản phân tích
- Bảng cân đối tài khoản
- Các tài liệu có liên quan khác (sổ chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết, bảng kê, )Ngoài ra, đối với các chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán hợp nhất (các Tổngcông ty, tập đoàn hoạt động theo mô hình công ty mẹ con phải lập loại này) đượclập bằng cách cộng từng chỉ tiêu tương ứng thuộc bảng cân đối kế toán của công ty
mẹ và các công ty con trong cùng tập đoàn sau đó thực hiện điều chỉnh các nội dungsau:
- Giá trị ghi sổ khoản đầu tư của công ty mẹ trong từng công ty con và phầnvốn của công ty mẹ trong vốn chủ sở hữu của công ty con phải được loại trừ toàn bộđồng thời ghi nhận lợi thế thương mại (nếu có)
- Phân bổ lợi thế thương mại
- Lợi ích của cổ đông thiểu số phải được trình bày trong Bảng cân đối kế toánhợp nhất thành một chỉ tiêu tách biệt với nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của công ty
mẹ Phần sở hữu của cổ đông thiểu số trong thu nhập của Tập đoàn cũng cần đượctrình bày thành chỉ tiêu riêng biệt trong Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất
- Giá trị khoản mục phải thu, phải trả giữa các đơn vị trong cùng tập đoàn phảiloai trừ hoàn toàn
Trang 28- Các khoản lãi chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch trong nội bộ tập đoànđang nằm trong giá trị tài sản (như: hàng tồn kho, tài sản cố định) phải được loại trừhoàn toàn Các khoản lỗ chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch nội bộ đang phảnánh trong giá trị hàng tồn kho hoặc tài sản cố định cũng được loại bỏ trừ khi chi phítạo nên khoản lỗ đó không thể thu hồi được
2.2.2.2 Phương pháp lập và trình bày Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
a Cơ sở số liệu để lập báo cáo:
- Căn cứ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ trước
- Nguồn số liệu chủ yếu để lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là sổ cáicác tài khoản “doanh thu”, tài khoản “thu nhập”, các tài khoản giảm thu (TK loại
5 và loại 7), các tài khoản “chi phớ” (TK loại 6 và loại 8), và tài khoản “xỏcđịnh kết quả kinh doanh” (loại 9); sổ chi tiết các tài khoản “thuế và các khoảnphải nộp cho Nhà nước” (như thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêuthụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp)
b Lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Những thông tin chung về doanh nghiệp
Những thông tin chung về doanh nghiệp khi lập báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh được trình bày tương tự như khi lập bảng cân đối kế toán, bao gồm:
- Tên và địa chỉ của doanh nghiệp
- Kỳ báo cáo
- Ngày lập báo cáo
- Đơn vị tiền tệ dùng để lập báo cáo tài chính
Doanh nghiệp cũng cần nêu rõ báo cáo kết quả kinh doanh này là báo cáo riêngcủa doanh nghiệp hay bảng cân đối kế toán hợp nhất của tập đoàn
Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Việc lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải tuân thủ những nguyêntắc kế toán cơ bản qui định trong Chuẩn mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”
Trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, doanh thu được trình bày theotừng loại hoạt động, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu
Trang 29tài chính, và doanh thu khỏc Cỏc chi phí được trình bày theo chức năng (theokhoản mục chi phí), bao gồm giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lýdoanh nghiệp, chi phí tài chính, và chi phí khác Trong bản thuyết minh báo cáo tàichính, doanh nghiệp phải cung cấp những thông tin bổ sung về tính chất của cáckhoản chi phí, tức là thông tin về chi phí theo yếu tố.
Phương pháp lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng quát về kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Chính vì vậy, báocáo kết quả hoạt động kinh doanh cần phải lập nhanh chóng, chính xác và kịp thời
và phải tuân thủ đỳng cỏc nguyên tắc chung về lập và trình bày báo cáo tài chính
Để lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì người lập phải dựa trên cácnguồn số liệu sau:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh quý trước, năm trước
- Sổ kế toán trong kỳ của các tài khoản loại 5 “Doanh thu”, loại 6 “Chi phí sảnxuất, kinh doanh”, loại 7 “Thu nhập khỏc”, loại 8 “Chi phớ khỏc”, loại 9 “Xỏc địnhkết quả kinh doanh”
- Các tài liệu khác (thông báo nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, sổ chi tiết tàikhoản 3334 “Thuế thu nhập doanh nghiệp”, )
2.2.2.3 Phương pháp lập và trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Việc phân loại dòng lưu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp thường đượcphân loại thành ba nhóm: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, và hoạt động tàichính Vì vậy, báo cáo lưu chuyển tiền tệ được cấu tạo gồm ba thành phần chớnh:dũng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động đầu tư, và dòng tiền từhoạt động tài chính
- Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trình bày dòng tiền thu (vào) và dòng tiềnchi (ra) liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận chủ yếu củadoanh nghiệp trong kỳ kế toán Dòng tiền thu vào từ hoạt động kinh doanh chủ yếu
là từ hoạt động bán hàng hoá, thành phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Trang 30Dòng tiền chi ra cho hoạt động này bao gồm tiền chi trả cho nhà cung cấp hànghoá, dịch vụ cho doanh nghiệp, tiền chi trả lương cho người lao động, tiền chi trảlãi vay,
- Dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư trình bày dòng tiền thu (vào) và dòng tiền chi(ra) liên quan đến các hoạt động mua sắm/đầu tư hoặc nhượng bán/thanh lý các tàisản cố định của doanh nghiệp; các hoạt động đầu tư hoặc cho vày dài hạn Dòngtiền thu vào từ hoạt động đầu tư có thể bao gồm tiền thu vào từ việc nhượng bánhoặc thanh lý các tài sản cố định, bất động sản đầu tư, tiền thu hồi các khoản đầu tư
ở các đơn vị khác, tiền thu được từ lãi vay và cổ tức/lợi nhuận được chia Dòng tiềnchi ra cho hoạt động này bao gồm tiền chi ra để mua sắm các tài sản cố định, bấtđộng sản, tiền chi ra để góp vốn và cho vay
- Dòng tiền từ hoạt động tài chính
Dòng tiền từ hoạt động tài chính trình bày dòng tiền thu (vào) và dòng tiền chi(ra) liên quan đến nguồn vốn của doanh nghiệp Dòng tiền thu vào từ hoạt động tàichính bao gồm tiền thu được do việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc nhận vốngóp của chủ sở hữu; tiền thu được từ các khoản vay ngắn hạn hoặ dài hạn Dòngtiền chi ra từ hoạt động này gồm tiền chi trả vốn góp cho các chủ sở hữu, tiền chi ra
để mua lại các cổ phiếu do chính doanh nghiệp phát hành, tiền chi ra để hoàn trảcác khoản nợ vay (vốn gốc), chi trả nợ thuê tài chính, và tiền chi trả cổ tức hoặcchia lợi nhuận cho các chủ sở hữu
Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của BộTrưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp, báo cáo lưuchuyển tiền tệ có hai mẫu báo cáo: mẫu báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phươngpháp lập trực tiếp và mẫu báo cáo lưu chuyển tiền tệ lập theo phương pháp giántiếp Sự khác biệt của hai mẫu báo cáo này thể hiện ở dòng tiền từ hoạt động kinhdoanh (do phương pháp lập khác nhau) Dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạtđộng tài chính của hai mẫu báo cáo là giống nhau Mỗi mẫu báo cáo gồm tối thiểucác khoản mục chủ yếu và được sắp xếp theo kết cấu qui định tại Mẫu số B03- DN
Trang 31a Cơ sở số liệu để lập báo cáo:
- Căn cứ Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh kỳ trước
- Sổ cái, sổ kế toán chi tiết (của các tài khoản Tiền mặt (111), Tiền gửi ngânhàng (112), Đầu tư tài chính ngắn hạn (121), ), và các báo cáo tài chính khác
b Lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Những thông tin chung về doanh nghiệp
Những thông tin chung về doanh nghiệp khi lập báo cáo lưu chuyển tiền tệđược trình bày tương tự như khi lập bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinhdoanh, bao gồm:
- Tên và địa chỉ của doanh nghiệp
- Kỳ báo cáo
- Ngày lập báo cáo
- Đơn vị tiền tệ dùng để lập báo cáo tài chính
Doanh nghiệp cũng cần nêu rõ báo cáo lưu chuyển tiền tệ này là báo cáo riêngcủa doanh nghiệp hay bảng cân đối kế toán hợp nhất của tập đoàn
Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Xỏc định các khoản tương đượng tiền: Các khoản đầu tư ngắn hạn được coi làtương đương tiền trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ chỉ bao gồm các khoảnđầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngàymua khoản đầu tư đó
- Các luồng tiền trong kỳ được trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo
ba loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, và hoạt động tài chính.Doanh nghiệp được trình bày các luồng tiền từ các hoạt động kinh doanh, hoạtđộng đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinhdoanh của doanh nghiệp Việc phân loại và báo cáo luồng tiền theo các hoạt độngcủa doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin cho người sử dụng đánh giá được ảnhhưởng của các hoạt động đó đối với dòng tiền thu vào và chi ra trong kỳ của doanhnghiệp Việc phân loại này cũng được dùng để đánh giá các mối quan hệ giữa cáchoạt động này
Trang 32- Các luồng tiền phát sinh từ các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư vàhoạt động tài chính sau đây được báo cáo trên cơ sở thuần:
Thu tiền và chi trả tiền hộ khách hàng như tiền thuê thu hộ, chi hộ vàtrả lại cho chủ sở hữu tài sản; Các quỹ đầu tư giữ cho khách hàng ;
Thu tiền và chi tiền đối với các khoản có vòng quay nhanh, thời gianđáo hạn ngắn như: Mua, bán ngoại tệ; Mua, bỏn cỏc khoản đầu tư; Các khoản đivay hoặc cho vay ngắn hạn khỏc cú thời hạn thanh toán không quá 3 tháng
- Các luồng tiền phát sinh từ các giao dịch bằng ngoại tệ phải được quy đổi rađồng tiền chính thức trong ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính theo tỷ giá hốiđoái tại thời điểm phát sinh giao dịch Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các tổ chứchoạt động ở nước ngoài phải được quy đổi ra đồng tiền ghi sổ kế toán và lập báocáo tài chính của công ty mẹ theo tỷ giá thực tế tại ngày lập báo cáo lưu chuyểntiền tệ
- Các giao dịch về đầu tư và tài chính không trực tiếp sử dụng tiền hay cáckhoản tương đương tiền không được trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Các khoản mục tiền và tương đương tiền đầu kỳ và cuối kỳ, ảnh hưởng củathay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi tiền và các khoản tương đương tiền bằng ngoại tệhiện có cuối kỳ phải được trình bày thành các chỉ tiêu riêng biệt trên Báo cáo lưuchuyển tiền tệ để đối chiếu số liệu với các khoản mục tương ứng trên Bảng Cân đối
kế toán
- Doanh nghiệp phải trình bày giá trị và lý do của các khoản tiền và tương đươngtiền có số dư cuối kỳ lớn do doanh nghiệp nắm giữ nhưng không được sử dụng do có
sự hạn chế của pháp luật hoặc các ràng buộc khác mà doanh nghiệp phải thực hiện
Phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh
Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh được lập và trình bày trong báo cáo lưuchuyển tiền tệ theo một trong hai phương pháp sau: (1) phương pháp trực tiếp và (2)phương pháp gián tiếp
(1) Theo phương pháp trực tiếp
Trang 33Theo phương pháp trực tiếp, các luồng tiền vào và luồng tiền ra từ hoạt độngkinh doanh được xác định và trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ bằng cáchphân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu vào và chi ra theo từng nội dungthu, chi từ các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của doanh nghiệp
(2) Theo phương pháp gián tiếp
Theo phương pháp gián tiếp, cỏc dũng tiền vào và dòng tiền ra trong hoạt độngkinh doanh được tính và xác định bằng cách điều chỉnh lợi nhuận trước thuế thunhập doanh nghiệp của hoạt động kinh doanh khỏi ảnh hưởng của các khoản mụckhông phải bằng tiền (như khấu hao TSCĐ, các khoản dự phòng), các thay đổitrong kỳ của hàng tồn kho, các khoản phải thu, các khoản phải trả từ hoạt động kinhdoanh,…
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư được trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệtheo phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp đều giống nhau, đều được lậptheo phương pháp trực tiếp
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư được lập và trình bày trên Báo cáo lưu chuyểntiền tệ một cách riêng biệt cỏc dũng tiền vào và dòng tiền ra, trừ trường hợp cỏcdũng tiền được báo cáo trên cơ sở thuần đề cập trong đoạn 18 của Chuẩn mực số 24
"Báo cáo lưu chuyển tiền tệ"
Cỏc dòng tiền vào, cỏc dũng tiền ra trong kỳ từ hoạt động đầu tư được xácđịnh bằng cách phân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu vào và chi ra theotừng nội dung thu, chi từ các ghi chép kế toán của doanh nghiệp
Tổng số tiền chi trả hoặc thu được từ việc mua và thanh lý công ty con hoặc đơn vị kinh doanh khác được trình bày trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo số thuần của tiền và tương đương tiền chi trả hoặc thu được từ việc mua và thanh lý.
Ngoài việc trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ, doanh nghiệp phải trìnhbày trong Thuyết minh báo cáo tài chính một cách tổng hợp về cả việc mua và thanh lýcác công ty con hoặc các đơn vị kinh doanh khác trong kỳ những thông tin sau:
- Tổng giá trị mua hoặc thanh lý;
Trang 34- Phần giá trị mua hoặc thanh lý được thanh toán bằng tiền và các khoản tươngđương tiền;
- Số tiền và các khoản tương đương tiền thực có trong công ty con hoặc đơn vịkinh doanh khác được mua hoặc thanh lý;
- Phần giá trị tài sản và công nợ không phải là tiền và các khoản tương đươngtiền trong công ty con hoặc đơn vị kinh doanh khác được mua hoặc thanh lý trong
kỳ Giá trị tài sản này phải được tổng hợp theo từng loại tài sản
Dòng tiền từ hoạt động tài chính
Phương pháp lập các chỉ tiêu thuộc dòng tiền từ hoạt động tài chính cũngtương tự như cách lập dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Dòng tiền từ hoạt động tài chính được lập và trình bày trên báo cáo lưu chuyểntiền tệ một cách riêng biệt cỏc dũng tiền vào và dòng tiền ra, trừ trường hợp cỏcdũng tiền được báo cáo trên cơ sở thuần được đề cập trong đoạn 19 của Chuẩn mực
"Báo cáo lưu chuyển tiền tệ"
Dòng tiền từ hoạt động tài chính được lập theo phương pháp trực tiếp Cỏc dũngtiền vào, cỏc dũng tiền ra trong kỳ từ hoạt động tài chính được xác định bằng cáchphân tích và tổng hợp trực tiếp các khoản tiền thu vào và chi ra theo từng nội dungthu, chi từ các ghi chép kế toán của doanh nghiệp
2.2.2.4 Phương pháp lập và trình bày Bản thuyết minh báo cáo tài chính:
a Nội dung của bảng thuyết minh báo cáo tài chính
Bản thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm các phần mô tả mang tính tườngthuật hoặc những phân tích chi tiết hơn các số liệu đã được thể hiện trong bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệcũng như các thông tin bổ sung cần thiết khác
Bản thuyết minh báo cáo tài chính gồm các khoản mục chủ yếu và được sắpxếp theo kết cấu qui định tại Mẫu số B09- DN trong chế độ kế toán doanh nghiệpđược ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 3 năm 2006 của
Bộ Trưởng Bộ Tài chính như sau:
I Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
Trang 35II Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán.
III Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng
IV Các chính sách kế toán được áp dụng
V Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong bảngcân đối kế toán
VI Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong báo cáokết quả kinh doanh
VII Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong báo cáolưu chuyển tiền tệ
VIII Những thông tin khác
b Phương pháp lập và trình bày bản thuyết minh báo cáo tài chính
Bản thuyết minh báo cáo tài chính cần được trình bày một cách có hệ thống.Căn cứ vào thực tế áp dụng hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam đãban hành và chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng tại đơn vị để trình bày các thôngtin được yêu cầu trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Việc lựa chọn số liệu và thông tin cần phải trình bày trong Bản thuyết minhbáo cáo tài chính được thực hiện theo nguyên tắc trọng yếu qui định tại Chuẩn mực
số 21 “Trỡnh bày báo cáo tài chớnh.”
Căn cứ vào qui định của các chuẩn mực kế toán cụ thể, doanh nghiệp dựa vào
sổ kế toán tổng hợp và chi tiết để lấy số liệu và thông tin ghi vào các phần phù hợpcủa bản thuyết minh báo cáo tài chính
Khi lập và trình bày báo cáo tài chính cần tuân thủ một số yêu cầu sau đây:
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính cũng phải trình bày các thông tin chung vềdoanh nghiệp như các báo cáo tài chính
- Các nội dung thuyết minh báo cáo tài chính được trình bày bằng số và bằnglời (các phần mô tả mang tính tường thuật) một cách ngắn gọn, rõ ràng, và dễ hiểunhưng phải đảm bảo đầy đủ để đáp ứng yêu cầu thuyết minh và giải trình cho người
sử dụng hiểu được báo cáo tài chính của doanh nghiệp Phần trình bày bằng số phảithống nhất với số liệu trờn cỏc báo cáo tài chính
Trang 36- Phần trình bày đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp cần phải nêu rõ hìnhthức sở hữu doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động kinh doanh, ngành nghề kinh doanh,
và các đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp trong năm tài chính có ảnh hưởng đếntình hình tài chính của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp cần trình bày rõ năm tài chính của doanh nghiệp (ngày bắt đầu
và ngày kết thúc năm tài chính) và đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi sổ kế toán và lậpbáo cáo tài chính
- Phần III - Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng, doanh nghiệp cần nêu rõrằng doanh nghiệp lập báo cáo tài chính trên cơ sở tuân thủ hệ thống và chế độ kếtoán doanh nghiệp Việt Nam hay hệ thống kế toán được chấp nhận khác Trongphần này cũng cần ghi rõ hình thức kế toán mà doanh nghiệp áp dụng
- Phần IV – Các chính sách kế toán áp dụng, doanh nghiệp cần trình bày rừ cỏcchính sách và nguyên tắc kế toán cụ thể được sử dụng trong kỳ kế toán (ví dụ:nguyên tắc ghi nhận tiền và các khoản tương đương tiền, nguyên tắc đo lường vàghi nhận hàng tồn kho, nguyên tắc ghi nhận và khấu hao TSCĐ, nguyên tắc ghinhận doanh thu, phương pháp trích lập các khoản dự phòng, v.v…)
- Các phần V, VI, và VII trình bày các thông tin bổ sung cho các khoản mụcđược trình bày trong mỗi báo cáo tài chính Các phần này được đánh dấu thứ tự dẫn
từ các báo cáo tài chính đến bản thuyết minh báo cáo tài chính theo từng khoản mụctrờn cỏc báo cáo tài chính Nội dung thông tin bổ sung bao gồm các thông tin chitiết, thông tin bổ sung, và thông tin thuyết trình khác cần thiết cho việc hiểu đúngbáo cáo tài chính Nội dung cụ thể của thông tin trong các phần này do kế toántrưởng của doanh nghiệp lựa chọn, quyết định trên cơ sở các qui định của các chuẩnmực kế toán, chế độ kế toán hiện hành, và đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thểcủa doanh nghiệp
- Phần VIII - Những thông tin khác, trình bày một số thông tin khác bao gồmnhững khoản nợ tiềm tàng, khoản cam kết và những thông tin tài chính khác; những
sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán; tài sản, doanh thu, kết quả kinh
Trang 37doanh theo bộ phận (theo lĩnh vực kinh doanh hoặc khu vực địa lý); và những thôngtin phi tài chính khác.
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lập và trình bày báo cáo tài chính
2.3.1 Nhân tố bên ngoài
Quy định, chế độ kế toán:
Như đã tìm hiểu ở phần Tổng quan tình hình nghiên cứu về lập và trình bàybáo cáo tài chính ở Việt Nam, có thể thấy: Kế toán là công cụ phục vụ cho quản lýkinh tế nên tất yếu phải phục tùng luật pháp của nhà nước Mà mục đích của kế toántài chính là phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính, do đó việc lập và trình bày cácbáo cáo tài chính tất nhiên cũng sẽ bị chi phối bởi các chính sách, chế độ tài chính -
kế toán và yêu cầu của các luật kinh tế của nhà nước
Yêu cầu thông tin của tổng công ty để phục vụ cho lập báo cáo tài chính hợp nhất:
Bên cạnh việc ảnh hưởng của các chế độ chính sách đến lập và trình bày báocáo tài chính thỡ cỏc yêu cầu về thông tin để lập báo cáo tài chính hợp nhất của cáctổng công ty đối với các công ty con cũng là một yếu tố ảnh hưởng khá lớn Quátrình hợp nhất các báo cáo tài chính, tại công ty mẹ phải làm các bước loại trừ vàhợp nhất một số chỉ tiêu của các công ty con Do đó nếu công ty con không lậpchính xác và đầy đủ những thông tin phục vụ cho hợp nhất báo cáo tài chính sẽ dẫnđến báo cáo hợp nhất của công ty mẹ không đúng và đầy đủ
2.3.2 Nhân tố bên trong
Tổ chức bộ máy kế toán tại doanh nghiệp:
Bộ máy kế toán của một doanh nghiệp là tập hợp những người làm kế toántại doanh nghiệp cùng với các phương tiện trang thiết bị dùng để ghi chép, tính toán
xử lý toàn bộ thông tin liên quan đến công tác kế toán tại doanh nghiệp từ khâu thunhận, kiểm tra, xử lý đến khâu tổng hợp, cung cấp những thông tin kinh tế về cáchoạt động của đơn vị Tùy vào đặc điểm hoạt động của mỗi doanh nghiệp mà nhàquản lý lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán khác nhau Có thể là tập trung,phân tán hoặc vừa tập trung vừa phân tán Và với mỗi hình thức này đều có những
Trang 38ảnh hưởng nhất định đến quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính của doanhnghiệp Nếu là hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung, tất cả các hồ sơ, chứng
từ sẽ được thu thập và chuyển hết về phòng tài chính kế toán nên đảm bảo đượcviệc cung cấp thông tin kế toán kịp thời cho việc lập và trình bày báo cáo tài chínhcủa doanh nghiệp nhưng hình thức này chỉ phù hợp với các doanh nghiệp có quy
mô nhỏ Nếu là hình thức tổ chức bộ máy kế toán phân tán thỡ các hồ sơ, chứng từ
sẽ được thu thập, xử lý tại các bộ phận, phân xưởng và tại đây cũng lập các báo cáo
kế toán ở phạm vi bộ phận sau đó chuyển về phòng kế toán của doanh nghiệp đểtổng hợp và lập các báo cáo tài chính Hình thức này phù hợp với các doanh nghiệp
có quy mô lớn Như vậy với hình thức này, để lập và trình bày báo cáo tài chínhdoanh nghiệp sẽ phải phụ thuộc nhiều vào tiến độ và tính chính xác của các báo cáo
kế toán bộ phận Với hình thức tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tánphù hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn và các bộ phận phụ thuộc có sự phâncấp quản lý khác nhau Doanh nghiệp lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toánnày thì việc lập và trình bày báo cáo kế toán sẽ đảm bảo được tiến độ và tính chínhxác và cũng phù hợp được với mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Tuy nhiên lại đòi hỏi một đội ngũ cán bộ làm kế toán nhiều hơn cả
Trình độ của cán bộ lập và trình bày BCTC
Trình độ của của cán bộ kế toán là vô cùng quan trọng trong công tác kế toánnói chung và trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính nói riêng Báo cáo tàichính có chính xác về số liệu, về chỉ tiêu hay không? người thu thập, xử lý số liệu
kế toán và lờn cỏc báo cáo là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp Khi cán bộ kế toán cótrình độ và sự am hiểu về công tác kế toán , họ sẽ có được các số liệu kế toán chínhxác, phù hợp ngay từ khâu thu thập chứng từ đến khõu lờn cỏc báo cáo kế toán Từ
đó giúp đảm bảo được tiến độ nộp các báo cáo tài chính theo quy định của doanhnghiệp cũng như của nhà nước
Phần mềm hỗ trợ lập và trình bày báo cáo tài chính:
Công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay đang ngàymột phát triển mạnh mẽ và việc đưa công nghệ tiên tiến vào các hoạt động củadoanh nghiệp là một xu thế tất yếu Phần mềm kế toán chính là một cải tiến rất lớn
Trang 39hỗ trợ cho công tác kế toán của doanh nghiệp được nhanh, gọn, chính xác và hiệuquả hơn Phần mềm kế toán thường sẽ hỗ trợ kế toán doanh nghiệp rất nhiều trongviệc tổng hợp các số liệu kế toán và lờn cỏc báo cáo tài chính Do đó, nếu phầnmềm kế toán phù hợp với các loại hình kinh doanh của doanh nghiệp và đảm bảotập hợp đủ các chỉ tiêu cần thiết cho các báo cáo kế toán thì việc lập và trình bàybáo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ trở nên nhanh gọn và đơn giản hơn rất nhiều
so với không có phần mềm hỗ trợ hay phần mềm hỗ trợ không phù hợp Như vậy,phần mềm kế toán cũng là một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ và chấtlượng của các báo cáo tài chính
Trang 40CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC
TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề
3.1.1 Phương pháp điều tra
Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp của xã hội học nhưng đã được ápdụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực
Mục đích của phương pháp này là khảo sát thực trạng lập và trình bày báocáo tài chính tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thành phố Hà Nội
Phương pháp điều tra này đã được tiến hành thực hiện từ lúc nhận đề tài chođến khi thực hiện đề tài
Cách thức thực hiện điều tra:
Để tiến hành điều tra, trước hết tác giả lên kế hoạch điều tra Kế hoạch điềutra phải nêu rõ người được trả lời phiếu điều tra là ai Cụ thể đối với đề tài này, tácgiả sẽ phát phiếu điều tra cho hai nhóm đối tượng:
- Những người thực hiện công tác kế toán nói chung, công tác kế toán tổnghợp, lập và trình bày báo cáo tài chính nói riêng
- Các nhà quản lý tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty điện lực thànhphố Hà Nội
Sau khi đã lên kế hoạch điều tra, tác giả chuẩn bị phiếu điều tra Vấn đềquan trọng nhất đối với phương pháp này là xây dựng được danh sách các câu hỏi
có chất lượng
Thiết kế mẫu: Mẫu phiếu điều tra có một số câu hỏi với đáp án chọn lựa là cú
- khụng hoặc chọn 1 trong các đáp án sẵn có hoặc câu hỏi được để dưới dạng mở đểngười được phỏng vấn trả lời chuyờn sõu về vấn đề được phỏng vấn
Tiến hành điều tra: Tác giả đã gửi trực tiếp các phiếu khảo sát này đến từng đốitượng tiến hành khảo sát thông qua đường bưu điện và nhận lại các phiếu khỏo sỏt nàycũng bằng đường bưu điện