Vì vây, để giúp người tiêu dùng có những lựa chọn đúng đắn về các loại thực phẩm, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phương pháp định lượng các phtalat trong thực phẩm” để biết đ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Tạ Thị Thảo đã tậntình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ emtrong suốt quá trình thực hiện đề tài và viết luận văn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo giảng dạy tại khoa Hoá học,đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Hoá Phân Tích, đã cho em những kiến thứcquý giá, tạo điều kiện cho em được học tập và nghiên cứu trong môi trường hiệnđại
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Viện Hóa học CôngNghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thời gian để tôi có thể học
và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn động viên,chia sẻ mọi khó khăn cùng tôi
Hà Nội, năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Cúc
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN 3
1.1Tên gọi, cấu trúc của một số phtalat 3
1.1.1 Công thức và tên gọi các phtalat 3
1.1.2 Tính chất lý hóa của các este phtalat 4
1.1.3 Ứng dụng của các este phtalat và nguồn gốc phát tán vào thực phẩm 5
1.1.4 Độc tính của các phtalat 7
1.2 Các phương pháp xác định phtalat trong mẫu thực phẩm 9
1.2.1 Các phương pháp HPLC xác định phtalat 9
1.2.2 Các phương pháp khác xác định các phtalat 12
1.2.3 Phương pháp chiết tách các phtalat ra khỏi nền mẫu thực phẩm 14
THỰC NGHIỆM 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Các loại phtalat thường có trong thực phẩm 16
2.3 Chất chuẩn, hóa chất, thiết bị 17
2.3.1 Chất chuẩn 17
2.3.2 Hóa chất sử dụng 17
2.3.3 Thiết bị, dụng cụ 18
2.4 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.5 Phương pháp phân tích 19
2.5.1 Phương pháp xử lý mẫu 19
2.5.2 Phương pháp phân tích 19
2.6 Nghiên cứu điều kiện tối ưu và đánh giá phương pháp phân tích 20
2.6.1 Phương pháp nghiên cứu điều kiện tối ưu 20
2.6.2 Đánh giá phương pháp phân tích 20
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Tối ưu hóa các điều kiện chạy sắc ký 24
3.1.1 Chọn van bơm mẫu 24
Trang 33.1.2 Chọn cột tách 24
3.1.3 Chọn detector 25
3.1.4 Chọn bước sóng hấp thụ cực đại của các este phtalat 25
3.1.5 Khảo sát và chọn thành phần pha động phù hợp 26
3.1.6 Khảo sát độ lặp lại của thiết bị 40
3.1.7 Điều kiện tối ưu hóa cho quá trình tách các phtalat 42
3.2 Đường chuẩn hỗn hợp xác định 08 phtalat 43
3.2.1 Dựng đường chuẩn 43
3.2.2 Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng 45
3.2.3 Kiểm tra sự khác nhau có nghĩa giữa hệ số a và giá trị 0 47
3.3 Đánh giá phương pháp phân tích 50
3.3.1 Đánh giá độ lặp lại của phương pháp xử lý mẫu 50
3.3.2 Đánh giá hiệu suất thu hồi của phương pháp 51
3.4 Phân tích mẫu thực tế 53
3.5 Đối chiếu kết quả phân tích 53
3.5.1 Kết quả phân tích hàm lượng phtalat trên hệ GC-MS 53
3.5.2 So sánh hai kết quả thu được 54
3.5.3 Hàm lượng cho phép của các phtalat trong thực phẩm 55
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 61
Phụ lục 1: Định tính các phtalat khi chạy hệ dung môi pha động MeOH-nước 61
Phụ lục 2: Định tính các phtalat khi chạy hệ dung môi pha động ACN-Nước 62
Phụ lục 3: Các gradient khảo sát với pha động ACN-nước 64
Phụ lục 4: Khảo sát tỷ lệ pha động với pha động ACN-trietylamin 0,04%, pH 2,8 64
Phụ lục 5: Các gradient tốc độ dòng được khảo sát với pha động ACN-trietylamin 65
Phụ lục 6: Khảo sát nồng độ trietylamin trong pha động 66
Trang 4Phụ lục 7: Khảo sát ảnh hưởng của pH pha động 67
Phụ lục 8: Khảo sát độ lặp của hệ máy HPLC 67
Phụ lục 9: Đường chuẩn 08 phtalat 68
Phụ lục 10: Đánh giá hiệu suất thu hồi quá trình xử lý mẫu 70
Phụ lục 11: Độ lặp xử lý mẫu 71
Phụ lục 12: Phân tích mẫu thực 72
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tên gọi, cấu tạo, KLPT của một số phtalat điển hình 3
Bảng 2.1: Thông tin về mẫu phân tích được chọn 16
Bảng 3.1: Gradient định tính các phtalat với hệ MeOH-nước 27
Bảng 3.2: Thời gian lưu của các cấu tử: 28
Bảng 3.3: Các gradient thử nghiệm với pha động MeOH-Nước 28
Bảng 3.4: Chế độ chạy với pha động ACN- nước 29
Bảng 3.5: Độ phân giải, thời gian lưu ứng với các gradient 29
Bảng 3.6: Thời gian lưu của các cấu tử ứng với hệ dung môi 3: 31
Bảng 3.7: Kết quả phân tích của 2 tỷ lệ ACN: pha nước chứa trietylamin. .31
Bảng 3.8: Các gradient tốc độ dòng 33
Bảng 3.9: Độ phân giải, thời gian lưu, hệ số đối xứng pic khi chạy gradient 6 36
Bảng 3.10: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ trietylamin 0,01% 36
Bảng 3.11: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ trietylamin 0,08% 37
Bảng 3.12: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nồng độ trietylamin 0,04% 37
Bảng 3.13: Thời gian lưu, độ phân giải và hệ số đối xứng pic 39
Bảng 3.14: Độ lặp lại thời gian lưu của các phtalat 41
Bảng 3.15: Độ lặp lại diện tích pic các phtalat 41
Bảng 3.16: Các dung dịch dựng đường chuẩn 43
Bảng 3.17: Diện tích pic trung bình thu được của các phtalat 43
Bảng 3.18: Đường chuẩn các phtalat 44
Bảng 3.19: Phương trình đường chuẩn các phtalat 45
Bảng 3.20: Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng của các phtalat 47
Bảng 3.21: Kết quả so sánh giữa giá trị a của phương trình đường chuẩn DCHP với giá trị 0 47
Bảng 3.22: Chuẩn F-tính của các phtalat 48 Bảng 3.23: Kết quả so sánh giữa b và b’ trong phương trình hồi quy của
Trang 6Bảng 3.24: Độ lặp xử lý mẫu 50
Bảng 3.25: Nồng độ các phtalat ở các mức thêm chuẩn 51
Bảng 3.26: Kết quả đánh giá hiệu suất thu hồi 52
Bảng 3.27: Kết quả hiệu suất thu hồi 52
Bảng 3.28: Kết quả phân tích mẫu Bơ thực vật 53
Bảng 3.29: Kết quả mẫu Bơ thực vật đối chiếu 54
Bảng 3.30: Kết quả so sánh hàm lượng mẫu Bơ thực vật bằng chuẩn Student 55
Trang 73.7 Sắc đồ khảo sát độ lặp lại của hệ máy. 42
Trang 8ECD Electron capture detector: detector bắt điện tử
FID Flame ionization detector: detector ion hóa ngọn lửa
GC-MS Gas chromatography – mass spectrometry: sắc ký khí khối phổHPLC High performance liquid chromatography: sắc ký lỏng hiệu năng caoKLPT Khối lượng phân tử
LOD Limit of Detection: Giới hạn phát hiện
LOQ Limit of Quantitation: Giới hạn định lượng
MeOH Metanol
PDA Photo-diode-array: mảng điot điện tử
ppm Part per million: phần triệu
PVC Polyvinyl clorua
RP-HPLC Reverse phase-HPLC: sắc ký lỏng pha đảo
UV-Vis Ultra-violet: tử ngoại và khả kiến
% RSD % Relative Standard Deviation:% độ lệch chuẩn tương đối
THF Tetrahydro furan
Trang 9MỞ ĐẦU
Cuộc sống ngày càng trở nên hiện đại hơn, mọi thứ đều được thiết kế sao chotiện dụng hơn, dễ sử dụng hơn, hiệu quả hơn và giá thành rẻ Thực phẩm hầu hếtđược đóng hộp, bảo quản trong những chất liệu như nhựa PVC hoặc hộp inox.Những loại bao bì đó lại chưa được quản lý chất lượng một cách chặt chẽ nên rất dễdẫn đến việc nhiễm một số chất ảnh hưởng tới sức khỏe con người Hơn nữa, tìnhtrạng sản xuất thực phẩm theo phương thức công nghiệp công với việc các nhà sảnxuất không tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng đã có, nên nhiều chất phụ gia đượcthêm vào Chúng được thêm vào để tạo sự hấp dẫn hơn của thực phẩm đó hoặc đểthay thế một số chất trong tự nhiên vì hóa chất công nghiệp rẻ tiền và sẵn có hơn
Vì vậy nếu không được quản lý một cách chặt chẽ, những thực phẩm mà chúng ta
sử dụng rất dễ nhiễm các chất độc hại vào thực phẩm và đi vào cơ thể con người…Các chất đó không những ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn ảnh hưởng lâu dài tớicuộc sống
Các phtalat hiện nay được sử dụng rất phổ biến trên hầu hết các lĩnh vực củacuộc sống Từ trong những sản phẩm hàng ngày làm bằng nhựa PVC như thau,chậu, hộp đựng thức ăn, bàn ghế, chai lọ Hầu hết các sản phẩm từ nhựa PVC đều
có các phtalat vì nhóm các chất này được thêm vào nhựa để làm tăng độ dẻo, đànhồi của nhựa, thậm chí nhóm này còn được gọi là “plasticizers” nghĩa là các chấtdẻo giống nhựa Thành phần nhựa có thể chiếm từ 0,1-40% những chất này, thậmchí có thể lên tới 60% hay 80%[25] Hơn nữa, những chất này không tạo liên kếttrong mạng lưới của nhựa mà chỉ được thêm vào nhựa như một chất phụ gia vì vậyrất dễ thôi nhiễm ra ngoài môi trường (nhất là môi trường nhiều chất béo như dầu,mỡ ) Chúng còn được sử dụng trong ngành công nghiệp xây dựng như trong một
số mặt hàng sơn tưởng, sơn gỗ lát nền nhà và thậm chí trong cả đồ chơi trẻ em vàsản phẩm chăm sóc cho trẻ[21] Các phtalat còn được sử dụng trong mỹ phẩm nhưcác loại sơn móng tay, gel vuốt tóc, kem dưỡng da, nước hoa Thêm chúng vào mỹphẩm sẽ làm cho sơn móng tay có độ bóng và bám bề mặt tốt hơn, trong gel vuốt
Trang 10tóc và kem dưỡng da làm cho bề mặt kem trông tươi mịn và hấp dẫn hơn, trongnước hoa chúng được dùng như chất định hương để giữ cho mùi thơm nước hoa lâuphai hơn [13] Tất cả các phtalat ở trong các sản phẩm kể trên đều có khả năngthôi nhiễm ra ngoài môi trường không khí hay thức ăn một cách dễ dàng Chúng cóthể hấp thụ qua da do tiếp xúc, qua đường hô hấp do hít phải và qua đường tiêu hóanhư ăn uống Về lâu về dài chúng gây ra những tác hại to lớn đối với cơ thể conngười và môi trường Chúng gây ung thư ở chuột (chưa có thử nghiệm nào trên cơthể người)[24], các phtalat này có thể làm xáo trộn nội tiết trong cơ thể con người, ở
bé gái có thể gây dậy thì sớm, ở bé trai thì làm teo tinh hoàn Nếu bị tích lũy lâutrong cơ thể, chúng sẽ lắng đọng lại ở phổi, gan và lá lách và dần dần sẽ làm suygiảm chức năng của các bộ phận đó[26]
Trong thực phẩm, nguyên nhân sự xuất hiện các phtalat có thể là do bị thôinhiễm từ bao bì sản phẩm bằng nhựa dẻo hoặc túi nilon nếu thực phẩm chứa trong
đó là các loại thực phẩm giàu chất béo Hoặc một số loại đồ uống có cồn cũng cóthể nhiễm các phtalat do nguyên nhân này Còn một nguyên nhân khác đáng chú ýhơn vì mức nồng độ các phtalat này cao hơn hẳn mức nồng độ do bị thôi nhiễm Đó
là do các nhà sản xuất sử dụng trực tiếp các phtalat, chủ yếu là DEHP, DINP để làmchất tạo đục trong các sản phẩm chứa nước, bởi vì phtalat rất kém tan trong môitrường này[7] hoặc trong các sản phẩm bơ, dầu ăn làm cho thực phẩm nhìn có vẻ tựnhiên hơn[20] Vì vây, để giúp người tiêu dùng có những lựa chọn đúng đắn về các
loại thực phẩm, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phương pháp định
lượng các phtalat trong thực phẩm” để biết được những thực phẩm có hại và có
biện pháp tránh sự nhiễm các phtalat vào cơ thể qua đường ăn uống
Trang 11Chương I:
1.1Tên gọi, cấu trúc của một số phtalat
1.1.1 Công thức và tên gọi các phtalat.
Công thức cấu tạo của các phthalate như sau:
Đây là công thức cấu tạo chung của các este o-phthalates hay còn được gọi là
đi-este của axit benzenedicarboxylic R và R' là 2 gốc của 2 rượu đã tác dụng vớiaxit phtalic để thu được este phthalate Hai nhóm này có thể giống nhau hoặc khácnhau tùy thuộc rượu tham gia phản ứng Cấu trúc khác nhau của 2 nhánh này sẽ tạo
ra những tính chất hóa học và vật lý rất riêng của phân tử và làm thay đổi hoạt tínhsinh học của chúng[22,25] Bảng 1.1 chỉ ra một số phalat thông dụng, tên gọi vả cấutạo của một số phtalat thông dụng
Bảng 1.1: Tên gọi, cấu tạo, KLPT của một số phtalat điển hình [6]
hiệu
(g/mol)
1 Dimethyl phthalate DMP C6H4(COOCH3)2 194
2 Diethyl phthalate DEP C6H4(COOC2H5)2 222
3 Diallyl phthalate DAP C6H4(COOCH2CH=CH2)2 246
4 Di-n-propyl phthalate DPP C6H4[COO(CH2)2CH3]2 250
5 Di-n-butyl phthalate DBP C6H4[COO(CH2)3CH3]2 278
6 Diisobutyl phthalate DIBP C6H4[COOCH2CH(CH3)2]2 278
Trang 1210 Butyl benzyl
CH3(CH2)3OOCC6H4COOCH2C6
11 Di-n-hexyl phthalate DNHP C6H4[COO(CH2)5CH3]2 334
12 Diisohexyl phthalate DIHxP C6H4[COO(CH2)3CH(CH3)2]2 334
13 Diisoheptyl phthalate DIHpP C6H4[COO(CH2)4CH(CH3)2]2 36214
Butyl decyl phthalate BDP CH3(CH2)3OOCC6H4COO(CH2)9
16 Di(n-octyl) phthalate DNOP C6H4[COO(CH2)7CH3]2 390
17 Diisooctyl phthalate DIOP C6H4[COO(CH2)5CH(CH3)2]2 390
18 n-Octyl n-decyl
CH3(CH2)7OOCC6H4COO(CH2)9
19 Diisononyl phthalate DINP C6H4[COO(CH2)6CH(CH3)2]2 418
20 Diisodecyl phthalate DIDP C6H4[COO(CH2)7CH(CH3)2]2 446
21 Diundecyl phthalate DUP C6H4[COO(CH2)10CH3]2 474
22 Diisoundecyl
phthalate DIUP C6H4[COO(CH2)8CH(CH3)2]2 474
23 Ditridecyl phthalate DTDP C6H4[COO(CH2)12CH3]2 530
24 Diisotridecyl
phthalate DIUP C6H4[COO(CH2)10CH(CH3)2]2 530
1.1.2 Tính chất lý hóa của các este phtalat.
- Nhóm các este phtalat là những chất lỏng dạng dầu, dễ bay hơi, có mùi nhẹ,không tan trong nước và cacbon tetraclorua, nhưng lại tan tốt trong các dung môihữu cơ như metanol, acetonitril, hexan, các dung dịch dầu ăn, chất béo Chúng cóthể tan được trong máu và những chất dịch cơ thể có chứa lipoprotein
- Khi bị phân hủy bởi nhiệt các phtalat này cho khí mùi hơi chát
- Phtalat không có tương tác với những muối nitrat, kiềm, axit hay nhữngchất oxy hóa mạnh
1.1.3 Ứng dụng của các este phtalat và nguồn gốc phát tán vào thực phẩm.
1.1.3.1.Ứng dụng của các este phtalat.
Trang 13Phtalat là một nhóm các hợp chất hóa học được phát triển vào cuối thế kỷtrước Chất hóa học dạng dầu này không tồn tại riêng rẽ trong một sản phẩm nào màđược thêm vào các sản phẩm khác để tăng những hoạt tính khác nhau Hơn 87% cáclượng phtalat được sử dụng như một loại nhựa (làm cho nhựa linh hoạt hơn, dẻohơn, đàn hồi tốt hơn) Phtalat được sử dụng trong nhựa PVC dẻo như các sản phẩmtiêu dùng hàng ngày Nó được tìm thấy ở rất nhiều vật dụng hàng ngày như đồ chơitrẻ em, núm vú ngậm bằng cao su, vỏ đồ hộp, áo mưa, vòi tắm, sàn nhà, sơn tường,thau, chậu rửa, hộp đựng thức ăn, ống nước, và một số công thức thuốc trừ sâu Một số còn được dùng trong sản xuất các chất sơn tường, sơn sàn nhà, sàn nhàvinyl, dung môi, các loại nhựa sử dụng cho xây dựng [12] Ngoài ra do tính chấtkhông tan trong nước nên chúng còn được sử dụng làm chất tạo đục trong các sảnphẩm nước như thạch rau câu, sữa, nước ngọt đặc trưng như DEHP và DINP được
sử dụng trong thực phẩm như dầu cọ công nghiệp[7] Tuy nhiên, lượng phtalat cótrong thực phẩm còn có một lượng nhỏ là do bị thôi nhiễm từ vỏ bao bì bằng nhựaPVC [22,24,25] Trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, phtalat còn có mặt trong một
số loại mỹ phẩm như sơn móng tay, keo vuốt tóc, dầu gội, kem dưỡng da, thuốcnhuộm tóc, son môi, phấn Những chất này được thêm vào trong mỹ phẩm để tạo
độ tươi mới, tạo độ mịn và hấp dẫn cho loại mỹ phẩm đó, hơn nữa trong sơn móngtay các phtalat còn làm cho màu sơn sáng bóng hơn và bền lâu hơn, bám dính hơn.Chất DEP còn được dùng như một chất định hương trong nước hoa, giúp nước hoagiữ mùi thơm được lâu hơn và mùi không bị biến mùi trong các điều kiện thời tiếtkhác nhau [17,18] Trong ngành sản xuất các loại dụng cụ, thiết bị y tế, các phtalatthường có trong những túi nhựa đựng máu, dây truyền nước và hóa chất, ống thôngtiểu, ống súc dạ dày Chúng còn được sử dụng trong ngành dược như DEP đượcdùng như một chất trị bệnh ghẻ vì nó có tính diệt khuẩn (hiện tại bây giờ không còn
sử dụng chất này để điều trị nữa) Đặc biệt, DEP được dùng làm chất hóa dẻo trongbao phim viên thuốc, nhưng lớp phim bao này thường rất mỏng cộng với việc sửdụng hàng ngày chỉ một lượng nhỏ nên coi như lượng vào cơ thể không đángkể[19]
Trang 14Theo ước tính sản lượng hàng năm của các este của axit phtalic (PAE's) năm
1998 là khoảng năm triệu tấn Gần như các este phtalat có mặt ở hầu hết mọi nơitrong môi trường sống, cơ thể con người bị nhiễm phtalat là một điều rất dễ xảy ra.Nhưng khi chúng đi vào cơ thể có những tác hại gì đối với con người là điều cầnxem xét
1.1.3.2 Nguồn gốc phát tán các phtalat vào thực phẩm.
Phtalat trong thực phẩm chủ yếu là do bị nhiễm trong quá trình sản xuất và
do thôi nhiễm[14] Nên một số phtalat hay được dùng trong nhựa phổ biến cũng sẽ
có mặt một lượng nhỏ trong các mẫu thực phẩm như DBP, BBP, DINP, DNOP,DIDP khi dùng vỏ hộp nhựa đựng đồ ăn nóng và nhiều dầu mỡ, hoặc cho quaynóng trong lò vi sóng Tsumura (2001) đã chỉ ra rằng sự tăng lên của nồng độDEHP trong thịt gà mức từ 80 µg/kg trước khi nấu đến 13.100 µg/kg sau khi rántrong chảo được tráng Teflon, và còn cao tới 16.900 µg/kg sau khi đóng gói Làmnóng thực ăn trong các vỏ bọc trực tiếp của đồ ăn nhanh tạo điều kiện rất lớn cho sựthôi nhiễm các phtalat từ vật liệu bọc vào thức ăn Trong khi kiểm tra các bữa ănđược chuẩn bị tại 3 bệnh viện tại Nhật cũng cho thấy việc sử dụng gang tay cao sucũng đóng góp 600 µg mỗi ngày Hàng ngày, các bữa ăn ở bệnh viện đó chứa trungbình khoảng 160 µg DEHP, 12,5 µg DEHA và 4,7µg DINP, 3,4µg BBP[14]
Trên thực tế các phtalat này có trong thực phẩm không chỉ do nguyên nhânthôi nhiễm từ các vật chứa hoặc tiếp xúc mà đôi lúc còn có mặt trong thực phẩm dođược cố tình thêm vào Những sản phẩm giàu chất béo như bơ, phomai,mayonaise đều được thêm một lượng nhỏ các phtalat vào để làm chúng trông tươingon và mịn hơn Theo tài liệu [7] các phtalat còn được dùng như chất tạo đục trongmột số loại thực phẩm Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự không trộn lẫnnhau giữa các phtalat và các dạng thức ăn ít béo, chứa nước Chúng tạo thành dạngnhũ tương giữa hai hay nhiều pha trong một dạng thức ăn Vì vậy các phtalatthường được thêm vào nước hoa quả hoặc đồ uống có cồn để làm tăng độ đục và tạocảm giác tự nhiên hơn cho các loại thực phẩm đó Trên thực tế mặc dù các phtalat bịcấm sử dụng trong các trường hợp như vậy, tuy nhiên theo Cục quản lý Thực phẩm
Trang 15và Thuốc Đài Loan, vẫn có những cơ sở sản xuất sử dụng các phtalat để làm chấttạo đục để giảm giá thành so với các sản phẩm tự nhiên như dầu cọ, gum arabic vàtạo được độ ổn định trong sản phẩm Chủ yếu phtalat được dùng là DEHP và DINP[7] Thường thì các nhà sản xuất nếu có dùng các phtalat này trong thực phẩm thìcũng khó có thể ghi nó lên thành phần của thực phẩm đó vì nhiều lý do, cho nêntrong nghiên cứu này chúng tôi đã nghiên cứu một phương pháp để xác định cácphtalat trong thực phẩm, để xem xét mức hàm lượng của chúng có trong mỗi loạithực phẩm khác nhau, giúp người tiêu dùng có những cái nhìn đúng đắn hơn vềnhững thực phẩm chứa những chất có hại đối với cơ thể
1.1.4 Độc tính của các phtalat.
Có rất nhiều các loại đồ dùng có chứa các phtalat xung quanh chúng ta, hơnnữa do các tính chất của chúng khiến chúng rất dễ bị nhiễm vào cơ thể con người.Nhưng với mỗi một nguồn nhiễm khác nhau thì lại khác nhau về lượng và về tácđộng trực tiếp đến cơ thể con người Vì vậy trước khi xem xét độc tính của phtalatđối với cơ thể con người nên nhìn lại cách mà chúng xâm nhập vào cơ thể chúng ta
1.1.4.1 Con đường lây nhiễm phtalat.
Từ các tính chất và ứng dụng của các phtalat đã nêu ở trên chúng ta có thểbiết được các phtalat xâm nhập vào cơ thể con người theo những đường nào Gầnnhư đến 90% các phtalat đều được sử dụng trong quá trình sản xuất nhựa PVC,nhưng cấu tạo phân tử của chúng thì lại cho thấy chúng không hề tham gia vàomạng lưới của nhựa mà chỉ đóng vai trò là chất phụ gia, chất độn vào các sản phẩmnhựa Nên khi nhựa bị vỡ ra hoặc bị lão hóa, các phtalat này có thể đi ra khỏi nhựa
và ra ngoài không khí xung quanh Khi đó chúng ta sẽ hít phải các chất này và bịnhiễm vào cơ thể Hơn nữa, các sản phẩm nhựa này khi được chứa các loại thức ăn
có nhiều dầu mỡ, chất béo… các phtalat này cũng bị thôi nhiễm ra ngoài thức ăn và
đi vào cơ thể qua đường ăn uống Chưa tính đến các phtalat này còn được sử dụngthay một số chất trong tự nhiên vì hóa chất công nghiệp sản xuất nhiều lại có chi phíthấp hơn Vì chúng không tan trong nước nên chúng được sử dụng để làm chất tạo
Trang 16đục trong các sản phẩm chứa nước như thạch sữa chua, sữa, các loại nước ngọt…nên khi ăn uống những thực phẩm đó chúng ta đã bị nhiễm các chất phtalat Cácphtalat cũng còn được dùng trong sản xuất các loại mỹ phẩm, chủ yếu là kem bôi
da, gel xịt tóc… nên khi sử dụng chúng sẽ được hấp thụ qua da và đi vào cơ thể.Một phần nhỏ nữa các phtalat đi vào cơ thể con người còn do các sản phẩm sơntường, sơn gỗ sàn nhà cũng có chứa những chất này và chúng bị thôi nhiễm ra ngoàikhông khí Nhìn chung, các chất này có ở xung quanh môi trường sống của chúng tarất nhiều và khó có thể kiểm soát được
1.1.4.2 Độc tính.
Chưa có nhiều thử nghiệm về tác hại của các phtalat đối với cơ thể conngười Tuy nhiên đối với những nghiên cứu trên động vật (cụ thể là chuột ở cả haigiới tính) đã cho ta thấy những kết quả đáng sợ về độc tính của các phtalat này.Theo nghiên cứu [27], tác giả V Zitko đã nêu ra độc tính của các phtalat này trênnhững con chuột được tiêm vào một lượng phtalat nhất định Tất cả các phtalatkiểm tra đều có những tác hại về hệ sinh sản và một điều đáng lưu ý ở một số thainhi bị biến đổi ở hầu hết các động vật được tiêm Đặc biệt DMP và dimethoxyletylphtalat đã có những tác động rất linh hoạt Khối lượng phân tử các phtalat càng thấpthì càng độc hơn so với những phtalat có gốc rượu từ C6-C9 Các phtalat khi đượctiêm vào tĩnh mạch chuột, cơ thể chuột tích tụ các phtalat lại trong phổi, gan và lálách với những lượng khác nhau các phtalat và dần dần làm mất chức năng của các
bộ phận đó Phtalat còn gây xáo trộn nội tiết và các trung tâm hormonally hoạt độngbởi vì khả năng can thiệp vào hệ thống nội tiết trong cơ thể của các phtalat Tiếpxúc với phtalat lâu dài sẽ dẫn đến tỷ lệ mắc các bệnh bất thường như hở hàm ếch,các dị tật xương tăng và tăng số thai chết trong các nghiên cứu trên động vật thínghiệm Hệ thống nhạy cảm nhất của cơ thể khi tiếp xúc với các phtalat này là hệsinh sản chưa phát triển hoàn toàn của nam giới, khi bị nhiễm các phtalat ở mộtmức độ, cơ thể bị gia tăng tỷ lệ tinh hoàn không xuống, tinh hoàn giảm trọng lượnghoặc giảm khoảng cách giữa hậu môn và cơ sở dương vật [26] Đối với nữ giới, khicác phtalat tiếp xúc lâu dài với cơ thể sẽ gây ra xáo trộn nội tiết, gây tăng tiết
Trang 17hormon nữ tính, làm cho trẻ nữ bị dậy thì sớm hơn và dễ gây ra hiện tượng dịthường thai trong quá trình mang thai nếu tiếp xúc quá nhiều với các phtalat.
1.2 Các phương pháp xác định phtalat trong mẫu thực phẩm.
1.2.1 Các phương pháp HPLC xác định phtalat.
Các phtalat là những este của axit phtalic với hai hoặc một rượu nào đó, do
đó tính chất cũng như cấu tạo của chúng có tính tương đồng cao Phương pháp phântích các hợp chất này phải đủ mạnh để không bị ảnh hưởng lẫn nhau của các phtalatkhi xác định đồng thời Và sắc ký đáp ứng tốt được điều đó Vì là các este nên cóthể sử dụng cả sắc ký khí và sắc ký lỏng để phân tích Tuy nhiên khi dùng sắc kýkhí phải được ghép nối với detector khối phổ mới cho hiệu quả cao, còn cácdetector khác đều kém nhậy (như FID, ECD) Sắc ký lỏng thì có thuận lợi hơn là cóthể sử dụng detector UV cũng có thể định lượng cũng như định tính được cácphtalat Tuy cũng có nhiều ưu nhược điểm khác nhau, khi dùng HPLC-UV thì khiphân tích mẫu thực, kết quả phải được kiểm chứng lại bằng một phương pháp mạnhhơn như ghép nối với MS Bởi vì dạng phổ hấp thụ của các phtalat rất giống vớinhiều chất khác có một vòng benzen, bước sóng hấp thụ cũng không đặc trưng nênkhả năng định tính thấp Tuy nhiên trên một số đối tượng nhất định, nền mẫu kémphức tạp hơn thì HPLC-UV lại ưu việt hơn nhờ giá thành rẻ hơn và khá chính xác,phương pháp xử lý mẫu đơn giản
Một số tác giả cũng đã sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao,detector UV để xác định các phtalat trong nhiều đối tượng khác nhau Tạp chí ứngdụng của Knauer [15] cũng đã đưa ra quy trình tách 08 phtalat là benzylbenzoat,benzylbutyl phtalat, dibutyl phtalat, dihexyl phtalat, bis(2-etylhexyl) phtalat, din-octyl phtalat, di-iso-nonyl phtalat, di-iso-decyl phtalat trên hệ HPLC pha đảo, cộtEurospher II 100-3 C18 H, 250×3,0 mm ID Hệ dung môi là ACN-Nước vớigradient với hai kênh A gồm H2O/ACN là 15:85 (thể tích/thể tích), kênh B là ACN.Gradient từ 0-3 phút từ 0% kênh B, từ 3,0-6,5 phút tăng từ 0% B đến 100% B, phútthứ 6,5 đến 19,5 phút chạy 100% kênh B Tốc độ dòng 0,6 ml/phút, nhiệt độ cột
Trang 18300C, detector UV đặt ở bước sóng 225 nm Kết quả cho thứ tự của các chất ra khỏicột là BB-BBP-DBP-DHP-DEHP-DNOP-DINP-DIDP Tổng thời gian chạy mộtmẫu là 22 phút.
Nhóm các tác giả Ting Wu, Chao Wang, Xing Wang, Haiqing Xiao, Qiang
Ma, Qing Zhang [23] cũng đã tách 12 phtalat trên hai hệ UPLC và HPLC, để sosánh hiệu quả tách của hai hệ máy trên Các phtalat được tách: DMGP, DPP, DIBP,DMP, DEP, DBP, BBP, DCHP, DEHP, DNOP, DAP, DHP Dung môi sử dụng làmetanol, các dung dịch chuẩn các phtalat cũng được pha trong dung môi này,detector sử dụng là PDA đặt ở bước sóng 225 nm Với hệ ultra-performance-liquid-chromatography là một hệ có hiệu quả tách cao, cỡ hạt nhỏ, cột ngắn, áp suất cao,đường kính nhỏ Cột sử dụng là cột phenyl 50 mm × 2,1 mm × 1,7 µm, nhiệt độ cột
450C, sử dụng hai dung môi kênh A là MeOH, kênh B là Nước Kênh A tăng trong1,5 phút từ 50-78%, được giữ trong một phút, sau đó tăng đều lên 100% trong vòng
1 phút, giữ trong vòng 1 phút ở tỷ lệ 100% kênh A trước khi đưa về trạng thái banđầu và được giữ cân bằng ở điều kiện đó 2 phút Tổng thời gian chạy một mẫu làkhoảng 7 phút, tốc độ pha động 0,4 ml/phút Còn đối với hệ HPLC của Agilent
1100, ghép nối với hệ bơm, bộ phận tự động bơm mẫu và lò cột Nhiệt độ cột đặt ở
250C, cột phenyl 250 mm × 4,6 mm × 5 µm Pha động cũng gồm hai kênh MeOH(kênh A) và nước (kênh B) Chế độ gradient kênh A tăng trong 5 phút từ 70-85%,sau đó tăng đều trong 4 phút tới 100%, giữ trong 4 phút trước khi trở về điều kiệnđầu sau đó giữ cân bằng 4 phút Tổng thời gian 18 phút một mẫu Tốc độ dòng 1,0ml/phút Kết quả cho thấy đường nền khi chạy trên thiết bị UPLC rất ổn định, thẳngđều, không bị trôi hay bị dâng nền Còn đối với thiết bị HPLC, nền bị dâng đều theolượng MeOH, tuy rằng hiệu quả tách đều tốt, độ phân giải giữa các pic đạt được tốtnhưng rõ ràng khi phân tích mẫu thực hệ UPLC sẽ cho kết quả phân tích chính xáchơn, thời gian phân tích nhanh hơn
Một phương pháp sắc ký lỏng thân thiện với môi trường cũng đã được sửdụng để tách và định lượng các phtalat trong mẫu sơn móng tay D De Orsi và cáccộng sự [9] đã tách 07 phtalat: DMP, DEP, DIBP, BBP, DBP, DEHP trên hệ sắc ký
Trang 19lỏng hiệu năng cao, detector UV đặt ở bước sóng 254 nm Cột Zorbax Eclipse XDBC18 (Agilent) 150 mm × 4,6 mm × 3,5 µm Chế độ gradient bắt đầu với tỷ lệ 50:50
% thể tích etanol/nước, tăng dần đến 95% etanol trong 30 phút Thành phần nàyđược giữ đến cuối cùng sau khi giữ cân bằng 10 phút, tốc độ dòng 1,0 ml/phút, vanbơm 10 µl, nhiệt độ cột 350C Phương pháp này được gọi là thân thiện với môitrường bởi vì nó sử dụng dung môi etanol trong quá trình tách, dung môi không độchại với con người cũng như với môi trường như các dung môi thường dùng kháctrong HPLC như: ACN hay MeOH Các phtalat cũng được tách ra khỏi nhau, tổngthời gian lưu một mẫu chạy là 40 phút Phtalat được chiết ra khỏi nền mẫu bằng hỗnhợp 90/10 % thể tích Etanol/nước Phân tích mẫu thực có sử dụng chất nội chuẩnDPP, nồng độ 50 ppm
Thêm một nghiên cứu nữa về phương pháp tách và định lượng các phtalat,theo tài liệu [13], tác giả Hyun Jung Koo và cộng sự đã nghiên cứu và ứng dụngphương pháp HPLC-UV để xác định 04 phtalat (DEP, DBP, BBP, DEHP) trong cácmẫu mỹ phẩm Sử dụng hệ máy HPLC của Hitachi (model L-700, Tokyo), bộ phậnbơm mẫu tự động, cột Supecol LC-18 5µm (250mm×4,6mm), nhiệt độ cột
200C±20C Pha động tỷ lệ 88:12 (88% ACN và 12% dung dịch đệm trietylamine0,08% pH 2,8 được điều chỉnh pH bằng axit photphoric 1mol/L) Tốc độ dòng 0,7mL/phút, tổng thời gian chạy là 50 phút Đường chuẩn dựng từ 10-400ppm, sử dụngchất nội chuẩn DnHP Kết quả thu được, phát hiện 19/21 mẫu sơn móng tay và11/42 mẫu nước hoa chứa DBP, 24/42 mẫu nước hoa chứa DEP với hàm lượng khácao Trong nghiên cứu này còn chỉ ra mức con người nhiễm phải các phtalat khi sửdụng mỹ phẩm hàng ngày Ước tính dựa trên lượng các phtalat phát hiện được trêncác đối tượng mẫu
Ngoài sắc ký lỏng hiệu năng cao, detector UV còn có một số phương phápkhác để định lượng cũng như định tính các phtalat Các phương pháp này được trìnhbày ở phần 1.2.2
Trang 201.2.2 Các phương pháp khác xác định các phtalat.
Ngoài phương pháp HPLC, một phương pháp phổ biến để xác định cácphtalat là GC-MS Có thể sử dụng sắc kí khí ghép nối với các detector khác để xácđịnh các phtalat như detector bắt điện tử (ECD), hay ion hóa ngọn lửa (FID)
Theo tiêu chuẩn CPSC-CH-C1001-09.3[21] của tổ chức CPSC Mỹ (UnitedStates Consumer Product Safety Commissions), các phtalat được xác định trên đốitượng là đồ chơi trẻ em, sử dụng hệ thiết bị GC-MS Các phtalat được chiết ra khỏiđối tượng bằng dung môi THF và n-hexan Khoảng 50 mg mẫu được cân chính xác,sau đó thêm 5ml THF, tiếp đó thêm 10ml n-hexan (tổng thể tích dung môi là 15ml) Phần dung dịch lọc, lấy 0,1 ml sau đó thêm vào 80µl dung dịch chất nội chuẩnbenzyl benzoat 250µg/ml, sau đó cho đến thể tích 20ml bằng n-hexan Đường chuẩn
06 phtalat (DBP, BBP, DEHP, DNOP, DIDP, DINP) được dựng từ 0,5 – 10 µg/mlvới mẫu trắng là cyclohexan Với điều kiện chạy GC-MS trên cột DB-5MS30m×0,25mm ID×0,25µm, tốc độ dòng ban đầu 1ml/phút, dòng chảy liên tục, khímang He, van tiêm mẫu 1µl ở nhiệt độ 2900C, áp suất 35 psi, từ 2-5 phút giữ ở
500C, sau đó tăng 300C/phút tới 2800C, sau đó tăng 150C/phút tới 3100C, giữ trong 4phút Thu được thời gian lưu của các chất BB (m/z=105), DBP (m/z=223) từ 5-9,5phút, BBP (m/z=206) và DEHP (m/z=279) từ 9,5-10,8 phút và của DNOP(m/z=279), DINP (m/z=293) và DIDP (m/z=307) ra sau phút 10,8 Có phân tíchmẫu chuẩn CRM để xác nhận giá trị của phương pháp
Tác giả Hao-Yu-Shen và các cộng sự [12] đã sử dụng cả hai phương pháp làsắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC, detector DAD và phương pháp sắc ký khí khốiphổ để xác định đồng thời 07 phtalat và 04 paraben trong 15 loại mẫu mỹ phẩmnhư: gel dưỡng tóc, kem dưỡng da, sữa dưỡng thể 07 phtalat (DEHP, DOP, DEP,DPP, DBP, BBP) và 04 paraben (Metyl paraben, Etyl paraben, Propyl paraben vàbutyl paraben) được xác định bằng HPLC-DAD và GC-MS sau khi đã được làmsạch với cột chiết pha rắn C18, độ thu hồi 85-108%, RSD 4,2-8.8% Điều kiện tối
ưu khi sử dụng GC-MS: pic cơ bản (m/z=149) để định lượng các phtalat, còn m/z =
121 để định lượng các paraben Thiết bị Agilent 6890N, bơm mẫu tự động ghép với
Trang 21detector MS, cột HP-5MS 30m×0,25 ID×0,25µm, cột mao quản 5% diphenyl, 95%dimetylpolysiloxane, khí mang He Chạy với gradient nhiệt: 1000C giữ trong 0,5phút tăng từ từ 50C mỗi phút cho đến 2200C, tăng tiếp 100C một tới 2750C, giữ 5phút Tốc độ khí mang ở 1,0 ml/min Tiêm mẫu ở 2500C Còn đối với hệ HPLC củaAgilent 1100 HPLC gồm bơm, bộ phận bơm mẫu tự động, bộ trộn, lò cột, tất cảđược ghép nối với detector DAD, cột C8 (150mm×4,6 mm×3µm), nhiệt độ cột giữ
ở 300C Chế độ gradient: 0-13 phút giữ ở tỷ lệ 50:50 (MeOH:H2O), 15 phút tỷ lệtăng đến 70:30, phút thứ 22 là 85:15, phút thứ 30 tăng đến 100 % MeOH, tốc độdòng đặt 1,0ml/phút, bước sóng đặt tại 230 nm Khoảng tuyến tính của các chấtphân tích nằm từ 0,54-100mg/l Mẫu thực được xử lí bằng cách cân chính xáckhoảng 1,0 gam mẫu mỹ phẩm cho vào ống thủy tinh, cho thêm 10 ml MeOH, rungsiêu âm 30 phút Chuyển dung dịch trong sang một ống sạch, làm khô bằng hơi nitơ
ở nhiệt độ phòng Dung dịch mẫu được đưa qua cột chiết pha rắn C18 và được tối
ưu hóa với các dung môi chiết khác nhau như diclometan, aceton, hexan, MeOH,etyl acetat, các điều kiện khác như đồng nhất mẫu, lắc, rung đều được tối ưu Kếtquả đã phân tích được hàm lượng của 07 phtalat và 04 paraben có trong 15 mẫu mỹphẩm
Ngoài GC ghép nối với detector MS ra thì người ta còn sử dụng các loạidetector khác nhau để phân tích các phtalat như FID, ECD Tiến sĩ Sapna Johnson
và các cộng sự [20] đã nghiên cứu xác định 08 phtalat (DMP, DEP, DBP, BBP,DEHP, DINP, DNOP, DiDP) trong đối tượng đồ chơi trẻ em sử dụng detector ECD.Mẫu được cân với khối lượng 5g được chiết Soxhlet trong 100ml dung dịchdiclometan 16 giờ và ở 600C 90ml dịch chiết được làm giàu ở 300C, và 1µl đượcbơm vào cột tách Tất cả các mẫu phân tích đều được làm lặp lại 3 lần Cột được sửdụng là DB-5MS 30 m x 25 mm ID x 0.25 µm, tốc độ ban đầu 1ml/phút, khí mang
He, van bơm 1µl ở nhiệt độ 2900C, áp suất 35 psi, 0,5 phút, 2-5 phút giữ ở 500C,tăng 300C/phút tới 2800C, sau tăng 150C/phút tới 3100C giữ trong 4 phút Tổng thờigian 50 phút Detector ECD, nhiệt độ bổ trợ 3000C, khí Nitơ 20ml/phút Kết quả thuđược cho thấy 4 loại phtalat phổ biến là DEHP, BBP, DBP và DINP có mặt trong
Trang 22tất cả 24 mẫu thí nghiệm với hàm lượng từ <0,1%-16,22% Sau khi mẫu được xácđịnh bằng GC-ECD thì được kiểm tra để khẳng định lại bằng GC-MS.
Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC sử dụng các loại detectormạnh hơn detector UV cũng được sử dụng để phân tích các phtalat Theo nghiêncứu của Bart Tienpont [5], các mẫu môi trường như đất, trầm tích , các mẫu thựcphẩm và mẫu nền sinh học cũng đã được đem ra phân tích hàm lượng các phtalattrên hệ máy HPLC-MS với các chế độ ion hóa khác nhau Các phtalat được phântích chủ yếu là dạng mono-este của axit phtalic như mono-2-etylhexyl phtalat , cơchế phân mảnh ESI hoặc APCI Hệ thiết bị Agilent 1100 LC, kết hợp với cột 25cm
× 4,6 mm ID × 5 µm, hệ dung môi gồm 2 kênh Kênh A 0,5% đệm amoni axetattrong nước, kênh B là metanol, chạy đẳng dòng tỷ lệ 50%/50% B về thể tích, tốc độdòng 0,5 ml/phút, van bơm mẫu 50 µL Thế phân cực 70 V, nhiệt độ 3250C, tốc độkhí 5L/phút khí N2, các mảnh ion M+1 = 277 (DEHP), 281 (MEHP), 291 (MiNP),
305 (MiDP) Mẫu được chiết các phtalat ra khỏi nền bằng chiết Lỏng – Lỏng và làmgiàu bằng chiết pha rắn
1.2.3 Phương pháp chiết tách các phtalat ra khỏi nền mẫu thực phẩm.
Trước khi mẫu được đưa vào hệ HPLC để phân tích cho ra hàm lượngphtalat có trong mẫu thì nó phải được đồng nhất, chuyển từ các trạng thái khác nhau
về dạng lỏng, các phtalat được tan trong dung môi acetonitril hoặc metanol Khi đưavào đầu cột tách có khả năng hấp thu và rửa giải qua cột
Theo tài liệu [22], mẫu phải được đồng nhất trước khi đem xử lý hoặc chiết.Với mẫu lỏng có thể dùng biện pháp lắc, trộn lẫn, hay khuấy Đối với mẫu rắnthường sử dụng máy trộn để làm đều hoặc có thể cho thêm dung môi hữu cơ phâncực hoặc nước cất để làm đều Các phtalat được chiết ra từ mẫu không chất béodạng lỏng với dung môi hữu cơ không phân cực và có thể đo mà không cần bất kỳ
sự làm sạch nào Áp dụng với trường hợp đối với nước, các loại nước giải khát và
đồ uống có cồn Hầu hết các phòng thí nghiệm đều sử dụng chiết Lỏng-Lỏng đểphân tách các phtalat ra khỏi nền mẫu Dung môi có thể dùng clorofom, n-hexan, n-
Trang 23heptan, hoặc isooctan Cũng có thể sử dụng chiết pha rắn để tách lấy các phtalatphân tích Đối với các loại thực phẩm không béo dạng rắn thường được chiết vớiACN hoặc hỗn hợp ACN-Nước Trường hợp thực phẩm giàu chất béo dạng rắn thìcác phtalat được chiết ra khỏi nền cùng với chất béo có thể sử dụng diclometan, hỗnhợp diclometan với cyclohexan, n-hexan, và hỗn hợp n-hexan với aceton, hoặc cóthể dùng ACN để tăng độ chọn lọc của các phtalat từ thực phẩm, dựa trên khả năngtan kém của các chất béo vào trong ACN Kỹ thuật chiết phổ biến nhất chỉ bằngcách lắc mẫu với hỗn hợp chiết Tuy nhiên dùng biện pháp rung siêu âm và lò visóng là 2 biện pháp đã cho hiệu quả tốt nhất.
Dựa trên điều kiện phòng thí nghiệm và các tài liệu tham khảo đã có, chúng tôi đã lựa chọn phương pháp sắc kỷ lỏng hiệu năng cao pha đảo của Shimadzu, ghép nối với detector PDA, cột Cadenza CD-C18 250mm × 4,6mm × 3µm, hệ điều khiển SCL 10A, lò cột CTO-10AS, bộ trộn dung môi, bơm cao áp LC-10Advp, đèn SPD-M10A (đèn D2 và W) Vòng nạp mẫu 50µl Các điều kiện chạy máy và xử lý mẫu đều được khảo sát và tối ưu hóa trước khi phân tích mẫu
Trang 24CHƯƠNG II:
THỰC NGHIỆM2.1 Đối tượng nghiên cứu.
Thực phẩm chứa phtalat có thể do hai nguyên nhân, do thôi nhiễm từ vỏ bao
bì được làm bằng các loại nhựa hoặc do chúng được thêm vào trong quá trình sảnxuất Khả năng các phtalat bị thôi nhiễm từ bao bì thường cho lượng phtalat nhỏ, và
có thể phát hiện các phtalat khác ngoài DEHP và DINP, trong khi đó lượng phtalat
có mặt trong thực phẩm do sự thêm vào thì thường có 2 phtalat trên với lượng khálớn (cỡ vài %) Thôi nhiễm phtalat từ bao bì thực phẩm có thể nhiều hoặc ít tùythuộc loại thức ăn được chứa hoặc cách bảo quản, chế biến thức ăn trong bao bì đó
Vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn một số mẫu phân tích chứa nhiềuchất béo, bảo quản trong hộp nhựa hoặc bọc bằng giấy bạc Mẫu đại diện là BơTường An của Công ty Cổ phần Dầu Thực Vật Tường An, được đựng trong hộpnhựa, khối lượng tịnh cỡ 80g và mẫu Phomai Con Bò Cười, được bọc trong giấybạc, hộp 8 miếng của Công ty TNHH Bel Việt Nam Mẫu được xử lý và dùng đểđịnh tính, định lượng 08 phtalat đã khảo sát
2.2 Các loại phtalat thường có trong thực phẩm.
Phtalat được dùng phổ biến nhất trong tất cả các lĩnh vực là DEHP Trongthực phẩm nó được sử dụng thay thế cho dầu cọ vì hóa chất công nghiệp rẻ tiền hơndầu cọ tự nhiên Hơn nữa vì nó chiếm thành phần khá lớn trong một số loại nhựadẻo nên khả năng nó bị thôi nhiễm vào thực phẩm cũng lớn hơn các phtalat khác
Dựa trên đặc tính của các phtalat và sự nhiễm của các phtalat vào các loạithực phẩm nên chúng tôi lựa chọn 2 loại mẫu thực, đó là dạng thực phẩm chứanhiều chất béo như mẫu bơ và mẫu Phomai Con bò cười Thông tin về các loại mẫuđược chọn đưa trong bảng 1.2
Bảng 2.1: Thông tin về mẫu phân tích được chọn.
1 Mẫu bơ thực vật (hộp
80g)
Công ty Cổ phần Dầu Thực vậtTường An
NSX:16/11/12HSD:16/5/13
Trang 252 Mẫu phomai Con bò
Bảng 2.2: Nồng độ các dung dịch chuẩn este phtalat.
STT Tên viết tắt Khối lượng cân (g) Nồng độ (ppm) Cách pha
2.3.2 Hóa chất sử dụng
Các dung môi cho sắc ký lỏng hiệu năng cao: MeOH, ACN (Merck – Đức)
N-hexan
Trietylamin Merck – Đức
Axit photphoric Merck – Đức
Nước cất được sử dụng là nước cất 2 lần đã được deion hóa
Trang 262.3.3 Thiết bị, dụng cụ
Thiết bị:
- Hệ thống HPLC Shimadzu 10Avp với detector PDA Shimadzu SPD –M10Avp
- Cột pha đảo Cadenza CD-C18 250mm × 4,6mm × 3µm
- Cân phân tích Scientech SA 210, độ chính xác 0,0001 g
- Máy ly tâm, tốc độ 4000 vòng/phút
- Máy đo pH Metrohm 961 với điện cực thủy tinh và điện cực calomen bãohòa và các dung dịch pH chuẩn để hiệu chỉnh điểm chuẩn của máy đo pH(Merck)
2.4 Mục tiêu nghiên cứu.
Xây dựng được phương pháp phân tích định lượng đồng thời các phtalattrong một số mẫu thực phẩm bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụngcột tách pha ngược (RP-HPLC), detector PDA và ứng dụng phân tích một số mẫuđại diện
Trang 272.5 Phương pháp phân tích.
2.5.1 Phương pháp xử lý mẫu.
Theo tính chất đã biết của các phtalat, chúng tan tốt hơn trong các dung môihữu cơ như n-hexan, acetonitril, metanol Mẫu thực được chọn là mẫu có nhiềulượng chất béo như mẫu bơ thực vật và mẫu phô mai Con bò cười Do tính chất củadung môi acetonitril hòa tan chọn lọc các phtalat trong môi trường chất béo, vì vậychúng tôi đã sử dụng dung môi acetonitril để xử lý mẫu[7]
Với 2 dạng mẫu rắn này chúng tôi đưa ra phương pháp xử lý mẫu:
Mẫu được cân khối lượng khoảng 0,2 g chính xác tới 0,0001g trên cân phântích, chuyển mẫu vào ống thủy tinh 10ml Thêm 5 ml dung môi acetonitril, lắc trênmáy lắc 30 phút, sau đó rung siêu âm 30 phút ở nhiệt độ 400C để giúp cho chất béotrong đó bị chảy ra, các phtalat tan dễ dàng hơn Cuối cùng quay ly tâm 30 phút đểlắng cạn và thu dịch trong sang 1 ống khác Dung dịch này sau khi lọc qua màng lọc0,45µm được bơm vào cột để định lượng các phtalat có trong mẫu Mẫu thêm chuẩncũng được thực hiện với một quá trình trên để xác định hiệu suất thu hồi của quátrình xử lý mẫu
2.5.2 Phương pháp phân tích.
Phép phân tích các phtalat được thực hiện trên hệ sắc ký lỏng hiệu năng caoHPLC của Shimadzu, kết nối với hệ bơm gồm 4 kênh, bộ điều khiển, lò cột, bộ trộndung môi và detector photo-diode-array (PDA) đặt ở bước sóng 225 nm Các điềukiện chạy máy được tóm tắt như sau:
- Nhiệt độ cột 250C
- Van bơm mẫu 50 µL
- Hệ dung môi gồm 2 kênh Kênh A: pha nước chứa 0,04% trietylamin đượcchỉnh pH tới 2,8 bằng dung dịch axit photphoric Kênh B là ACN
- Chế độ gradient tốc độ dòng: thời điểm ban đầu tốc độ là 0,8 ml/phút, giữ ởtốc độ này trong vòng 12,5 phút sau đó tăng dần lên 1,0 ml/phút ở phút thứ
14 Giữ 2 phút, sau đó tăng lên 1,2 ml/phút trong vòng 2,5 phút Giữ tốc độ
Trang 28này đến khi các chất được rửa giải hết ra khỏi cột Tổng thời gian chạy là 25phút Tỷ lệ giữa 2 kênh A:B là 5:95 (% về thể tích) được giữ suốt quá trìnhchạy mẫu.
2.6 Nghiên cứu điều kiện tối ưu và đánh giá phương pháp phân tích.
2.6.1 Phương pháp nghiên cứu điều kiện tối ưu.
Các điều kiện tối ưu trên hệ máy sử dụng cũng như quá trình xử lý mẫu đãđược khảo sát
Thứ nhất là khảo sát để chọn hệ dung môi pha động Chúng tôi đã khảo sát 3
hệ dung môi MeOH-Nước, ACN-nước và ACN-pha nước chứa trietylamin 0,04%,
pH 2,8 chỉnh pH bằng axit photphoric 1 mol/L
Sau khi chọn được hệ dung môi phù hợp chúng tôi đi khảo sát thành phầncủa pha động Tỷ lệ giữa 2 pha ACN và pha nước cũng được khảo sát ở 2 tỷ lệ 88%ACN : 12 % pha nước và 95% ACN:5% pha nước (% về thể tích)
Khảo sát thành phần % của trietylamin trong pha nước Nồng độ củatrietylamin cũng được khảo sát ở 3 mức: 0,01%; 0,04%; và 0,08%
Giá trị pH pha động cũng được khảo sát, ở 3 giá trị pH: 3,31; 2,82 và 2,20.Chế độ chạy đẳng dòng và gradient đã được khảo sát Chế độ đẳng dòngkhảo sát ở 2 tỷ lệ pha động 88:12 (% thể tích của ACN : pha nước) và 95:5 (% thểtích của ACN:pha nước) 6 chương trình gradient cũng được khảo sát để chọn đượcmột chế độ chạy phù hợp nhất, hiệu quả tách tốt nhất Với tốc độ dòng thay đổi theothời gian từ 0,6 ml/phút tới 1,2 ml/phút từ thời điểm ban đầu đến khi kết thúc quátrình chạy khoảng 60 phút
2.6.2 Đánh giá phương pháp phân tích.
Phương pháp phân tích thể hiện tính đúng đắn trước tiên phải thể hiện độ lặplại Trong nghiên cứu chúng tôi đã khảo sát độ lặp lại của hệ thiết bị HPLC sau khichọn các điều kiện tối ưu Đánh giá độ lặp của hệ thiết bị dựa trên độ lặp diện tích
và thời gian lưu của các cấu tử trong dung dịch khảo sát Một mẫu có nồng độ xácđịnh nằm trong giới hạn tuyến tính của đường chuẩn các phtalat đã chọn Mẫu được
Trang 29bơm vào hệ 3 lần sau đó lấy diện tích pic và thời gian lưu trung bình của các lần vàtính được giá trị % RSD Giá trị này đánh giá độ lặp cần khảo sát
Sau khi có đầy đủ các điều kiện tối ưu, tiến hành dựng đường chuẩn 08phtalat đã khảo sát và thu được 08 phương trình đường chuẩn Đánh giá sai số hệthống qua các hệ số trong phương trình hồi quy sử dụng các chuẩn Student vàFisher để đánh giá và kết luận Thu được một phương trình đường chuẩn mới, sau
đó mới tiến hành phân tích mẫu thực tế
Khi phân tích mẫu thực thì độ lặp lại quá trình xử lý mẫu cũng được khảo sát
và đánh giá Cùng một mẫu được cân khối lượng gần giống nhau, xử lý cùng mộtđiều kiện Mỗi mẫu sau xử lý được bơm 3 lần để thu được hàm lượng trung bình.Các giá trị trung bình đó được sử dụng để đánh giá độ lặp của phương pháp xử lýmẫu Giá trị % RSD cũng được dùng làm giá trị đánh giá độ lặp của phương pháp
Ngoài độ lặp thì độ đúng là một yếu tố để đánh giá phương pháp phân tích.Sau khi thu được kết quả thực tế khi phân tích các este phtalat trên đối tượng đãchọn với hệ máy đã được tối ưu, mẫu được đem phân tích lại trên hệ máy mạnh hơnGC-MS theo tiêu chuẩn CPSC-CH-C1001-09.3 [21] của tổ chức CPSC Mỹ (UnitedStates Consumer Product Safety Commissions) Các điều kiện khảo sát theo tiêuchuẩn đã được kiểm tra lại và phương pháp đã được đánh giá kết quả thu được có
độ tin cậy cao So sánh kết quả thu được sau khi phân tích trên hai hệ máy, và cho
ra giá trị độ đúng của phương pháp
2.6.3 Phương pháp đối chiếu.
Mẫu thực sau khi được phân tích trên hệ HPLC, detector PDA thu được cácgiá trị hàm lượng của các phtalat, sau đó các kết quả này được so sánh với kết quả
Trang 30thu được khi phân tích trên hệ GC-MS theo tiêu chuẩn CPSC-CH-C1001-09.3 Hệthiết bị sắc ký khí khối phổ (GC/MS) của hãng Thermo với mã hiệu DSQ II với bộbơm mẫu tự động, cổng bơm chia dòng/không chia dòng, lò GC có thể lập trình, và
có khả năng kiểm soát ion chọn lọc, cột tách DB-5MS, 30m, 0,25 mm ID, 1,0 µm,các điều kiện cho quá trình chạy GC được thể hiện trong bảng 2.3
Bảng 2.3: Điều kiện chạy GC – MS phân tích phtalat.
Điều kiện cho GC
Tốc độ(oC/phút) Nhiệt độ
Thời gianduy trì nhiệt(phút)
Điều kiện cho MS
Trì hoãn dung môi: 6 phút
Trang 31Kết quả thu được, được so sánh với kết quả thu được khi phân tích trên hệHPLC Sử dụng chuẩn Student để đánh giá sự khác nhau có ý nghĩa giữa hai kếtquả thu được.
Trang 32CHƯƠNG III:
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN3.1 Tối ưu hóa các điều kiện chạy sắc ký.
3.1.1 Chọn van bơm mẫu.
Từ khi sắc kí lỏng ra đời thì phương pháp bơm mẫu theo kiểu xilanh khôngcòn phù hợp nữa, thay vào đó người ta sử dụng các van bơm mẫu để nạp chính xáclượng mẫu phân tích vào cột tách, để có thể bơm một thể tích mẫu chính xác với sai
số rất nhỏ (cỡ 0,05l) người ta sử dụng các vòng chứa mẫu với thể tích chính xác
Trên thực tế một trong những khó khăn của phép tách sắc ký là: sự doãngchân pic dẫn đến hiện tượng chồng pic, trong đó thể tích bơm mẫu vào cột cũng làmột nguyên nhân gây ra hiện tượng này; nếu vòng mẫu quá dài, lượng mẫu bơmvào cột quá lớn sẽ dẫn đến hiện tượng doãng pic càng lớn, các pic càng chèn lênnhau trong khi tách Đó là do lượng mẫu quá lớn sẽ dẫn đến hiện tượng một phầnmẫu vào cột tách trước, một phần ra sau dẫn đến trong quá trình tách trên cột sẽ cómột phần chất phân tích ra trước và một phần ra sau gây ra hiện tượng doãng chânpic Nếu thể tích bơm mẫu là quá nhỏ thì sai số cũng sẽ rất lớn, ví dụ nếu sai số củavan bơm mẫu là 0,05l, khi bơm thể tích mẫu là 1l thì sai số sẽ là 5%, còn nếu thểtích mẫu bơm là 50l thì sai số là 0,1%
Ngày nay, van bơm mẫu 6 chiều rất phổ biến, do đó, chúng tôi lựa chọn loạivan này và thể tích mẫu bơm là 50L
3.1.2 Chọn cột tách.
Cột tách có vai trò rất quan trọng trong một phép tách sắc ký, nó quyết địnhhiệu quả tách của quá trình Để chọn được một pha tĩnh hay một cột tách phù hợpnhất ta phải dựa trên những đặc điểm như: độ phân cực của chất phân tích, chấtphân tích được pha trong môi trường như thế nào, có pH ra sao thì mới quyết địnhchọn pha tĩnh phù hợp Chất phân tích được chọn là các este phtalat, không tantrong nước, được pha trong MeOH, ACN ,chất phân tích kém phân cực nên phải sử
Trang 33dụng pha tĩnh có bản chất kém phân cực giống như chất phân tích Vì vậy, cột phađảo RP-HPLC là lựa chọn tối ưu nhất Trong điều kiện phòng thí nghiệm, chúng tôi
đã lựa chọn cột tách Cadenza CD-C 18 (250 mm × 4,6 mm × 3 μm) để tách cácm) để tách cácphtalat và định lượng chúng Nhiệt độ cột 250C
3.1.3 Chọn detector.
Detector là một bộ phận có vai trò theo dõi, phát hiện các chất tan trong phađộng từ cột sắc ký chảy ra một cách liên tục, nó là một bộ phận thu nhận và pháthiện các chất hay hợp chất dựa theo một tính chất nào đó của chất phân tích Trênthực tế, hầu hết các chất nghiên cứu đều hấp thụ ánh sáng trong vùng tử ngoại UV –VIS, vì vậy detector UV – VIS thường được sử dụng nhiều nhất trong các nghiêncứu Hiện nay mảng diot–photo–array phát triển, chúng có vai trò như một deetector
UV – VIS, nhưng chúng có khả năng theo dõi chất ở nhiều bước sóng khác nhau ởcùng một thời điểm, và độ nhạy của nó cao hơn detector UV-VIS Tuy nhiên, dựavào điều kiện phòng thí nghiệm và mục tiêu của nghiên cứu, chúng tôi quyết địnhchọn detector PDA để phát hiện các chất phân tích
3.1.4 Chọn bước sóng hấp thụ cực đại của các este phtalat.
Trong nghiên cứu này chúng tôi lựa chọn nghiên cứu định lượng 08 phtalat.Chúng có cấu tạo rất giống nhau Chỉ khác nhau 2 nhóm R và R’ được thay bằngcác gốc rượu khác nhau, vì vậy bước sóng hấp thụ quang của các phtalat này đềugiống nhau, ở 225 nm Dải phổ hấp thụ của các phtalat này được quét trên detectorPDA từ 190 nm đến 300 nm, bước sóng 225 nm là đỉnh hấp thụ cực đại của cácphtalat Hình 3.1 cho thấy dạng phổ UV của các phtalat
Trang 34200.0 225.0 250.0 275.0 nm 0
250
500
mAU 3.91/ 1.00
Thành phần pha động ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tách chất Pha động có
thể ảnh hưởng tới những vấn đề sau của sự tách sắc ký của các chất:
Độ chọn lọc của hệ pha
Thời gian lưu giữ của chất tan
Hiệu lực cột tách (đại lượng Nef)
Độ phân giải của chất trong một pha tĩnh
Độ rộng của pic sắc ký
Pha động trong sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng tách có độ phân cực nhỏ
và trung bình thường chủ yếu là nước, có trộn với một số dung môi hữu cơ để thuđược dung dịch có độ phân cực từ thấp tới cao, phù hợp với quá trình tách
Các chất phân tích là các chất kém phân cực, pha tĩnh được chọn cũng là cộtpha ngược, kém phân cực, vậy pha động dùng để tách phải có độ phân cực vừa phảithì các chất mới có thể tách các phtalat
Chúng tôi đã nghiên cứu, thử nghiệm các hệ dung môi sau:
Hệ dung môi 1: MeOH-H2O
Trang 35 Hệ dung môi 2: ACN-H2O
Hệ dung môi 3: ACN-dung dịch đệm trietylamin 0,04% được chỉnh pH2,8 bằng dung dịch H3PO4 1M
3.1.5.1 Dung môi pha động là MeOH-H 2 O.
Đối với hệ dung môi này có rất nhiều chất bị trùng pic, gần như bị chập hoàntoàn và đường nền xấu Chúng tôi đã thử một số chế độ gradient thành phần phađộng để thay đổi khả năng tách, tuy nhiên sự tách vẫn chưa được cải thiện Địnhtính các phtalat bằng cách bơm 1 chất, sau đó thêm vào dung dịch 1 chất khác nữa
để xác định thời gian lưu của chất được thêm dưạ trên thời gian lưu đã biết của chấttrước Cứ như vậy khi thêm hết 08 phtalat và xác định được thời gian lưu của 08phtalat khi sử dụng hệ dung môi này Căn cứ theo tài liệu [15] ta có chỉ số độ phâncực của nước là 10,2 đơn vị, còn của MeOH là 5,1 đơn vị, từ đó ta tính được độphân cực của hệ dung môi đã chọn ứng với từng thời điểm trong quá trình chạy.Công thức tính độ phân cực như sau:
% 100
Bảng 3.1: Gradient định tính các phtalat với hệ MeOH-nước.
Thời gian ( phút) % MeOH Độ phân cực (PI)
Trang 36Thời gian lưu của các cấu tử ứng với chế độ gradient ở trên thể hiện trong bảng 3.2.
Bảng 3.2: Thời gian lưu của các cấu tử:
Các phtalat Thời gian lưu (phút) Nhận xét
Bảng 3.3: Các gradient thử nghiệm với pha động MeOH-Nước
%MeOH
3.1.5.2 Dung môi pha động là ACN-H 2 O.
Với hệ dung môi này, chúng tôi cũng xác định thời gian lưu của từng cấu tử,bằng cách bơm từng cấu tử vào hệ để xác định thời gian lưu ứng với từng chất
Thứ tự ra khỏi cột của 08 phtalat khảo sát là:
Trang 37Gradient 2
PI Gradient 3 PIT
(phút)
%ACN
T(phút)
%ACN
T(phút)
%ACN0,01 65 7,34 0,01 65 7,34 0,01 65 7,34
Bảng 3.5: Độ phân giải, thời gian lưu ứng với các gradient phân gi i, th i gian l u ng v i các gradient ải, thời gian lưu ứng với các gradient ời gian lưu ứng với các gradient ưu ứng với các gradient ứng với các gradient ới các gradient.
Độ phân giải R Gradient 1 Gradient 2 Gradient 3
BBP 0,140 12,88 0,220 14,61 0,123 14,44DBP 1,428 13,53 1,528 15,35 1,482 15,26DPP 0.963 15,40 0,260 18,32 0,690 17,66DCHP 1,581 16,08 1,608 19,27 1,553 18,33DHP 3,531 17,83 5,008 22,34 1,162 20,33
Trang 38Hình 3.2: Sắc ký đồ thể hiện 3 gradient đã khảo sát.
Nhận thấy khi sử dụng dung môi ACN-nước, đường nền rất xấu, pic củaDBP, DNOP, BBP có xu hướng bị kéo đuôi pic, khả năng tách kém Tác giả HyunJung Koo [17] đã thêm trietylamin vào trong pha động và điều chỉnh pH pha độngbằng dung dịch axit photphoric 1 mol/l tới pH 2,8 Các amin thường được thêm vàodung dịch pha động trong các trường hợp pic bị kéo đuôi Nguyên nhân của hiệntượng này là do trên bề mặt cột vẫn còn nhiều nhóm silanol –OH chưa bị silan hóa.Khi có mặt các tạp chất kim loại, nhất là các kim loại nặng, chúng sẽ liên kết và tạonhững phức phối trí trên bề mặt cột, làm hoạt hóa các nhóm silanol trên bề mặt cột
Do đó khi có chất phân tích đi qua cột, các nhóm hoạt hóa này làm cho các chấtkhông được rửa giải một cách dễ dàng và gây ra hiện tượng kéo đuôi pic[9] Vì vậy,chúng tôi cũng thêm một lượng trietylamin vào pha động, điều chỉnh pH của phađộng tới giá trị 2,8 bằng axit photphoric 1M Nồng độ của trietylamin và pH phađộng cũng được khảo sát
3.1.5.3 Dung môi pha động là ACN-trietylamin.
Trang 39Trước khi đi vào khảo sát cụ thể, thời gian lưu của từng cấu tử trong hỗn hợpcũng được khảo sát bằng cách bơm từng dung dịch chuẩn của các phtalat qua cột.Thời gian lưu và thứ tự ra khỏi cột các phtalat được trình bày ở bảng 3.6, với chế độchạy isocratic tỷ lệ %thể tích của ACN:pha nước chứa trietylamin là 88:12.
Bảng 3.6: Th i gian l u c a các c u t ng v i h dung môi 3: ời gian lưu ứng với các gradient ưu ứng với các gradient ủa các cấu tử ứng với hệ dung môi 3: ấu tử ứng với hệ dung môi 3: ử ứng với hệ dung môi 3: ứng với các gradient ới các gradient ệ dung môi 3:
Sắc ký đồ thể hiện thời gian lưu và thứ tự ra khỏi cột của các phtalat ứng với
hệ dung môi và chế độ chạy này được trình bày ở phụ lục 2
3.1.5.4 Khảo sát tỷ lệ thành phần ACN-trietylamin.
Chế độ chạy isocratic:
Hai tỷ lệ đẳng dòng được chọn là 88:12 và 95:5 %ACN:%pha nước chứatrieylamin (%v/v) Tốc độ dòng 1,0 ml/phút, nhiệt độ cột 250C Kết quả như trongbảng 3.7:
Bảng 3.7: K t qu phân tích c a 2 t l ACN: pha n ết quả phân tích của 2 tỷ lệ ACN: pha nước chứa ải, thời gian lưu ứng với các gradient ủa các cấu tử ứng với hệ dung môi 3: ỷ lệ ACN: pha nước chứa ệ dung môi 3: ưu ứng với các gradient.ới các gradient c ch a ứng với các gradient trietylamin.
Các phtalat %ACN:%đệm = 88/12 %ACN:%đệm = 95/5
Thời gian lưu (phút)
Độ phân giải R
Thời gian lưu (phút)
Độ phân giải R
Trang 40các pic dài hơn nhiều, độ phân giải tốt hơn tỷ lệ 95:5 Tuy nhiên vì thời gian lưu quádài dẫn đến các pic ra sau cùng như DEHP và DNOP bị tù, không nhọn và thời gianmột mẫu quá dài, vì vậy gây tốn dung môi và mất thời gian Trong khi với tỷ lệ95:5, độ phân giải cũng khá cao và thời gian lưu lại ngắn hơn Nhưng vì nếu chỉchạy đẳng dòng 1,0 ml/phút suốt quá trình, các pic rất gần nhau (nhất là đoạn đầugiữa các cặp DBP-BBP, DPP-DCHP), trong khi phân tích thực nghiệm nếu có lẫntạp chất sẽ rất khó phân tích chính xác được Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu thêmmột số quá trình chạy máy gradient để tối ưu quá điều kiện trên Hình 3.3 là sắc đồ
sự tách các phtalat khi thay đổi tỷ lệ 2 kênh của pha động