Hồ Núi Cốc là một hồ nhân tạo, có dung tích 176 triệu m3, là công trình thủy lợi quan trọng cung cấp nước tưới cho 12.000 ha đất sản xuất nông – lâm nghiệp, cấp nước cho công nghiệp và dân sinh 40 – 70 m3 năm, làm giảm lũ sông Công, phòng hộ, bảo vệ các công trình thủy lợi, có giá trị trong phòng hộ bảo vệ môi trường, làm đẹp cảnh quan, phục vụ du lịch sinh thái. Ngoài ra, tại Hồ Núi Cốc đang xây dựng trạm thủy điện công suất 2 MW. Trên hồ, còn có các đảo rừng xanh, góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc, bảo vệ đa dạng sinh học, tạo cảnh quan đẹp là cơ sở hình thành khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc.Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên với diện tích 3.453 hecta, nằm trên địa bàn 6 xã: Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ (huyện Đại Từ); Phúc Tân (huyện Phổ Yên); Phúc Xuân, Phúc Trìu (Thành phố Thái Nguyên), có vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ Hồ Núi Cốc, bảo vệ nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh của thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, là rừng phòng hộ bảo vệ lưu vực chính của Sông Công.Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc là rất cần thiết, nhằm bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu, duy trì cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan đẹp và bảo vệ đa dạng sinh học, … góp phần đảm bảo mục tiêu chung của Nhà nước là đến năm 2020 nâng diện tích rừng trên toàn quốc nên 16 triệu ha, với tỷ lệ che phủ là 47 %.Tuy nhiên, trong thời gian qua rừng đang bị tàn phá do sự quản lý thiếu chặt chẽ và khai thác quá mức của người dân. Công tác quản lý và bảo vệ rừng hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn nhân lực, tài chính và nhận thức của người dân… Chi trả dịch vụ môi trường rừng nói chung và dịch vụ cảnh quan nói riêng là cơ chế tài chính mới không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới. Với quan điểm những ai được hưởng lợi từ các dịch vụ rừng mang lại thì phải đóng phí trả cho người quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cơ chế này góp phần tăng thu nhập và tạo sức hút cho cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời đảm bảo tính công bằng trong vấn đề sử dụng tài nguyên.Nghị định 992010NĐCP có hiệu lực thi hành từ ngày 01012011 quy định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam.Trong đó, có quy định về chi trả dịch vụ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch.Tuy nhiên sau hơn 1 năm có hiệu lực thi hành, việc thực hiện chi trả dịch vụ cảnh quan nói riêng và chi trả dịch vụ môi trường nói chung còn gặp nhiều khó khăn, bất cập trong việc tổ chức thực hiện nghị định.Xuất phát từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc khu vự xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Trang 1Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Thị Đông, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ lãnh đạo Ban Quản lý Khu du lịch
Hồ Núi Cốc, Ban Quản lý rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc…đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình điều tra, thu thập tài liệu để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ và tạo mội điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2013
Sinh viên:
Nguyễn Hoàng Linh
Trang 2
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Biểu đồ sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ 15 Hình 2: Các tổ chức quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc 19 Hình 3: Biểu đồ mức sẵn lòng chi trả dịch vụ cảnh quan của các nhóm đối
tượng kinh doanh dịch vụ 34
Hình 4: Mô hình chi trả dịch vụ cảnh quan trực tiếp tại rừng phòng hộ Hồ
Núi Cốc, khu vực xã Tân Thái, huyện Đại Từ 40
Hình 5: Mô hình chi trả dịch vụ cảnh quan theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP
tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, khu vực xã Tân Thái, huyện Đại Từ 43
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Công tác giao đất giao rừng tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc 20 Bảng 2: Bảng thống kê các dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Hồ Núi
Cốc giai đoạn trước năm 2013 22
Bảng 3: Số tiền khách du lịch sẵn sàng trả cho dịch vụ cảnh quan 24 Bảng 4: Số tiền du khách sẵn lòng chi trả cho dịch vụ cảnh quan Hồ Núi Cốc
25
Bảng 5: Lợi nhuận năm 2012 và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của
nhóm đối tượng khách sạn, nhà nghỉ 26
Bảng 6: Tỷ lệ phần trăm phòng sử dụng tại các khách sạn 27 Bảng 7: Lợi nhuận của các nhóm đối tượng kinh doanh dịch vụ khách sạn,
nhà nghỉ, nhà khách, nhà trọ 28
Bảng 8: Khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của các loại hình kinh doanh của
nhóm đối tượng khách sạn, nhà nghỉ tại khu du lịch Hồ Núi Cốc 28
Bảng 9: Lợi nhuận năm 2012 và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của
nhóm đối tượng kinh doanh dịch vụ vận tải 29
Bảng 10: Khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của nhóm đối tượng kinh doanh
dịch vụ vui chơi giải trí 30
Bảng 11: Lợi nhuận năm 2012 và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của
nhóm đối tượng kinh doanh dịch vụ ăn uống 32
Bảng 12: Lợi nhuận năm 2012 và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của
nhóm đối tượng kinh doanh đồ lưu niệm 33
Bảng 13: Mức sẵn lòng chi trả dịch vụ cảnh quan của các nhóm đối tượng 34 Bảng 14: Sự sẵn lòng chi trả của các nhóm đối tượng 36 Bảng 15: Tổng số tiền sẵn lòng chi trả dịch vụ cảnh quan Hồ Núi Cốc của các
nhóm đối tượng 37
Bảng 16: Số tiền các tổ chức quản lý rừng và người dân trồng rừng nhận
Trang 4Bảng 17: Số tiền chi trả dịch vụ cảnh quan phân chia theo chủ sở hữu trên địa
bàn xã Tân Thái, huyện Đại Từ 38
Bảng 18: Số tiền các tổ chức quản lý rừng và người dân trồng rừng nhận
được từ chi trả dịch vụ cảnh quan 45
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu .10
1.2 Tổng quan rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc 13
CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 2.1 Phạm vi nghiên cứu .16
2.2 Đối tượng nghiên cứu .16
2.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 16
2.3.1 Ý nghĩa khoa học: 16
2.3.2 Ý nghĩa thực tiễn: 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu .16
2.4.1 Phương pháp điều tra xã hội học 16
2.4.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM): 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc 19
3.1.1 Công tác giao đất, giao rừng 19
3.1.2 Công tác quản lý bảo vệ rừng 20
3.1.3 Hoạt động các dự án lâm nghiệp 21
3.1.4 Đánh giá chung các hoạt động sản xuất lâm nghiệp 22
3.2 Xác định các đối tượng hưởng lợi và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan từ các nhóm đối tượng này tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc .24
3.2.1 Việc sẵn lòng chi trả một phần cho dịch vụ hệ sinh thái của khách du lịch khi đến với Hồ Núi Cốc 24
3.2.2 Việc sẵn lòng chi trả dịch vụ cảnh quan từ nhóm đối tượng kinh doanh khách sạn, nhà hàng, dịch vụ: 25 3.3 Thiết lập mô hình chi trả dịch vụ cảnh quan giữa nhóm người hưởng lợi và
Trang 63.3.1 Tổng số tiền sẵn lòng chi trả dịch vụ cảnh quan Hồ Núi Cốc của các nhóm
đối tượng 36
3.3.2 Mô hình chi trả dịch vụ cảnh quan 37
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 46
1 Kết luận 46
2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 1: 50
PHIẾU ĐIỀU TRA 50
PHỤ LỤC 2: 52
PHIẾU ĐIỀU TRA 52
PHỤ LỤC 3: 54
Hiện trạng phòng buồng các cơ sở lưu trú trong Khu du lịch 54
Hồ Núi Cốc 54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hồ Núi Cốc là một hồ nhân tạo, có dung tích 176 triệu m3, là công trình thủy lợi quan trọng cung cấp nước tưới cho 12.000 ha đất sản xuất nông – lâm nghiệp, cấp nước cho công nghiệp và dân sinh 40 – 70 m3/ năm, làm giảm lũ sông Công, phòng hộ, bảo vệ các công trình thủy lợi, có giá trị trong phòng hộ bảo vệ môi trường, làm đẹp cảnh quan, phục vụ du lịch sinh thái Ngoài ra, tại Hồ Núi Cốc đang xây dựng trạm thủy điện công suất 2 MW Trên hồ, còn có các đảo rừng xanh, góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị lịch
sử, văn hóa dân tộc, bảo vệ đa dạng sinh học, tạo cảnh quan đẹp là cơ sở hình thành khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc
Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên với diện tích 3.453 hecta, nằm trên địa bàn 6 xã: Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ (huyện Đại Từ); Phúc Tân (huyện Phổ Yên); Phúc Xuân, Phúc Trìu (Thành phố Thái Nguyên), có vai trò quan trọng trong việc duy trì và bảo vệ Hồ Núi Cốc, bảo vệ nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh của thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, là rừng phòng hộ bảo vệ lưu vực chính của Sông Công
Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc là rất cần thiết, nhằm bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu, duy trì cân bằng sinh thái, tạo cảnh quan đẹp và bảo vệ đa dạng sinh học, góp phần đảm bảo mục tiêu chung của Nhà nước là đến năm 2020 nâng diện tích rừng trên toàn quốc nên 16 triệu ha, với tỷ lệ che phủ là 47
Tuy nhiên, trong thời gian qua rừng đang bị tàn phá do sự quản lý thiếu
ch t ch và khai thác quá mức của người dân Công tác quản lý và bảo vệ rừng hiện nay còn g p nhiều khó khăn do hạn chế về nguồn nhân lực, tài chính và nhận thức của người dân
Trang 8Chi trả dịch vụ môi trường rừng nói chung và dịch vụ cảnh quan nói riêng là cơ chế tài chính mới không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới Với quan điểm những ai được hưởng lợi từ các dịch vụ rừng mang lại thì phải đóng phí trả cho người quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Cơ chế này góp phần tăng thu nhập và tạo sức hút cho cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ
và phát triển rừng, đồng thời đảm bảo tính công bằng trong vấn đề sử dụng tài nguyên
Nghị định 99/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 quy định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam Trong
đó, có quy định về chi trả dịch vụ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch Tuy nhiên sau hơn
1 năm có hiệu lực thi hành, việc thực hiện chi trả dịch vụ cảnh quan nói riêng
và chi trả dịch vụ môi trường nói chung còn g p nhiều khó khăn, bất cập trong việc tổ chức thực hiện nghị định
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài n u
n n tr v n qu n tạ rừn p òn ộ Hồ ú Cố u vự xã Tân Thái, uyện Đạ Từ, t n T uy n
2 M t u n n u
Đánh giá khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan tại rừng phòng hộ Hồ
Núi Cốc, khu vực xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Xây dựng mô hình chi trả dịch vụ cảnh quan tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, khu vực xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
3 ộ un n n u
3.1 Điều tra hiện trạng, tình hình giao khoán, quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ
Hồ Núi Cốc (xã Tân Thái, huyện Đại Từ), xác định các nhóm đối tượng tham gia quản lý và bảo vệ rừng
3.2 Xác định các đối tượng hưởng lợi và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan
từ các nhóm đối tượng này tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
Trang 93.3 Đánh giá lợi ích và cách thức chi trả các chương trình bảo vệ rừng của Nhà nước và lợi ích từ chi trả dịch vụ cảnh quan
3.4 Thiết lập mô hình chi trả dịch vụ môi trường từ nhóm người hưởng lợi và nhóm người bảo vệ
4 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài nghiên
cứu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận, kiến nghị
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chi trả dịch vụ cảnh quan thường bao gồm chi trả phí tạo lập và bảo vệ cảnh quan, chi trả phí vào cửa các khu vực bảo tồn để tạo nguồn quỹ bảo tồn thông qua du lịch; và du lịch dựa vào cộng đồng (CBT) như là cơ chế chi trả dịch vụ sinh thái (Payment Eco System – PES) cho cả vẻ đẹp cảnh quan lẫn
Vì vậy, từ năm 2005 một số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 USD cho mỗi ha đất của các chủ đất địa phương và trả 7 trong tổng số chi phí hành chính của mô hình chi trả dịch vụ môi trường Tuy nhiên, ở Costa Rica, vẫn chưa có một cơ chế được thừa nhận chung, dựa vào lợi ích của người được chi trả trực tiếp từ vẻ đẹp cảnh quan và bảo tồn đa dạng sinh học” [2], [5]
Du lịch dựa vào cộng đồng (CBT) là một dạng cơ chế kiểu PES” khác, một nghiên cứu tại Tan-za-ni-a nhằm thiết lập chi trả dịch vụ môi trường, trong đó một nhóm 5 công ty du lịch đã cùng nhau làm hợp đồng với một làng nằm trong khu vực đồng cỏ ở địa phương để bảo vệ các loài hoang dã chủ yếu
thông qua chi trả tài chính hàng năm [6]
Tuy nhiên, các mô hình nghiên cứu về chi trả dịch vụ cảnh quan trên thế giới hiện nay phần lớp đều g p phải vấn đề về cơ chế giám sát, phân chia lợi ích và đánh giá hiệu quả mô hình
Trang 11Việt Nam đã có một số hoạt động chi trả cho người dân để trồng và bảo
vệ rừng từ nhiều năm nay, trong các chương trình của chính phủ như chương trình 327 vào giữa những năm 90, tiếp đó là chương trình 661 từ năm 1998 đến 2010
Các bài học từ ngành lâm nghiệp ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua (Chương trình 327 và 661) cho thấy rằng mức chi trả giống nhau cho các chủ rừng dường như chỉ thành công trong việc trồng rừng nhưng không dẫn đến thay đổi trong việc bảo vệ và sử dụng rừng Thực trạng phá rừng và suy thoái vẫn còn xảy ra, đ c biệt trong rừng tự nhiên Do đó "thực tiễn tốt" cho bảo vệ rừng dường như phụ thuộc vào nhiều yếu tố hơn là mức chi trả
Trong năm 2008 Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thử nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008, tại tỉnh Sơn La và Lâm Đồng Trên cơ sở thành công của dự án thí điểm, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng trên toàn quốc bắt đầu từ tháng 1 năm 2011
Nghị định 99/2010/NĐ-CP tạo ra cơ sở pháp lý cho các tỉnh để đề nghị các nhà máy thủy điện, công ty cung cấp nước sạch và các đơn vị kinh doanh
du lịch chi trả một phần nhất định từ doanh thu của họ cho bên cung cấp dịch
vụ môi trường Ví dụ về bên cung cấp dịch vụ môi trường như các chủ sử dụng đất và những người bảo vệ rừng Các dịch vụ môi trường quy định trong chính sách này rất rõ ràng là cung cấp nước”, vẻ đẹp cảnh quan”, lâm sản”, nguồn gen”, đa dạng sinh học”, và chống xói mòn và lũ lụt” Mức chi trả đ t ra là 20 đồng/ KWh điện thương phẩm của các công ty thủy điện, 40 đồng/ m3
nước thương phẩm của các công ty cấp nước và khoảng
1-2 tổng doanh thu của những người hưởng lợi từ rừng ho c những người tác động đến rừng Mức cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định [4]
Trang 12Chi trả dịch vụ môi trường từ ngành du lịch là một vấn đề mới không chỉ đối với Việt Nam mà cả trên thế giới Vì thế, kinh nghiệm xác định ngành dịch vụ nào phải chi trả ho c không phải chi trả cũng còn rất thiếu liên quan đến chi trả dịch vụ vẻ đẹp cảnh quan, Điều 7 của Nghị định 99 đã nêu rõ: Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệcảnh quan tự nhiên và bảo tồn
đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch”
Theo Điều 11 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định đối tượng phải chi trả bao gồm các tổ chức, cá nhân kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Như vậy Nghị định 99 đã quy định rõ việc chi trả của những đối tượng hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng nhưng không đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể để xác định những đối tượng này Dù sao đây cũng là cơ sở yêu cầu các công ty tham gia vào lĩnh vực du lịch phải chi trả
Một số lưu ý từ tổng quan kinh nghiệm trong nước và quốc tế: Quan điểm về cung cấp dịch vụ môi trường từ các loại rừng và các hình thức sử dụng đất là khác nhau giữa các bên liên quan khác nhau Bên cạnh đó, việc theo dõi đánh giá hiệu quả của cơ chế chi trả còn có nhiều hạn chế do nhiều lý
do, ví dụ như phương pháp hay kinh phí đòi hỏi quá nhiều, dẫn đến chi phí cao và hiệu quả thấp Chi trả dịch vụ môi trường quyết định bởi tầm quan trọng của việc hiểu và kết hợp ba hệ thống kiến thức: kiến thức địa phương, kiến thức phổ thông/chính sách và kiến thức khoa học trong quá trình xây dựng cơ chế đền đáp ho c chi trả dịch vụ môi trường Điều quan trọng là các bên liên quan thống nhất rằng mục tiêu đề ra đối với các dịch vụ môi trường như chất lượng và khối lượng nước, tích lũy carbon, đa dạng sinh học) là thực
tế và có thể đạt được thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường
Trang 13Các dự án về chi trả dịch vụ môi trường rừng, đ c biệt là chi trả cảnh quan tại Việt Nam, hiện đang có những dấu hiệu khởi sắc, như dự án chi trả dịch vụ môi trường tại Ba Bể, Bắc Kạn do ICRAF tài trợ, và Phong Nha –Kẻ Bàng tại Quảng Bình do GIZ tài trợ Điều này, hứa hẹn một nguồn tài chính mới cho công tác bảo vệ cảnh quan môi trường
1.2 Tổng quan rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc
Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.453 ha, nằm trên địa bàn 6 xã: Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ (huyện Đại Từ); Phúc Tân (huyện Phổ Yên); Phúc Xuân, Phúc Trìu (Thành phố Thái Nguyên)
- Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc có tọa độ địa lý:
+ Từ 21034’ đến 21045’ vĩ độ Bắc
+ Từ 105046’ đến 105055’ kinh độ Đông
- Ranh giới:
+ Phía Bắc giáp xã Hà Thượng, Hùng Sơn, huyện Đại Từ
+ Phía Nam giáp xã Phúc Thuận, huyên Phổ Yên
+ Phía Đông giáp xã Phúc Hà, Tân Cương, thành phố Thái Nguyên + Phía Tây giáp xã Bình Thuận, Văn Yên, Ký Phú, Cát Nê (Đại Từ)
- Địa hình:
Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc có địa hình khá đơn giản, phía Tây là chân núi Tam Đảo từ 300m trở xuống, phía Đông là đường phân thủy trên dãy núi phân cách xã Tân Thái – Cù Vân, giữa khu vực là dãy núi Thằn Lằn chạy
song song với Hồ Núi Cốc
Trong khu cực chỉ có vài đỉnh núi cao không quá 400m, còn lại chủ yếu
là núi thấp và đồi bát úp có độ cao trung bình 150 – 200m, độ dốc từ 15- 250
,
có thể chia thành các kiểu địa hình như: kiểu địa hình núi thấp, kiểu địa hình đồi bát úp, kiểu địa hình thung lũng
Trang 14- Khí hậu
Khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc có nền chung của khí hậu vùng núi miền Bắc Việt Nam, đ c trưng cơ bản của nền khí hậu này là có mùa đông lạnh, ít mưa và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ không khí bình quân năm là 22,50C, lượng mưa trung bình năm
là 1750mm, độ ẩm không khí trung bình 80
- Cảnh quan
Hồ Núi Cốc rộng khoảng 25 km2, gồm nhiều đảo và bán đảo, không khí trong lành, mát mẻ, xung quanh hồ là những đồi chè, dãy núi, rừng cây giúp cho nơi đây trở thành một điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Thái Nguyên, trong tương lai là thị xã năng động, phát triển du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, nghỉ dưỡng, nghỉ ngơi cuối tuần, vui chơi giải trí
- Kinh tế, xã hội
Khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc có 5 dân tộc chính sinh sống là Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Hoa với 5888 hộ gia đình, tổng dân số là 24.481 người, mật độ dân số là 305 người/ km2 Thu nhập bình quân là 4 triệu đồng/ người/ năm Tỷ lệ hộ nghèo là 25,8 theo chuẩn mới
- Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
Căn cứ vào kết quả xác lập khu rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc (theo Quyết định số 3467/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 4.714 ha, chiếm 41,8 diện tích tự nhiên, trong đó:
- Diện tích rừng phòng hộ: 3.453 ha, chiếm 73,2 đất lâm nghiệp
+ Diện tích đất có rừng là 3.206,7 ha, chiếm 92,9 diện tích rừng phòng hộ
Diện tích rừng tự nhiên: 310,6 ha, chiếm 9 diện tích rừng phòng hộ
Diện tích rừng trồng: 2.896,1 ha, chiếm 83,9 diện tích rừng phòng hộ + Diện tích đất chưa có rừng là 246,3 ha, chiếm 7,1
Trang 15- Diện tích rừng sản xuất: 1.261 ha, chiếm 26,8 đất lâm nghiệp
- Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp ở xã Tân Thái, huyện Đại Từ
Diện tích đất lâm nghiệp xã Tân Thái là 740 ha, hoàn toàn là diện tích rừng phòng hộ
+ Diện tích có rừng là 678.6 ha (rừng tự nhiên 113.7 ha, rừng trồng 564.9 ha) + Diện tích chƣa rừng là 61.4 ha [1, 3]
Hình 1: Biểu đồ sử dụng đất lâm nghiệp tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ
92%
8%
Diện tích có rừng Diện tích chƣa có rừng
Trang 16CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu tại xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng chi trả giá trị cảnh quan tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
2.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
mà hoạt động về chi trả dịch vụ cảnh quan đem lại Đồng thời cũng đóng góp một nguồn tài chính đáng kể giúp người dân nghèo và tạo ra sự công bằng giữa nhóm người hưởng lợi và nhóm người bảo vệ chăm sóc rừng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 17lý khu du lịch Hồ Núi Cốc, Công ty Cổ phần khách sạn du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc và nhóm các cơ sở kinh doanh khách sạn, nhà hàng, dịch vụ khác
a) Phỏng vấn ngẫu nhiên (người dân trồng và bảo vệ rừng, cơ sở kinh doanh)
Phỏng vấn ngẫu nhiên (phỏng vấn bán cấu trúc) là phương pháp thu thập thông tin thực tế thông qua những câu hỏi được chuẩn bị sẵn, người trả lời được trả lời theo câu hỏi đã cho và những câu hỏi thêm kèm theo, để hỏi người dân về cách thức quản lý bảo vệ rừng, các nguồn lợi thu được khi họ tham gia bảo vệ rừng Hỏi khách du lịch, chủ nhà hàng, công ty du lịch về khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan, các khoản thuế, phí liên quan đến dịch vụ
môi trường mà các nhóm đối tượng này phải đóng góp Với số lượng phiếu
điều tra là 43 phiếu đối với 43 cơ sở kinh doanh trong tổng số 87 cơ sở kinh doanh trên địa bàn xã Tân Thái, huyện Đại Từ
b) Phỏng vấn chính thức (Đối với Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, Ban quản lý khu du lịch Hồ Núi Cốc, Công ty Cổ phần khách sạn du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc)
Phỏng vấn chính thức hay phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin trực tiếp thông qua giao tiếp thông tin giữa nhà khoa học với đối tượng nghiên cứu theo một kế hoạch đã vạch sẵn với những nội dung đã chuẩn bị trước, ý kiến trả lời được ghi chép lại Phỏng vấn chính thức với ưu điểm là tính linh hoạt, tính chính xác và tính thuận lợi cao
Phỏng vấn chính thức đối với Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
để tìm hiểu về công tác giao đất, giao rừng, công tác quản lý, bảo vệ rừng từ trước đến nay tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc Tìm hiểu về các dự án hoạt động lâm nghiệp từ trước đến nay là các dự án chuẩn bị triển khai tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc Tìm hiểu về tình hình triển khai Nghị định 99/2010/NĐ-CP tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc các dự tính của Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc khi triển khai áp dụng Nghị định 99/2010/NĐ-CP
Phỏng vấn chính thức đối với Ban quản lý khu du lịch Hồ Núi Cốc,
Trang 18tình hình du lịch, lượng khách du lịch, diễn biến phát triển du lịch tại khu vực
xã Tân Thái, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.4.2 Phươn p p đ n n ẫu n n (CVM):
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên được sử dụng để đánh giá hàng hoá, chất lượng môi trường bằng cách xây dựng một thị trường ảo thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (WTP) ho c sự sẵn lòng chấp nhận (WTA) đ t
ra trong một tình huống giả định CVM được áp dụng cho rất nhiều yếu tố môi trường như giá trị cảnh quan, giá trị giải trí của bãi biển, bảo tồn các loài động vật hoang dã Chất lượng một nghiên cứu CVM phụ thuộc vào chất lượng của cả quá trình tiến hành Sau khi thu thập xong tất cả thông tin cần thiết bằng bảng hỏi liên quan đến WTP/WTA cùng với hệ số ảnh hưởng đến mức giá được xác định, từ đó có thể tính được tổng giá trị kinh tế của khu vực
Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế cơ bản Thứ nhất, người trả lời được đ t vào một tình huống giả định Trong tình trạng vội vàng
ho c hiểu vấn đề sai lệch thì kết quả trả lời không sát với hành vi tương ứng của họ Thứ hai, những người phỏng vấn có thể diễn đạt tình huống khác nhau, cách tiếp cận đối với người trả lời khác nhau đều có thể gây ra sai số đáng kể Những khác biệt này có ảnh hưởng không nhỏ tới giá trình trung bình được tổng hợp sau này
Trang 19CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Công tác quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
3.1.1 Côn t o đất, o rừn
Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc hiện tại được phân theo chủ quản lý như sau:
- BQL rừng phòng hộ HNC: 2.395,4 ha chiếm 69,37
- Hộ gia đình của các xã: 999,39 ha, chiếm 28,94
Các tổ chức khác (Ban quản lý các dự án khu du lịch Hồ Núi Cốc, Công
ty Cổ phần khách sạn du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc, Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội Thái Nguyên) quản lý 58,2 ha, chiếm 1,69 [1, 3]
Hình 2: Các tổ chức quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
Công tác giao đất, giao rừng:
- Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc được giao quản lý diện tích rừng và đất rừng là 2.395,4 ha, chiếm 69,37 Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- 1.224 hộ gia đình được giao 999,39 ha, trong đó:
+ Diện tích đã được cấp sổ đỏ là 115,31 ha, thuộc 73 hộ, trong đó xã Tân Thái có 68 hộ với diện tích 110,81 ha
+ Còn lại 884,08 ha, thuộc 1.151 hộ mới được cấp bìa xanh
2.395,40 999,39
58,2
BQL rừng phòng hộ HNC
Các hộ gia đình Các tổ chức khác
Trang 20Bảng 1: Công tác giao đất giao rừng tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
Tên nhóm đối tƣợng Số lƣợng
Diện tích đất rừng quản lý bảo vệ (ha)
Trung tâm chữa bệnh giáo
dục lao động xã hội Thái
Nguyên
(Nguồn: Báo cáo thuyết minh dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ bảo
vệ môi trường Hồ Núi Cốc, giai đoạn 2011-2020; tháng 10 năm 2012, Ban
quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc)
3.1.2 Công tác qu n lý b o vệ rừn
Từ năm 2006 đến năm 2011:
- Bảo vệ đƣợc 5.228,7 ha, đây là diện tích rừng trồng hết tuổi chăm sóc
đã đƣợc đƣa vào bảo vệ
- Khoanh nuôi bảo vệ rừng: khoanh nuôi đƣợc 601,1 ha
Trang 21- Về lâm sinh: Bảo vệ 2.190 ha, khoanh nuôi 234 ha, trồng mới 1.506 ha
- Xây dựng cơ sở hạ tầng: mở 5km đường lâm nghiệp
- Tổng vốn đầu tư 3.374 triệu đồng [1, 3]
- Đánh giá: đẩy nhanh tốc độ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ của rừng, tạo môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai, điều hòa nguồn nước, bước đầu phát huy hiệu quả của rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế của rừng không cao, đời sống người dân tham gia trồng rừng còn g p nhiều khó khăn do nguồn vốn không nhiều, tính ra chưa đến 100.000 đồng/ ha Điều này dẫn tới việc người dân ch t phá rừng ho c bỏ trồng rừng
đi làm kinh tế
b) Dự án 661 (1999 – 2011)
- Về lâm sinh: Bảo vệ 5.530 ha, khoanh nuôi 932 ha, trồng mới 4.434 ha
- Xây dựng cơ sở hạ tầng: 1 vườn ươm công suất 200.000 cây giống/ năm
- Tổng vốn đầu tư của dự án là 2.285,329 triệu đồng
- Tính trung bình, dự án 661 đã đầu tư 15 triệu đồng/ha (10 triệu đồng cho cây giống, kỹ thuật trồng, 5 triệu đồng cho việc chăm sóc) [1, 3]
- Đánh giá: Với mức đầu tư bình quân 4 triệu đồng/ ha/ năm, dự án 661 đã góp phần tạo việc làm ổn định cho người dân, góp phần thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
Vốn đầu tư đã tập trung, Nhà nước đã có cơ chế, chính sách hưởng lợi cho người dân tham gia dự án, do đó nâng cao trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng Tuy nhiên, vốn đầu tư cho lâm sinh còn ít, chưa đáp ứng được kịp thời,
Trang 22c) Dự án bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc năm 2012 (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn):
- Chi trả trên diện tích 870 ha
- Chi trả 200.000 đồng/ ha/ năm Riêng với những khu vực đ c biệt là 400.000 đồng/ ha/ năm
- Chi phí cho công tác quản lý bảo vệ rừng là 195,8 triệu đồng
- Chi phí cho công tác quản lý dự án là 15,2 triệu đồng [1, 3]
Bảng 2: Bảng thống kê các dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ Hồ Núi
Cốc giai đoạn trước năm 2013
Bảo vệ 2.190 ha Khoanh nuôi 234 ha Trồng mới 1.506 ha
3.374 triệu đồng
Bảo vệ 5.530 ha Khoanh nuôi 932 ha Trồng mới 4.434 ha
2.285,329 triệu đồng
(Nguồn: Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc)
3.1.4 Đ n un oạt độn s n xuất lâm n ệp
a) Thành tựu:
- Đã cơ bản thoát khỏi tình trạng suy thoái rừng và bước vào giai đoạn phục hồi rừng, rừng đã được bảo vệ, công tác trồng rừng không ngừng phát triển, môi trường sinh thái được cải thiện
- Độ che phủ rừng năm 2000 là 32,41 đến nay đạt 39,59%
Trang 23- Thông qua công tác tuyên truyền vận động và thực hiện các dự án mà nhận thức của người dân đã nâng lên rõ rệt
- Các chương trình trồng rừng, bảo vệ khoanh nuôi rừng đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, phụ thuộc vào thiên nhiên, có rủi
ro lớn, lợi nhuận thấp Kinh phí đầu tư còn hạn chế (mang tính hỗ trợ) Đời sống của nhân dân sống trong rừng, gần rừng còn g p nhiều khó khăn, không
có khả năng đầu tư vốn cho trồng rừng
- Đất lâm nghiệp thường bị chuyển đổi do nhu cầu phát triển của các ngành khác và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Người dân tuy đã nhận thức được tác dụng của rừng nhưng chưa nhận thức được đầy đủ vai trò, vị trí, ý nghĩa của rừng đối với phòng hộ môi trường sinh thái, phát triển du lịch và phát triển kinh tế xã hội bền vững
- Sự phối hợp giữa các sở, ban ngành và chính quyền địa phương vào công tác bảo vệ và phát triển rừng còn chưa ch t ch và đồng bộ
Trang 243.2 Xác định các đối tượng hưởng lợi và khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan từ các nhóm đối tượng này tại rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc
3.2.1 V ệ sẵn lòn tr một p ần o v ệ s n t ủ u
l đến vớ Hồ ú Cố
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học Lượng giá dịch vụ hệ sinh thái khu du lịch Hồ Núi Cốc, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên”, khi hỏi khách du lịch về việc có sẵn lòng trả thêm một số tiền cho
dịch vụ hệ sinh thái tại khu du lịch hay không? Có 12 khách du lịch không đồng ý với những lý do như số tiền chi trả cho chuyến đi này là nhiều, không nhất thiết phải trả hay e sợ số tiền này s được sử dụng không đúng mục đích Bên cạnh đó, có 88 khách du lịch được hỏi khẳng định rằng họ s sẵn lòng chi trả thêm một số tiền nhất định cho dịch vụ hệ sinh thái tại khu du lịch kèm theo tiền giá vé với mong muốn số tiền này s được sử dụng đúng mục đích Theo tính toán, số tiền trung bình mà khách du lịch đồng ý trả thêm cho dịch vụ hệ sinh thái khu du lịch Hồ Núi Cốc là 8,000 đồng
Bảng 3: Số tiền khách du lịch sẵn sàng trả cho dịch vụ cảnh quan
Số tiền khách du lịch
sẵn lòng trả thêm
Số phiếu điều tra Tỷ lệ
Số tiền trung bình
(Nguồn: Lượng giá dịch vụ hệ sinh thái khu du lịch Hồ Núi Cốc, huyện Đại
từ, tỉnh Thái Nguyên”, Nguyễn Hoàng Linh, 2012
Trên cơ sở số liệu điều tra, tác giả đã xác định được tổng tiền du khách sẵn lòng trả trong năm 2012 (T) theo công thức: T = N* P
Trang 25Trong đó: N là số lƣợt khách du lịch năm 2012
P là số tiền trung bình du khách sẵn lòng trả (đồng)
Kết quả đƣợc trình bày tại bảng 4, với số tiền du khách sẵn lòng trả
trong năm 2012 lên tới 2.182.400.000 đồng
Bảng 4: Số tiền du khách sẵn lòng chi trả cho dịch vụ cảnh quan Hồ Núi Cốc Tổng số lượt
khách du lịch
năm 2012
Số tiền du khách sẵn lòng chi trả trung bình (đồng
Tổng số tiền
du khách sẵn lòng trả trong năm 2012
(đồng
Số tiền du khách sẵn lòng trả tính trung bình theo tháng
(đồng
(Nguồn: Lượng giá dịch vụ hệ sinh thái khu du lịch Hồ Núi Cốc, huyện Đại
từ, tỉnh Thái Nguyên”, Nguyễn Hoàng Linh, 2012)
Đây cũng là cơ sở để Ban quản lý khu du lịch nâng giá vé, cung cấp nguồn kinh phí cho công tác duy trì và bảo vệ cảnh quan khu du lịch Hồ Núi
Cốc
3.2.2 V ệ sẵn lòn tr v n qu n từ n óm đố tượn kinh doanh sạn, n à àn , v :
Khi nghiên cứu về khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan của các nhóm đối tƣợng kinh doanh khách sạn, nhà hàng, dịch vụ, khó khăn lớn nhất đối với tác giả là một số chủ cơ sở kinh doanh không muốn trả lời, không muốn tiết
lộ doanh thu, lợi nhuận, tâm lý không muốn chi trả của chủ cơ sở kinh doanh
Sở dĩ có hiện tƣợng này là do các cơ sở kinh doanh chƣa có sự hiểu biết đầy
đủ về chi trả dịch vụ cảnh quan
Tuy nhiên, sau khi đƣợc giải thích về lợi ích của việc bảo vệ rừng phòng hộ, bảo vệ cảnh quan và chi trả dịch vụ cảnh quan, các cơ sở kinh doanh đã sẵn lòng trả một khoản tiền nhất định cho chi trả dịch vụ cảnh quan tại Hồ Núi Cốc
Trang 26Khả năng chi trả dịch
vụ cảnh quan (% lợi nhuận)
Khả năng chi trả dịch vụ cảnh quan (đồng/ năm)
Dựa vào số liệu điều tra, việc sẵn lòng chi trả dịch vụ cảnh quan của các khách sạn trong khu du lịch Hồ Núi Cốc trung bình là 0,78% lợi nhuận của các khách sạn
Với các khách sạn thuộc Công ty Cổ phần Khách sạn du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc, có 2 mức giá phòng đƣợc đƣa ra là 500.000 đồng/ ngày đêm và 300.000 đồng/ ngày đêm, tác giả chọn mức giá phòng trung bình ở đây là 400.000 đồng/ ngày đêm Từ mức giá phòng, doanh thu thực tế năm của các khách sạn thuộc Công ty Cổ phần Khách sạn du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc, tác giả xác định đƣợc tỷ lệ phần trăm số phòng sử dụng trong năm
2012 của các khách sạn bằng công thức:
Doanh thu dự kiến = Số phòng * Giá phòng * 365 ngày
Tỷ lệ phần trăm phòng = (Doanh thu thực tế / Doanh thu dự kiến) * 100%
Trang 27Doanh thu năm dự kiến (triệu đồng)
Doanh thu năm thực
tế (triệu đồng)
Tỷ lệ phần trăm phòng
Theo tính toán, tác giả đã xác định đƣợc tỷ lệ phần trăm phòng sử dụng trong năm 2012 là 25 Thêm vào đó, Công ty Cổ phần khách sạn du lịch Công đoàn Hồ Núi Cốc, nhà nghỉ Hà Thái cho biết rằng lợi nhuận của các khách sạn, nhà nghỉ thuộc hai đơn vị này là khoảng 20 doanh thu Do g p khó khăn trong việc điều tra các thông tin liên quan đến lợi nhuận của các đơn
vị kinh doanh, tác giả lấy mức lợi nhuận bằng 20 doanh thu của đơn vị kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, nhà khách, nhà trọ
Từ đây, tác giả tính đƣợc lợi nhuận các nhóm đối tƣợng nhà nghỉ, nhà khách, nhà trọ trên địa bàn xã Tân Thái, huyện Đại Từ bằng công thức lƣợng giá sau:
Lợi nhuận = Số phòng * Giá phòng trung bình * 365 ngày * Tỷ lệ sử dụng
phòng * Tỷ lệ lợi nhuận