Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là nhiệm vụ rất quan trọng. Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” 7, tr.19. Như vậy, quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở hệ thống chính trị có được đổi mới và hoàn thiện hay không. Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ cơ sở. Tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (9 2006) đặc biệt coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn). Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị. Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở và sự đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nói chung. Cơ sở (xã, phường, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ sở thuộc khu vực nông thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta. Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn Kon Tum trong thời gian qua đang tiếp tục được củng cố, hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự. Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bức xúc đã và đang đặt ra bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum còn bộc lộ nhiều yếu kém như: hệ thống tổ chức vẫn chưa ổn định; mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị ở đây còn nhiều bất cập; các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức và phương thức hoạt động. chưa ngang tầm với yêu cầu thực tiễn hiện nay. Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tình hình đó phải được khắc phục, phải được giải quyết. Việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết để đảm bảo sự ổn định, phát triển lâu bền của nông thôn KonTum đi lên CNXH hoà nhập chung với tiến trình phát triển của đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay” dưới góc nhìn của Chính trị học là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị học chuyên ngành Chính trị học.
Trang 11 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới hệ thống chính trị là
nhiệm vụ rất quan trọng Nhiệm vụ hệ trọng đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991: “Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm
quyền lực thuộc về nhân dân” [7, tr.I9] Như vậy, quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở hệ thống chính trị có được đổi mới và hoàn thiện hay không Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm
củng cố cơ sở xã hội của chính trị, để cao các sáng kiến và tính chủ động từ cơ
sở Tỉnh thân nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lân thứ X (9- 2006) đặc biệt
coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị
trấn) Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới hệ thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở và sự đổi
mới hệ thống chính trị cấp cơ sở có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nói chung
Cơ sở (xã, phường, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu, chiếm tới 85%
trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ
sở thuộc khu vực nông thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn Kon Tum trong
thời gian qua đang tiếp tục được củng cố, hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự Tuy nhiên trong những năm gần đây, vấn đề bức xúc đã và đang đặt ra bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum còn bộc lộ nhiều yếu kém như: hệ thống tổ chức vẫn chưa ổn định; mối quan hệ giữa các bộ
Trang 2với yêu cầu thực tiễn hiện nay
Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tình hình đó phải được khắc phục, phải được giải quyết Việc đổi mới,
hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum
là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết để đảm bảo sự ổn định, phát triển lâu bền
của nông thôn KonTum đi lên CNXH hoa nhập chung với tiến trình phát triển
của đất nước
Vì vậy, việc nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay” dưới góc nhìn của Chính trị học là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp bách
hiện nay Đó là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị học chuyên ngành Chính trị học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam vấn đề hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị
các cấp từ trung ương đến cơ sở nói riêng đã được nhiều nhà lý luận, nhà khoa
học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu trong những năm qua, theo thời gian có
thể tóm tắt tình hình nghiên cứu đó như sau:
- TS Lưu Minh Trị, “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, năm 1993
- Đặng Thị Hiền, “Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở nông
thôn (thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang)”, Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Triết học, 1993
- GS.TS Phạm Ngọc Quang, “Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị nhằm
phát huy hơn nữa quyên làm chủ của nhân dân lao động”, Tạp chí Triết học,
số 3 năm 1996.
Trang 3mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999,
- PGS Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miên núi, vùng dân tộc thiểu số các tính miên núi phía Bắc nước t4”, Ñxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
- TS Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng
và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002
- TS Đặng Đình Tân, “Chính quyên cấp xã - những vấn đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, Đặc san số 3 năm 2002
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
chấp hành Trung ương khoá IX về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- GS.TS Hoang Chi Bao (chủ biên), “Hệ £hống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
- TS Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ sỏ- Thực trạng
và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
- PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên), “Góp phần đẩy lài nguy cơ, bảo dam ổn định và phát triển đất nước”, Ñxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005
Và các công trình khoa học khác nghiên cứu chủ đề có liên quan đến hệ
thống chính trị
Phần lớn các công trình khoa học trên đây đều nghiên cứu hệ thống chính trị hoặc các chủ đề có liên quan đến hệ thống chính trị nói chung Các
công trình khoa học trên tiếp cận hệ thống chính trị từ nhiều cách, nhiều góc độ
khác nhau, nhưng tựu chung lại, các nhà khoa học với tư cách là những chủ thể
sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích, khái quát nêu trên đều cố gắng giải
quyết những vấn đề căn cốt của hệ thống chính trị với những mức độ khác nhau Xuyên qua những công trình đó, có thể tổng quan lại những vấn đề sau đây:
Trang 4trị Qua các phân tích, khái quát dẫn đến việc đưa ra các định nghĩa khác nhau
về hệ thống chính trị của các nhà khoa học, có thể rút ra được những dấu hiệu
nội hàm cơ bản của khái niệm hệ thống chính trị Những dấu hiệu cơ bản
trong nội hàm của khái niệm hệ thống chính trị đó thể hiện sự nhận thức về hệ
thống chính trị ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn và có thể chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của xã hội trong việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay ngày càng có hiệu quả hơn
Thứ hai, các nhà khoa học đã tập trung phân tích cấu trúc, đặc điểm, các
nhân tố chế định và vị trí, vai trò của hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Nam nói riêng với những nét đặc thù của nó Điều này rất có giá trị khi Việt Nam gia nhập WTO, giúp chúng ta có thể tiếp thu có chọn lọc những giá trị hợp lý trong việc tổ chức và hoạt động của các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới làm cho hệ thống chính trị của chúng ta về tổ chức và hoạt động có
hiệu quả hơn nhưng vẫn giữ được những nét đặc thù Việt Nam
Thứ ba, từ việc xác định các khái niệm công cụ- hệ thống chính trị, các nhà khoa học khảo sát, phân tích thực trang hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, vạch ra những tích cực và những hạn chế, những bất cập này cùng những nguyên nhân của nó Nhiều công trình đã đi tìm những bức xúc nổi cộm của
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay Trên cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng đó, các công trình khoa học đề xuất phương hướng cơ bản và những
giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị
Việt Nam hiện nay đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước
đang đi vào chiêu sâu và chiều rộng
Trong các công trình nói trên liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn này thì đặc biệt nhất là các công trình nghiên cứu trực tiếp hệ thống chính trị ở cơ
sở của tập thể các nhà khoa học do GS.TS Hoàng Chí Bảo làm chủ nhiệm
Trang 5triển của nước ta hiện nay” Công trình nghiên cứu này đã được xã hội hoá, in thành sách (đã nêu ở trên)
Và công trình khoa học “Hệ thống chính trị cơ sở- Thực trạng và giải
pháp đổi mới” do tập thể các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu khoa học tổ
chức nhà nước, Bộ Nội vụ biên soạn, TS Chu Văn Thanh chủ biên, đã ¡in thành
sách (đã nêu ở trên)
Công trình khoa học của PGS.TS Vũ Hoàng Công về đề tài “Hệ thống
chính trị cơ sở- đặc điểm, xu hướng và giải pháp” (đã nêu ở trên)
Các nhà khoa học của ba công trình này đã nghiên cứu trực tiếp hệ
thống chính trị ở cơ sở từ các góc độ khác nhau trên cơ sở những tìm vạch nội hàm khái niệm hệ thống chính trị Định nghĩa khái niệm hệ thống chính trị như trên đã nêu, các tác giả đã khái quát những đặc điểm, xu hướng vận động,
vị trí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở ở nước ta hện nay Phân
tích thực trạng và những bất cập của hệ thống chính trị ở cơ sở, tìm vạch
nguyên nhân và đề xuất các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở nước
ta hiện nay Những tri thức mà các nhà khoa học rút ra ở đây rất có ý nghĩa và
rất được trân trọng Luận văn kế thừa nhiều những thành quả này
Tuy nhiên, việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở không những chỉ ở
cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) và hẹp hơn nữa là chỉ ở cơ sở nông thôn trên địa
bàn tỉnh KonTum với những nét đặc thù riêng thì chưa có công trình khoa học nào dành riêng cho nó
Tất cả những công trình nghiên cứu trước đây thực sự là những tư tưởng quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học, về vấn đề này cùng với việc khảo sát thực tiễn ở Kon Tum nói riêng và ở Việt Nam nói chung, sẽ là cơ sở để tác giả hoàn thành
nhiệm vụ nghiên cứu của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vỉ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trang 6số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị
ở cơ sở nông thôn Đồng thời, làm rõ vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ
sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay, trên cơ sở đó vạch ra những
vấn đề bức xúc cần giải quyết về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở
cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum hiện nay
- Xác định rõ phương hướng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
(xã, thị trấn) trên địa bàn tỉnh Kon Tum từ ngày thành lập tỉnh cuối năm 1991,
đầu năm 1992 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về hệ thống chính trị
- Đề tài nghiên cứu từ góc nhìn chính trị học, sử dụng phương pháp biện
chứng duy vật Macxit làm nền tảng Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng kết hợp
phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích với tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học và các phương pháp đặc thù của chính trị học như: phân tích giai cấp, dân tộc, nhân loại trong chính trị và phương pháp tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội khi nghiên cứu chính trị
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 7- Về thực tiên: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn để
xác định rõ những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ
sở nông thôn tỉnh Kon Tum hiện nay Đồng thời, luận văn góp tiếng nói vào
việc hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên Địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Trang 8NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Ở CƠ SỞ NÔNG THÔN
1.1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRI
1.1.1 Khái niệm “chính trị”
Chính trị là một hiện tượng lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà nước Chính trị là lĩnh vực cơ bản của đời sống
xã hội có giai cấp, nó bao hàm những quan hệ, hiện tượng, những hình thức,
khía cạnh rất đa dạng và phức tạp Ở mỗi khía cạnh, mỗi hình thức biểu hiện của nó thường dẫn tới một cách cảm nhận, cách hiểu tương ứng về chính trị Khó thống kê được hết những cách hiểu, định nghĩa như thế về chính trị Song điều đáng chú ý nhất đó là: bản chất của chính trị là gì? Vấn đề trung tâm then chốt của nó là gì? Và kết cấu của nó như thế nào? Hơn nữa, để làm rõ khái
niệm “hệ thống chính trị”, trước hết cần làm rõ khái niệm “chính trị” Khái niệm chỉ một lĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp mà chính trị học và nhiều khoa học chính trị khác nghiên cứu
Mỗi một xã hội có giai cấp đều được cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản:
kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản
đó Khẳng định điều này để chống các quan điểm tư tưởng phi chính trị hoặc tuyệt đối hoá chính trị Điều này đã được Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng:
“Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề quan trọng ngang nhau:
chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá” [4, tr.1 1]
Do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nhất định thì xã hội phân
chia thành các giai cấp khác nhau và khi mâu thuẫn giữa các giai cấp dân dân trở nên gay gắt không thể điều hoà được thì nhà nước, chính trị mới ra đời Và
cũng do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nào đó, khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp thì nhà nước, chính trị tiêu vong
Trang 9dân tộc Trong đó, trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế Đây không phải
là cách quan niệm biệt phái riêng của chủ nghĩa Mác mà nói chung, mọi tư duy khoa học khách quan về chính trị đều đi tời, tìm ra và khẳng định thực chất của chính trị là như vậy
Rõ ràng chính trị có lô gíc vận động nội tại của nó và chịu sự quy định
của kinh tế, đồng thời nó tác động to lớn đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Chính trị có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và
tiêu vong như một hiện tượng lịch sử ra đời khi xã hội phân chia thành các giai
cấp và mâu thuẫn đó trở nên không thể điều hoà được
Từ đó cho thấy, cái chi phối trực tiếp chính trị là quan hệ giai cấp và
vấn đề trung tâm then chốt nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước Vấn đề quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lực nhà nước là hai vấn để cơ bản
nhất của chính trị Nói đến chính trị là phải nói đến giai cấp và nhà nước Tuy nhiên, không chỉ có giai cấp và nhà nước mà chính trị còn liên quan đến nhiều vấn đề khác ở những cấp độ quan trọng khác nhau Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp và nhà nước thì chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay, khi
mà hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh
lệnh của đời sống nhân loại
Vì chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp, khi xuất hiện nhà nước, cho nên tiếp cận với chính trị từ những lập trường giai cấp khác nhau sẽ có những quan điểm không
giống nhau Quan điểm duy vật lịch sử về chính trị đòi hỏi phải xem xét chính
trị trong quan hệ với kinh tế, với giai cấp, với dân tộc, với nhân loại, với lợi ích
giai cấp, với nhà nước cùng thiết chế chính trị đảm bảo hiện thực hoá những
nhu cầu chính trị và kinh tế
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại Đây là thuộc tính bản chất
Trang 10của chính trị Trong quan điểm đó, chính trị do kinh tế quy định; cấu trúc của
đời sống kinh tế, sự vận động và phát triển của kinh tế quy định sự biến đổi
của chính trị Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, chính trị phản ánh
khái quát các xu hướng kinh tế khách quan, làm nổi bật xu hướng chủ đạo trong đời sống kinh tế Xu hướng này quy định nội dung chủ yếu của chính trị thuộc về chủ thể cầm quyền Trên cơ sở đó, chính trị ấy sẽ quy tụ sức mạnh của toàn giai cấp hay của cả xã hội nói chung để củng cố, tăng cường vai trò
của thành phần kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế Đến khi đó, chủ thể cầm quyền mới duy trì được sự thống trị chính trị của mình đối với toàn xã
hội Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp Các giai cấp là chủ thể của chính
trị tương ứng, vì chính các giai cấp cấu thành những mặt của quan hệ chính tri Quan hệ giai cấp biểu hiện bản chất của đời sống chính trị Chính trị là mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mối quan hệ đó quy định nội dung và cấu
thành nền tảng của chính trị Các giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa chúng
cấu thành cơ sở trực tiếp của chính trị, mặc dù các giai cấp và mối quan hệ
giữa chúng do kinh tế quy định Khi xác định bản chất của giai cấp, chủ nghĩa
Mác-Lênin trước hết nhấn mạnh phương diện kinh tế Đó là một đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất, nhưng không phải là duy nhất Giai cấp còn được xác định bởi những dấu hiệu chính trị, bởi lợi ích chính trị, bởi quan hệ của nó với nhà nước, bởi cuộc đấu tranh để giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị Cho
nên mối quan hệ giữa các giai cấp không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế
mà còn cả trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng Trong mối quan hệ đó, quan hệ kinh tế mang tính quyết định Trong xã hội có giai cấp, các lợi ích kinh tế cơ
bản biểu hiện tập trung và khái quát thành lợi ích chính trị Khát vọng lợi ích
cơ bản của giai cấp làm nảy sinh cuộc đấu tranh giai cấp mà hình thức cơ bản
của nó là đấu tranh chính trị Điều đó giải thích vì sao Lênin cho rằng, lợi ích
kinh tế cơ bản của giai cấp công nhân chỉ được thoả mãn nhờ cách mạng chính trị, thay thế chuyên chính tư sản bằng chuyên chính vô sản.
Trang 11Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ
và thực thi quyền lực nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể chính trị”
Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối
quan hệ khác nhau trong không gian và thời gian xác định như: quan hệ giữa
các giai cấp, giữa các đảng chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với
các đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau:
và nhà nước nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp Vạch rõ dấu hiệu căn bản nhất của chính trị, vạch rõ quy luật chung nhất của chính trị, trong đó đặc biệt là quy luật về giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, sẽ là cơ sở khoa học, là tiền đề cần thiết để khảo sát các dấu hiệu
đặc trưng bản chất của thiết chế chính trị tương ứng- Hệ thống chính trị
1.1.2 Khái niệm “hệ thống chính trị”
Chính trị là một hiện tượng lịch sử, nó có quá trình ra đời, tồn tại và mất
đi chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giai cấp và nhà nước Nhưng không phải
khi chính trị xuất hiện thì khái niệm hệ thống chính trị cũng xuất hiện Khái niệm hệ thống chính trị ra đời sau khái niệm chính trị Lịch sử tư tưởng chính
Trang 12trị phương Đông và phương Tây trước Mác chưa có khái niệm hệ thống chính
trị Các nhà kinh điển Mác, Ăngghen, Lênin vẫn chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị Tuy nhiên nội dung sự hiểu biết về hệ thống chính trị đã được
Mác, Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên quan như: hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị, cơ cấu chính trị, kết cấu chính
trị của xã hội hay tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng Sau Mác, sớm hơn là ở các nước phương Tây tư bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 của thé ky XX) va 6 cdc nước xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn hơn vào đầu
những năm 80 của thế kỷ XX) mới xuất hiện khái niệm hệ thống chính trị ở
Việt Nam, bắt đầu từ Hội nghị Trung ương 6 khoá Vi (tháng 3-1989) Đảng ta
mới dùng khái niệm hệ thống chính trị Trong những văn kiện, sách báo, tạp
chí, công trình nghiên cứu chính trị ở nước ta gần đây ngày càng sử dụng rộng
rãi phạm trù hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việc làm sáng tỏ phạm trù này là nhiệm vụ quan trọng của luận văn Khái niệm hệ thống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánh chính trị hiện đại Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm hệ thống chính trị mới ra đời, nhưng sự
hiểu biết về nó không kém phần đa dạng, phong phú đến mức mà khó có thể
thống kê hết được những sự hiểu biết đó Chẳng hạn, ở các nước xây dựng chủ
nghĩa xã hội trước đây, quan niệm phổ biến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyển nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó Quan điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” với phạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyên” Từ đó, cho rằng hệ thống chính trị trong chủ nghĩa tư bản chính là hệ thống chuyên chính tư sản, còn hệ thống chính trị chủ nghĩa
xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản ở Việt Nam trước và một số năm đầu đổi mới, chúng ta chưa dùng khái niệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một
cách phổ biến khái niệm chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấu các cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội.
Trang 13Nhận thức là một quá trình Trước đây như trên đã nêu về sự đồng nhất hai phạm trù: hệ thống chính trị và hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền Điều đó thể hiện sự nhận thức ấy vừa là nguyên nhân vừa là kết quả
của quan điểm quá nhấn mạnh cái giai cấp trong chính trị mà chưa thấy hết diện mạo của các dân tộc, cái nhân loại trong chi phối chính trị Sau này xuất hiện quan niệm về hệ thống chính trị toàn diện hơn, rộng hơn phản ánh rõ hơn bản chất của chính trị Chẳng hạn, quan niệm xem hệ thống chính trị là một
phạm trù rộng hơn phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền
Hai phạm trù này quan hệ bao hàm nhau (phạm trù hệ thống chính trị bao hàm
phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền) hay lệ thuộc (phạm
trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền lệ thuộc phạm trù hệ thống chính trị) Như vậy, trong hệ thống chính trị ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền-bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất, quy định bản chất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội tương ứng, còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác Tuy nhiên, quan niệm như vậy cũng mới chỉ nhấn mạnh được về hệ thống tổ chức (thiết chế) tức là các bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị mà chưa chỉ ra được hệ thống các mối quan hệ trong hoạt động chính trị theo chức năng, nhiệm vụ, đồng thời còn là hệ thống các cấp độ
(Trung ương - địa phương - cơ sở) nhằm tác động và điều chỉnh lẫn nhau và điều chỉnh mọi quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội giữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội, giữa các yếu tố xã hội, tập thể và cá nhân, về vấn đề quyền lực, về định hướng, đường lối, chủ trương, chính sách qui định mục tiêu, phương hướng nội dung phát triển xã hội
Chính trị là một hiện tượng lịch sử và việc thực hiện quyền lực chính trị phải có hệ thống các thiết chế tương ứng
Cả hai xu hướng trên đều chưa đáp ứng với thực tiễn chính trị và mục
đích nhận thức của chính trị học
Căn cứ việc đáp ứng hai yêu cầu: Ä⁄ộ¿ /à, phục vụ cho mục đích nhận thức
về hệ thống các tổ chức, thiết chế có vai trò thực tế và được thừa nhận trong việc
Trang 14thực hiện quyên lực chính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thường
xuyên Hzi là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh hiện thực chính trị ở
một hay một nhóm nước mà còn phản ánh được hiện thực chính trị ở nhiều quốc gia có chế độ chính trị- xã hội khác nhau TS Vũ Hoàng Công xác định: “Hệ
thống chính trị là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội, bao gôm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục đích, chức năng thực hiện hoặc
tham gia thực hiện quyền lực chính tr†° [5, tr.9]
Xem xét việc nghiên cứu HTCT mà thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quyền lực chính trị, hoặc tham gia vào quyền lực chính trị, thì có hai khái niệm đáng chú ý dưới đây:
Tập thể tác giả của Khoa Chính trị học - Học viện Báo chí và tuyên
truyền đưa ra định nghĩa: “Hệ thống tổ chức quyền lực là hệ thống các tổ chức
chính trị - xã họi, các đẳng chính trị hợp pháp và nhà nước cùng các quan hệ
tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành
các chính sách nhà nước, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tôn
tại và phát triển của xã hội và bảo đảm quyền thống trị của giai cấp thống trị hoặc quyên làm chủ của nhân dân lao động (trong các nước xã hội chủ
nghĩa)” [31 tr.124]
Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa: “Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gôm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về
mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị” 45 tr.289]
Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dưới góc nhìn của chính trị học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ /hống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống
các tổ chức, các thiết chế chính trị-xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ
Trang 15hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị
Từ khái niệm vừa đưa ra trên, ta có thể xem xét đến sự tồn tại, vận
động, biến đổi của HTCT diễn ra trên thực tế rất đa dạng Và tính đa dạng của HTCT tuỳ thuộc vào các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến:
* Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính trị quốc gia là địa lý và điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử Ví dụ, Anh,
Mỹ, châu Âu, Nhật Bản ,các nước khác nhau ở các khu vực khác nhau có những sự khác biệt nhất định trong quá trình hình thành và tác động của các
hệ thống chính trị Chính những điều kiện khác nhau này hình thành nên các quyền va các chuẩn mực xã hội khác nhau Các quyên và các chuẩn mực xã hội đó phân biệt các hệ thống chính trị của các nước, các thời đại khác nhau Trình độ phát triển kinh tế; tương quan giữa các lực lượng chính trị đang hiện diện; yếu tố lịch sử truyền thống văn hoá;
HTCT là một hiện tượng lịch sử chỉ tồn tại trong những điều kiện kinh
tế - xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp và hình thành nhà nước Kết cấu
HTCT không phải theo ý muốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều
kiện kinh tế - chính trị - xã hội quy định Trình độ phát triển kinh tế quốc gia
quy định kết cấu xã hội - giai cấp, quy định thành phần tham gia HTCT theo dòng chảy chủ đạo (xu hướng chính) của nền kinh tế quốc gia đang vận hành
Vì chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Hơn nữa, sự tồn tại của các
giai cấp với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xã hội của các lực
lượng chính trị tương ứng
Sự hiện diện của các lực lượng chính trị và mối tương quan lực lượng giữa chúng Đây là yếu tố quyết định trực tiếp việc thiết lập HTCT theo mô hình đa đảng hay một đảng trên thực tế Song mối tương quan lực lượng đó có
thể bị quy định bởi nhiều khía cạnh: các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài đất
nước, đặc biệt lại càng rõ trong xu thế toàn cầu hoá ngày nay; sức mạnh kinh
tế, sức mạnh quân sự, mức độ ủng hộ của các tầng lớp dân chúng
Trang 16Cùng với sự trưởng thành của ý thức công dân thì truyền thống, thói quen, lịch sử văn hoá chính trị của dân tộc quốc gia là yếu tố khách quan tạo
nên diện mạo bản sắc về HTCT của mỗi quốc gia
* Nhóm nhân tố chủ quan:
+ Sự trưởng thành, năng lực và đạo đức, bản chất và bản lĩnh chính trị
của đảng chính trị cùng với đội ngũ đảng viên của nó Đây là yếu tố rất quan
trọng liên quan đến sinh mệnh đảng chính trị, nó được xem là thước đo tổng hợp đánh giá mức độ uy tín đích thực của đảng chính trị trước dân chúng như thế nào Hơn nữa, nếu trong quá trình hoạt động có sự biểu thị lợi ích của giai cấp, của đảng chính trị đồng thuận với lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội thì sẽ phát huy tốt và nhờ nó mà việc thiết lập, củng cố vững chắc nền tảng chính trị - xã hội của đảng chính trị Điều này hoàn toàn từ xuất phát điểm,
cũng như là hệ quả của sự nỗ lực, trưởng thành nhân tố chủ quan của đảng
chính trị mà có
+ Sự tương đồng về tư tưởng của các đảng chính trị: nếu việc tìm kiếm
và tạo dựng sự tương đồng về tư tưởng, quan điểm của các đảng chính trị càng
lớn thì dễ dàng chấp nhận nhau, cùng chia sẽ quyền lực chính trị Ngược lại,
nếu các đảng chính trị đối chọi nhau về hệ tư tưởng chính trị,về lập trường giai cấp thì dễ dẫn đến xung đột về chính trị, khủng hoảng chính trị có thể diễn ra Những đảng chính trị như thế trong tình huống có lợi cho mình, thường sẵn
sàng độc chiếm nhà nước mà không chấp nhận chia sẻ quyền lực và đặt các lực lượng đối lập ngoài vòng pháp luật
Có thể nói, các nhân tố khách quan và chủ quan thường xuyên tác động đến quá trình hình thành và biến đổi của HTCT trong mỗi thời kỳ, cũng như quyết định hình thái tồn tại HTCT Việc nghiên cứu kỹ lưỡng các nhân tố tác
động đến HTCT như đã nêu trên đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nó bao giờ
cũng mang giá trị thực tiễn sâu sắc trong quá trình xây dựng HTCT nói chung
và cấp cơ sở nói riêng.
Trang 17Như vậy, theo lôgíc của tư duy có thể thấy hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản cùng các tổ chức chính trị xã hội hợp pháp ở các cấp độ và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm bảo quyền lực
của nhân dân lao động
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là hệ thống các tổ chức chính trị-
xã hội mà nhờ đó, nhân dân lao động thực thi quyên lực của mình trong xã hội
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay bao gồm các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội của
quần chúng tham gia vào Mặt trận với tư cách là những thành viên như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh Về
mặt tổ chức được xác định như vậy cho thấy nhiều tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội có vai trò chính trị đáng kể và thạm chí thường xuyên có đại biểu trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, nhưng không phải là thành viên
độc lập của hệ thống chính trị, mà chỉ tham gia hệ thống chính trị với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (một liên minh chính trị rộng rãi, thống nhất của dân tộc tập hợp lực lượng thực hiện đại đoàn kết dân tộc, hiệp
thương chính trị, hợp tác và hỗ trợ phát triển xã hội)
Hệ thống chính trị nước ta có nhiều đặc điểm khác với mô hình hệ
thống chính trị của nhiều nước trên thế giới Về hệ thống chính trị ở nước ta,
có thể có những quan niệm khác nhau, từ đó nêu ra những đặc trưng khác nhau, song để phục vụ cho việc khảo sát hệ thống chính trị ở cơ sở cần chú trọng các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, một đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị ở nước ta là tính nhất nguyên chính trị và một đảng duy nhất cầm quyên lãnh đạo, đó là Dang Cộng sản Việt Nam
Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ nền tảng tư tưởng của cả hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ nghĩa xã hội
là mục tiêu chung; không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ
Trang 18nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất
và thống nhất trong cả nước mà Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vững vàng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong
suốt lịch sử của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện là một Đảng mác- xít thực sự, chân chính lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác
Việc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội là sự đảm bảo sự
chắc chắn nhất để nhân dân bảo vệ và phát huy quyền làm chủ xã hội của mình,
chống lại mọi biểu hiện đi ngược lại nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân
Hệ thống chính trị nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo là một đặc điểm vừa mang tính phổ biến đối với hệ thống chính trị
các nước xã hội chủ nghĩa, vừa mang tính đặc thù Việt Nam Tính đặc thù đó
do vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam quy định
Thứ hai, hệ thống chính trị mang tính nhân dân rộng rãi
Tính nhân dân rộng rãi của hệ thống chính trị thể hiện chủ yếu ở mục
tiêu, phương thức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị:
- Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội Tổ chức của Nhà
nước do nhân dân lập ra, hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước là
day tớ của dân chịu sự giám sát tối cao và thường xuyên của dân
- Hệ thống chính trị bằng mọi hình thức khác nhau để tập hợp, tổ chức
mọi người dân thuộc các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến ở trong và ngoài nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Thứ ba, tính quá độ của hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta đã và đang chuyển sang phạm trù
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nhưng đang ở bước đầu xây dựng Nó là bước phát triển nối tiếp tự nhiên và liên tục từ hệ thống chính trị dân chủ nhân
dân trước đây, đó cũng là sự chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Như trên đã phân tích, trung tâm của hệ thống
Trang 19chính trị là Nhà nước Nhà nước thể hiện bản chất chính trị của hệ thống chính trị và chế độ xã hội Các Đảng chính trị cũng phải giành lấy quyền lực Nhà
nước, thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước để thực hiện các mục tiêu chính
trị của mình Nhà nước mà một bộ phận quan trọng là nền hành chính nước ta
còn rất non trẻ nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp còn
khá nặng nề Tính chất quá độ đan xen giữa cái cũ và cái mới còn khá đậm nét
trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta
Thứ tư, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức chặt chẽ, có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi tổ chức và cơ chế hoạt động
của từng tổ chức cũng như của cả hệ thống Hệ thống chính trị ở Việt Nam
được tổ chức hết sức rộng rãi, chặt chẽ, các mối quan hệ trong đó ngày càng được xác định rõ ràng hơn Trong phạm vi hoạt động của mình, cùng một lúc mỗi một thành viên phải thực hiện các quan hệ có tính chất khác nhau với các
đối tượng khác nhau của hệ thống chính trị: quan hệ lãnh đạo; quan hệ chỉ
đạo, hướng dẫn; quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết Tất cả tạo thành một
mạng lưới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ
Thứ năm, hệ thống chính trị nước ta có thuộc tính bản chất là sự thống
nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc
Ở nước ta, vấn đề giai cấp và vấn dé dân tộc luôn gắn bó, quyện chặt
lẫn nhau Nghiên cứu quá trình dân tộc và quá trình chính trị của nước ta sẽ di tới khẳng định sự nổi trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và gĩư nước Nhận rõ đặc trưng về sự nổi trội của tính dân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắc phục quan niệm tuyệt đối hoá
giai cấp để thấy rõ sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong hoàn
cảnh đặc thù của nước ta
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ vừa quy định tính thống nhất của hệ thống chính trị duy nhất trong cả nước Các khái niệm rung ương - địa phương - cơ sở chỉ là những cấp
độ khác nhau của hệ thống chính trị nói chung chứ không phải là có ba hệ
Trang 20thống chính trị: hệ thống chính trị trung ương, hệ thống chính trị địa phương
và hệ thống chính trị cơ sở Khẳng định điều này có ý nghĩa rất quan trọng cả
về lý luận và thực tiễn Với cách hiểu hệ thống chính trị nói chung có tính toàn vẹn, duy nhất, thống nhất như vậy sẽ là tiền đề, cơ sở để hiểu đúng vai trò, vị
trí của hệ thống chính trị ở cơ sở - cấp cơ sở của hệ thống chính trị nói chung Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ở nước ta nhằm xây dựng
và phát triển nên dân chủ xã hội chủ nghĩa Để thực hiện mục tiêu đó, tính
đồng bộ trong hoạt động và tính thống nhất về mục tiêu, tính chủ động sáng
tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị và việc giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc trong toàn bộ hệ thống là những điều kiện căn bản đảm
bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả Hay nói cách khác, sự hoàn thiện của hệ thống chính trị sẽ là phương thức và động lực để hoàn thành mục
tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tính nhất nguyên và duy nhất Đảng cộng sản lãnh đạo; tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân là những tính chất căn bản của hệ thống chính trị nước ta hiện nay Nguyên tắc tập
trung dân chủ là nguyên tắc chính trị cho tất cả các tổ chức bộ phận trong hệ thống và toàn bộ hệ thống chính trị ở tất cả mọi cấp độ Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay vừa đang ở trong thời kỳ quá độ lại vừa đang đổi mới tiến tới hoàn thiện với các tác nhân quan trọng là kinh tế thị trường, quá trình dân chủ
hoá (quá trình đưa các giá trị dân chủ vào đời sống xã hội), công nghiệp hoá,
hiện đại hoá Quá trình đó sẽ dẫn đến xu hướng đô thị hoá nông thôn và làm thay đổi nông thôn, nông nghiệp và nông dân Hơn nữa, xu hướng vận động của xã hội hiện đại mà chúng ta đang xây dựng sẽ dựa vào ba trụ cột chính yếu: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội công dân Tất cả những yếu tố đó đưa lại một cách
nhìn tổng hợp, khách quan khoa học về sự đổi mới và hoàn thiện hệ thống
chính trị ở cơ sở nông thôn theo xu hướng hiện đại Vì vậy việc nhận thức
đúng đắn về vị trí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở đặc biệt là ở
Trang 21nông thôn, khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn về
vấn đề này có ý nghĩa quan trọng, bức xúc
1.2 HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ NÔNG THÔN
1.2.1 Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
Muốn đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là ở cơ
sở nông thôn nước ta nói chung, nông thôn miền trung Tây Nguyên nói riêng,
vấn đề rất quan trọng và cần thiết trước tiên là phải nhận thức đúng về cơ sở và
vị trí, vai trò của cơ sở, đặc biệt là cơ sở nông thôn Lớp đối tượng (ngoại diên)
mà khái niệm cơ sở nông thôn phản ánh đó chính là toàn bộ những xã, thị trấn
đang tồn tại thực trên đất nước ta với những tên gọi, địa dư hành chính, pháp
lý chính trị đầy đủ của nó Mặt khác, về mặt nội hàm tương ứng của khái niệm này phải được hiểu các xã, thị trấn ở nông thôn là cơ sở xã hội của chính trị,
của chế độ chính trị, là cơ sở của thể chế chính trị, của thể chế nhà nước Cơ
sở nông thôn: xã, thị trấn được xét ở đây tồn tại với tư cách là một cấp quản lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta- cấp
cơ sở Như vậy, cơ sở nông thôn gồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản lý hành chính bốn cấp Khi xét hệ thống chính trị ở phần trên với
tư cách là một chỉnh thể thống nhất, duy nhất có bốn cấp độ thì cấp cơ sở là
một cấp của hệ thống chính trị hay cấp độ của hệ thống chính trị Tuy nhiên cấp độ cơ sở của hệ thống chính trị còn bao gồm cả phường Nhưng ở đây, luận văn chỉ đề cập đối tượng là: xã, thị trấn, tức là cơ sở nông thôn nước ta hiện nay Trong đó, đặc biệt khảo sát cơ sở nông thôn ở tỉnh KonTum từ năm
Trang 22gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở nông thôn
1.2.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên nó cũng mang những đặc
điểm chung của toàn bộ hệ thống, như đã phân tích ở mục 1.1.2
Ngoài những đặc điểm chung đó, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế
thì HTCT ở cơ sở nông thôn còn mang đặc trưng riêng
Thứ nhất, hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống
chính trị nước ta hiện nay Đây là đặc điểm xét theo khía cạnh quan hệ thứ
bậc mang tính pháp lý của chỉnh thể hệ thống chính trị duy nhất thống nhất ở
nước ta hiện nay Song quyết không phải cấp thấp nhất là cấp kém quan trọng nhất Mà thậm chí, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường lối chính sách của Đảng và nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất Bởi vì, mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cuối cùng có thực hiện đựơc hay không lại
là ở cơ sở
Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất
Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ở cơ sở xã, thị trấn
được biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người Bộ máy đơn giản
nhất nhưng không phải là đơn giản nhất trong vận hành bộ máy Các mối quan
hệ ở đây không phải là không phức tạp Tính phức tạp ở đây được quy định bởi
các yếu tố tông tộc, gia tộc, dòng họ, tôn giáo, văn hoá, truyền thống
Thứ ba, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất
Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến động nhất là vì do
cơ chế họ không được biên chế cố định mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu
Trang 23chọn trong các cuộc bầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dân thường Tâm lý không ổn định, số phận bấp bênh chỉ phối rất lớn đến từng người ở từng thời kỳ khác nhau Cái nọ là nguyên nhân của cái kia Chúng là nhân quả của nhau dẫn đến việc họ ít được chuyên môn hoá, ít được đào tạo
cơ bản và họ cũng còn nặng tâm lý ngại học tập lý luận và chuyên môn nghiệp
vụ theo xu hướng tâm lý “quan nhất thời, dân vạn đại” Phần lớn những người được đào tạo cơ bản cả về lý luận và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách thoát ly khỏi xã, thị trấn để lại hệ thống chính trị ở cơ sở với đội ngũ cán bộ
nổi bật đặc điểm này
Thứ tư, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chỉ phối của nhân dân
Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai đến dân đều qua cấp cơ sở Vì vậy, nó là cấp gần dân nhất và thể hiện tính nhân dân một cách rõ ràng, trực tiếp nhất Song đây là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chí cả
những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư Vì vậy, tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị ở cơ sở mang tính tự quản cao
Thứ năm, hệ thống chính trị ở cơ sở nhất là ở cơ sở nông thôn là cấp
mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã, quan hệ dân tộc, tôn giáo tác động
mạnh nhất
Hê thống chính trị ở cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã
có thể tác động mạnh nhất có ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của HTCT ở cơ sở nông thôn Trong quan hệ với dân, cán bộ ở cơ sở nông thôn có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớn bởi quan hệ
họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã
Do đó, phải hết sức chú ý khắc phục tư tưởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức
quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” hoặc “chỉ bộ ta” Những đặc điểm trên của hệ thống chính trị ở cơ sở, phản ánh, một mặt
ở sự thống nhất, duy nhất của cả hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động
Trang 24theo tính thống nhất về mục tiêu và nguyên tắc Mặt khác nó cũng phản ánh
nhiều mâu thuẫn, có loại mâu thuẫn biện chứng của sự phát triển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt tiêu sự phát triển Vấn đề là phát hiện mâu thuẫn và phải
có những giải pháp cụ thể xử lý những mâu thuẫn một cách cụ thể để đổi mới
và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở đáp ứng vị trí, vai trò quan trọng cần phải có của nó trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay
143 VAI TRÒ CỦA CƠ SỞ NÔNG THÔN VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở
CƠ SỞ NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY
1.3.1 Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn (xã, thị trấn)
Trước đổi mới, trong nền kinh tế hiện vật và kinh tế kế hoạch hóa với
phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chúng ta chỉ nhìn nhận cơ sở như một cấp quản lý hành chính thấp
nhất, cuối cùng trong hệ thống 4 cấp Theo cách nhìn này, cơ sở không chỉ thấp nhất mà còn là nhỏ nhất, nên nói tới cơ sở thường chỉ thấy đó là một vi
mô, trong khi cấp Trung ương, toàn quốc mới là cái vĩ mô
Nếu xét theo cấp độ quản lý và nhìn về lượng (quy mô diện tích, quy
mô dân số và dân cư, mức độ làm ra của cải vật chất, tính chất và lĩnh vực hoạt
động) thì cách hiểu về cơ sở như đã nêu trên là không có gì sai Song đó mới
chỉ là một phương diện của vấn đề cần bàn nhưng chưa đầy đủ
Hơn nữa, cách nhìn từ trên xuống, lâu dần theo thói quen, tiền lệ khó
thay đổi hình thành trong tư duy quản lý là tính chất hành chính quan liêu, như: quen dùng chỉ thị, mệnh lệnh từ trên đã áp đặt xuống cơ sở, biến cơ sở trở thành thụ động, trì trệ làm mất đi tính năng động, sinh động và đa dạng phong phú ở cơ sở, Vì cơ sở vốn là nơi diễn ra mọi hoạt động đời sống của dân, việc
làm của dân, là thái độ và hành vi ứng xử của dân chúng đối với cấp chính
quyền, mọi quan hệ xã hội Cách nhìn từ trên xuống một cách quan liêu - hành
chính như vậy, đã tạo ra khoảng cách biệt rất lớn giữa Trung ương với cơ sở,
nếu có đi cơ sở cũng chỉ mang hình thức và chiếu lệ, tuỳ thuộc vào trách
Trang 25nhiệm công việc hay phong cách dân chủ, thái độ và tình cảm đạo đức với dân
của cán bộ cấp trên chứ không mang tính pháp lý bắt buộc được bảo đảm bởi chế tài, bởi kiểm tra và giám sát
Cách bức với cơ sở lại càng trở nên nghiêm trọng hơn khi hệ thống thể chế hành chính quan liêu bị xơ cứng bởi các tầng nấc, giấy tờ, công văn, chỉ thị của các cấp trên; bởi cả những khó khăn, trở ngại về giao thông đi lại do hạ tầng cơ sở kém phát triển, bởi thiếu thông tin, không có thói quen cập nhật thông tin từ cơ sở của đội ngũ công chức, viên chức quan liêu Cơ sở nông thôn miền núi, với những làng bản xa xôi gần như cách biệt, thậm chí không ít nơi bị bỏ quên, bị lãng quên, không được đầu tư, chăm sóc, không được quan
tâm để nó diễn ra một cách tự phát Những cơ sở loại đó vốn đã lạc hậu, khó khăn, chậm phát triển lại càng trở nên khu vực đặc biệt khó khăn hơn
Cái thấp nhất, nhỏ nhất trong quản lý không bao giờ được đồng nhất với
tính chất kém quan trọng hơn, ít quan trọng hơn so với những cái cao hơn, lớn
hơn Tư duy so sánh hình thức ở đây đem áp dụng cho vị trí, vị thế của cơ sở là một sai lầm đã từng xảy ra khi nhận thức về cơ sở và ứng xử với cơ sở Do đó, nhận thức trước đây về cơ sở còn nhiều điểm chưa đúng và chưa chính xác về
đặc điểm, vai trò của cơ sở trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động
lãnh đạo và quản lý ở cơ sở Tồn tại này cần sớm được khắc phục để vị trí và tầm quan trọng của cơ sở được khẳng định trong thực tế đúng như bản thân nó
vốn có Chính thực tiễn đổi mới, nhất là khi đi vào kinh tế thị trường và vận
động dân chủ hoá ngày nay đã mở ra nhiều vấn đề về cơ sở, đòi hỏi phải đổi mới nhận thức về nó
Về phương diện nhận thức quản lý, không phải vì cơ sở là cấp thấp nhất
nên đội ngũ cán bộ cơ sở bố trí thế nào cũng được Hiện trạng đội ngũ cán bộ
cơ sở nông thôn (xã) hiện nay, đang yếu kém, bất cập, phân lớn không được
đào tạo, không có chính sách, chế độ ổn định, hợp lý là hậu quả của nhận thức
không đúng vì cách tổ chức, bố trí cán bộ nêu trên Mỗi cấp trong hệ thống
quản lý có vị trí, vai trò, chức năng riêng của nó Nhận thức và giải quyết
Trang 26không đúng vấn đề này chẳng những gây trở ngại tới hoạt động và hiệu quả
của cả hệ thống mà còn làm tổn hại trực tiếp tới cơ sở và cả nước vì mấu chốt của vấn đề là dân và tổ chức cuộc sống của dân sao cho phát triển sức dân, có lực lượng của dân, tài trí của dân góp sức vào thì mới thực hiện được những kế hoạch, mục tiêu phát triển xã hội, mới có động lực và nội lực để xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, đảm bảo sự bền vững của chế độ
Cấp vĩ mô - toàn quốc và Trung ương lẽ dĩ nhiên là hết sức quan trọng,
bởi đó là cấp hoạch định đường lối, chiến lược phát triển quốc gia, ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển của dân tộc và xã hội Nhưng cấp cơ sở nông thôn cũng có tầm quan trọng của riêng nó Mỗi làng, xã như là mỗi tế bào góp
thành cái vĩ mô của toàn xã hội, như Hồ Chí Minh nói: Kết cấu nhà - làng - nước là một kết cấu bền vững, định hình từ lâu trong lịch sử tạo thành sức sống của dân tộc, truyền thống, bản sắc của một nền văn hoá Hơn nữa, mỗi một làng xã là một hình ảnh thu nhỏ của xã hội, ở đó diễn ra toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội, liên quan hàng ngày, hàng giờ tới cuộc sống của người dân Theo đó, làng xã thực sự là một thực thể kinh tế - xã hội, chính trị
và văn hóa đóng vai trò nên tảng của cả xã hội, là động lực trực tiếp của phát
triển xã hội Nếu quan tâm tới đời sống của dân, nếu thấm nhuần và nhất quán quan điểm dân là gốc của nước thì cơ sở thực sự mang nội dung và tính chất vĩ
mô Thể chế quan liêu trong khi cách biệt với cơ sở thì nó dẫn đến xa dân nên
không thấu hiểu cuộc sống của dân, tâm tư, nguyện vọng của dân với biết bao
lợi ích và nhu cầu chính đáng hàng ngày của họ Chỉ có thể xây dựng thể chế
dân chủ thì cán bộ, công chức mới trở thành “công bộc của dân”, gần dân, hiểu dân, học dân, hỏi dân, lãnh đạo và tận tuy phục vụ dân trong sự giúp đỡ, ủng hộ của dân, trong sự kiểm tra giám sát của dân, dân chủ mới không biến
thành “quan chủ”, “quan cách mạng” theo cách nói của Hồ Chí Minh
Trọng dân, tín dân và vì dân đã làm thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá
về vị trí, vai trò của cơ sở khi mà dân và cuộc sống của dân vừa là điểm xuất phát, vừa là mục tiêu của mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, của việc đổi mới
Trang 27tổ chức và hoạt động của HTCT Do đó, đổi mới nhận thức về vai trò của cơ
sở, chúng ta đặc biệt lưu ý tới những điểm dưới đây:
- Cơ sở nông thôn không chỉ là địa bàn cư trú của dân, mà còn là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động của đời
sống xã hội Đó vừa là địa bàn diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh
của người lao động, của các cơ sở doanh nghiệp theo các thành phần kinh tế vừa là nơi diễn ra trao đổi, lưu thông hàng hoá, là đầu mối của thị trường, nơi
hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng Do đó, nói tới cơ sở là nói tới người dân (các chủ thể) và hình thức tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội Mỗi cơ sở là một cộng
đồng xã hội, ở đó có hoạt động kinh tế, có giao lưu văn hoá và đồng thời tất yếu phải hình thành nên cộng đồng xã hội - chính trị, bởi có vai trò của quản
lý hành chính của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh, trật tự xã
hội và tổ chức đời sống chính trị của các công dân
- Cấp cơ sở nông thôn, không chỉ là cấp thực hiện chức năng quản lý của nhà nước mà còn là nơi diễn ra các hoạt động tự quản của cộng đồng xã
hội Đây là nét đặc trưng của nước ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên
tính cố kết cộng đồng đặc biệt nổi bật ở cơ sở Tính chất vừa quản lý, vừa tự quản ở cơ sở thể hiện trong mối quan hệ giữa xã và thôn Đây là mối quan hệ
tác động qua lại, phân công, phối hợp chứ không phải là sự tách bạch cứng nhắc, siêu hình Về nguyên tắc, cấp cơ sở có chức năng quản lý hành chính
nhà nước Nhưng để quản lý trên địa bàn xã thì phải xuống tận thôn làng - đơn
vị tự quản cộng đồng Trưởng thôn có thể được UBND xã uỷ nhiệm cho một
số công việc của xã được tổ chức thực hiện trong cộng đồng dân cư ở thôn
Song diéu chủ yếu của thôn là tự quản Việc tự quản các hoạt động cũng không khép kín, biệt lập trong từng thôn, càng không được đối lập với quản lý
Có những công việc và hoạt động tự quản diễn ra trên quy mô xã Do đó, quản
lý và tự quản, xã và thôn không được cản trở nhau mà phải phối hợp nhịp nhàng, với một chuẩn mực là tuân thủ đúng pháp luật Đây chính là điểm đặc
Trang 28trưng về sự kết hợp và đan xen giữa quản lý với tự quản, nên cơ sở tuy là một
cấp quản lý hành chính nhà nước nhưng lại là một cấp không hoàn chỉnh, rõ nhất là ở chỗ, cán bộ cơ sở không phải tất cả đều là công chức nhà nước, theo đúng thể thức bổ nhiệm, điều động, thuyên chuyển của Nhà nước Ở nông thôn làng xã, chỉ một số ít chức danh gắn trực tiếp với chuyên môn như tài chính, địa chính, thống kê, văn phòng trong UBND xã là cơ quan hành chính của cơ sở mới xếp theo ngạch công chức, còn đa số là cán bộ dân cử, dân bầu
Cán bộ ở cơ sở là người sở tại, làm việc tại cơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ trực tiếp với dân Trong quan hệ với dân, họ có bị chi phối,
ràng buộc rất mạnh mẽ bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống,
phong tục, tập quán, lối sống làng xã
- Cơ sở nông thôn vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo chức
năng và thẩm quyền, nhưng nó lại vừa là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nên tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH Vì cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của quần chúng, nơi tổ chức các phong trào xã hội của quần chúng để triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm đưa đường lối, chính sách vào cuộc sống Đặc điểm này nói lên vai trò quan trọng đặc biệt của cơ sở Mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều tuỳ thuộc vào việc tổ chức triển khai thực hiện ở cơ sở có chu đáo, cụ thể, có tập hợp được lực lượng dân chúng hay không Nó liên quan trực tiếp tới HTCT ở cơ sở, tới chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở Có cán bộ tốt thì mới có phong trào
mạnh mẽ, sôi nổi Từ các phong trào của quần chúng ở cơ sở mà nảy sinh rất
nhiều sáng kiến của dân, xuất hiện những điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay
cơ sở, làm cho cán bộ trưởng thành, phát huy được phẩm chất và năng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnh hưởng của Đảng, Nhà nước
trong quần chúng Cơ sở nông thôn chẳng những cung cấp cán bộ cho phong trào, cho cơ sở và cấp trên, mà còn là nơi quần chúng chứng thực tính đúng
Trang 29đắn của đường lối, chủ trương, chính sách hoặc từ thực tiễn cơ sở mà kiểm nghiệm, phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa, làm cho đường lối, chính sách ngày càng phù hợp với thực tiễn, càng hợp với lòng dân và được lòng dân hơn
- Cơ sở nông thôn là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị
từ vĩ mô phải tác động tới Vì Cơ sở gắn liền với dân, có quy mô dân số và diện tích Do đó, cơ sở tuy là cấp thấp nhất trong cấp quản lý nhưng lại là tầng
sâu nhất trong quản lý và lãnh đạo, là địa chỉ quan trọng nhất ma moi chi thi,
nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải tìm đến, phải bằng mọi cách tổ chức, tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu,
dân tin và dân làm
- Cơ sở nông thôn là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là cấp
tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Do
đó, bố trí tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ ở cơ sở phải rất chú trọng tới tính
thiết thực, hiệu quả, cán bộ phải giỏi thực hành, biết thực hành lý luận một cách sáng tạo, muốn vậy phải được trang bị tri thức và lý luận khoa học, có kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời lại phải có phương pháp, đặc biệt là làm
công tác dân vận, biết vận động thuyết phục quần chúng, miệng nói tay làm tai lắng nghe
- Cơ sở nông thôn là nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở từ
dân mà ra Đặc biệt, cơ sở nông thôn là nơi trực tiếp nhất của thực tiển, thể hiện ý thức và năng lực dân chủ của dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện
và dân chủ trực tiếp Do đó, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, cơ sở là cấp có nhiều lợi thế và khả năng nhất để giảm thiểu xuống mức thấp nhất những thói
tật quan liêu, hành chính, mệnh lệnh, tệ hại tham ô, tham nhũng Vì nhờ dân chúng thường xuyên kiểm tra, giám sát hành vi cán bộ
- Tại cơ sở xã hiện nay tồn tại song hành các thể chế quản lý, pháp luật
nhà nước, quy chế dân chủ và các bản hương ước của thôn, làng Phải tổ chức
thực hiện và tăng cường kiểm tra, giám sát sao cho không thể xảy ra các hiện tượng tuỳ tiện, cục bộ địa phương, coi thường pháp luật Phải khắc phục từ
Trang 30tâm lý, ý thức đến hành vi, hoạt động một nhược điểm thâm căn cố đế là “lệ làng cao hơn phép nước”, là tư tưởng dịng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” Đĩ là những nét chung về
đặc điểm, vai trị cơ sở ở nơng thơn
- Ngồi ra, cần phải chú ý tới một thực tế: cùng là cấp xã, cấp cơ sở
nhưng xã - thơn, làng - xã ở nước ta rất đa dạng, nĩ thống nhất trong khác
biệt Xã đồng bằng khác xã trung du, miền núi, Tây Nguyên Xã ở miền Bắc rất khác xã ở miền Trung và miền Nam Xã cĩ độ chênh lệch rất lớn về diện tích và dân số, về số thơn, làng, ấp, bản Xã lại thường là cộng đồng đa tộc người, đa tơn giáo Điển hình, đơn cử như: xã Chư Mợay diện tích bằng cả tỉnh Thái Bình Do vậy, cần phải chú ý đến nét đặc thù này trong quá trình xây dựng HTCT ở cơ sở nơng thơn
Tĩm lại, cơ cấu kinh tế của xã đang chuyển đổi Cơ cấu xã hội ở xã
đang ngày một đa dạng hơn Đời sống chính trị trong làng xã đang đan xen cả
những biến đổi tích cực, ổn định, phát triển lẫn những suy thối, biến dạng,
những tiêu cực và tệ nạn xã hội Cĩ những xã nổi trội, xuất sắc, là những xã anh hùng trong đổi mới; nhưng cũng cịn một phần đơng các xã đang phải nỗ lực vượt lên, ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, trì trệ; và cũng khơng ít các
xã đang quá yếu kém, đang xuất hiện các điểm nĩng phải giải quyết Đây là một trong những vấn đề chính trị hệ trọng, cĩ ý nghĩa chiến lược Chính vì thế, Hội nghị Trung ương 5 khố IX của Đảng đã ra Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng của HTCT ở cơ sở xã - phường - thị trấn” vào tháng 3
năm 2002 vừa qua
1.3.2 Vai trị của hệ thống chính trị ở cơ sở nơng thơn
HTCT ở cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn Nước ta cĩ trên 10.000 đơn
vị cơ sở, trong đĩ cĩ gần 9.000 xã Với con số tuyệt đối đĩ, cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã Cơ sở là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp của quản lý
hành chính ở nước ta hiện nay
Trang 31Cho đến thời điểm hiện nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với địa bàn nông thôn rộng lớn Kinh tế nông thôn chủ yếu vẫn là kinh tế nông
nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp sản xuất nhỏ và thuần nông ở từng hộ gia đình của nông thôn, lực lượng sản xuất còn chậm phát triển Quá trình phân công
và phân công lại lao động xã hội còn đang diễn ra, hơn 70% sức lao động và
hơn 80 % dân cư đang ở nông thôn Nông dân vẫn còn là diện mạo đặc trưng
trong bức tranh cơ cấu xã hội - dân cư ở nước ta với trên 60 triệu người và 12 triệu hộ gia đình Họ sinh sống và làm ăn ở trên 9.000 đơn vị cơ sở (tính cả xã
và thị trấn) với 86.000 thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc
Hiện nay, chúng ta có trên 2 triệu cán bộ cơ sở ở nông thôn từ xã tới
thôn, có hưởng phụ cấp (sinh hoạt phí) từ nguồn ngân sách nhà nước, mỗi năm tốn khoảng 2.400 tỷ đồng 50% đảng viên và hơn 20% số tổ chức cơ sở Đảng
(chỉ bộ, đảng bộ) trong tổng số 2 triệu 60 vạn đảng viên của Đảng là đảng viên nông dân và tổ chức Đảng ở nông thôn [46, tr.313-3 14]
Do đó, HTCT ở cơ sở, đặc biệt ở nông thôn có một vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội, đối với việc đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Nếu giữ vững ổn định chính trị - xã hội là tiền để, là điểu kiện tiên quyết để thực hiện đổi mới và phát triển thì phải đặc biệt chú trọng và chăm lo
sự ổn định và phát triển ở cơ sở, nhất là nông thôn Rõ ràng, nếu để sự yếu kém của HTCT ở cơ sở nông thôn xảy ra thì hệ quả tất yếu dẫn đến gây mất
ổn định chính trị - xã hội Thực tế vừa qua ở nước ta càng cho thấy sự cần
thiết, bức xúc của việc củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở đã đến lúc đặt ra phải có giải pháp kiện toàn để tạo sự chuyển biến tích cực của HTCT ở cơ sở
nông thôn Kinh nghiệm lịch sử và bài học của ông cha ta về việc an dân, trị quốc, cũng như kinh nghiệm đấu tranh cách mạng qua các thời kỳ do Đảng lãnh đạo đã cho thấy: việc giữ dân, giành dân có tầm quan trọng đặc biệt đối
với sự bền vững của chế độ Chính quyền trong lòng dân, cơ sở xã hội của chế
Trang 32độ là lòng dân, là sức mạnh đồng thuận xã hội của dân chúng từ cơ sở Do vậy
để ổn định chính trị và phát triển xã hội, nhất thiết phải sớm khắc phục những yếu kém của HTCT ở cơ sở, phải xây dựng HTCT ở cơ sở trở thành HTCT
thực sự của dân, do dân và vì dân Có một HTCT được lòng dân, được dân tin, dân yêu mến, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ từ cơ sở thì ổn định chính
trị sẽ được đảm bảo, mục tiêu của đổi mới sẽ được thực hiện thắng lợi
Với một nước phổ biến là nông nghiệp, nông thôn và nông dân thì cần
phải lưu ý tới một triết lý được rút ra từ thực tiễn là: “Nông thôn là biển, thành thị
là thuyền, biển lặng - thuyền yên” Phát triển toàn diện và chăm lo tới cuộc sống
vật chất và tinh thần của nông dân, đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo và khắc phục
sự phân hoá giàu nghèo đang diễn ra gay gắt ở nông thôn, đảm bảo dân chủ và
công bằng xã hội đối với nông dân Đó không chỉ là những nhiệm vụ đặt ra hàng
ngày đối với HTCT ở cơ sở nông thôn, mà còn là thước đo đánh giá sự chuyển biến của HTCT ở cơ sở nông thôn Như vậy, vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn đối với sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội là thực hiện
tập trung nhất ở việc bảo đảm vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng, tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước theo đường lối chính trị của Đảng đối với kinh
tế, phát huy quyền làm chủ của nhân dân mọi mặt trong đời sống thực tế
Dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn, thực hiện có hiệu quả quy chế
dân chủ đối với nông dân và đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 - khoá IX
về đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thị trấn vào cuộc
sống - đó là giải pháp cơ bản, lâu dài để tạo ra ở nông thôn một cộng đồng xã hội đồng thuận, đoàn kết, dân chủ và ngày càng ổn định, phát triển Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, dân chỉ biết đến giá trị của dân chủ, của độc lập tự do khi dân được ăn no, mặc ấm Nước nhà có độc lập tự do mà dân chúng vẫn đói rét, nghèo nàn, lạc hậu thì độc lập tự do đó phòng có ích gì Phải làm cho dân có
ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng tự
do và hạnh phúc Chỉ có thực hành dân chủ rộng rãi mới là chiếc chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn
Trang 33Tóm lại, Tiếp cận và nghiên cứu hệ thống chính trị như một hệ thống
chỉnh thể các tổ chức, thiết chế, hệ thống các quan hệ và các cấp độ khác nhau như trên cho thấy rõ được cấu trúc, bản chất và mục tiêu của hệ thống chính trị
ở nước ta Hệ thống chính trị mà chúng ta đang đổi mới, hoàn thiện là hệ
thống chính trị nhằm xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân
chủ của dân, phát huy vai trò làm chủ của các tầng lớp nhân dân lao động
Tiếp cận và nghiên cứu hệ thống chính trị như vậy sẽ thấy rõ được mối quan
hệ máu thịt giữa hệ thống chính trị với dân và giữa dân với hệ thống chính trị: Đảng của dân tộc, của nhân dân; nhà nước của dân, do dân; các tổ chức chính
trị- xã hội của dân và tất cả đều vì dân Như vậy, hệ thống chính trị của chúng
ta đang xây dựng về thực chất là của dân, do dân và vì dân Từ cách tiếp cận như thế chúng ta sẽ thấy rõ vị trí, vai trò của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn- một cấp (cấp cơ sở) của hệ thống chính trị duy nhất thống nhất gần dân
nhất, trực tiếp vì dân nhất Vì vậy, mọi hoạt động của các chủ thể quyền lực trong HTCT cơ sở nông thôn là nhằm bảo đảm thực hành dân chủ, phản ánh ý
chí nguyện vọng của nhân dân tại cơ sở Do vậy, mọi cơ chế, quy chế thực hiện dân chủ và hoạt động của HTCT cơ sở nông thôn phải được dân biết, dân
bàn, dân tham gia, dân kiểm tra Những căn cứ lý luận như vậy sẽ là công cụ nhận thức quan trọng để luận văn khảo sát hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn trên địa bàn tỉnh KonTum dưới dây.
Trang 342.1.1 Đặc điểm địa lý - tự nhiên
Tách từ Gia Lai - Kon Tum (tháng 10 năm 1991), vị trí của tỉnh
KonTum là vùng cao biên giới nằm ở cực Bắc Tây Nguyên với diện tích 9.661 km); phía Bắc tiếp giáp tỉnh Quảng Nam có chiều dài ranh giới 142 km, phía
Nam giáp với tỉnh Gia Lai có chiều dài ranh giới 203 km, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi có chiều dài ranh giới 746 km, đặc biệt là phía Tây giáp với hai nước Lào và Campuchia có chung 275 km đường biên giới [I, tr.18] Vì thế, Kon Tum đã trở thành mái nhà Đông Dương Đây là một trong những địa bàn
có một vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng
Về địa hình, phần lớn lãnh thổ tỉnh Kon Tum nằm ở khối Kon Tum
thượng, tức là ở phía Tây Trường Sơn với hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam
và từ Đông sang Tây Nhìn chung địa hình ở đây đa dạng: Đồi núi, cao nguyên và vùng thung lũng xen kẽ nhau.Trong đó, đồi núi chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, có độ đốc 15” trở lên, với đỉnh Ngọc Linh cao 2.598m,
ngọn Ngọc Krinh (2066m), ngọn Bồng Sơn (1939m) Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc và Đông Bắc tinh Kon Tum (Dak Glei, Đăk Tô) Mặt địa hình phân cắt hiểm trở tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối Địa hình đồi, tập trung chủ yếu ở vùng Sa Thầy, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chư
Mô Ray Địa hình thung lũng nằm dọc theo con sông Pô Cô đi về phía Nam
của tỉnh và có nhiều chỗ bề mặt phẳng như thị xã Kon Tum, và thung lũng
sông Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía Đông chạy
Trang 35dọc biên giới Việt Nam - Campuchia Tỉnh có cao nguyên Kon Plong nằm giữa dãy An Khê (tỉnh Gia Lai) và dãy Ngọc Linh (Kon Tum) với độ cao 1.100 - 1.300m, phát triển theo hướng Tay Bắc - Đông Nam [11, tr.19]
Về khí hậu, Kon Tum thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau với hướng gió thịnh hành theo hướng Đông Bắc
Về đất đai và rừng, tỉnh có tổng diện tích 966.100 ha đất đai, trong đó nông nghiệp là 155.262 ha, đất lâm nghiệp 616.054 ha, đất chuyên dùng 5.704
ha [1, tr.20] Diện tích rừng tự nhiên của Kon Tum còn khoảng 616.054 ha với
độ che phủ 61% (bao gồm: rừng sản xuất 324.856 ha, rừng phòng hộ 290.766
ha, rừng đặc dụng 432 ha); với các kiểu rừng chính như rừng cây lá kim, rừng
lá nhiệt đới hỗn hợp cây lá rộng, rừng lá ẩm nhiệt đới cho thảm thực vật và động vật ở đây phong phú và da dang [1, tr.25-26]
Kon Tum với vị trí mệnh danh là mái nhà Đông Dương, tuy có địa hình
hiểm trở, song lại giàu tiểm năng kinh tế Đồng thời, Kon Tum là địa bàn có vị
thế chiến lược về an ninh biên giới, một trọng điểm mà các thế lực thù địch đã
và đang âm mưu thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" thông qua vấn đề dân tộc và tôn giáo Điều đó đang đặt ra: yêu cầu việc xây dựng HTCT ở cơ sở nông thôn không chỉ phải tập trung mọi nguồn lực khai thác tiềm năng, mà còn phải vững mạnh có bản lĩnh chính trị cao và khả năng xử lý nhạy bén, hiệu quả đối với những vấn đề có diễn biến phức tạp trong thực tiễn.
Trang 362.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Kon Tum là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc nhất ở Tây Nguyên Theo
kết quả điều tra dân số (01/4/1999), dân số của Kon Tum là 316.501 người bao gồm: 28 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 6 dân tộc bản địa (Xê Đăng, Ba Na, Brâu, Giẻ-Triêng, Gia rai, Rơmâm) chiếm 49,94% dân số của
tỉnh vốn sinh sống từ lâu đời ở vùng này Trước đây ở Kon Tum, cũng như Tây Nguyên nổi bật một hiện tượng phân bố dân cư ở mỗi làng, buôn, Play là
một dân tộc (hay nhóm địa phương); còn hiện tượng trong một làng có hai hay nhiều tộc người khác nhau thì rất ít hoặc hầu như không có Từ khi người Kinh đến với Kon Tum - Tây Nguyên, cùng với về sau, do quá trình di dân nhằm điều hòa sự phân bố lại cư dân và lao động trong phạm vi cả nước để phát triển
kinh tế - văn hóa, đã dẫn đến bức tranh phân bố dân cư giữa các thành phần
dân tộc trong tỉnh có sự thay đổi lớn Đó là tính chất cư trú xen kế ngày càng tăng lên, nhất là những nơi thuận lợi cho làm ăn sinh sống Vì thế, nét đặc trưng ngày nay ở Kon Tum mang nét đặc trưng của nơi hợp nhiều nguồn dân
cư khác nhau có đặc điểm đa sắc tộc với sự đan xen về địa bàn cư trú giữa các tộc người Tính chất xen cư này rất phổ biến không chỉ ở địa bàn cấp xã mà còn ở cấp độ làng Đặc điểm này, một mặt đặt ra yêu cầu có tính đặc thù: phải
chú ý trong quá trình cơ cấu cán bộ trong HTCT ở cơ sở nông thôn phải tính
đến cơ cấu dân tộc, tính đến việc nắm vững các ngôn ngữ dân tộc bản địa; mặt khác cũng yêu cầu đội ngũ cán bộ cấp xã phải đặc biệt quan tâm đến việc rèn
luyện khả năng nhạy cảm với các vấn đề dân tộc, biết giải quyết nhanh và có hiệu quả khi có xích mích và xung đột dân tộc xảy ra ở địa phương, để cao
tỉnh thần đoàn kết dân tộc
Ngày nay, Kon Tum là một địa bàn có sự đan xen, nhiều tầng nấc về phương thức và trình độ sản xuất có cả lạc hậu lẫn tiên tiến cùng tồn tại khá rõ rệt Đối với các cư dân bản địa thì còn chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi phương
thức sản xuất lạc hậu, nương rẫy, săn bắt, hái lượm, với trình độ tổ chức quản
lý còn giản đơn, trong đó, phương thức canh tác phát rừng làm rẫy mang tính
Trang 37thuần nông độc canh cây lúa Những nhân tố đó ảnh hưởng lớn đến năng lực
tư duy và khả năng tổ chức thực tiễn của người cán bộ dân tộc bản địa hiện nay Theo dòng lịch sử, các thế hệ của từng thành phần dân tộc tùy theo điều
kiện riêng của mình, đã cần cù chịu khó, sáng tạo trong lao động, tiếp thu những phương pháp và kỹ thuật tiến bộ của dân tộc kinh Đặc biệt gần đây việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ theo đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta, nhân dân tỉnh Kon Tum đã và đang thúc đẩy nền sản
xuất ngày càng phát triển, với cơ cấu kinh tế vườn - rừng - trang trại đang có
chiều hướng tăng nhanh phù hợp xu hướng chung của nên kinh tế thị trường
Có thể nói, đặc điểm của sự đan xen, nhiều tầng nấc về phương thức và
trình độ sản xuất nơi đây: một mặt, tạo ra cơ hội tốt trong việc nâng cao trình
độ sản xuất đối với đồng bào các dân tộc; mặt khác, nếu sự lãnh đạo của cấp
uỷ đảng không vững vàng, sự quản lý của chính quyền cơ sở bị buông lõng thì đây cũng chính là mảnh đất cho những hiện tượng tiêu cực lây lan và gây tác
hại, cản trở không nhỏ đến sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum
2.1.3 Đặc điểm văn hóa và tâm lý truyền thống
Với đặc điểm là tỉnh có đa dân tộc, bao gồm 28 dân tộc cùng chung
sống Điều đó đã tạo cho Kon Tum một diện mạo phong phú và đa dạng cả về tộc người và về văn hóa Ngày nay, bên cạnh việc sử dụng rộng rãi tiếng Việt
thì tiếng nói và chữ viết của dân tộc bản địa được khuyến khích phát triển
ngày một phong phú va da dang đáp ứng nhu cầu biểu đạt về nhiều lĩnh vực khác nhau trong giao tiếp, đặc biệt là tiếng Xêđăng, Bana, Giẻ Triêng phát
triển mạnh "Hiện tượng sử dụng song ngữ, đa ngữ ở từng khu vực, làng bản thậm chí trong từng gia đình cũng là một thực tế hiện nay ở nhiều vùng dân tộc
Hiện tượng vay mượn từ, nhất là từ về chính trị, xã hội, khoa học của tiếng dân tộc từ tiếng phổ thông cũng là một thực tế đáng lưu ý hiện nay" [12, tr.145] Hơn nữa, cư dân bản địa có nguồn gốc lâu đời và quan hệ văn hóa sâu sắc với nhiều dân tộc anh em khác
Trang 38Có thể nói, sự dung hòa các sắc thái văn hóa của từng dân tộc anh em sống trên mảnh đất này, tạo thành phẩm cách đặc trưng cho Kon Tum Nói đến văn hóa Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng là nói đến các trường ca, văn hóa cồng chiêng, kiến trúc văn hóa nhà mồ, nhà rông, Tất cả những cái đó đã được kết tinh lại trong quá trình lao động sáng tạo và đấu
tranh của cư dân bản địa Kon Tum đối với tự nhiên, xã hội qua hàng thiên
niên kỷ Nó có ý nghĩa khẳng định cội nguồn dân tộc, thể hiện lòng yêu quê hương, yêu thiên nhiên, hướng con người tới sự đoàn kết gắn bó, yêu thương
nhau và vươn tới ước vọng nhân bản Những yếu tố ấy cũng đặt ra yêu cầu phải đảm bảo xây dựng khối đoàn kết cộng đồng đa sắc tộc ổn định và phát triển là một trong những mục tiêu quan trọng mà hoạt động của HTCT ở cơ sở
nông thôn hướng đến
Trước đây, với trình độ sản xuất thấp kém, vốn tri thức còn hạn chế
chưa hiểu hết về quy luật của vũ trụ, trình độ tư duy chưa phát triển, các cư dân bản địa Kon Tum chưa lý giải được một cách khoa học về các hiện tượng
tự nhiên, còn lệ thuộc trước sức mạnh của tự nhiên Vì thế trong tâm tưởng, trong các lễ hội, phong tục tập quán còn in đậm niềm tin, khát vọng vào thế
giới thần linh theo quan niệm "vạn vật hữu linh"(tín ngưỡng đa thần giáo), đã
chi phối thái độ và ứng xử của người dân tộc bản địa dễ rơi vào tâm lý thụ
động, bảo thủ làm hạn chế đến tính sáng tạo, năng động của mỗi con người và cộng đồng
Trước khi bước vào xã hội hiện đại, tổ chức xã hội duy nhất của cư dân
bản địa Kon Tum, chỉ tồn tại duy nhất là làng, với một phức hợp văn hóa gồm
khu dân cư, kho thóc, nhà rông, máng nước, đất canh tác, rừng, sông suối, nghĩa địa Chế độ tự quản trong làng vận hành trên cơ sở luật tục Đó là
những quy tắc xã hội, chỉ dẫn cách đối nhân xử thế, xác định hành vi tội phạm theo truyén thống văn hóa của cư dân Ở mỗi dân tộc và từng làng đều có luật tục riêng của mình Sự hình thành phép ứng xử của đồng bào trước thiên
nhiên, trước xã hội và với bản thân mình chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của
Trang 39bản thân và những quy định của luật tục Luật tục trong thời kỳ tiền công nghiệp là công cụ điều hành và quản lý xã hội hữu hiệu Tuy nhiên, trong thời
kỳ củng cố và phát triển của pháp luật, thì luật tục trở thành công cụ tự quản
tồn tại song song với pháp luật và sự tác động của luật tục đối với đời sống cộng đồng cũng có sự thay đổi tùy thuộc vào tác động mạnh yếu của pháp luật Ngày nay, luật định mang tính chất pháp quy của toàn xã hội nước ta được phổ biến rộng rãi Nhưng đi kèm bên cạnh những quy định chung, đối
với đồng bào các dân tộc ở các huyện của tỉnh Kon Tum vẫn bảo lưu nhiều nét riêng về tập quán truyền thống văn hóa tiến bộ, biểu hiện trong việc dàn xếp
và hòa giải những bất đồng trong quan hệ xã hội Vì thế, "ở nước ta, cùng với nhiều yếu tố tác động khác cho đến nay, luật tục đang chuyển sang vị trí, vai
trò chủ yếu, bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật ở những quan hệ xã hội không cơ
bản, trong nhiều trường hợp, đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng các quy chuẩn
luật tục vì sự thiết thực, cụ thể, hợp lý của chúng" [42, tr.167] Và nếu chỉ tính
riêng khía cạnh: tập quán pháp và luật tục của mỗi buôn, bản với luật pháp chung của cả nước, thì đã có nhiều điểm chênh lệch, đòi hỏi những người
quản lý và điều hành phải có sự kết hợp hài hòa sao cho vừa kế thừa được những nhân tố hợp lý của luật tục , lại vừa thực hiện nghiêm minh luật pháp chung của Nhà nước [12, tr.234]
Thực tiễn Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng, đã và đang đòi hỏi đội ngũ cán bộ của HTCT ở cơ sở nông thôn phải thông thạo tiếng nói, phong tục, tập quán, tâm lý, truyền thống của các dân tộc trên địa bàn; có khả
năng "biết nghe dân nói, biết nói dân nghe" Đồng thời, họ phải biết kết hợp
nhuần nhuyễn pháp luật với "luật gia" và "luật tục" trong quản lý xã hội; biết đối thoại với mọi tầng lớp nhân dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội theo
đúng quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Trong truyền thống dân tộc bản địa Tây Nguyên - Kon Tum ở mỗi làng, việc điều hành mọi việc theo luật tục do Hội đồng già làng, đứng đầu là chủ làng Phổ biến ở các dân tộc Kon Tum, chức chủ làng là do dân bầu lên thông
Trang 40qua cuộc họp chung ở nhà rông Các dân tộc có số dân đông như Xê đăng, Ba
Na, Giẻ Triêng, bên cạnh chủ làng còn có hội đồng già làng bao gồm những
người đàn ông có uy tín, sức khỏe, minh mẫn, hoạt bát, giao thiệp rộng, có đạo đức, thương yêu dân làng, thông hiểu lễ nghi phong tục tập quán, luật tục, lịch
sử làng, giàu kinh nghiệm sản xuất Trên cương vị của mình, chủ làng và già làng là người tối cao đảm nhiệm việc quyết định những vấn đề quan trọng cả
đối nội lẫn đối ngoại của làng; cả trong sinh hoạt kinh tế lẫn sinh hoạt xã hội
và đời sống tỉnh thần - với tư cách là người đại diện tinh thần của dân làng,
thực thi nhiệm vụ do dân làng giao phó Từ đó, vị trí vai trò của già làng như
một biểu tượng tỉnh thần với chức năng chủ yếu của ông là một trung tâm đoàn kết, hòa giải, giữ gìn truyền thống, là tấm gương mẫu mực để giáo dục các thế hệ của cộng đồng Có thể nói, nhiều giá trị thiết thực ở uy tín của già làng vẫn phù hợp ở việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở
có được phẩm chất như vậy trong điều kiện hiện nay
Tóm lại, những đặc điểm mang tính đặc thù nêu trên, tác động và chỉ
phối rất mạnh đến HTCT cơ sở cấp xã của tỉnh Kon Tum Điều này cần phải tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình kiện toàn HTCT ở cơ sở nông thôn của tỉnh Kon Tum
2.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CƠ SỞ TỈNH KON TUM TỪ NĂM 1992
ĐẾN NAY
Phát huy truyền thống cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong công cuộc đổi mới, nhất là sau ngày tái lập
tỉnh tháng 10 năm 1991 (tách từ tỉnh Gia lai - Kon Tum cũ): Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, tình hình chính trị của Kon Tum luôn ổn định, giữ vững quốc phòng - an ninh và củng cố trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, tạo điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Nhờ vậy, Đảng bộ và nhân dân
các dân tộc tỉnh Kon Tum đã khai thác có hiệu quả những lợi thế về vị trí địa