Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, liên tiếp các sự kiện chính trị, kinh tế xảy ra trên thế giới gây tác động mạnh đến trạng thái tâm lý tinh thần của loài người. Chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực lâm vào khủng hoảng trầm trọng, dẫn đến sự sụp đổ ở hàng loạt nước Đông Âu và Liên Xô, gây nên sự đảo lộn nghiêm trọng đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, làm đổ vỡ niềm tin của hàng triệu con người vào lý tưởng xây dựng cuộc sống tốt đẹp trên trần thế. Các cuộc chiến tranh tàn phá ở vùng Vịnh, cuộc chiến ở Nam Tư, cùng bao cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, các phong trào ly khai, khủng bố đẫm máu ở châu Á, châu Âu, châu Phi..., chính sách bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính tiền tệ... với sự suy thoái về các mặt của đời sống xã hội ở nhiều nước ngày càng làm sâu sắc thêm tâm lý bất mãn của con người lao động đang mong tìm lối thoát khỏi nỗi khổ cực trần gian. Nhân loại mặc dù đã và đang bước vào nền văn minh mới nhưng cũng đang đứng trước hàng loạt nguy cơ đe dọa của: chiến tranh hạt nhân hủy diệt; nạn ô nhiễm môi trường sinh thái; các căn bệnh hiểm nghèo; sự gia tăng dân số; mức độ thiên tai tàn phá ngày một gia tăng (động đất, bão lụt, núi lửa...); hiểm họa thiên thạch đối với trái đất v.v... và v.v... Tất cả những vấn đề đó làm cho một số người phải cam lòng gửi số phận vào những phép mầu của đấng siêu nhiên. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho sự nảy sinh, nuôi dưỡng sự tồn tại và phát triển của tôn giáo xét trên nhiều khía cạnh. Nằm chung trong tình hình của nhân loại, Việt Nam trong thời gian gần đây, trước sự đổi mới toàn diện của đất nước, nhất là việc mở rộng tự do dân chủ trong đó có tự do tín ngưỡng, các hoạt động của tôn giáo được khôi phục và phát triển mạnh mẽ. Khắp nơi tiến hành mở lại lễ hội, sửa chữa lại đình chùa, nhà thờ, đền miếu, từ đường dòng họ... Số người đi theo các tôn giáo ngày càng tăng lên nhanh chóng. Các hoạt động của mê tín dị đoan cũng đã xuất hiện một cách phổ biến. Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới, đồng thời cũng là một học thuyết mang đậm tính triết học sâu sắc. Ở Việt Nam, Phật giáo là một tôn giáo có truyền thống gắn bó với dân tộc ta từ lâu đời, và là tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của nhân dân. Ngày nay Phật giáo ở nước ta đang có sự phục hồi và phát triển một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ cũng đang tìm cách lợi dụng tôn giáo (trong đó chú ý tới Phật giáo) như một công cụ một phương tiện cơ bản để thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình hòng xóa bỏ mọi thành quả của CNXH trên đất nước ta. Bởi vậy có học giả đã từng khẳng định: Trong thời đại ngày nay, tìm hiểu tôn giáo là một điều cần thiết và đầy hứng thú đối với tất cả những ai quan tâm đến cuộc sống quanh mình 28, 5. Trước tình hình diễn biến phức tạp như vậy của thực tiễn, đòi hỏi chúng ta phải dùng quan điểm khoa học để nghiên cứu một cách toàn diện điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay, để từ đó có cơ sở khoa học rút ra những quan điểm, biện pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong xã hội ta hiện nay. Đáp ứng phần nào yêu cầu đòi hỏi đó, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài: Điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay (Qua một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ).
Trang 1mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, liên tiếp các sự kiện chínhtrị, kinh tế xảy ra trên thế giới gây tác động mạnh đến trạng thái tâm lý tinhthần của loài ngời
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực lâm vào khủng hoảng trầmtrọng, dẫn đến sự sụp đổ ở hàng loạt nớc Đông Âu và Liên Xô, gây nên sự
đảo lộn nghiêm trọng đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, làm đổ vỡniềm tin của hàng triệu con ngời vào lý tởng xây dựng cuộc sống tốt đẹptrên "trần thế"
Các cuộc chiến tranh tàn phá ở vùng Vịnh, cuộc chiến ở Nam T,cùng bao cuộc chiến tranh sắc tộc, tôn giáo, các phong trào ly khai, khủng
bố đẫm máu ở châu á, châu Âu, châu Phi , chính sách bao vây cấm vậncủa chủ nghĩa đế quốc, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính - tiềntệ với sự suy thoái về các mặt của đời sống xã hội ở nhiều nớc ngày cànglàm sâu sắc thêm tâm lý bất mãn của con ngời lao động đang mong tìm lốithoát khỏi nỗi "khổ cực trần gian"
Nhân loại mặc dù đã và đang bớc vào nền văn minh mới nhng cũng
đang đứng trớc hàng loạt nguy cơ đe dọa của: chiến tranh hạt nhân hủy diệt;nạn ô nhiễm môi trờng sinh thái; các căn bệnh hiểm nghèo; sự gia tăng dânsố; mức độ thiên tai tàn phá ngày một gia tăng (động đất, bão lụt, núilửa ); hiểm họa thiên thạch đối với trái đất v.v và v.v Tất cả những vấn
đề đó làm cho một số ngời phải cam lòng gửi số phận vào những "phépmầu" của "đấng siêu nhiên" Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho sự nảysinh, nuôi dỡng sự tồn tại và phát triển của tôn giáo xét trên nhiều khíacạnh
Trang 2Nằm chung trong tình hình của nhân loại, Việt Nam trong thời giangần đây, trớc sự đổi mới toàn diện của đất nớc, nhất là việc mở rộng tự dodân chủ - trong đó có tự do tín ngỡng, các hoạt động của tôn giáo đợc khôiphục và phát triển mạnh mẽ Khắp nơi tiến hành mở lại lễ hội, sửa chữa lại
đình chùa, nhà thờ, đền miếu, từ đờng dòng họ Số ngời đi theo các tôngiáo ngày càng tăng lên nhanh chóng Các hoạt động của mê tín dị đoancũng đã xuất hiện một cách phổ biến
Phật giáo là một tôn giáo lớn của thế giới, đồng thời cũng là mộthọc thuyết mang đậm tính triết học sâu sắc ở Việt Nam, Phật giáo là mộttôn giáo có truyền thống gắn bó với dân tộc ta từ lâu đời, và là tôn giáo có
ảnh hởng không nhỏ tới đời sống tinh thần của nhân dân Ngày nay Phậtgiáo ở nớc ta đang có sự phục hồi và phát triển một cách nhanh chóng
Bên cạnh đó, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ cũng đangtìm cách lợi dụng tôn giáo (trong đó chú ý tới Phật giáo) nh một công cụ -một phơng tiện cơ bản để thực hiện chiến lợc "diễn biến hòa bình" hòngxóa bỏ mọi thành quả của CNXH trên đất nớc ta
Bởi vậy có học giả đã từng khẳng định: "Trong thời đại ngày nay,tìm hiểu tôn giáo là một điều cần thiết và đầy hứng thú đối với tất cả những
ai quan tâm đến cuộc sống quanh mình" [28, 5]
Trớc tình hình diễn biến phức tạp nh vậy của thực tiễn, đòi hỏichúng ta phải dùng quan điểm khoa học để nghiên cứu một cách toàn diện
điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay, để từ đó có cơ sở khoahọc rút ra những quan điểm, biện pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạnchế mặt tiêu cực của Phật giáo trong xã hội ta hiện nay Đáp ứng phần nào
yêu cầu đòi hỏi đó, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài: Điều kiện tồn tại
của Phật giáo Việt Nam hiện nay (Qua một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ).
Trang 32 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho tới nay, ở nớc ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tôngiáo tín ngỡng nói chung, Phật giáo nói riêng dới các góc độ, khía cạnhkhác nhau có thể nêu lên mấy chủ đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu về sự phát triển của Phật giáo Việt Nam qua các thời
kỳ khác nhau trong lịch sử có các tác phẩm nh: "Phật giáo Việt Nam từ
nguyên thủy đến thế kỷ VIII" của Trần Văn Giáp; "Việt Nam Phật giáo sử lợc"
của Thích Mật Thể; "Việt Nam Phật giáo sử luận" (ba tập) của NguyễnLang; "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của nhiều tác giả do PGS Nguyễn Tài
Th chủ biên; "Lợc sử Phật giáo Việt Nam" của Thợng tọa Thích Minh Tuệ;
"Lịch sử Phật giáo Việt Nam" của Lê Mạnh Thát,
- Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam với t cách là một bộ phận cấuthành lịch sử t tởng Việt Nam nh: "Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam" của GSTrần Văn Giàu; "Lịch sử t tởng Việt Nam" tập 1 của PGS Nguyễn Tài Th chủbiên; "Lịch sử t tởng Việt Nam" tập 2 của PGS Lê Sỹ Thắng; "Mấy vấn đề
Phật giáo và lịch sử t tởng Việt Nam" của tập thể tác giả Viện Triết học; "T tởng Phật giáo Việt Nam" của Nguyễn Duy Hinh; "Lợc khảo t tởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam" của Nguyễn Hùng Hậu
- Nghiên cứu Phật giáo dới góc độ văn hóa, nghệ thuật nh các tácphẩm: "Thiền học của Trần Thái Tông" của Nguyễn Đăng Thục; "Cảm
nhận đạo Phật" của Phạm Kế; "Cơ sở văn hóa Việt Nam" của Trần Ngọc
Thêm; "Văn hóa Phật giáo và lối sống của ngời Việt ở Hà Nội và châu thổ
Bắc Bộ" của Nguyễn Thị Bảy; "Chùa Hà Nội" của Nguyễn Thế Long và
Phạm Mai Hùng; "Vài nét về Phật giáo dân gian Việt Nam" của GS TrầnQuốc Vợng; "Mỹ thuật Lý - Trần, mỹ thuật Phật giáo" của Chu Quang Trứ,
- Nghiên cứu những ảnh hởng của Phật giáo trong đời sống tinh thầncủa ngời Việt Nam Gần đây có đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nớc
"ảnh hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt Nam hiện nay"
do PGS Nguyễn Tài Th chủ biên; luận án PTS "Về vai trò của Phật giáo Việt
Nam" (Qua triều đại nhà Lý) của Phạm Văn Sinh; "Vai trò xã hội của tôn giáo: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Hồ Trọng Hoài
Ngoài ra, trên một số tạp chí nghiên cứu mà điển hình là tạp chíTriết học, tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lý luận, tạp chí Nghiên cứutôn giáo cũng có một số bài đề cập tới nội dung giáo lý, lịch sử, văn hóacùng những mặt tích cực và tiêu cực của Phật giáo Việt Nam
Nhìn chung điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay cha
đợc các công trình khoa học nói trên đề cập tới một cách có hệ thống và đầy
đủ Dù sao những công trình nghiên cứu đó là những đóng góp to lớn trêncon đờng tiếp cận Phật giáo Việt Nam dới góc độ khoa học và là những tàiliệu vô cùng quí báu để chúng tôi lấy làm t liệu học tập và kế thừa
Trang 43 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Mục đích: Luận án vận dụng lý luận triết học Mác - Lênin, t tởng
Hồ Chí Minh cùng với các quan điểm của Đảng và Nhà nớc kết hợp vớikhái quát hóa thực tiễn tình hình Phật giáo ở Việt Nam - mà cơ bản là tìnhhình Phật giáo ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ hiện nay để chứng minh vàphân tích một cách toàn diện về điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Namhiện nay Trên cơ sở đó, đa ra những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong xã hội ta hiện nay
- Để thực hiện mục đích trên, luận án tập trung giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:
+ Phân tích lịch sử Phật giáo và Phật giáo ở Việt Nam để làm rõPhật giáo Việt Nam hiện nay là sự tiếp tục của Phật giáo Việt Nam tronglịch sử
+ Phân tích, chứng minh những nhân tố chủ yếu qui định sự tồn tạicủa Phật giáo ở nớc ta hiện nay (Qua một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ)
+ Đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực
và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo Việt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung, đặcbiệt là tình hình Phật giáo hiện nay của các tỉnh, thành: Hà Nội, Hải Dơng,Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Hà Tây (một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ)
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận án dựa trên các quan điểm của chủ nghĩaMác – Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, cùng với đờng lối chính sách của Đảng
và Nhà nớc ta về vấn đề tôn giáo
- Cơ sở thực tiễn của luận án: Đề tài đi sâu phân tích thực tiễn, trêncơ sở các số liệu, dữ kiện thu thập đợc qua các sách báo, tài liệu, tạp chí ,
Trang 5cùng các cuộc tiếp xúc, trao đổi, khảo sát một số đối tợng của sáu tỉnh,thành đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dơng, Bắc Ninh, Hải Phòng, TháiBình, Hà Tây).
- Phơng pháp nghiên cứu: Luận án đợc thực hiện trên cơ sở vậndụng tổng hợp phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, cùng một số phơng pháp khác nh phơng pháp phântích và tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa, trừu tợng hóa,lịch sử và lôgíc
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án có sự hệ thống hóa điều kiện tồn tại của Phật giáo ViệtNam hiện nay trên cơ sở những t liệu, số liệu thực tế
Bớc đầu luận án đã nêu lên đợc một số vấn đề đặt ra hiện nay củaPhật giáo Việt Nam ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm từng bớc phát huy mặttích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo Việt Nam hiện nay
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án đóng góp một phần cho việc nghiên cứu Phật giáo ViệtNam một cách toàn diện và sâu sắc hơn
Luận án có thể sử dụng nh là một tài liệu tham khảo trong nghiêncứu, giảng dạy những môn có liên quan tới những vấn đề của Phật giáo,
đồng thời qua đây cũng giúp cho công tác hoạt động thực tiễn đối với Phậtgiáo của cán bộ các cấp đạt đợc hiệu quả hơn
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
có 167 trang, gồm 3 chơng, 7 tiết
Trang 7Chơng 1
Phật giáo Việt Nam hiện nay - sự tiếp tục
của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử
1.1 Phật giáo và phật giáo ở Việt Nam
1.1.1 Sự ra đời và nội dung cơ bản của Phật giáo
a) Lịch sử hình thành Phật giáo.
Thái tử Tất Đạt Đa - Ngời sáng lập Phật giáo.
Theo truyền thuyết, ngời sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Cồ Đàm Tất Đạt Đa (Gau ta ma Siddhattha) sinh năm 563 trớc công nguyên (TCN),con vua Tịnh Phạn (Shudd hodana) thuộc bộ tộc Thích Ca (Sa Kya), trị vìmột vơng quốc nhỏ là Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavaxtu) ở trung lu sông Hằng, baogồm một phần phía Nam Nê-pan và một phần các bang Ut-ta-rơ, Pra-đe-zơ,
-Bi he của ấn Độ ngày nay Đợc sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt, hơn nữalại là ngời con độc nhất, do đó Vua và Hoàng hậu rất yêu quí Tất Đạt Đa.Ngay từ nhỏ Tất Đạt Đa đã sống trong môi trờng giàu sang nhung lụa và đ-
ợc mọi ngời tránh cho những nỗi u lo phiền não Tuổi trẻ Tất Đạt Đa không
đợc rời khỏi hoàng cung, chỉ sử dụng thời gian vào việc giải trí, vui chơi,yến tiệc, học hành, lễ bái tế tự Tất Đạt Đa không hề thấy và cũng không hềbiết những gì là đen tối, cực nhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanhmình, thậm chí cũng không ngờ rằng trong cuộc đời lại có cảnh đói khát,bệnh tật, già yếu và chết chóc bi thơng
Năm 17 tuổi, đã đợc đức Vua cha cho sớm kết duyên cùng Côngchúa Da Du Đà La, sau đó sinh hạ đợc ngời con trai đặt tên là La Hầu La
Kể từ sau đó, Tất Đạt Đa mới có điều kiện tiếp xúc với xã hội hiện thực
Theo chuyện kể, lý do dẫn đến bớc ngoặt trong tâm hồn trí tuệ đầynhạy cảm của Tất Đạt Đa là những cảnh tợng gặp bất ngờ tại bốn cửa ra vàoHoàng cung Tất Đạt Đa tận mắt nhìn thấy một cụ già còm cõi, một ngời bị
Trang 8bệnh tật giày vò, và sau đó là cảnh của một ngời chết đau thơng Lần đầu tiênTất Đạt Đa nhận ra rằng bệnh tật, già yếu và cái chết là những điều bấthạnh, bi kịch cho tất cả mọi ngời Cuối cùng Tất Đạt Đa gặp một tu sĩnghèo với nét mặt dung dị, thanh thản khác thờng (một ngời chối bỏ hởngthụ xa hoa để đi tìm sự bình yên của tâm hồn trong khổ hạnh), và rồi Ngờiquyết định noi theo vị tu sĩ ấy.
Năm 19 tuổi (có sách chép là 29 tuổi), nhân lúc vợ con, vua cha ngủsay, Ngời đã rời bỏ Hoàng cung, từ chối giàu sang và quyền lực vào ẩntrong núi Tuyết Sơn (Già-Xà-Gaya) để tu tập thiền định Trong sáu năm trờikiên trì tu khổ hạnh, nhng Ngời vẫn cha đợc thành chính quả Qua thực tế tuhành, Tất Đạt Đa hiểu ra rằng; từ cuộc sống giàu sang tràn đầy vật chất,thỏa mãn dục vọng, lẫn cuộc sống khổ hạnh ép xác đều đi chệch khỏi con
đờng đúng đắn Cuộc sống thứ nhất là cuộc sống tầm thờng vô tích sự; cuộcsống thứ hai cũng tăm tối, không xứng đáng và vô nghĩa nh cuộc sống thứnhất Con đờng đúng đắn phải là "trung đạo", con đờng tự mình đào sâu suynghĩ để nhận thức chân lý, con đờng dẫn tới yên tĩnh và sự bừng sáng của tâmhồn trí tuệ Sau đó, Tất Đạt Đa từ bỏ tu khổ hạnh đi vào t duy trí tuệ Sau 49ngày thiền định dới gốc cây Bồ đề (pippala), cuối cùng Ngời đã giác ngộ đ-
ợc chân lý - thấu hiểu đợc bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau vàcon đờng giải thoát cho chúng sinh Từ đó, Ngời chu du khắp lu vực sôngHằng truyền bá đạo của mình Tôn giáo mới gắn liền với tên tuổi của Ngời
đã hình thành và dần dần lan rộng ra nhiều vùng của ấn Độ đơng thời Ngời
đời gọi đó là Phật giáo (giáo lý giác ngộ)
Phật thọ 80 tuổi và tịch diệt vào ngày rằm tháng hai, trong một vờncây gần thành Câu-thi-la (Kusinagara)
Phật giáo ra đời trong một hoàn cảnh xã hội đặc biệt của ấn độ lúcbấy giờ Nó đợc hình thành trên những tiền đề cơ bản sau:
Trang 9- Tiền đề kinh tế xã hội.
ấn Độ là một nớc lớn, đất rộng ngời đông ở miền nam Châu á, là
n-ớc có lịch sử từ lâu đời, là một trong những nơi có nền văn minh sớm nhất
và rực rỡ nhất trên thế giới
Vào khoảng thế kỷ VI Tr.CN ở ấn Độ lực lợng sản xuất phát triểnnhanh, sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày cànggay gắt Đạo Bà La Môn sau một thời gian củng cố đã đi vào giai đoạn pháttriển cực thịnh cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị trong xã hội Đạo Bà LaMôn đã phân chia xã hội thành bốn đẳng cấp với quyền lợi, địa vị và nghĩa
Trang 10trào lu t tởng đó đều gặp nhau ở chỗ - hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp - chốnglại chế độ phân biệt đẳng cấp và đạo Bà La Môn Học thuyết Phật giáo làmột trong những trào lu t tởng đó.
- Tiền đề t tởng lý luận.
Phật giáo bắt nguồn từ những cảm hứng, suy t khát vọng của nhữngngời ấn Độ cổ đợc tập hợp lại trong Vê Đa Đối với phái chính thống, Vê
Đa có nghĩa là những tri thức cao cả, thiêng liêng Trong nghĩa cụ thể, Vê
Đa là một khối lợng tác phẩm văn học đợc sáng tác trong khoảng thời giantrên dới 2000 năm, không đồng nhất về văn phong và nội dung Các tácphẩm truyền miệng rất xa này, gọi theo truyền thống là man tra, làm thànhmột bộ phận lớn của Vê Đa Man tra còn lại đến ngày nay dới dạng bốn tập
- Rig veda là bộ phận cổ nhất thể hiện những nguyện vọng của ngờidân thờng nh ớc mong có thức ăn, có gia súc, ớc vọng ma xuống, mong an
c, mạnh khỏe, nhiều con cháu
- Sama veda là tuyển tập các đoạn hát trong khi tiến hành nghi lễ
- Atharvaveda là tuyển tập các bài thần chú ma thuật dùng cho sựkhẩn cầu khác nhau
- Yajurveda gồm có hai bộ phận: Yajurveda trắng chỉ các bài thầnchú và công thức sử dụng; Yajurveda đen thì nêu những ý kiến về nghi lễ vàthảo luận những ý kiến đó
Ba bộ phận văn học Vêđa muộn hơn là Bràhamana, Aranyaka vàUpanisad Tiền đề t tởng lý luận của Phật giáo mang đặc trng của hệ thống
lý luận tôn giáo phơng Đông Phật giáo tiếp thu Vêđa, Bà La Môn và một
số hệ thống khác mang ý nghĩa truyền thống nối tiếp, mọi t tởng đều xoayxung quanh việc giải quyết các vấn đề về nhân sinh quan và thế giới quan,trong sự đan xen, vay mợn giữa tôn giáo và triết học, giữa phái này và pháikia Đặc biệt Phật giáo đã khai thác triệt để mối quan hệ của Atman và
Trang 11Brahman (trong Upanisad), cái mà Nê Ru gọi là trục tung thế giới quan t ởng của ngời ấn Độ.
t-b) Nội dung cơ bản của Phật giáo
Sinh thời Đức Phật không viết sách Ngời chỉ giảng dạy và bàn luậnvới học trò mình bằng lời nói Sau khi Đức Phật mất, các học trò của Ngời
đã tiếp tục phát triển t tởng của ông, trải qua bốn lần kết tập kinh điển đểxây dựng thành một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh
Kinh sách của Phật giáo rất đồ sộ, đợc chia làm ba bộ phận gọi làTam tạng (Tri pi ta ka); kinh, luật, luận
- Kinh (Sutra) gồm năm bộ lớn là những sách ghi lời Phật giảng vềgiáo lý
- Luật (Vinaya) là sách ghi những giới luật do Phật chế định làmkhuôn phép cho việc sinh hoạt, tu học của các đệ tử, nhất là đối với nhữngngời xuất gia tu hành
- Luận (Sástra) là các tác phẩm luận giải các vấn đề Phật giáo củacác học giả cao tăng về sau
Cũng nh các tôn giáo khác, đối tợng phản ánh của Phật giáo là thếgiới và con ngời Song quan niệm về thế giới và con ngời của Phật giáo có
hệ thống chặt chẽ và mang tính triết học sâu sắc, trên cơ sở tiếp thu nhiềuyếu tố của đạo Bà La Môn và các trào lu triết học ấn Độ cổ đại
Quan niệm về thế giới.
Theo Phật giáo các sự vật và hiện tợng trong vũ trụ không phải domột đấng thiên nhiên nào tạo tác ra ("vô tạo giả"), mà nó đợc tạo nên bởinhững yếu tố "pháp" - (dharma)
Các sự vật, hiện tợng trong vũ trụ không đứng im mà luôn luôn chuyển
động, biến đổi ("vô thờng") theo một chu trình; thành - trụ - hoại - không(đối với loài vô tình) hay sinh - trụ - dị - diệt (đối với loài hữu tình) Với
Trang 12quan niệm này, Phật giáo cho rằng không phải sự vật, hiện tợng sinh ra mớigọi là sinh, mất (chết) đi mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chếtkhông phải là hết, chết là điều kiện của một sinh thành mới Sinh - diệt làhai quá trình xảy ra đồng thời trong sự vật, hiện tợng, cũng nh trong toànthể vũ trụ rộng lớn Hay nói cách khác, sự thành trụ của pháp này, thế giớinày là sự hoại - không của thế giới khác, pháp khác, cứ nh vậy mà tiếp diễnkhông dứt.
Các sự vật, hiện tợng trong vũ trụ chuyển động, biến đổi đều bị qui
định bởi luật nhân duyên (nhân là mầm tạo quả, duyên là điều kiện - phơngtiện đảm bảo cho nhân thành quả), tức là sự vật, hiện tợng trong vũ trụ đều
Trong nhận thức thế giới, Phật giáo còn đa ra thuyết "sắc - không"
"Sắc" là danh từ Phật học chỉ sự vật hiện tợng ở trạng thái có hình tớngtrong không gian mà con ngời nhận biết đợc, gọi là có, "không" chỉ sự vật,hiện tợng ở trạng thái không có hình tớng mà con ngời không nhận biết đ-
ợc Theo thuyết sắc - không, thế giới luôn chuyển động, biến đổi nhngkhông phải khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình tớng (gọi là sắc) mới là có,
ở trạng thái không (diệt) mới là không Thực ra cái gọi là không đã là có vàcũng là có, cái gọi là có đã là không và cũng là không Sắc - sắc, không -không có đấy mà không đấy, không đấy mà có đấy
Trang 13Khi bàn về không gian và thời gian, Phật giáo cho rằng thời gian làvô cùng, không gian là vô tận, thế giới nhiều nh cát của sông Hằng Tuynhiên, Phật giáo cũng đa ra những khái niệm đo lờng cụ thể: về không gian
có "tam thiên thế giới" (đại thiên thế giới, trung thiên thế giới, tiểu thiên thếgiới); về thời gian có "tam kiếp" (đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp) Khi xétriêng từng sự vật, hiện tợng, Phật giáo cũng nhìn nhận giới hạn thời gian,không gian, tức là có khởi đầu có kết thúc
Nh vậy, Phật giáo cho rằng thế giới luôn chuyển động và biến đổikhông ngừng, "vô thủy, vô chung" (không có bắt đầu, không có kết thúc)
Sự biến đổi của thế giới, sinh - diệt của sự vật, hiện tợng không phải do ýmuốn chủ quan của bất kỳ ai, mà là tự nó ("tự kỷ nhân quả") Sự vật, hiện t-ợng mà con ngời nhận biết đợc chỉ là giả tạo, không có thực tớng, hay nóimột cách khác, đối với con ngời thế giới khách quan đang tồn tại là ảo giả,
do vô minh đem lại
Quan niệm về con ngời.
Cũng nh các tôn giáo khác, Phật giáo cũng bàn đến những vấn đềsinh thành, sống chết, đặc biệt là nỗi khổ và con đờng thoát khổ của con ng-
ời Phật giáo đã phủ nhận quan niệm về sự "sáng thế" của các đấng tối cao
là t tởng chủ yếu trong các tôn giáo thời bấy giờ Con ngời là một pháp "đặcbiệt" của thế giới Con ngời bao gồm phần sinh lý, phần tâm lý và là sự kếthợp của "ngũ uẩn" (sắc, thụ, tởng, hành, thức)
Phần sinh lý "sắc uẩn" (Rupakaya) là thần sắc, hình tớng, đợc giớihạn trong không gian bằng xơng, thịt, da đợc tạo thành bởi bốn yếu tố vậtchất ("tứ đại"; địa, thủy, hỏa, phong)
Phần tâm lý hay tinh thần, ý thức gồm; "thụ uẩn", "tởng uẩn", "hànhuẩn", "thức uẩn" đợc biểu hiện bằng "thất tình" (ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục)
Nói một cách khái quát, sự hình thành của con ngời là do "danh sắc" tác hợp Con ngời mất đi (chết) chẳng qua chỉ là sự tan ra của "ngũuẩn" theo qui luật "sinh - trụ - dị - diệt" mà thôi
-Bên cạnh những yếu tố duy vật đó, thì Phật giáo lại quan niệm conngời sau khi chết có thể đầu thai trở lại một trong sáu kiếp phàm là: ngời,tiên, súc sinh, địa ngục, Atula và quỷ, trong đó sự tái sinh trở lại kiếp ngời
là rất khó khăn ("nhất thất nhân thân vạn kiếp bất phục") Quá trình ấy cứ
nh chiếc bánh xe (luân) quay tròn (hồi) không dứt; "luân hồi nghiệp báo" làqui luật nhân quả của con ngời tồn tại trong vũ trụ
Phật cho rằng; vì "danh - sắc" dẫn con ngời tới vô minh (khôngnhận thức đợc bản thể), nên con ngời không thoát khỏi vòng luân hồinghiệp báo Tái sinh ở kiếp nào (kết quả của nghiệp báo) là phụ thuộc vào
Trang 14nghiệp của mình (nguyên nhân) lúc còn sống ở kiếp trớc Có thân nghiệp,khẩu nghiệp và ý nghiệp, bất động nghiệp, cực trọng nghiệp, cận tử nghiệp.
Có nghiệp của bản thân, có nghiệp của cha mẹ, của gia đình
"Luân hồi" ở đây không phải là sự đầu thai của linh hồn, mà là sựkết tập mới của "ngũ uẩn" qua nghiệp lực Nó di chuyển vào trong "ngũuẩn" dẫn dắt con ngời vào "luân hồi" Cũng xuất phát từ đây, Phật giáo đa raquan điểm "vô ngã", tức là khẳng định "cái tôi" không thờng tồn tại "Cáitôi" chỉ tồn tại trong thời gian thoáng qua, nh cơn gió thoảng, nh ánh saobăng theo luật luân hồi "vô thủy, vô chung"
Vậy sự sống cũng nh cái chết của con ngời luôn tuân theo luật "luânhồi nghiệp báo" một cách "tự nhiên nhi nhiên", không có bất cứ sự can thiệpnào của các "đấng sáng thế" hay các thần linh Đồng thời, cũng xuất phát từnhững quan điểm này, Phật giáo đi tới phủ nhận linh hồn bất tử Bên cạnh đó,Phật giáo cũng đã thấy đợc vị trí, vai trò của con ngời trong vũ trụ; con ngời
là động vật thông minh và hùng mạnh nhất; con ngời là chúa tể của muônloài; con ngời có thể chế ngự đợc tất cả (nhân thị tối thắng)
Bản chất con ngời ai cũng nh ai Phật đã từng nói: "Không có đẳngcấp trong dòng máu cùng đỏ nh nhau, không có đẳng cấp trong giọt nớcmắt cùng mặn Mỗi ngời sinh ra không phải mang sẵn trong bào thai dâychuyền hay dấu tin -ka (dấu hiệu quí phái của dòng Bà La Môn) giữa trán"[12, 115]
Trong xã hội ấn Độ thời bấy giờ, ngời phụ nữ bị xã hội khinh rẻ,ruồng bỏ, thờng bị bắt cóc, cỡng ép, buôn bán để làm những món đồ tiêukhiển cho giới mày râu quyền quí, chồng chết phải chịu thiêu sống để đitheo ngời đã chết, v.v Phật giáo đã chống lại những tập tục hủ bại ấy và đãnêu lên t tởng bình đẳng nam nữ Trên thực tế, đức Phật đã cho phép thànhlập giáo hội tỳ - khu - ni (nữ tu sĩ) tổ chức đầu tiên của phụ nữ trong lịch sử
Trang 15Phật giáo chủ trơng kêu gọi con ngời phải biết yêu thơng nhau trêntinh thần "từ bi hỉ xả", với tấm lòng quên mình để cứu độ chúng sinh (vôngã vị tha) Trong kinh U-đà-na, đức Phật đã khẳng định: "Cũng nh nớc của
đại dơng hùng dũng chỉ có một vị là vị mặn của muối Giáo pháp chỉ cómột vị là vị giải thoát" [14, 262] Những t tởng này thể hiện bản chất đạo
đức khuyến thiện trong tính nhân văn của Phật giáo, song thông qua đâycũng phần nào bộc lộ nhợc điểm cố hữu của tôn giáo là duy ý chí
"Tứ diệu đế" (cat va ri à rya satyani), nghĩa là bốn chân lý tuyệt diệu
là giáo lý nền tảng cơ bản nhất của Phật giáo Đồng thời, qua tứ diệu đế,quan điểm về con ngời cũng đợc thể hiện một cách tập trung và sâu sắcnhất
Chân lý thứ nhất là "khổ đế" (Duhkha-Satya) Phật giáo đã khái
quát toàn bộ cuộc sống của cả đời ngời trong bốn chữ; "đời là bể khổ"
Phật đã từng nói: nớc của bốn biển không nhiều bằng nớc mắt củachúng sinh Toàn bộ bể khổ của đời ngời đợc Phật giáo tổng kết, qui lạithành nhiều nỗi khổ khác nhau, song tiêu biểu nhất là "bát khổ" (tám khổ);sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, thủ ngũ uẩn Khổ
đau là vô tận và tuyệt đối Nhìn chung trong Phật giáo, cuộc đời ngoài khổ
đau không tồn tại nào khác Ngay cả cái chết cũng không phải chấm dứt sựkhổ đau, mà là tiếp tục sự khổ mới
Chân lý thứ hai là "nhân đế" (Samudaya-Satya) hay còn gọi là tập
đế Nếu nh chân lý thứ nhất khẳng định đời là bể khổ, thì chân lý thứ haicủa Phật giáo lại chỉ ra nguyên nhân của mọi sự đau khổ đó Có nhiềunguyên nhân dẫn con ngời ta tới "bể khổ trầm luân", song tựu trung có banguyên nhân cơ bản (tam độc) nằm ngay trong mỗi một con ngời đó là:
"tham, sân, si" Những nguyên nhân ấy kết hợp với "duyên khởi" hình thànhthuyết "thập nhị nhân duyên" Mời hai cái vừa là nhân vừa là duyên nguồngốc của sự khổ (vô minh, hành, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ,
Trang 16hữu, sinh, lão - tử) Mọi nguyên nhân của sự khổ đều bắt nguồn từ con ngời,
do con ngời hiện diện ra trong mỗi một hành vi của mình
Vô minh (avidya) có nghĩa là mê hoặc, tối tăm, nhầm lẫn là ngu đầndốt nát, là trạng thái trí tuệ không đúng đắn Do vô minh con ngời khôngnhận thức đợc thực tớng, bản chất của thế giới và của chính con ngời, chonên sinh ra vọng tởng, chấp ngã, cho rằng có cái ta thờng tồn và trên hết, từ
đó sinh ra vị kỷ tham lam, dục vọng và có những hành động tơng ứng.Những hành động đó tạo ra nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp)
Do tạo nghiệp, đặc biệt là nghiệp ác, mà con ngời phải chịu đau khổ, khôngdứt ra khỏi vòng luân hồi sinh tử
Chân lý thứ ba là "diệt đế" (Nirodha-Satya); Phật giáo khẳng định
cái khổ có thể tiêu diệt đợc, có thể chấm dứt đợc luân hồi Muốn chấm dứtmọi đau khổ thì chỉ có cách diệt nguyên nhân sinh ra sự đau khổ ấy Nh trên
đã nêu, Phật giáo quan niệm nguồn gốc của sự khổ là sự vận hành của
"Thập nhị nhân duyên", trong đó gốc rễ sâu xa là vô minh Vì vậy muốndiệt khổ phải đi ngợc lại sự vận động của mời hai nhân duyên, bắt đầu từdiệt trừ vô minh Vô minh bị diệt, trí tuệ đợc bừng sáng, hiểu rõ đợc bảnchất của tồn tại, thực tớng của vũ trụ và con ngời, không còn tham dục vàkéo theo những hành động tạo nghiệp nữa Tức là thoát khỏi vòng luân hồisinh - tử
Chân lý thứ t là "đạo đế" (Màrga-Satya) Đó là con đờng lên cõi
Niết bàn (Nirvana), hay cách thức, giải pháp diệt khổ, giải thoát khỏi vòngluân hồi Cách thức ấy cần có ba cái phải học (tam học) là : học giới, học
định, học tuệ Có tám giải pháp chính (bát chính đạo) để trở thành chínhquả là: chính kiến, chính t duy, chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chínhtinh tiến, chính niệm và chính định Ngoài ra, còn có một số phơng pháp tuluyện bổ trợ khác Thực hành tu luyện đạo tốt để có thể giác ngộ chân lýnhà Phật, chứng quả Niết bàn, giải thoát khỏi bể khổ trầm luân
Trang 17Nh vậy, Phật giáo nguyên thủy có t tởng vô thần luận, phủ nhận
đấng sáng thế (vô tạo giả) và có t tởng biện chứng (vô thờng, thuyết duyênkhởi ) Phật giáo là tiếng nói chống chế độ phân biệt đẳng cấp, tố cáo bấtcông, đòi tự do và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoát của conngời khỏi những bi kịch của cuộc đời Đồng thời, Phật giáo cũng nêu caothiện tâm, từ bi, bác ái nh là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sốngxã hội Tuy nhiên, triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quankhi coi thế giới hiện tợng (vạn pháp) là ảo giả, huyễn hoặc và do cái tâm vôminh của con ngời tạo ra Trong cách giải quyết về sự đau khổ của con ng-
ời, xem xét con ngời trong tính nhân bản mà lại tách con ngời ra khỏi xãhội loài ngời, dẫn tới nhị nguyên, càng về sau càng trở nên duy tâm thần bí
1.1.2 Sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
a) Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Phật giáo truyền vào nớc ta từ rất sớm Theo quan điểm chung củagiới nghiên cứu lịch sử, thì Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm
đầu công nguyên Trong thời điểm ấy nớc ta đang nằm dới sự đô hộ của chế
độ phong kiến Trung Quốc Xã hội phân chia thành hai tầng lớp rõ rệt Tầnglớp trên gồm những quan lại Trung Quốc, cùng quan lại chức sắc ngời Việttrong bộ máy chính quyền đô hộ của phơng Bắc Họ mang thế giới quanNho giáo và phơng thuật phơng Bắc Còn tầng lớp dới là những ngời nôngdân bản xứ trồng lúa nớc Họ tin ở sức mạnh của ông trời trên cao có thểkhuyến thiện, trừng ác, tin ở các hiện tợng tự nhiên nh mây, ma, sấm, chớp,sông, núi, đất đai đều là những vị thần có thể phù trợ con ngời, hoặc cũng
có thể gây cho con ngời những tai họa Cả hai tầng lớp trên đều cảm thấy xalạ trớc những giáo lý sâu sắc và uyên thâm của Phật giáo, khi mới truyềnvào Nhng Phật giáo không mâu thuẫn với các tín ngỡng dân gian sẵn có.Chẳng những thế nó còn đem lại cho đơng thời những giải thích mới mẻ vềnỗi khổ của con ngời, về nguyên nhân khổ đau, về con đờng thoát khổ, là
Trang 18những day dứt từng làm khổ sở con ngời trong bao nhiêu đời, đồng thời nókêu gọi lòng từ bi, hỷ xả, một chủ trơng đáp ứng đợc lòng mong muốn củacon ngời vốn nhiều rủi ro và lắm tai họa trong chế độ Bắc thuộc lúc bấy giờ.Nguyễn Lang đã từng viết: "Đạo Phật thấm vào văn minh Giao châu tựnhiên và dễ dàng nh nớc thấm vào lòng đất" [42, 52] Vì vậy, Phật giáonhanh chóng tìm đợc chỗ đứng và điều kiện bám rễ chắc chắn trên mảnh
đất này
Vậy Phật giáo du nhập vào Việt Nam bằng con đờng nào?
Nh chúng ta đã biết, Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dơng, làcái gạch nối địa lý giữa hai nớc lớn, hai nền văn minh cổ xa của loài ngời:
ấn độ và Trung Quốc Với một địa thế nằm kẹp giữa hai nớc lớn - với hainền văn minh cổ xa và rực rỡ nh vậy, Việt Nam tất yếu chịu ảnh hởng từ cảhai phía, ấn độ và Trung Quốc
Căn cứ vào những sự kiện lịch sử và địa lý, chúng ta bác bỏ thuyếtcho rằng Phật giáo đầu tiên truyền từ ấn độ qua Trung Quốc, rồi từ TrungQuốc truyền sang Việt Nam Không ai phủ nhận rằng ấn độ có những con
đờng thủy và đờng bộ nối liền ấn độ và Trung Quốc, không thông qua ViệtNam, đặc biệt là hai tuyến đờng bộ ngang qua Trung á Cũng không ai phủnhận là Việt Nam chịu ảnh hởng nhiều và trực tiếp của Phật giáo TrungQuốc Thế nhng Việt Nam ngay từ thời rất xa đã đợc các cao tăng ấn độ
đến truyền giáo trực tiếp Chính lịch sử Trung Quốc cũng đã từng ghi nhậnrằng, vào những năm đầu công nguyên, trong khi ở miền Nam Trung Quốccha biết đến Phật giáo, thì ở Luy Lâu (Thuận Thành - Bắc Ninh) đã có mộttrung tâm Phật giáo phát triển khá phồn thịnh [10, 123]
Đi theo các tuyến đờng thủy hay bộ, đi một mình hay đi từng nhómhai ba ngời, hay là đi chung cùng các đoàn buôn, một số tăng sĩ ngoại quốcchủ yếu là ngời ấn độ hay là ngời vùng Trung á đã đến Việt Nam truyền
Trang 19đạo Các tăng sĩ Phật giáo đầu tiên đến Việt Nam vào thời điểm nào, thuộcnớc nào và bao nhiêu ngời, v.v đó là những vấn đề thiếu sử liệu ghi chép
cụ thể Những tăng sĩ ngoại quốc đợc nêu danh trong sử liệu Việt Nam vàTrung Quốc, cha chắc chắn là ngời đầu tiên đặt nền móng cho Phật giáo ởViệt Nam
Đơng nhiên, sự truyền bá Phật giáo vào Việt Nam không phải chỉxảy ra trong một thời gian ngắn, với một số ít cao tăng, mà là liên tục trongnhiều thời điểm, với vô số các cao tăng, từ đầu công nguyên cho đến mãicác thế kỷ về sau Công lao lúc đầu là thuộc về ngời ấn độ và ngời Trung
á, sau đó là ngời Trung Quốc và có cả ngời Việt Nam đã sang ấn độ hoặcsang Trung Quốc và các nớc khác học thêm đạo Phật để về giảng lại chongời mình
Từ khi vào Việt Nam đến nay, Phật giáo đã có cuộc sống gần 2000năm Trong khoảng thời gian dài đó, Phật giáo đã trải qua nhiều quá trìnhchuyển biến, từ ngoại lai đến bản địa, từ một vùng đến nhiều vùng, từ ít ngờitin theo đến đại đa số ngời trong nớc ngỡng mộ, từ thô sơ đơn giản đến sâusắc, bề thế Phật giáo Việt Nam cũng đã trải qua nhiều bớc thăng trầm,nhiều giai đoạn phát triển khác nhau do điều kiện lịch sử qui định
b) Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
- Phật giáo thời kỳ đầu du nhập đến thế kỷ V.
Từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chúng ta có thể ít nhiều hiểu đợc
về Luy Lâu - trung tâm Phật giáo Việt Nam trong những thế kỷ đầu côngnguyên
Luy Lâu là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của Việt Nam(Giao Chỉ) trong những thế kỷ của đầu công nguyên Cũng chính nơi đây đãtừng là trung tâm thơng mại lớn có tính quốc tế, cho nên ngời ngoại quốcngụ c hay qua lại rất đông Các nhà buôn ngời ấn Độ và ngời Trung á đếnbuôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là các nhà s đến hành đạo và truyền
đạo Dần dần Luy Lâu trở thành trung tâm Phật giáo lớn và sớm nhất ở ViệtNam Có nhà nghiên cứu Phật học đã từng cho rằng trung tâm Phật giáo ở
Trang 20Luy Lâu hình thành sớm hơn hai trung tâm Phật giáo ở Bành Thành và LạcDơng của Trung Quốc.
Các đoàn sứ thần các nớc phía Nam, trớc khi đến kinh đô TrungQuốc ở Lạc Dơng, Trờng An hay Kiến Nghiệp ( Nam Kinh), mà dừng lạimột thời gian ở Luy Lâu để thăm hỏi, điều tra tình hình bên Trung Quốc làrất có lợi Điều đó càng rất hợp với các tăng sĩ ấn Độ hay Trung á dự địnhqua truyền giáo ở bên Trung Quốc Họ đến Luy Lâu trớc hết để làm quenvới ngôn ngữ, văn tự ngời Hán, với phong tục tập quán ngời Hán ở LuyLâu họ đã có thể bắt đầu dịch kinh từ chữ Phạn (Sanscrit) sang chữ Hán,dựa vào sự cộng tác của các tăng sĩ Việt Nam vừa giỏi chữ Hán vừa thôngchữ Phạn Luy Lâu vô hình trung trở thành nơi hội tụ của các luồng vănhóa Ngôn ngữ tiếng Việt, ngôn ngữ Hán tự và Phạn ngữ đều có dịp đợc sửdụng trong trao đổi buôn bán và cả trong truyền đạo Điều đó có lợi choviệc giảng kinh và dịch kinh Phật, có lợi cho việc truyền bá mạnh mẽ Phậtgiáo trên mảnh đất này và vơn xa hơn nữa
Nhng Phật giáo ở Luy Lâu trong lúc này không hoàn toàn giốngPhật giáo của đức Thích Ca, cũng không hoàn toàn giống Phật giáo ở ấn Độ
đơng thời Bởi nó đã bị biến dạng đi do truyền thống t tởng và phong tục tậpquán cũng nh điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam lúc bấy giờ qui định
Đức Phật Thích Ca đợc quan niệm nh một ông thần có ở khắp mọinơi, có thể biết đợc mọi nỗi suy t và hành vi của con ngời, có thể cứu giúpngời tốt và trừng trị kẻ xấu nh ông Bụt trong truyện "Tấm Cám", Phật cũng
đợc quan niệm nh vị thần linh có nhiều phép lạ có thể hóa thành các hiện ợng tự nhiên, có thể biến các hiện tợng tự nhiên quanh con ngời thành các
t-vị thần, thánh, các vật linh thiêng mang phúc trừ họa nh hòn đá và tợng "TứPháp" trong "Truyện Man Nơng" hay cái gậy, nón lá trong "Truyện Chử
Đồng Tử"
Phật giáo Luy Lâu gắn liền với tín ngỡng dân gian đợc dân gian hóa
và phong tục hóa Nó thể hiện tâm lý, lòng mong ớc và thế giới quan củangời dân trồng lúa nớc vùng đồng bằng sông Hồng Chính vì vậy, nó có độbền vững, sống hàng nghìn năm, còn duy trì cho đến tận ngày nay và maisau nữa
Trang 21Theo sử liệu hiện có, từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V, Phật giáo tiếptục truyền vào Việt Nam gắn liền với tên tuổi một số nhà s ấn Độ, Trung á
và Trung Quốc nh sau:
- Ma-Ha-Kỳ-Vực (Mahajvaka) với Khâu Đà La ngời ấn Độ cùng
đến Luy Lâu, trị sở của Sĩ Nhiếp (187 - 226) vào cuối đời Hán Linh Đế, tứckhoảng những năm 188 - 189 Đến Việt Nam đợc một thời gian Khâu Đà
La ở lại Việt Nam tu hành và truyền đạo còn Ma-Ha-Kỳ-Vực lại tiếp tục điTrung Quốc truyền đạo
- Mâu Bác (Mâu Tử) là c sĩ, sinh vào khoảng những năm 165 - 170
ở Thơng Ngô - Trung Quốc Trớc đó, ông vốn có học đạo Lão, sau di c sangViệt Nam trở thành phật tử ở Luy Lâu Theo một số nhà nghiên cứu, tại đây,
ông đã cho ra đời cuốn "Lý hoặc luận" là tác phẩm Phật giáo đầu tiên sángtác ở Việt Nam, đồng thời nó cũng là cuộc đụng độ đầu tiên giữa Nho - Phật -Lão ở Việt Nam Qua nội dung của "Lý hoặc luận" đã nói lên Phật giáo ViệtNam, ngay giai đoạn đầu tiên này đã là Phật giáo Đại thừa (Mahayana), chínhxác hơn là Đại thừa ấn Độ, vì các nhà s khi đó mặc vải đỏ, hoàn toàn xa lạvới phong tục, tập quán, cách ăn mặc và giao tiếp của ngời Hán Điều đócũng chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đến giai đoạn này đã có một quá trìnhlịch sử, không chỉ về tín đồ, tôn giáo mà còn cả về mặt lý luận nữa
- Khơng Tăng Hội (? - 280) là một ngời ngoại quốc gốc ở Khơng C(Sogdine - tức xứ U dơ -bếch) sinh ra và học Phật tại Việt Nam rồi sau đósang Giang Nam - Trung Quốc truyền đạo, Khơng Tăng Hội có thể đợc xem
nh ông tổ của Thiền học Việt Nam
- Chi - Cơng - Lơng - Lâu (Kalaruci) là ngời ấn Độ đã tới Luy Lâutruyền đạo thế kỷ III, đợc sự giúp đỡ của tăng sĩ Việt Nam là Đạo Thanh đãdịch đợc nhiều kinh, trong đó có bộ Kinh Đại thừa nổi tiếng là Pháp Hoatam muội Với Kinh Pháp Hoa đã đợc dịch và phổ biến ở Việt Nam dẫn đếnviệc sùng bái lòng đại từ, đại bi, lòng thơng ngời rộng lớn của vị Bồ Tát
Trang 22Quan Thế Âm (Avalo Kitesvara) Từ đó, tín ngỡng thờ cúng Bồ Tát QuanThế Âm cũng đợc phổ biến ở Việt Nam.
- Thế kỷ thứ V có thiền s Đạt Ma Đề Bà (Dharmadeva) ngời ấn Độ
và nhà s Đàm Hoằng ngời Trung Quốc sang Việt Nam tu hành và truyền
đạo Phật
Đến thế kỷ thứ V, Phật giáo đã đợc truyền bá nhiều nơi trên đất nớc
ta, và đã xuất hiện những nhà s Việt Nam danh tiếng nh: Huệ Thắng, Thích
Đạo Thiền, Đạo Cao và Pháp Minh
Huệ Thắng và Thích Đạo Thiền đã từng đợc mời sang Trung Quốcgiảng Phật - Pháp Đặc biệt là sáu bức th của Đạo Cao và Pháp Minh trả lời
Lý Miễu Thông qua sáu bức th đó, cho thấy tình hình Phật giáo Việt Nam
ở thế kỷ này là rất phát triển Đồng thời qua đó cũng cho thấy kiến thức củacác nhà s Việt Nam lúc đó là rất uyên bác Họ nắm vững Phật lý Tiếng tămcủa họ vang xa Sứ thần "Thiên triều" cũng phải tìm đến để vấn nạn và họchỏi
- Phật giáo thời kỳ Hậu Lý Nam Đế đến Tiền Lê (571 - 1009).
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến thế kỷ X vẫn
đ-ợc xem là giai đoạn truyền giáo Giai đoạn này, ảnh hởng của các nhàtruyền giáo ấn Độ giảm dần, trong khi các nhà truyền giáo Trung Quốctăng lên Đáng chú ý hơn cả là các phái Thiền Trung Quốc đợc du nhập vàoViệt Nam
- Phái Thiền Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi (Vinitaruci) Thời kỳ hậu Lý Nam
Đế, nhà s ấn Độ Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi, học trò của Tăng Xán - tổ thứ ba củaphái Thiền Trung Quốc, đã vào Việt Nam (580) tu tại chùa Pháp Vân (BắcNinh) dịch bộ kinh Tổng trì và trở thành vị s tổ của phái Thiền Việt Nam.Phái Thiền này truyền thừa đợc 19 đời với 30 vị Thiền s, ngời đợc truyền thừa
đầu tiên là Pháp Hiền (?, 626) đến ngời cuối cùng là Y Sơn (?, 1216)
Trang 23Sự xuất hiện của phái Thiền Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi đã tạo ra bớc ngoặtcủa Phật giáo Việt Nam Bởi nó đã chỉ ra quan điểm mới về Phật giáo.Quan điểm ấy đợc thể hiện tập trung thông qua lời của Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chikhi truyền tâm ấn cho Pháp Hiền: "Tâm ấn của ch Phật không có lừa dối,trọn vẹn nh thái H, không thừa, không thiếu; không đi, không lại; không đ-
ợc, không mất; không giống, không khác; không thờng còn, không gián
đoạn vốn không nơi sinh cũng không nơi diệt; không xa cách mà khôngphải không xa cách; chỉ vì đối với cái duyên tà vọng mà phải đặt ra cái têngiả thiết đó thôi " ở đây Phật giáo đã vắng bóng thần linh Đồng thời, nócũng chỉ ra phơng pháp của phép trì giới mới; hành thiền - làm cho trí tuệ(Bát Nhã) bừng sáng
- Phái Thiền Vô Ngôn Thông - năm 820, khoảng 2 thế kỷ sau Thiền sTỳ-Ni-Đa-Lu-Chi, có một Thiền s Trung Quốc, pháp hiệu Vô Ngôn Thông,sang tu ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng (Bắc Ninh), lập ra phái Thiền thứhai tại Việt Nam
Vô Ngôn Thông truyền đợc 15 đời, với 40 vị Thiền s, Cảm Thành làngời Việt Nam đợc truyền giáo đầu tiên ( ? - 860), đến ngời cuối cùng làứng Vơng ( ? 1287) (Theo "Thiền Uyển tập anh")
Có thể nói, t tởng cơ bản của phái Thiền Vô Ngôn Thông là chân lýkhông phải ở đâu xa, mà ở ngay hiện tiền, ở trong bản thân mỗi ngời, nhngchân lý đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp, chứ không thể nào nắm bắt đợc quangôn ngữ, văn tự, sách vở
Tuy nhiên, trong đời sống hàng ngày, các Thiền s của phái Thiềnnày vẫn sử dụng cái gọi là Pháp thuật và niệm Phật Pháp thuật thì vẫn sửdụng vào đời Niệm Phật thì để đạt tới Tuệ giác
Sang thế kỷ X, Việt Nam bớc vào kỷ nguyên độc lập tự chủ sau mộtngàn năm Bắc thuộc, đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một bớcmới Phật giáo đã lan rộng khắp mọi miền của nớc ta thời ấy Đã xuất hiện
Trang 24một lớp cao tăng ngời Việt, đi nhiều, học rộng, kiêm thông Hán - Phạn, cóthể coi là những trí thức đơng thời Các nhà s và các tín đồ đã thực sự thamgia vào các cuộc vận động giải phóng dân tộc, đứng vào hàng ngũ nhân dânchống áp bức, giành lại nền độc lập cho đất nớc Khi đất nớc đã đợc độclập, cũng là lúc uy tín và vai trò xã hội của lực lợng Phật giáo đợc khẳng
định Đời Đinh và Tiền Lê (968 - 1009), đã có những chính sách nâng đỡPhật giáo Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên ngôi Hoàng Đế (đặt hiệu Đinh TiênHoàng) đã triệu tập các cao tăng để định rõ phẩm trật cho tăng già Vua Lê
Đại Hành cử những phái đoàn sang Trung Quốc thỉnh kinh để về truyền báPhật Pháp Đặc biệt, vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành đã trọngdụng và phong thởng cho những nhà s có công giúp vua lo việc triều chính
Đinh Tiên Hoàng phong nhà s Ngô Chân Lu (đời thứ IV của phái Thiền VôNgôn Thông) chức Tăng Thống (tức chức quan đứng đầu Phật giáo) và đợcban hiệu là Khuông Việt - đại s - ngang với hàng "Tam công" trong triều
Lê Đại Hành đã mời Thiền s Đỗ Thuận (đời thứ X của phái Thiền
Tỳ-Ni-Đa-Lu-Chi) giúp triều đình về đối nội, đối ngoại
- Phật giáo thời Lý - Trần (1010 - 1400).
Có thể nói đây là thời kỳ Phật giáo Việt Nam phát triển cực thịnh.Triều Lý đợc xem là triều đại Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam Lý Công Uẩnngời sáng lập ra nhà Lý nguyên là một sa di, học trò của nhà s Lý KhánhVân, cùng thọ giáo với s Vạn Hạnh Ngay sau khi lên ngôi, cũng nh cácnăm làm vua, Thái Tổ Lý Công Uẩn đã ban hành nhiều lệnh chỉ có lợi cho
sự phát triển của Phật giáo nh làm chùa trong cả nớc, độ dân làm s, sai sứsang Trung Quốc xin kinh Tam Tạng Nhng Phật giáo thời Lý phát triểnkhông chỉ vì sự ủng hộ của Lý Thái Tổ, mà còn là một sự phát triển tự nhiêntrên vị trí và cơ sở đã có từ thời Đinh - Lê
Năm 1069 Phật giáo nớc ta lại có thêm một phái Thiền nữa là pháiThảo Đờng Phái Thảo Đờng truyền xuống đợc 5 đời - với 18 vị Thiền s, ng-
Trang 25ời đợc truyền đầu tiên là Lý Thánh Tông đến ngời cuối cùng là Phạm PhụngNgự [74, 152-153].
Các vua Lý đều tôn sùng Phật giáo Lý Thái Tông thuộc thế hệ thứVII của phái Thiền Vô Ngôn Thông Lý Thánh Tông thuộc thế hệ thứ nhấtcủa phái Thiền Thảo Đờng, thuộc phái này còn có Lý Anh Tông, thế hệ thứIII và Lý Cao Tông, thế hệ thứ V Lý Huệ Tông sau khi nhờng ngôi cho LýChiêu Hoàng cũng đi tu với hiệu danh là Huệ Quang Thiền S
Các vua đã tu Phật, tất nhiên cả tầng lớp quí tộc quan lại và cả dânthờng cũng đều mộ Phật Tinh thần sùng Phật, biểu hiện qua các sinh hoạtPhật giáo, cùng với việc xây dựng chùa tháp ở khắp mọi nơi, gắn liền vớinhiều lễ hội của nó, đã trở thành một đặc điểm của văn hóa thời Lý
Dới đời Trần, vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông đều là nhữngnhà Phật học lỗi lạc, sáng tác nhiều thơ văn mang t tởng Phật giáo TrầnThái Tông đã viết tác phẩm khóa H Lục nổi tiếng Có tác giả đã từng nhận
định rằng: "Triết học Trần Thái Tông là tập đại thành đầu tiên của lịch sửtriết học Việt Nam từ khởi nguyên đến giữa thế kỷ XIII" [34, 82] TrầnNhân Tông - Ngời mở đầu cho phái Thiền Trúc Lâm Việt Nam Sau này ông
đợc suy tôn "Trúc Lâm đệ nhất tổ", tức tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm Tổthứ hai là Pháp Loa, tổ thứ ba là Huyền Quang
Nói tới Phật giáo đời Trần, chúng ta không thể nào không nói tớiTuệ Trung Thợng Sĩ (Trần - Tung, 1230 - 1291) Ông là một c sĩ, nhng đợcvua Trần Nhân Tông - ông tổ của Thiền phái Trúc Lâm - tôn làm thầy TuệTrung Thợng Sĩ là một trong những ngôi sao sáng trên bầu trời Thiền nớc
ta, một trong những bậc anh tú của vờn Thiền Việt Nam Cùng với TrầnThái Tông, những t tởng của Tuệ Trung Thợng Sĩ có ảnh hởng lớn đếnkhông khí học thuật đời Trần
Trang 26Thiền Trúc Lâm có sự kế thừa với các dòng Thiền trớc đó, đồng thờilại đợc tiếp nhận và phát triển trên cơ sở của tinh thần yêu nớc và lòng tựhào dân tộc.
Phật giáo đời Trần chẳng những phát triển về chiều sâu của giáo lýPhật - Pháp, mà còn phát triển cả về chiều rộng - từ chốn cung đình cho đếntận làng quê
Hai triều đại Lý - Trần là hai triều đại Phật giáo, đồng thời cũng làhai triều đại phong kiến vững bền nhất trong lịch sử (mỗi triều đại hai thếkỷ: Đời Lý từ 1010 đến 1225, đời Trần từ 1225 đến 1400), có những thànhtích võ công, văn trị hiển hách Dới triều Lý, do Lý Thờng Kiệt chỉ huy đãhai lần đánh thắng quân Tống ở phía Bắc và quân Chiêm Thành ở phíaNam Dới triều Trần, với Trần Quốc Tuấn đã ba lần chiến thắng quânNguyên - Mông xâm lợc Trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc của hai triều
đại Lý - Trần, Phật giáo đã đóng vai trò một hệ t tởng chỉ đạo rất tích cực vànăng động, góp phần làm vẻ vang cho truyền thống yêu nớc bất khuất củadân tộc Việt Nam
- Phật giáo từ thời kỳ Hậu Lê đến Nguyễn.
Ngay ở đời Trần Phật giáo tuy có địa vị xã hội cao, nhng vai tròchính trị thì dần dần bị giảm bớt Phật giáo cung đình lui dần về chốn dângian gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của ngời Việt
Từ thế kỷ XV, giai cấp phong kiến Việt Nam lấy đạo Nho làm chỗdựa về t tởng, chính trị, đạo đức Phật giáo suy tàn dần, không còn giữ vị trí
độc tôn nh trớc nữa Tuy nhiên, Phật giáo vẫn giữ đợc gốc rễ sâu bền trongnhân dân, đồng thời với thái độ khoan dung, Phật giáo ở Việt Nam đãchung sống với Nho giáo, Lão giáo theo kiểu "Tam giáo đồng nguyên".Trong đó mỗi tôn giáo đáp ứng một phơng diện của cuộc sống
Trang 27Trong Phật giáo dân gian thì nội dung thần bí vẫn là nội dung chủyếu Nổi bật của khuynh hớng này là nhân dân Việt Nam đã sáng tạo rahình tợng Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay Qua đó thấy đợc những ớc nguyệnthầm kín của ngời dân Mong có một vị Phật nào đấy thấy đợc hết nỗi khổ
và cứu đợc mọi nỗi khổ trong cảnh đầy áp bức, bất công của ngời dân dớichế độ phong kiến Việt Nam suy tàn
Dới triều Nguyễn, chùa chiền phát triển thành một hệ thống, gồm
đủ loại: lớn đi liền với nhỏ, mới đi liền với cũ, chùa nhà đi liền với chùa làng
và chùa nớc Đặc biệt là ở Kinh đô Huế, nơi tập trung nhân lực và tài lựccủa nhà nớc, chùa tháp đợc tu bổ và xây dựng mới rất đồ sộ và tráng lệ
Thời kỳ này ở nớc ta lại xuất hiện hai phái Thiền từ Trung Quốcsang; phái Tào Động (1570) ở miền Bắc, phái Lâm Tế (1712) ở miền Nam.Song cả hai phái Thiền này cũng không gây đợc ảnh hởng nhiều đối vớiPhật giáo Việt Nam
- Phật giáo thế kỷ XX.
+ Phong trào chấn hng Phật giáo.
Thời kỳ nhà Nguyễn cũng nh thời kỳ Pháp thuộc, Phật giáo tiếp tụcsuy vi, cho đến những năm ba mơi của thế kỷ này, một số nhà tu hành cùngmột số nhân sĩ trí thức có tinh thần dân tộc và mến đạo, đứng ra vận động
"Chấn hng Phật giáo", Phật giáo từ đó mới bắt đầu khởi sắc Cũng từ đây,một số bộ phận Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức, một số tổ chức Phậtgiáo và một số cơ sở đào tạo tăng ni lần lợt ra đời
Phong trào chấn hng Phật giáo kéo dài đến năm 1954 Trong quátrình này mặc dù thực dân Pháp tìm mọi cách để lôi kéo, thao túng một sốnhân vật và tổ chức Phật giáo nhằm tạo cơ sở xã hội và chính trị cho chế độthực dân Song, chúng không thực hiện đợc điều đó, vì tuyệt đại đa số tăng
ni phật tử vẫn giữ vững truyền thống yêu nớc, gắn bó với dân tộc, vẫn giữ
Trang 28nếp tu hành theo sơn môn, tông phái, và tích cực tham gia đóng góp sức
ng-ời, sức của vào thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám và kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lợc Nhiều đại biểu Phật giáo tham gia Mặt trậnViệt Minh, Mặt trận Liên Việt các cấp Nhiều chùa là cơ sở hoạt động hoặc
là nơi che giấu cán bộ cách mạng ở Nam Bộ, tổ chức "Phật giáo cứu nớc"
đã thu hút hầu hết các tăng ni phật tử tham gia hoạt động yêu nớc
+ Phật giáo trong thời kỳ đế quốc Mỹ xâm lợc miền Nam ( 54 - 75).
Sau năm 1954, đất nớc ta bị chia cắt làm hai miền, do đó, tình hìnhPhật giáo ở hai miền cũng có sự khác nhau:
ở miền Bắc, năm 1958, "Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam" ra đời
đã qui tụ giới Phật giáo miền Bắc trong một tổ chức duy nhất, vừa hoạt
động tôn giáo vừa hoạt động yêu nớc Có thể nói đó là bớc chuyển quantrọng trong tiến trình gắn bó với dân tộc của giới phật tử miền Bắc Thựchiện chủ trơng "đại đoàn kết" của Hồ Chủ tịch; không phân biệt dân tộc, tôngiáo, già - trẻ, gái trai "dân tộc ta muôn ngời nh một" đã tạo nên sức mạnhvô địch trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc
ở miền Nam, tình hình Phật giáo có những diễn biến phức tạp (đến
1975 có tới hơn một chục tổ chức, hệ phái Phật giáo) nổi lên một số điểm
đáng chú ý là:
Sự ra đời của nhiều tổ chức, hệ phái Phật giáo trong đó phải kể đến
sự ra đời của tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (1964) Giáohội Phật giáo Việt Nam thống nhất ban đầu tập hợp đợc một số hệ phái và
tổ chức Phật giáo, nhng sau một thời gian hoạt động, bắt đầu có sự phânhóa Một bộ phận nhỏ trong tổ chức này bị đế quốc Mỹ lợi dụng đã tách rahoạt động riêng đi ngợc lại nguyện vọng, tình cảm của đồng bào tăng ni,phật tử Còn đại đa số tăng ni phật tử vẫn anh dũng đấu tranh cho độc lậpdân tộc và thống nhất nớc nhà
Trang 29Trong một thời gian dài xu hớng "hiện đại hóa" chi phối mạnh Phậtgiáo miền Nam Nội dung của phong trào hiện đại hóa Phật giáo ở miềnNam Việt Nam lúc đó tuy nói là để đạt tới mục tiêu xây dựng ở miền Nammột xã hội không cộng sản, không t sản, nhng trong thực tế là biện hộ cho
sự thống trị ngoại bang Các tổ chức hệ phái Phật giáo đẩy mạnh việc triểnkhai lực lợng về mọi mặt; củng cố tổ chức, mở trờng đào tạo, tri thức hóatăng ni, mở rộng các đoàn thể phật tử, xây dựng chùa chiền, đền tháp, xâydựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra sự phát triển rầm rộ đột xuấttrong lịch sử Phật giáo mấy thế kỷ qua Đế quốc Mỹ cố gắng tìm mọi cáchthúc đẩy và chi phối quá trình này với ý đồ lôi kéo tăng ni, phật tử xa rờicách mạng, tạo an toàn trong tình thế căng thẳng và giữ thế cân bằng với
đạo Công giáo trong âm mu lợi dụng tôn giáo của chúng
Tuy nhiên, thực tế nổi lên là, khi nào Phật giáo gắn bó với dân tộc,giữ đợc truyền thống thì có sức mạnh, có những biểu hiện tốt đẹp Khi nàoPhật giáo xa rời truyền thống yêu nớc và Phật Pháp thì quần chúng lơ là, uytín bị giảm sút Trong những năm 1954 - 1975, một bộ phận nhỏ Phật giáo
ở miền Nam bị chi phối bởi những khuynh hớng tiêu cực, song đại đa sốtăng ni, phật tử vẫn đứng về phía dân tộc, hởng ứng, ủng hộ và tham giacách mạng Hồ Chí Minh đã viết: "Cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào
đạo Phật là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân miềnNam Cho nên tín đồ Phật giáo cũng nh tín đồ các tôn giáo khác cùng toànthể nhân dân đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận dân tộc giải phóng miềnNam, kiên quyết chiến đấu đánh đổ ách thống trị hung ác của Mỹ - Diệm
Nh vậy thì nhất định miền Nam sẽ đợc giải phóng, tín ngỡng sẽ đợc tự do"[55]
Chính những nỗ lực của các tổ chức Phật giáo, cũng nh sự thành tâm
đóng góp của đông đảo tăng ni, phật tử đã duy trì đợc ảnh hởng to lớn của
Trang 30Phật giáo trong lòng dân tộc Góp phần không nhỏ vào chiến thắng chungcủa cả dân tộc.
+ Đất nớc thống nhất - Phật giáo thống nhất.
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nớc hòa bình, độc lập, thốngnhất đã tạo cơ duyên rất thuận lợi cho giới Phật giáo thống nhất các tổ chức
hệ phái trong tổ chức chung, đó là niềm khao khát đã đợc đặt ra từ nhiềunăm nay Đúng nh Hồ Chí Minh đã viết: "Dân tộc có độc lập thì tôn giáomới đợc tự do Đó là chân lý bất di bất dịch" [55]
Sau trên hai năm chuẩn bị, tháng 11 năm 1981, Đại hội đại biểuthống nhất Phật giáo đã long trọng tổ chức tại thủ đô Hà Nội Gần hai trăm
đại biểu tăng ni, c sĩ đại diện cho các tổ chức hệ phái trong cả nớc đã về dự
Đại hội đã lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chơng vàChơng trình hoạt động của Giáo hội và bầu ra "Hội đồng trị sự", "Hội đồngchứng minh" là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Giáo hội Phật giáo ViệtNam
Có thể nói thống nhất Phật giáo là sự kiện có ý nghĩa trọng đại tronglịch sử Phật giáo Việt Nam Nó đáp ứng nguyện vọng và tình cảm tha thiếtcủa tăng ni, phật tử cả nớc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn bao giờhết cho giới Phật giáo Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó vớidân tộc để "hộ trì hoằng dơng Phật pháp, phục vụ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa, góp phần đem lại hòa bình, an lạc cho thế giới" Về ý nghĩa tolớn của việc thống nhất Phật giáo, Báo cáo tại Đại hội thống nhất Phật giáoViệt Nam đã chỉ rõ: "Đây là lần đầu tiên sau hơn một trăm năm bị nô lệ hóabởi phong kiến thực dân và đế quốc, Phật giáo Việt Nam chúng ta đợc nângcao ngọn cờ độc lập và tự do trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa Việt Nam,một thời vàng son cho đạo Phật Việt Nam mà chúng ta chỉ tìm thấy trongthời đại nhà Trần với Trúc Lâm Tam Tổ Nay thời đại vàng son đó đã đến và
Trang 31đang nằm trong tay Ch Vị đại biểu của 9 tổ chức hệ phái Phật giáo ViệtNam Từ nay chúng ta không còn phân biệt phật tử miền Nam, phật tử miềnTrung, phật tử miền Bắc Chúng ta chỉ gọi bằng một danh từ quí báu nhất,thiêng liêng nhất Chúng ta là phật tử Việt Nam" [67, 29].
Tóm lại, Phật giáo Việt Nam tiếp thu ảnh hởng từ cả hai phía ấn Độ
và Trung Quốc, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp ngang qua các xứ trunggian nh Campuchia, Lào, Chiêm Thành Phật giáo Việt Nam hội tụ cả haidòng Phật giáo chính là Đại thừa và Tiểu thừa và chịu ảnh hởng của ba tôngphái lớn: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Mật Tông, trong đó Thiền Tông là sâusắc tiêu biểu hơn cả Đồng thời Phật giáo Việt Nam còn chịu ảnh hởng củaNho giáo, Lão giáo, cùng những phong tục tập quán và tín ngỡng dân gian,tạo ra những nét riêng biệt độc đáo Phật giáo Việt Nam có bề dày lịch sửgần hai ngàn năm Trong quá trình đó, Phật giáo Việt Nam đã xây dựng chomình một truyền thống yêu nớc, gắn bó với dân tộc góp phần quan trọngtrong việc xây dựng nền văn hóa của dân tộc, trong hệ t tởng, đạo đức, tâm
lý lối sống của nhân dân Chính nó là điều kiện cơ bản nhất của sự tồn tại
và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2 Hiện tợng phục hồi Phật giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Những biểu hiện của sự phục hồi Phật giáo trong cả nớc
Phật giáo gắn bó với dân tộc Việt Nam gần 2000 năm lịch sử Trongsuốt quá trình du nhập truyền thừa và phát triển qua những bớc thăng trầmkhác nhau, Phật giáo Việt Nam tập hợp trong mình nhiều chi phái, hệ phái,môn phái tu hành thuộc ba dòng Đại thừa, Tiểu thừa và Khất sĩ (lỡng tông)
Thuộc dòng Đại thừa có các tông phái: Thiền Tông, Tịnh Độ Tông
và Mật Tông
Thuộc dòng Tiểu thừa có các giáo hội Phật giáo The-ra-va-đa, Phậtgiáo Nguyên thủy, Phật giáo Khơme
Trang 32Thuộc dòng Khất sĩ là sự kết hợp một số phơng pháp tu thuộc cả haidòng Đại thừa và Tiểu thừa có giáo hội Tăng Khất sĩ và Ni Khất sĩ.
Mỗi tông phái, chi phái trên đến lợt nó lại là hỗn hợp của những chiphái, bộ phận nhỏ hơn Chẳng hạn Thiền Tông có: Lâm Tế, Tào Động, TrúcLâm, Thiên Thai, Liễu Quán các dòng Tiểu thừa, Khất sĩ là tập hợp (rờirạc) của nhiều tiểu giáo hội nhỏ Tình hình này tiếp tục tồn tại và ảnh hởng
ít nhiều tới sinh hoạt Phật giáo Việt Nam hiện nay
Nhìn chung Phật giáo Việt Nam hiện nay đang ở trong xu thế phụchồi và phát triển
Kế thừa truyền thống và thích ứng với sự biến chuyển của thời đại,
để thực hiện nguyện vọng thống nhất Phật giáo của toàn thể tăng ni phật tửtrong cả nớc, đợc sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nớc và Chính phủ, Giáo hộiPhật giáo Việt Nam ra đời (11-1981) Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã qui
tụ 9 tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo trong cả nớc [67, 9], tiêu biểu chonguyện vọng đoàn kết thống nhất Phật giáo Việt Nam
Quy tụ hầu hết các hệ phái Phật giáo lớn, qua gần 20 năm hoạt
động, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng đợc củng cố và hoàn thiệngóp phần đáng kể làm nên sự phục hồi và phát triển của Phật giáo Việt Namhiện nay; từng bớc khẳng định vị trí là tổ chức duy nhất đại diện cho Phậtgiáo Việt Nam về mọi quan hệ ở trong nớc và ngoài nớc
Về mặt tổ chức - với t cách là cơ quan Trung ơng Giáo hội quản lý,
điều hành các hoạt động, sinh hoạt tín ngỡng của tăng ni, phật tử qua các tổchức, cơ cấu phụ thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay có 10 Ban,Ngành, Viện hoạt động trực thuộc Trung ơng, với hai văn phòng - vănphòng 1 đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội; văn phòng 2 đặt tại Thiền ViệnQuảng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Theo ngành dọc, dới Giáo hội có tổ chức Phật giáo các tỉnh, thànhphố, quận, huyện, phờng, xã Bởi vậy, những số liệu về Phật giáo nớc ta
Trang 33hiện nay, về cơ bản chúng tôi dựa vào các số liệu của Giáo hội Phật giáo cáccấp, kết hợp với số liệu của Ban tôn giáo các cấp cùng với sự khảo sát thực tiễn của mình.
Theo tổng kết của Giáo hội, tính đến cuối năm 1997, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam trong cả nớc có 28.787 tăng ni Trong đó Đại thừa có 19.221;
Tiểu thừa có 7.687; Khất sĩ có 1.879, cha kể số lợng khá lớn là trí thức Phậtgiáo (c sĩ) [1, 6]
Có thể thấy số lợng gia tăng của tăng ni ở nớc ta hiện nay là rất
nhanh "Trong nhiệm kỳ III đến nay đã có 49 đại giới đàn đợc tổ chức trong
cả nớc, có 10.589 tăng ni đợc thọ giới tu học và hành đạo, so với nhiệm kỳ
II chỉ có 38 giới đàn, với 3.192 Giới tử [67, 38]
Chỉ tính riêng Thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 3 năm (1990 1993) số lợng tăng ni tăng 80% ở Hà Nội trong vòng 4 năm (1987-1991)
-số lợng tăng ni cũng tăng tới 44% Và ở Kim Sơn một huyện nhỏ của NinhBình đã từng đợc xem là "thủ đô" của Công giáo một thời, trong vòng 5năm (1987 - 1992) tăng tới 147,6% [87, 260] Nhìn chung đội ngũ tăng niViệt Nam đợc trẻ hóa tơng đối nhanh
Cả nớc hàng năm có từ 35 đến 40 tỉnh, thành Hội Phật giáo tổ chức
an c kết hạ tập trung cho tăng ni Trung bình có từ 9.000 - 10.000 tăng ni an
c tập trung, 10.000 - 15.000 tăng ni an c tại chỗ tại các chùa viện trong toànquốc
Nhằm đào tạo các thế hệ tăng ni có trình độ chuyên sâu về Phật Pháp và văn hóa để đảm nhận các công tác phật sự của Giáo hội từ Trung -
-ơng đến địa ph-ơng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay có 3 học việnPhật giáo (Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh) đào tạo chơng trình cửnhân Phật học và 25 trờng Phật học cơ bản - đào tạo chơng trình sơ - trungcấp Phật học trong cả nớc
Trang 34Để không ngừng tăng cờng thêm tri thức khoa học về mọi mặt, một
số tăng ni đã và đang theo học ở nhiều trờng đại học trong cả nớc (chủ yếu
là trong các khoa xã hội và nhân văn)
Ngoài ra, hiện nay còn có trên 100 tăng ni đang du học ở nớc ngoài(ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, ), trong số đó có hàngchục ngời đang học sau đại học, một số ngời đã bảo vệ thành công luận ánthạc sĩ, tiến sĩ Xu hớng trí thức hóa tăng đoàn cũng có những tiến bộ đáng
kể Song nhìn chung, đội ngũ tăng ni hiện nay thông hiểu kinh pháp chanhiều, đa phần trình độ văn hóa và Phật học còn hạn chế Số lợng phân bốkhông đều, chủ yếu còn tập trung ở thành phố, thị xã nhiều tỉnh vùng caokhông có hoặc chỉ có một vài vị nh Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, CaoBằng, Thái Nguyên
Vấn đề giới luật và đạo hạnh của tăng ni ở ba miền hiện nay cũng
còn những biểu hiện khác nhau ở Bắc Bộ đây đó vẫn có những than phiền tốgiác về việc s phạm giới (ăn thịt, uống rợu, quan hệ nam - nữ bất chính ) ởHuế nhìn chung tăng ni vẫn giữ đợc nhiều hơn phong vị trí thức thiền họccủa Phật giáo cung đình (trì giới cẩn mật) ở Nam Bộ cùng với sự hiện diện,phát triển của đội ngũ kinh s và ảnh hởng của cuộc vận động hiện đại hóaPhật giáo thì vấn đề vi phạm đạo hạnh, giới luật của tăng ni là không ít
Một số nhà s còn có những biểu hiện "trong quan hệ buông thả, sỗsàng, nói năng bừa bãi, không nghe lời góp ý răn bảo của giới tu hành, quênmất mình là vị chân tu " [16]
Đại đa số tăng ni Việt Nam hiện nay là những ngời chấp hành tốtcác đờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc và đã có những
đóng góp không nhỏ trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Songbên cạnh đó, cũng có một số ít ngời trong giới tăng ni bị các thể lực có t t-ởng thù địch lợi dụng, đã xuyên tạc đạo lý cội nguồn, chia rẽ dân tộc vàphản ứng xã hội, kích động nhân quyền, hớng Phật giáo Việt Nam xa rời
Trang 35con đờng dân tộc và yêu nớc, lôi kéo thế hệ trẻ ra khỏi quỹ đạo của CNXH,tham gia vào các hoạt động chính trị trái với con đờng xã hội, dân tộc đang
đi Tiêu biểu nh một số nhà s ở Huế năm 1993
Cũng theo số liệu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện nay trong
cả nớc có 14.048 chùa viện Trong đó: đại thừa có 10.383; Tiểu thừa có 496;
Tịnh xá Khất sĩ có 516; Tịnh thất 1.295; Niệm Phật đờng 1.385
Vì những nguyên nhân khác nhau, số chùa chiền trên phân bốkhông đều Chùa chiền Nam Bộ nhiều hơn ở Bắc Bộ, thành phố nhiều hơnnông thôn và ngoại thành, ven nội nhiều hơn các khu vực trung tâm thànhphố Chùa chiền Việt Nam mang những đặc điểm đa dạng, phong phú cả vềkiểu dáng, cách bài trí lẫn nội dung thờ tự Chùa chiền Bắc Bộ mang tínhchất cổ kính, thâm nghiêm, chùa chiền Nam Bộ thì cách tân lộng lẫy Songtất cả đều nói lên tính chất phong phú, đa dạng của nền văn hóa Phật giáoViệt Nam, mang đậm dấu ấn của nền văn minh Trung - ấn
Phần lớn số chùa chiền ở Việt Nam (đặc biệt là ở Bắc Bộ) do thờigian xây dựng đã lâu, một số lại bị tàn phá bởi chiến tranh và thiên tai , do
đó bị dột nát, h hỏng, thậm chí bị phá hủy hoàn toàn Đợc sự giúp đỡ củacác cơ quan Trung ơng và địa phơng các cấp, trong thời gian gần đây ở nớc
ta đã tiến hành tu tạo, hàng ngàn cơ sở chùa chiền, góp phần khôi phục lạihàng trăm danh lam chùa cảnh nổi tiếng nh chùa Bút Tháp, chùa Hàm Long(Bắc Ninh), chùa Côn Sơn (Hải Dơng), chùa Láng, chùa Kim Liên (HàNội), chùa Phổ Minh (Nam Định), chùa Thầy, chùa Hơng (Hà Tây), chùa
D Hàng, chùa Phổ Chiếu (Hải Phòng)
Cho đến thời điểm hiện nay, cả nớc có tới 401 ngôi chùa đã đợc BộVăn hóa - Thông tin cấp bằng công nhận là di tích lịch sử, nghệ thuật vănhóa cấp quốc gia
Trang 36Về phơng diện tuyên truyền và nghiên cứu Phật giáo trong thời gian
vừa qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có những bớc trởng thành và pháttriển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cả về mặt số lợng lẫn chất lợng Đểphổ biến những quan điểm cơ bản của Phật - Pháp và các thông tin về hoạt
động Phật giáo trong toàn quốc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có báo Giácngộ (tuần kỳ), Nguyệt San Giác ngộ, Tạp chí nghiên cứu Phật học (2 tháng
1 kỳ) Giáo hội còn tiến hành tổ chức các cuộc hội thảo trong nớc và quốc
tế về Phật giáo, thu hút đợc không ít những nhà khoa học tham gia Đặc biệtGiáo hội Phật giáo Việt Nam đã tiến hành tổ chức biên soạn, dịch Đại tạngkinh từ chữ Hán hoặc chữ Pa-li ra tiếng Việt, đó là: Trờng bộ kinh 2 tập;Trung bộ kinh 3 tập; Tơng Ưng bộ kinh 4 tập; Tăng Chi bộ kinh 3 tập; Tr-ờng A Hàm 2 tập; Trung A Hàm 3 tập: Tạp A Hàm
3 tập; Tăng Nhất A Hàm 3 tập Hiện đang hiệu đính các bản kinh Đại thừaHán tạng sẽ ấn hành trong thời gian tới
Ngoài ra, Giáo hội Phật giáo còn tổ chức tiến hành in ấn hàng trăm
đầu sách các loại về Phật giáo Giúp cho việc học tập và nghiên cứu về Phậtgiáo của nớc ta hiện nay có nhiều thuận lợi hơn trớc, làm cơ sở cho Phậtgiáo nớc ta có điều kiện phát triển
Trên phơng diện nghi lễ cúng bái thì mỗi vùng, mỗi địa phơng đều có
những nội dung ít nhiều riêng biệt Nếu nh ở Bắc Bộ, các nghi lễ cúng đámliên quan đến Phật giáo chỉ mới đợc khôi phục, ít phức tạp, đỡ tốn kém, thì ởNam Bộ cúng đám nhìn chung là một quy trình khá phức tạp và tốn kém Quanhững biểu hiện này xu hớng thế tục hóa Phật giáo đã biểu hiện rõ nét Cácnhà s không chỉ tập trung vào việc tu học, mà còn chú ý tới sự phát triểnkinh tế nữa Ngay cách ăn mặc không chỉ dừng lại ở "nâu sồng" nh trớc nữa,
mà đã dùng vải đắt tiền với "quần là - áo lợt", đi xe máy đời mới
Vấn đề số lợng tín đồ phật tử của nớc ta hiện nay là rất khó đoán
định một cách chính xác Một mặt, do tổ chức Phật giáo vốn đã lỏng lẻo,
Trang 37hoàn toàn tùy thuộc vào tính tự giác của mỗi ngời, mặt khác tiêu chí gọi làtín đồ phật tử cũng cha có sự thống nhất.
"Nếu chỉ dựa vào những ngời có lên chùa, thậm chí có niềm tin vàocái thiện, cái ác, nghiệp báo luân hồi hiểu theo lối bình dân thì con số 20hay 30 triệu "tín đồ" e còn ít Nếu lại biểu theo những tín đồ quy y hay tutại gia theo giới Luật của đạo Phật nh hòa Thợng Thích Trí Thủ quan niệm chỉbắt đầu là tín đồ khi nhất tâm thọ từ tam pháp quy y trớc điện Phật, đợc các
vị tu hành thanh tịnh truyền thọ thì số đó lại quá thấp" [87, 125]
"Về số lợng phật tử do cha có tỉnh thành nào thống kê cụ thể, nên
đến nay trung ơng chỉ có thể tạm ớc tính số lợng phật tử trong cả nớc theo
đạo Phật khoảng 2/3 dân số hiện có" [67, 41-42]
Còn Ban Tôn giáo Chính phủ thì lại đa ra con số phật tử ở nớc tahiện nay là 10 triệu ngời
Nh vậy, số lợng và cách xác định thế nào là phật tử còn phải cầnnghiên cứu và điều tra một cách nghiêm túc và khoa học hơn nữa Bởi chỉ
số này rất có ý nghĩa trong công tác xã hội của nớc ta hiện nay
Theo chúng tôi, phật tử là những ngời có niềm tin ở Phật, noi theo
Phật và tự giác giữ gìn một phần giới luật của Phật.
Gắn liền với sự phân bố không đồng đều của số lợng chùa chiền vàtăng ni, thì số lợng phật tử ở nớc ta cũng phân bố không đồng đều ở BắcNinh, Hải Dơng, Hng Yên, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, HàTây, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thành phố Hồ Chí Minh chùa chiền vàtăng ni nhiều hơn, nên phật tử cũng đông hơn Các nơi khác thì số chùachiền, tăng ni ít hơn, phật tử cũng ít hơn Thậm chí có những vùng khôngcòn chùa chiền và tăng ni, dẫn tới phật tử cũng không có nh nhiều vùng ởmiền núi Thanh hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
Trang 38Qua tình hình thực tế Phật giáo Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy sự
phát triển có phần đột biến về số lợng ngời đi lễ chùa Vào dịp đầu xuân
-những chùa cảnh đều trở lên đông vui, nhộn nhịp do sự thăm viếng, lễ báicủa các tín đồ và du khách thập phơng Những chùa cảnh nổi tiếng trongnhững dịp này thu hút hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn ngời tới tham quan
lễ bái Riêng ở Nam Bộ các đoàn hành hơng nhiều khi còn ra các chùa ởTrung Bộ, Bắc Bộ và sang cả Campuchia
Những ngời tới chùa hiện nay phần lớn là các thanh niên, các trung niên thuộc tầng lớp bình dân Đa số những ngời hành hơng tới chùa lễ bái một cách tùy tiện, không theo bài bản, kinh sách nào cả, song nhìn chung
họ cầu mong ở sự "che chở", "phù hộ độ trì"của Phật để cho "tai qua - nạn khỏi" và gặp nhiều "may mắn" trong cuộc sống Trong số đó, có không ít
ngời đến chùa chỉ để xếp hàng xin xăm, rút thẻ, nhờ thầy viết sớ cầu an, cầu
tự, dâng sao giải hạn Qua đó, chúng ta thấy đợc mức độ niềm tin và sựhiểu biết giáo lý về Phật giáo của đa số ngời đi chùa còn rất hạn chế theocách nghĩ dân gian: "có thờ có thiêng, có kiêng có lành"
Trong thời gian gần đây, những hội đoàn và nếp sinh hoạt tín ngỡng
Phật giáo cũng đợc phục hồi phát triển ở Bắc Bộ, bên cạnh các hội thuần
Phật giáo nh Hội qui y, Hội vãi, Hội phật tử là các Hội tế, Ban tế cũng đaphần do các phật tử dựng nên ở các bản làng, thôn xóm thu hút số đôngcác cụ tham gia ở các tỉnh Trung và Nam Bộ, các tổ chức phật tử có phần
đa dạng hơn, đáng kể là Gia đình phật tử (GĐPT) - một tổ chức tập hợp đợckhá đông phật tử phát triển mạnh ở các tỉnh Trung bộ, đặc biệt là ở Huế,Quảng Nam, Đà Nẵng Nó ảnh hởng lớn trong giới phật tử từ trớc đến naythu hút chẳng những số đông ngời già, mà còn cả một số lợng lớn thanh -thiếu niên đi theo Bên cạnh các GĐPT, ở nhiều nơi các phật tử còn tậptrung trong các "Nhóm phật tử", "Hội tơng tế", "Ban hộ niệm" giúp đỡ lẫnnhau trong những dịp khó khăn, hoạn nạn, tang ma
Trang 39Về cơ bản tất cả các hoạt động trên, góp phần tăng thêm tình đoànkết, tơng thân, tơng ái trong quần chúng nhân dân, làm cho "tình làng -nghĩa xóm" vốn đã có từ lâu đời trong truyền thống văn hóa dân tộc càngthêm đậm đà sâu nặng tình quê Song bên cạnh đó, cũng có những tác độngtiêu cực không nhỏ đến thế giới quan và t tởng của tầng lớp thanh thiếu niênhiện nay, nhất là hoạt động của GĐPT.
Song song với các hội phật tử nh đã trình bày ở trên, là các hoạt
động về từ thiện xã hội thu hút đợc sự chú ý và tích cực ủng hộ của giới tăng ni, phật tử Công tác từ thiện xã hội là những hoạt động đạo đức mang
tính tích cực và trong sáng, đợm nét từ bi cứu khổ cứu nạn của Phật giáo, làmột trong những công tác trọng tâm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hiệnnay trong toàn quốc có 25 Tuệ Tĩnh Đờng, với 655 phòng thuốc chuẩn trị yhọc dân tộc, đã khám và cấp phát thuốc trị giá trên 13 tỷ đồng cho ngờinghèo Hiện có tới 196 lớp học tình thơng và 116 cơ sở nuôi dạy trẻ bán trú,nhà nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật cho hàng ngàn em theo học Ngoài ra, cácphong trào quyên góp ủng hộ đồng bào các vùng gặp thiên tai, địch họa,phong trào đền ơn đáp nghĩa các tăng ni phật tử Việt Nam cũng đã đóng góp trên một trăm tỷ đồng cho công tác từ thiệntrên [67, 50]
Những hoạt động từ thiện xã hội của các cấp trong Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam chẳng những làm cho vai trò xã hội của Phật giáo đợc nângcao, mà còn có tác dụng thấm vào lòng ngời làm cho cơ sở xã hội của Phậtgiáo ngày càng đợc củng cố và phát triển trong nhân dân Từ đó, khiến chomột số ngời gắn bó với Phật giáo, bởi họ thực sự coi Phật giáo chẳng những
là chỗ dựa về mặt tinh thần, mà còn là chỗ dựa về mặt vật chất trong cuộcsống của họ nữa
Trang 40Trong tinh thần hòa bình và hữu nghị, đoàn kết với các nớc Phật giáo trên thế giới, đợc sự tạo điều kiện và giúp đỡ của Nhà nớc, Giáo hội
Phật giáo Việt Nam với t cách là thành viên của Tổ chức Phật giáo châu ávì hòa bình (ABCP), đã có mối quan hệ hữu nghị với Phật giáo Lào,Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Myanma, Mông Cổ, Nhật Bản, TriềuTiên, Hàn Quốc, Pháp, Đài Loan Đồng thời đã đón tiếp và làm việc với rấtnhiều phái đoàn Phật giáo các nớc đến tham quan và trao đổi Phật - Pháp.Nâng cao vai trò vị thế Phật giáo Việt Nam với các nớc Phật giáo trên thếgiới, đồng thời qua đó cũng làm cho các nớc trên thế giới hiểu thêm vềchính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta
Nh vậy, Phật giáo nớc ta hiện nay đang trong xu hớng phát triển
một cách toàn diện Điều đó, chứng tỏ nó còn là nhu cầu hiện thực của một
bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân - nh Đảng ta đã nhận định Bằng
sự phát triển này, với t cách là một thành tố văn hóa - Phật giáo xứng đáng
đợc đối xử trân trọng Mặt khác, sự phát triển của Phật giáo cũng có ảnh ởng không nhỏ tới sự phát triển của mê tín dị đoan ở nớc ta hiện nay Do đó,việc nghiên cứu để hiểu biết đợc một cách toàn diện điều kiện tồn tại củaPhật giáo Việt Nam hiện nay, làm căn cứ cho những chính sách thích hợp làhết sức cần thiết và phải đợc quan tâm đầu t thỏa đáng
h-1.2.2 Những biểu hiện của sự phục hồi Phật giáo ở một số tỉnh
đồng bằng Bắc Bộ
Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) là sản phẩm chính của phù sa hệ thốngsông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp bên bờ biển Đông Hơn bốn ngànnăm trớc đây, trên mảnh đất này đã xuất hiện một nền văn minh rực rỡ củanông nghiệp lúa nớc và trống đồng, "Nền văn minh sông Hồng" Đây là cáinôi của dân tộc của nền văn hóa Việt Nam Nhiều di chỉ văn hóa PhùngNguyên, Đồng Đậu, Gò Mun tìm thấy ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà