Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tài nguyên nước mặt tại làng nghề bún Phong Lộc, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định” Từ kết quả nghiên cứu, luận văn rút ra một số kết luận sau: Đánh giá tình hình xả thải nước thải ở các cơ sở sản xuất, làng nghề, bao gồm nước thải sản xuất, chăn nuôi và nước thải sinh hoạt vào sông An Lá. Qua lần khảo sát thực tế cùng với số liệu thứ cấp thu thập thấy được hiện trạng xả thải cùng chất lượng thải cũng như nước mặt của nguồn tiếp nhận đã cho thấy sản xuất làng nghề với lượng nước thải lớn mà không qua xử lí đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước sông An Lá cũng như những kênh, rạch xung quanh và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, Lưu lượng xả thải và tải lượng ô nhiễm của nước thải sản xuất cao hơn so với các nguồn thải hiện tại. Để đảm bảo cho quá trình gia tăng lượng xả thải không ảnh hưởng tới nguồn nước cần đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình hình ô nhiễm và nâng cao ý thức trách nhiệm về việc bảo vệ môi trường của người dân vùng nông thôn và có biện pháp xử phạt đối với các cơ sở sản xuất, làng nghề xả thải nước thải không đạt yêu cầu gây ảnh hưởng đến nguồn nước mặt trên địa bàn huyện. Đề xuất lên mô hình tự quản bảo vệ môi trường tại làng nghề làm bún Phong Lộc của phường Cửa Nam
Trang 11 Lý do chọn đề tài: 3
2 Mục tiêu 4
PHẦN 1: TỔNG QUAN……… 5
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu 5
1.2 Đặc điểm chất thải ở làng nghề chế biến nông sản : 9
1.3 Hiện trạng sản xuất làng nghề……… 10
1.3.1 Quy mô và công nghệ 10
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 15
2.1 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu……….15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu……… 15
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 15
2.3.2 Phương pháp điều tra- phỏng vấn 16
2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 16
2.3.4 Phương pháp đánh giá chất lượng nước 17
2.3.5 Phương pháp ước tính tải lượng nước thải 17
2.3.6.Phương pháp đánh giá khả năng chịu tải của sông 17
2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu 17
Trang 218
3.1.1 Hiện trạng nước thải sinh hoạt 18
3.2.2 Hiện trạng nước thải chăn nuôi……… 19
3.3.3 Hiện trạng nước thải sản xuất 20
3.2 Đặc tính nước thải tại hố ga tập trung của hộ sản xuất……….21
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của các nguồn thải đến chất lượng nước sông 28
3.4 Mức độ ảnh hưởng của nước thải làng nghề đến chất lượng nước sông…………30
3.6 Đánh giá khả năng chịu tải của sông 32
3.7 Tác động của hoạt động sản xuất tới sức khỏe cộng đồng……….34
3.9 Đề xuất mô hình quản lý chất lượng nước mặt tại sông An Lá- chảy qua làng nghề sản xuất bún Phong Lộc, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định 35
PHẦN 4:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….43
4.1 Kết luận 43
4.2 Kiến nghị 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Hình 1.2: Quy trình sản xuất bún và nguồn phát sinh ô nhiễm……….12Hình 3.1 :Đồ thị so sánh nồng độ BOD, COD giữa các nhóm quy mô sản xuất 29Hình 3.2: Đồ thị so sánh nồng độ các thông số BOD5, COD, SS giữa nhóm hộ có tham gia chăn nuôi và nhóm hộ không chăn nuôi 31Hình 3.3: Đồ thị so sánh nồng độ các thông số NO3-, NH4+, PO43- giữa nhóm hộ có tham gia chăn nuôi và nhóm hộ không chăn nuôi 31Hình 3.4:Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch giá trị của thông số BOD5, COD tại 3 vị trí lấymẫu 32Hình 3.5:Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch giá trị của thông số DO, NH4 ,NO3- tại 3 vị trí lấy mẫu 32
Trang 4Bảng 3.1: Bảng ước tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt tại các hộ
sản xuất……… 21
Bảng 3.2: Ước tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất của các hộ 22
Bảng 3.3: Hàm lượng trung bình của các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất 23
Bảng 3.4:Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải của các hộ sản xuất 24
Bảng 3.5:kết quả đo lưu lượng nước thải chảy ra hố ga của mỗi hộ 25
Bảng 3.6 :Tải lượng của các chất ô nhiễm chính tại hố ga của mỗi hộ sản xuất…… 26
Bảng 3.7: Tải lượng trung bình của các chất ô nhiễm trong từng nguồn thải 27
Bảng 3.8 : Tỉ lệ % của từng nguồn thải tại hố ga 28
Bảng 3.9:Nồng độ trung bình của các chất ô nhiễm theo nhóm quy mô sản xuất… 29
Bảng 3.10: tải lượng chất ô nhiễm trên 1kg bún thành phẩm của các nhóm hộ theo quy mô sản xuât 30
Bảng 3.11:Bảng tổng hợp nồng độ trung bình của các thông số ô nhiễm chính tại các hộ có chăn nuôi và không chăn nuôi 31
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội việc phát sinh các vấn đề về ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Các vấn đề này trở thành mối lo ngại lớn của thành phố Nam Định Đặc biệt là khu vực Nam sông Đào gồm phường Cửa Nam và xã Nam Vân Đây là khu vực đang phát triển mạnh
cả về dịch vụ và sản xuất, trong đó sản xuất làng nghề đang được khôi phục góp phần gia tăng các vấn đề về ô nhiễm môi trường
Làng Phong Lộc ( ngoại thành Nam Định ) từ hàng chục năm nay “ sống lại “ nghề làm bún truyền thống Làng ngề sản xuất bún Phong Lộc cung cấp cho nhu cầu sử dụng của thành phố Nam Định và một số vùng lân cận
Trước kia, hoạt động sản xuất bún truyền thông chủ yếu sử dụng sức người nên năng suất rất thấp, sản xuất thủ công 1 hộ gia đình với 03 lao động chỉ sản xuất được 60 – 80 kg bún/ ngày, sô hộ tham gia sản xuất lên đến 400 hộ
Hiện nay, hoạt động sản xuất của làng nghề sản xuất bún đang từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công suất và năng suất được cải thiện rõ rệt, trung bình
1 hộ gia đình với 03 lao động đã sản xuất được 400 – 600 kg bún/ ngày
Theo điều tra khảo sát, trên địa bàn có khoảng 40 hộ sản xuất bún, bánh phở Trong quá trình sản xuất, các cơ sở này đều thải ra nước thải với lượng xả thải trung bình là 4 m3/ ngày đêm/ cơ sở Nước thải hầu hết được thải trực tiếp ra hệ thống thu gom chung của khu vực, phần nước thải ở các khu vệ sinh được xử lý bằng bể tự hoại nhưng cũng chưa đảm bảo yêu cầu
Nghề sản xuất bún đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho ngườidân và giữ vững ngành nghề sản xuất truyền thống của địa phương
Bên cạnh những tác động tích cực đến kinh tế - xã hội địa phương do sản xuất nghề đem lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề càng ngày càng trở nên nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước từ nước thải của quá trình sản
Trang 6xuất bún Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu xây dựng
mô hình quản lý tài nguyên nước mặt tại làng nghề bún Phong Lộc, phường Cửa Nam, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định”
2 Mục tiêu
Trang 7PHẦN 1: TỔNG QUAN 1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu
Hình 1.1: Bản đồ khu vực sông An Láa) Điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lí
Làng nghề sản xuất bún Nam Vân- Cửa Nam gồm 12 hộ nằm ven sông An
Lá đoạn chảy qua địa phận phường Cửa Nam, xã Nam Vân – thành phố Nam Định Trong đó, có 3 hộ sản xuất thuộc xã Nam Vân, 9 hộ sản xuất thuộc địa phậnĐịch Lễ, phường Cửa Nam
* Thủy văn
Sông An Lá đoạn chảy qua địa phận phường Cửa Nam, xã Nam Vân – thành phố Nam Định bắt nguồn từ sông An Lá chính tại điểm giao giữa xã Nam Vân và xã Nam Toàn ở cầu Ông Lạt, có tổng chiều dài 3,4km, chiều rộng 7-10m, chạy qua địa bàn phường Cửa Nam, xã Nam Vân, xã Nam Phong – thành phố
Trang 8Nam Định Hiện nay, sông An Lá kết thúc tại km 4 đoạn giao giữa xã Nam Phong
* Khí hậu
Khu vực làng nghề nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khu vực khí hậu Nam đồng bằng Bắc Bộ Nhìn chung khíhậu nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh và khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Các số liệu đặc trưng về khí hậu đo tại trạm khí tượng Nam Định, thời gian quan trắc lớn hơn 20 năm
+Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 23,70C; nhiệt độ trung bình mùa hạ là 27,80C; nhiệt độ trung bình mùa đông là 19,50C (nhiệt độ trung bình cao nhất là 240C, thấp nhất là 130C)
+Độ ẩm trung bình năm là 84%C (độ ẩm trung bình cao nhất là 94%, thấp
nhất là 65%)
+Lượng mưa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 70-75% lượng mưa
cả năm, với lượng mưa trung bình hàng năm là 1829,6 mm (lượng mưa ngày lớn nhất là 350 mm, lượng mưa ứng với tần suất 10% là 270 mm)
+Gió, bão : Hướng gió chủ đạo mùa hạ là gió Đông Nam Vào mùa đông
hướng gió là gió Bắc với tốc độ gió lớn nhất là 48 m/s
- Bão: Do nằm trong vùng vịnh Bắc bộ, giáp biển nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng của gió bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 - 6 trận /năm
Trang 9b)Điều kiện kinh tế - xã hội
Làng nghề thuộc địa phận phường Cửa Nam, xã Nam Vân nằm tiếp giáp với nhau và đều nằm ở phía Nam sông Đào – thành phố Nam Định
* Dân số
Theo số liệu khảo sát, tổng dân số của làng nghề là 59 người
Theo số liệu thống kê dân số năm 2011 toàn xã hiện, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,77 %/năm Mật độ dân số là 1330 người/km2
+ Dân số phường Cửa Nam: dân số toàn phường là 6121 người (Theo số liệu thống kê năm 2011), tỷ lệ tăng tự nhiên là 0,85 %/năm và mật độ dân số là 4338 người/km2
* Tình hình phát triển kinh tế:
Trong những năm qua do tác động của đô thị hoá, lực lượng lao động địa phương luôn có sự chuyển đổi theo hướng đa dạng hoá ngành nghề Đặc biệt lao động nông nghiệp thuần tuý giảm so với những năm trước đây, chuyển sang hoạt động sản xuất, các hộ sản xuất quy tụ với nhau tạo thành làng nghề,
Phường Cửa Nam có làng nghề trồng hoa, cây cảnh phục vụ dịp Tết cổ truyền Tuy nhiên, Chỉ có 12 hộ thuộc địa phường Cửa Nam là có nước thải đổ trực tiếp ra sông An Lá, đây là làng nghề sản xuất bún Ngoài ra, 1 số hộ còn kết hợp sản xuất với chăn nuôi để tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Khu vực này không có tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp cũng không phát triển mạnh Trên địa bàn phường Cửa Nam chỉ có 1 nhà máy sản xuất bánh kẹo của công ty TNHH bánh kẹo Đại Thắng, và 1 chi nhánh của Công ty CP đồ gỗ Hoa Phương
- Nông nghiệp:
Riêng tại làng nghề Cửa Nam, do hoạt động sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao 200-300 triệu/tháng (số liệu khảo sát) nên hoạt động nông nghiệp giảm dần Hoạt động chăn nuôi cũng chỉ còn ở 1 vài hộ có quy mô sản xuất nhỏ Không có hoạt động nuôi trồng thủy sản ở làng nghề
Trang 10* Cơ sở hạ tầng của khu vực làng nghề
- Hệ thống cấp, thoát nước và vệ sinh môi trường:
+ Cấp nước sạch: Hiện nay, người dân đều đã sử dụng nguồn nước sạch từ Trạm cấp nước xã Nam Vân và Nam Phong
+ Thoát nước: hầu hết các xã đều sử dụng hệ thống thủy lợi làm hệ thống tưới, tiêu cho quá trình sản xuất nông nghiệp; đồng thời cũng là đường thoát nước thải của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hộ dân trong khu vực.+ Vệ sinh môi trường: Công tác môi trường luôn được Đảng bộ và nhân dân quan tâm, trong những năm qua phường đã chỉ đạo, triển khai thu gom rác thải,
bố trí vị trí tập kết tại nơi quy định (rác thải phường Cửa Nam được tập kết tại chân cầu Đò Quan, rác thải xã Nam Phong được tập kết tại xóm Trung Thành, rácthải xã Nam Vân được tập kết tại khu vực cạnh sân vận động của xã Hiện tại, việc bố trí vị trí bãi tập kết rác của các xã đều không đảm bảo vệ sinh môi trường,ảnh hưởng lớn đến đời sống, sức khỏe của người dân trong khu vực
- Hệ thống đường giao thông: Nhìn chung hệ thống giao thông của xã những năm gần đây đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp và làm mới Tuy nhiên, một
số tuyến giao thông chất lượng đường yếu, mặt đường hẹp, chưa đáp ứng được hoạt động của các phương tiện giao thông cơ giới, nhất là giao thông, thuỷ lợi nội đồng, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hoá và phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời gian tới
- Hệ thống bệnh viện, trạm y tế, phòng khám chữa bệnh: Trên địa bàn 3 xã đều
có 03 trạm y tế và rất nhiều phòng khám chữa bệnh tư nhân trong khu vực phục
vụ khám, chữa bệnh cho người dân và tiêm chủng định kỳ cho trẻ em và phụ nữ mang thai
- Hệ thống cung cấp điện: Trong những năm qua việc phân phối điện đã được chuyển giao cho ngành điện quản lý, bước đầu ngành điện đã đầu tư nâng cấpmạng lưới điện cơ bản đã đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh, giá điện tương đối hợp lý
Trang 111.2 Đặc điểm chất thải ở làng nghề chế biến nông sản :
Do các làng nghề có các đặc thù riêng về quá trình hoạt động, sản xuất do
đó ô nhiễm làng nghề cũng mang nhưng đặc trưng riêng biệt như sau:
- Ô nhiễm làng nghề là dạng ô nhiễm cục bộ: do các làng nghề thường
nằm trong một đơn vị hành chính nhỏ như thôn, làng, xã nên tình hình ô nhiễm làng nghề thường chỉ nằm trong phạm vi nhỏ của các làng nghề hoặc lan sang một
số vùng lân cận Tuy nhiên do các làng nghề có quy mô nhỏ, sản xuất phân tán, lại nằm đan xen trong khu dân cư nên chúng rất khó để quy hoạch và kiểm soát
- Ô nhiễm làng nghề mang đặc trưng của các hoạt động sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm: do mỗi loại hình sản xuất, mỗi đặc trưng sản
phẩm của các làng nghề sẽ tạo ra các loại chất ô nhiễm khác nhau và tác động đếncác thành phần môi trường cũng khác nhau Vì vậy ô nhiễm môi trường ở các làng nghề là không đồng nhất, chúng có những nét khác biệt cụ thể phân theo từng nhóm các làng nghề chính
- Ô nhiễm làng nghề thường khá cao tại khu vực sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và người dân làng nghề: do mặt bằng sản xuất chật
hẹp, máy móc thiết bị thô sơ, lạc hậu, trình độ quản lý thấp, điều kiện sản xuất không bảo đảm nên mức độ ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất làng nghề khá cao Người lao động do không được trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động, lại thường xuyên tiếp xúc với các loại chất thải nên chịu tác động trực tiếp của quá trình ô nhiễm Mặt khác do khu sản xuất đan xen với khu dân cư nên việc lan truyền các chất ô nhiễm từ nơi sản xuất tới nơi sinh hoạt là rất dễ dàng điều này gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của người dân trong khu vực làng nghề
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng lân cận Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề “ Môi trường làng nghề Việt Nam” ,hiện nay “ hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường ( trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liệu không gây ô
Trang 12nhiễm như thêu, may…) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là trừ bụi; 85,9% từ nhiệt và từ hóa chất
Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ” Trong đó ô nhiễm nước mặt bởi các làng nghề diễn ra nghiêm trọng chủ yếu là do tác động của các loại nước thải làng nghề không được xử lý mà thải bỏ trực tiếp ra môi trường Ô nhiễm nước mặt làng nghề phụ thuộc vào đặc điểm của nước thải từ cáchoạt động sản xuất làng nghề
Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm là ngành có nhu cầu lượng nước thải rất lớn và thải ra một lượng nước thải không nhỏ các chất thải giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, nước thải trong sản xuất tinh bột sắn BOD từ 5.500-12.500 mg/l, nước thải các làng nghề sản xuất bún, bánh đều có BOD vượt quá TCCP từ 12 – 140 lần, COD vượt quá 9,7-87 lần, phần lớn nước thải có pH thấp, quá trình phân giải yếm khí chất hữu cơ chiếm ưu thế
Hiện nay, hoạt động sản xuất của làng nghề sản xuất bún đang từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công suất và năng suất được cải thiện rõ rệt, trung bình 1 hộ gia đình với 03 lao động đã sản xuất được 400-600kg bún/ngày Vì thế
số lượng hộ sản xuất đã giảm đi đáng kể, hiện nay còn 40 hộ sản xuất
Trang 13Theo điều tra khảo sát nhận thấy hiện nay, trong khu vực nghiên cứu chỉ có
12 hộ sản xuất bún, bánh phở có nước thải đổ trực tiếp ra sông An Lá Trong quá trình sản xuất nước thải hầu hết được thải trực tiếp ra hệ thống thu gom chung củakhu vực mà không được xử lí
Bảng 1.1 :Bảng tổng hợp quy mô sản xuất của 12 hộ sản xuất như sau:
xuất (m2)
8 Nguyễn Ngọc Trọng phường Cửa Nam 200
9 Trần Phương Phòng phường Cửa Nam 150
10 Nguyễn Viết Cường phường Cửa Nam 230
Nguồn: điều tra khảo sát
*Công nghệ sản xuất
Hiện nay, tất cả các hộ đều sản xuất bằng các dụng cụ chuyên dụng hiện đại : máy đãi gạo, máy xay bột, máy ép, máy làm bún liên hoàn chỉ còn một số ít khâu người lao động phải trực tiếp tham gia sản xuất Chính vì sự phát triển về công nghệ này đã đem lại năng suất và thu nhập kinh tế cao hơn cho các hộ sản xuất
Trang 14Hình 1.2: Quy trình sản xuất bún và nguồn phát sinh ô nhiễm
+ Nghiền ướt: Giảm kích thước hạt gạo để chuẩn bị cho những quá trình
chế biến tiếp theo Quá trình nghiền ướt ở đây nhằm làm cho khối hạt không bị nấu chín, tinh bột không bị biến tính do nhiệt sinh ra bời ma sát giữa hạt và thiết
bị nghiền Một số hộ sản xuất có quy mô nhỏ tại đây sử dụng máy nghiền cối đá, phía dưới đầu ra có đặt một tấm lưới có kích thước 2400 lỗ/cm2 Những hộ có quy
mô lớn hơn thì đã sử dụng thiết bị nghiền bột hiện đại sử dụng điện năng
Trang 15Đặc tính nước thải: gạo từ quá trình ngâm được đưa vào quá trình nghiền làm cho nước tiếp tục rỉ ra, nước thải giàu BOD, COD, TSS, ngoài ra có chứa mộtphần bột gạo vương vãi , lúc rửa sẽ theo nước cuốn ra cống thải.
+ Làm ráo: Tách bớt nước ra khỏi khối bột chuẩn bị cho quá trình hồ hóa
Quá trình làm ráo nước có thể thực hiện trong bể, thúng mủng hoặc trong hộc gỗ
có lót vải lọc Thời gian làm ráo: kết thúc quá trình làm ráo khi khối bột đạt đến
độ ẩm cần thiết Độ ẩm khối bột sau khi làm ráo: 44-48% Với độ ẩm là 44% trong trường hợp đó phải tiến hành cho thêm một lượng nước trong quá trình hồ hóa
Đặc tính nước thải: trong giai đoạn này, bột được vặt khô nước, lượng nước chảy ra giàu BOD, COD, TSS
+ Hồ hoá sơ bộ: Quá trình này nhằm hồ hoá 1 phần tinh bột trong khối bột
sau khi nghiền và làm ráo nhằm tạo cho khối bột một độ đặc nhất định khi tiến hành nhào Nhiệt độ hồ hoá của mỗi loại tinh bột khác nhau, phụ thuộc vào tỉ lệ của các cấu tử amylose và amylopectin cấu thành tinh bột, hình dạng và kích thước hạt tinh bột Hạt tinh bột gạo có hình dạng đa giác hàm lượng amylose trung bình khoảng 17%, khả năng trương nở ở 95oC khoảng 19 lần, nhiệt độ hồ hoá của hạt tinh bột gạo khoảng 61 - 78oC Kết quả của quá trình hồ hóa, hỗn hợp tạo thành khối paste (dạng sệt) giống như gel Đặc tính nước thải: Nước thải chứa
hồ tinh bột, 1 số loại chất phụ gia, BOD, COD, TSS…
+ Nhào: Quá trình nhào có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo độ dai,
dẻo của sợi bún Trộn đều phần bột đã được hồ hoá với phần bột chưa được hồ hoá, nhằm tạo khối bột đồng nhất
+ Ép đùn (máy làm bún): Định hình cho sản phẩm bún, đồng thời làm
chín một phần sản phẩm bún do tác động của nhiệt độ sau khi ra khỏi khuôn ép Cấu tạo chung của thiết bị ép đùn gồm bồn chứa nguyên liệu có đầu thoát liệu nhỏ
và một cơ cấu tạo áp lực để đẩy nguyên liệu thoát ra Buồng chứa nguyên liệu thong thường có dạng hình trụ, làm bằng vật liệu có thể chịu được áp lực cao Đầu thoát liệu của buồng chứa có thể có dạng côn hay gắn với đĩa khuôn đục lỗ
Trang 16để định dạng cho sản phẩm Lỗ khuôn có thể có dạng hình trụ tròn hay các hình dạng phức tạp tạo nên nên hình thù cho sản phẩm (trong công nghệ sản xuất bún tươi thì có hình trụ tròn) Cơ cấu tạo áp lực có thể là piston hay vis tải Nguyên liệu được cung cấp liên tục vào một đầu của buồng chứa nguyên liệu, chuyển dịchdọc bên trong buồng nhờ lực đẩy của piston hay chuyển động xoay tròn của vis tải và sẽ thoát ra tại các lỗ khuôn ở đầu bên kia của thiết bị Các sợi bún được hình thành, đã chín
Tại khâu nay sinh ra nhiều vụn bún làm tăng hàm lượng chất rắn trong nước thải
+ Làm nguội: Quá trình làm nguội nhằm làm các sợi tinh bột sắp xếp lại
và ổn định chất lượng tạo sợi của chúng Quá trình này giúp làm sợi bún dai hơn
do các sợi tinh bột đã ổn định cấu trúc Việc làm nguội nhanh sẽ hạn chế quá trìnhthoái hóa hồ tinh bột, giúp các phân tử liên kết với nhau chặt chẽ hơn Làm nguội nhanh còn góp phần làm cho các sợi bún không dính vào nhau, giảm hiện tượng dính giữa các sợi bún, cải thiện tính chất cảm quan cho sợi bún Băng chuyền sau khi đưa bún ra khỏi bể nước nóng sẽ tiếp tục đưa bún vào các thùng chứa nước lạnh nhằm làm nguội nhanh sản phẩm Các sợi bún ngắn, vụn bún còn sót theo nước thải đổ ra cống thải, mặc dù có song chắn rác nhưng các vụn bún nhỏ vẫn cóthể lọt qua làm tắc đường ống dẫn nước thải, gây ứ đọng
Nước thải phát sinh tại công đoạn cuối cùng là công đoạn rửa bún với thành phần ô nhiễm chính là các chất ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD), TSS, nhiệt
độ vì vậy cần có hệ thống xử lí sơ bộ trước khi thải ra công chung để giảm thiểu tác động của quá trình sản xuất đến môi trường
Trang 17PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nước thải làng nghề sản xuất bún thuộc phường Cửa Nam và chất lượng nước sông An Lá – Thành phố Nam Định
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Mô tả hoạt động hiện tại của làng nghề sản xuất bún thuộc phường Cửa Nam
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải sản xuất của làng nghề sản xuất bún thuộc phường Cửa Nam và chất lượng nước mặt sông An Lá
- Đánh giá ảnh hưởng của nước thải làng nghề sản xuất bún đến chất lượngnước sông
- Đề xuất biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng nước sông
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Điều kiện tự nhiên của khu vực làng làm bún Phong Lộc thuộc phường Cửa Nam thành phố Nam Định – Nguồn: tài liệu của trạm khí tượng thủy văn
Trang 18Nam Định, bao gồm các số liệu về thủy văn (chế độ mực nước, lưu lượng nước,
độ dốc trung bình của sông ), khí hậu (nhiệt độ không khí, độ ẩm, lượng mưa, gió – bão )
- Tình hình kinh tế xã hội của khu vực làng làm bún Phong Lộc năm – nguồn: số liệu tổng hợp của phòng Tài nguyên và Môi trường, thành phố Nam Định năm 2012 Bao gồm số liệu về: dân số, phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng
- Hiện trạng chất lượng môi trường sông An Lá- thành phố Nam Định từ Trung tâm quan trắc và Phân tích tài nguyên môi trường Nam Định năm 2013
- Hiện trạng chất lượng nước thải năm 2013 tại cống thải tập trung của 12
hộ làng nghề trước khi đổ ra sông An Lá từ Trung tâm quan trắc và Phân tích tài nguyên môi trường Nam Định
2.3.2 Phương pháp điều tra- phỏng vấn
a) - Điều tra tổng thể 12 hộ làng nghề
- Thu thập các thông tin về : Quy mô sản xuất , số lao động , ngành nghề sản xuất chủ yếu, quy trình sản xuất , nguyên - nhiên liệu sử dụng , tình hình hoạt động, các nguồn nước thải trong mỗi hộ, tình hình thu gom xử lí
b)Phỏng vấn nhóm (phỏng vấn bán cấu trúc)
-Phỏng vấn nhóm để phân nhóm hộ làng nghề theo quy mô sản xuất: nhómquy mô lớn(>120m2), trung bình(80-120m2) và nhỏ (<80m2) theo sự chênh lệch của quy mô sản xuất giữa các hộ
2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa
- Xác định nguồn thải và kiểm kê nguồn thải
- Khảo sát về: Hình dạng, kích thước nguồn thải, vị trí nguồn thải (kèm theo sơ đồ) và các thông số cảm quan
-Cách xác định lưu lượng nước thải tại hố ga
Lựa chọn ngẫu nhiên 3 hộ trong một nhóm quy mô để tiến hành đo lưu lượng nước thải tại hố ga, từ đó áp dụng cho các hộ khác có quy mô tương tự
Trang 19Cách đo: Đo lưu lượng hố ga tại mỗi hộ gia đình bằng phương pháp thể tích, sử dụng xô đựng đã được đánh dấu thể tích (l), bấm thời gian trong vòng 1'
Đo tại 3 hộ tương ứng với 3 nhóm quy mô sản xuất Tại mỗi hộ đo 6 lần trong 2 ngày liên tiếp, mỗi ngày tại 3 thời điểm : 7h sáng, 14h và 18h
-Đo lưu lượng nước máy bơm bằng cách bơm nước vào xô chứa đã đánh dấu thể tích, bấm thời gian xô đầy nước, khảo sát thời gian bơm nước trung bình của các hộ sản xuất
2.3.4 Phương pháp đánh giá chất lượng nước
Chất lượng nước thải và nước mặt sông An Lá được đánh giá bằng phươngpháp so sánh với các Quy chuẩn Quốc gia tương ứng
+ Đối với nước thải làng nghề: Đối chiếu với QCVN 40:2011/BTNMT về nướcthải công nghiệp (thay thế QCVN 24:2009)
+ Đánh giá hiện trạng nước sông An Lá: đối chiếu với QCVN 08:2008/
BTNMT về chất lượng nước mặt
2.3.5 Phương pháp ước tính tải lượng nước thải
- Sử dụng phương pháp hệ số đánh giá nhanh của WHO(1993) để ước tính nhanh tải lượng, lưu lượng và đánh giá nồng độ của các chất gây ô nhiễm từ các hoạt động khác nhau, phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng chất lượng nước
- Ước tính tải lượng nước thải tại hố ga của các hộ sản xuất theo công thức
Q: Lưu lượng nước trung bình đo tại hố ga của mỗi hộ sản xuất (m3/ngày)
2.3.6.Phương pháp đánh giá khả năng chịu tải của sông
Sử dụng thông tư số 02/2009/TT-Bộ TNMT
Trang 202.3.7 Phương pháp xử lí số liệu
- Phân tích , đánh giá số liệu thu thập
- Biểu diễn kết quả trên phần mềm excel
Trang 21PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Hiện trạng nước thải tại làng nghề bún Phong Lộc tại phường Cửa Nam – Nam Định.
3.1.1 Hiện trạng nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt chủ yếu chứa các chất cặn bã, các chất lơ lửng (SS), các hợp chất hữu cơ (BOD/COD), các chất dinh dưỡng (N, P) và các vi sinh vật Theo kết quả khảo sát:
+ Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt = số dân (người) x tiêu chuẩn dùng nước (l/ngày đêm)
Với lưu lượng nước thải = 80% lượng nước cấp
Hệ số phát sinh nước thải (l/người/ngày) = 150 (Nguồn: trung tâm tư vấn
chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường, 2003)
Lượng nước cấp trung bình tháng cho mỗi hộ là 4 (m3/ngày) (số liệu khảo sát)
Từ các thông số trên ta có bảng sau:
Bảng 3.1: Bảng ước tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt tại các
hộ sản xuấtlượng
nước cấp
(m3/ngày)
Số nhân khẩu
Tải lượng (kg/ngày)
PTheo
Trang 22Bảng số liệu trên cho thấy dân số, số lao động càng nhiều thì tải lượng chất ô
nhiễm càng cao, trong đó, tải lượng các thông số ô nhiễm ở hộ số 2 là cao nhất, tiếp đến là hộ số 6 và 10, thấp nhất là ở hộ số 3 Dựa trên bảng kết quả này, ta có thể đưa ra biện pháp quản lí phù hợp đối với từng hộ để nâng cao hiệu quả quản límôi trường làng nghề vào thời điểm hiện tại
3.2.2 Hiện trạng nước thải chăn nuôi
Có 4/ 12 hộ sản xuất có kết hợp chăn nuôi , chỉ nuôi lợn
- Hệ số phát sinh nước thải của lợn là 14,6 m3/con.năm =0,04 (m3
/con.ngày) ( nguồn : WHO,1993)
Lượng nước giếng khoan ước tính sử dụng cho mỗi hộ là 4(m3/ngày) ( số liệu khảo sát)
Bảng 3.2: Ước tính tải lượng chất ô nhiễm và lưu lượng nước cấp của các
hộ chăn nuôi
Nhận xét:
Trong tổng số 12 hộ làng nghề Nam Vân, Cửa Nam, chỉ có các hộ 1,3,6 và 8 có tham gia chăn nuôi lợn Theo bảng kết quả tổng hợp trên cho thấy, tải lượng chất ô nhiễmtăng theo số vật nuôi, cao nhất ở hộ số 6 với 5 vật nuôi, thấp nhất là hộ số 1 với 2 vật nuôi
Trang 233.3.3 Hiện trạng nước thải sản xuất
Bảng 3.2: Ước tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất của các hộ
Hộ Số vật nuôi Tải lượng (kg/ngày)
Lượng nướcbơm cho chăn nuôi (m3/ngày)
Theo kết quả thu thập cùng với số liệu phân tích trên cho thấy sự chênh
lệch về tải lượng chất ô nhiễm giữa các hộ sản xuất Có sự chênh lệch này là giữa các hộ có sự chênh lệch về quy mô sản xuất, sản lượng sản xuất…
Căn cứ vào các số liệu ước tính trên ta có bảng nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất của 12 hộ như sau:
TotalN
TotalP