1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”

70 1,4K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định mức sẵn lòng trả (Willingness To Pay WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình Biogas tại xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” 1. Đánh giá sơ bộ chất lượng nước thải chăn nuôi sau khi xử lý bằng mô hình Biogas; 2. Xác định nhu cầu của người dân về cải thiện mô hình Biogas và xác định mức độ sẵn lòng trả (WTP) của hộ dân cho việc cải thiện hệ thống Biogas hiện có; 3. Đề xuất giải pháp cải thiện mô hình Biogas.

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 29

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 30

1 Đánh giá sơ bộ chất lượng nước thải chăn nuôi sau khi xử lý bằng mô hình Biogas; 30

2.Xác định nhu cầu của người dân về cải thiện mô hình Biogas và xác định mức độ sẵn lòng trả (WTP) của hộ dân cho việc cải thiện hệ thống Biogas hiện có; .30 3.Đề xuất giải pháp cải thiện mô hình Biogas 30

Chương 1: TỔNG QUAN 31

a Vị trí địa lý 31

b Đặc điểm địa hình 31

Địa hình của xã tương đối bằng phẳng không có đồi núi, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp 31

c Khí hậu 31

Xã Lê Hồ huyện Kim Bảng mang những đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông Hồng: nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 230C nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 160C và cao nhất vào tháng 7 là 290C Lượng mưa trung bình trong năm là 1.800-2.200 mm, trong đó thấp nhất là 1.300 mm và cao nhất là 4.000 mm [15] 31

a Diện tích, dân số 31

Diện tích 31

Xã Lê Hồ có tổng diện tích đất đai tự nhiên là 7,35km2 , trong đó diện tích đất canh tác là 521,95ha 31

Dân số 31

Toàn xã có 2300 hộ với 8762 nhân khẩu, Đơn vị hành chính bao gồm 5 thôn: Phương Thượng, Phương Đàn, Đồng Thái, An Đông, Đại Phú với 17 xóm.[1] 31

b Kết cấu hạ tầng 31

Cấp điện, nước 31

100% các hộ dân trong xã được sử lưới điện quốc gia Trong những năm qua hệ thống lưới điện hạ thế đã được chú trọng đầu tư, cải tạo, nâng cấp, góp phần giảm tổn thất điện năng, phục phụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn 32

Trang 3

Tại xã có một trạm cấp nước sạch, cung cấp nước sạch cho các hộ dân trongxã.Tỷ lệ dân cư sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 92 % [1] 32Giao thông, thông tin liên lạc, xây dựng cơ bản 32Phía bắc xã Lê Hồ có đường 38 chạy qua, xã nằm trên Quốc lộ 60 nên xã có vị trígiao thông hết sức quan trọng Xã có trục đường liên xã chạy qua theo hướngĐông Nam – Tây Bắc từ xã Đông Hóa đến xã Nguyễn Uý 32Năm 2012 toàn xã tập chung xây dựng bê tông đường trục làng, đường xóm, mởrộng mặt đường trục chính nội đồng và từng bước mở rộng sân chơi của nhà vănhóa các thôn Thi công xây dựng đường bê tông trục đường thôn và đường xómđược 1746 m [1] 32Toàn xã có 100% thôn, xóm sử dụng máy điện thoại với tỷ lệ 11,5máy trên 100dân Xã có 1 đài truyền thanh cơ sở, 98% số dân trong xã được nghe đài truyềnthanh bốn cấp 32Kinh tế, xã hội, vệ sinh môi trường 32 WTP là số tiền tối đa người dân sẵn sàng bỏ ra để mua một loại hàng hóa hayđược hưởng chất lượng của môi trường được cải thiện WTP là cách để xác địnhgiá phần lợi ích được hưởng thêm so với điều kiện hiện tại, WTP cũng đo lường

độ ưa thích của cá nhân hay xã hội đối với một thứ hàng hóa nào đó WTP đồngthời là đường cầu thị trường của loại hàng hóa đó 33Đối với hàng hóa công cộng thì WTP thường thấp hơn giá trị hàng hóa đó Dotâm lý xã hội là hàng hóa công cộng không trực tiếp bỏ tiền ra mua nhưng vẫnđược hưởng lợi từ hàng hóa đó do đó họ thường trả thấp hơn so với mức sẵn sàngchi trả của họ 33Đánh giá ngẫu nhiên ( tên gốc là Contingent Valuation – CV) hay phương phápđánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp được dùng để đánh giá chất lượngmôi trường không dựa trên thị trường Bằng cách xây dựng một thị trường ảo,người ta phải xác định được hàm cầu về hàng hóa môi trường thông qua sự sẵnlòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhận khi họ mất đi hànghóa đó ( WTA), đặt trong tình huống giả định Thị trường không có thực, WTPthì không thể biết trước, ta gọi đây là phương pháp ngẫu nhiên Một tình huốnggiả thuyết đưa ra đủ tính khách quan, người trả đúng với hành động thực của họthì phương pháp là khá chính xác Các nhà phân tích sau đó có tính toán mức sẵnlòng chi trả trung bình của những người được hỏi, nhân với tổng số người hưởngthụ giá trị hay tài sản môi trường thì thu được ước lượng giá trị mà tổng thể dânchi cho tài sản đó 33Phương pháp định giá ngẫu nhiên bỏ qua nhu cầu tham khảo giá thị trường củaloại hàng hóa, dịch vụ môi trường bằng cách hỏi thẳng từng cá nhân để giả địnhgiá của một hàng hóa hay giá trị của môi trường Phương pháp thường được ápdụng nhất là phỏng vấn các cá nhân tại hộ gia đình, sử dụng các câu hỏi về sự

Trang 4

sẵn sàng chi trả (Willingness to pay-WTP) của họ cho việc bảo vệ môi trườnghay cho một loại hàng hóa nào đó Sau đó các nhà phân tích có thể tính giá trịWTP trung bình của những người trả lời phỏng vấn nhân với tổng số người đượchưởng thụ hàng hóa, lợi ích của việc bảo vệ môi trường, để có tổng giá trị ướctính của loại hàng hóa hay môi trường đang được xem xét 33Định giá ngẫu nhiên phụ thuộc là một cơ sở cho khảo sát kinh tế dùng để đánhgiá nguồn tài nguyên phi thị trường, chẳng hạn như bảo vệ môi trường hoặc tácđộng của ô nhiễm môi trường Trong khi những tài nguyên phi thị trường này đãmang lại lợi ích cho con người và không có giá trên thị trường hay không bántrực tiếp Phương pháp được gọi là phương pháp ngẫu nhiên vì nó mô phỏngngẫu nhiên một thị trường trong đó hành vi của con người được mô hình hóatrong một bảng phỏng vấn Câu hỏi đơn giản nhất để suy ra mức tối đa người dânsẵn lòng chi trả là câu hỏi trực tiếp về một mức giá cụ thể nào đó 34

Sự phong phú và linh hoạt của phương pháp định giá ngẫu nhiên được chứngminh qua nhiều ứng dụng rộng rãi Wilks (1990) tính ra các lợi ích của một trungtâm nghệ thuật ở Mildura thông qua giá sẵn lòng chi trả của họ trong trung tâmnày, Trần Thị Thu Hà dùng phương pháp này để định giá giá trị du lịch Hồ Ba

Bể, Bùi Đức Kính dùng phương pháp này để định giá nước cấp nông thôn[3].Nguyễn văn Song và các cộng sự (2011) dùng phương pháp này xác định số tiềnngười dân đóng góp hàng tháng cho việc thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt tạihuyện Gia Lâm,Hà Nội [8] 34 Trong phương pháp CVM thường có thể sử dụng 4 loại câu hỏi để xác định mứcsẵn sàng chi trả của người dân hay hộ gia đình về một loại hàng hóa hay dịch vụnào đó 341.Câu hỏi lựa chọn (có/không): Mức giá được đưa ra và hỏi người trả lời phỏngvấn đồng ý chi trả cho dịch vụ/hàng hóa với mức giá đó không Người trả lời sẽ

có 2 lựa chọn là đồng ý hoặc không 342.Câu hỏi đóng mở: Hỏi trực tiếp người trả lời mức cao nhất và họ có thể trả chohàng hóa, dịch vụ đó 343.Thẻ tín dụng: Một dãy các giá được đưa ra và hỏi người trả lời mức giá caonhất mà người trả lời có thể sẵn sàng chi trả cho hàng hóa/dịch vụ đó 344.Đấu giá: Một chuỗi các giá sẽ được hỏi người trả lời về sự sẵn sàng chi trả choloại hàng hóa/dịch vụ nào đó Đối tượng sẽ được hỏi từ mức giá ban đầu, nếu sẵnsàng chi trả thì được hỏi mức giá cao hơn có sẵn sàng chi trả không và nếu khôngsẵn sàng chi trả với mức khởi điểm thì sẽ hỏi các mức giá thấp hơn cho sẵn sàngchi trả cho loại hàng hóa, dịch vụ đó không 34Bước 1: Xây dựng các công cụ cho điều tra để tìm ra mức WTP của cá nhân Cầnlưu ý thiết kế một kịch bản phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo người đượchỏi hiểu rõ kịch bản được hỏi 35

Trang 5

Bước 2: Tiến hành điều tra, cần lưu ý tiến hành điều tra như thế nào? Phỏng vấntrực tiếp hay gửi thư, lấy ý kiến Tuy nhiên phải đảm bảo tính chính xác và tínhhiệu quả 35Bước 4:Phân tích câu trả lời từ kết quả điều tra 35

Ưu điểm 35 Một ưu điểm nổi trội của phương pháp này là, trên lý thuyết phương pháp có thểđược sử dụng để đánh giá các nguồn tài nguyên mà sự tồn tại tiếp tục của nóđược người ta đánh giá cao, nhưng bản thân họ không bao giờ đến thăm quan Vídụ: Nam cực là nơi mà người ta sẵn sàng trả cho việc bảo vệ, nhưng nói chungthì họ không bao giờ đến thăm quan Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi đánhgiá chất lượng môi trường của một vùng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Kết quảnày cho kết quả đánh giá cao khi người dân hiểu được tính chất các tính chấtnghiêm trọng của việc ô nhiễm môi trường mà phải chịu đựng trong giả định 35Hạn chế 35Thực hiện CVM tưởng chừng dễ, nhưng có hai vấn đề sau đây rất dễ mắc phải,gây cản trở cho việc làm một nghiên cứu thành công: 35

Về phía người trả lời: khi thực hiện mua bán một món hàng trên thị trường,người mua sẽ đưa giá thực dựa trên chi phí và lợi nhuận, người mua sẽ trả tiềnthật dựa trên nhu cầu và ngân sách Hàng hóa môi trường vốn đã không hiện hữutrên thị trường, nay lại được đặt trong một tình huốn giả định, do người nghiêncứu nghĩ ra, buộc người trả lời phải suy nghĩ và tưởng tượng Sẽ có hai trườnghợp xảy ra: 361.Họ không tưởng tượng hết được những điều gì sẽ xảy ra trên thị trường thật 362.Họ hiểu được vấn đề và có ý định trả lời sai lệch 36Trường hợp 1, người người trả lời không thực hiện những chuyển giao thực nên

họ cũng không biết rõ nên đặt giá như thế nào cho đúng, họ sẽ đưa ra một mứcgiá bừa Nếu đặt trong hoàn cảnh họ hiểu hết, chưa chắc họ đã có những hành vitương ứng Mặt khác người trả lời chưa chắc đã đủ kiến thức về khoa học tựnhiên và xã hội để hiểu các mức độ tác động của môi trường Trong trường hợpthứ 2, người trả lời có một suy nghĩ rằng, nếu họ trả lời đúng như mình nghĩ,mức giá đó có thể áp dụng rộng rãi, vì vậy có thể vì động lực cá nhân nào đó, họtrả lời mức cao hơn hoặc thấp hơn, không đúng đánh giá thực của mình Nhìnchung CVM mang nhiều tính giả thuyết 36

Về phía người hỏi: Từ những khâu như thiết kế bảng hỏi, chọn phương pháp chitrả, đặt kịch bản giả định, chọn kích thước mẫu đến cách tiếp cận với người trảlời đều có thể gây ra sai số Nếu đánh giá quy mô nhỏ, người nghiên cứu có thể

tự tin lấy thông tin, tuy nhiên trường hợp này là hiếm vì thường hàng hóa môitrường có quy mô khá lớn và liên quan đến nhiều người Khi đó phải đào tạongười điều tra, điều tra thử, chỉnh sửa bảng hỏi, lưu trữ khối lượng văn bản lớn

Trang 6

những điều này đều tiêu tốn khá nhiều nguồn lực Nhiều khi xong hết các khâuthu thập dữ liệu, tính được WTP trung bình, tổng WTP, nhưng tổng này lạikhông phù hợp với thực tế thì ta lại phải xem mẫu đã chọn ban đầu 36Một vài lưu ý khi sử dụng phương pháp này 36Đưa ra mức sẵn sàng chi trả thấp: Theo tâm lý xã hội và người trả lời chưa hiểuhết được giá trị mà họ sẽ được nhận từ loại hàng hóa hay dịch vụ môi trường đó.

Do vậy thông thường thì mức sẵn sàng chi trả điều tra được chỉ khoảng 70 – 90%

mà cuối cùng họ thực trả 36Tính giá trị cuộc phỏng vấn: Vì bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các tìnhhuống giả định và hỏi trực tiếp người dân, do đó rất dễ người trả lời chấp nhận tất

cả các mức giá mà bộ câu hỏi đưa ra mặc dù mức giá đó vượt ngoài khả năng chitrả của họ Do đó phải xác định tính tin cậy của cuộc phỏng vấn 36

Sự sai lệch một phân hay toàn phần : Người ta thấy rằng lần đầu tiên hỏi mức sẵnsàng chi trả của người dân chi trả cho một loại hàng hóa hay môi trường và sau

đó được hỏi mức sẵn sàng chi trả cho toàn bộ hàng hóa hay môi trường thì chokết quả như nhau Vì vậy cần xác định rõ là chúng ta đang cần xác định một phầnhay toàn bộ hàng hóa hay môi trường đó 37

Sự sai lệch theo hình thức chi trả: Khi xây dựng câu hỏi về mức sẵn sàng chi trảngười thiết kế điều tra phải xác định rõ phương tiện đóng góp khác nhau như:bằng tiền mặt, bằng tài khoản, thì mức sẵn sàng chi trả cũng khác nhau tùythuộc vào điều kiện cụ thể mà chúng ta xác định phương tiện đóng góp hay sửdụng nhất để tránh trở ngại này 37 Tại Việt Nam, phương pháp định giá ngẫu nhiên phụ thuộc (CMV) vẫn đượcdùng trong các nghiên cứu về kinh tế và kinh tế môi trường CVM đã được ápdụng ở một vài nghiên cứu trong việc xác định mức sẵn sàng chi trả cho bảo vệgiá trị kinh tế của môi trường, xác định mức sẵn sàng chi trả cho việc thu gom xử

lý chất thải rắn sinh hoạt 37Trần Thu Hà và Vũ Tấn Phương thuộc Trung Tâm Nghiên cứu Sinh Thái và MôiTrường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam năm 2005 đã áp dụngphương pháp CVM để định giá giá trị của cảnh quan sinh thái Vườn quốc gia Ba

Bể và du lịch Hồ Thác Bà Kết quả nghiên cho thấy tổng chi phí lợi ích thu được

từ khách du lịch trong nước cho vườn quốc gia Ba Bể là 1,552 triệu đồng mỗinăm và cho Hồ Thác Bà là 529 triệu đồng mỗi năm Ngoài ra tổng số tiền khách

du lịch sẵn sàng trả 586 triệu đồng cho việc bảo vệ cảnh quan ở Vườn Quốc gia

Ba Bể và 291 triệu đồng cho Hồ Thác Bà, trong đó mức trung bình khách du lịchnước ngoài sẵn sàng chi trả để bảo vệ cảnh quan Vườn quốc gia Ba Bể là 89.300đồng và mức trung bình khách du lịch trong nước là 21.300 đồng và mức trungbình khách du lịch sẵn sàng chi trả để bảo vệ cảnh quan hồ Thác Bà là 8600đồng.[11] 37

Trang 7

Phạm Hồng Mạnh và cộng sự năm 2008 đã sử dụng phương pháp chi phí duhành theo vùng (ZTCM) và định giá ngẫu nhiên phụ thuộc CVM nhằm tìm ra giátrị du lịch của du khách trong nước đối với khu bảo tồn Biển Vịnh Nha Trang,đồng thời tìm ra mức sẵn lòng chi trả cho việc duy trì cảnh quan và tái tạo tàinguyên môi trường của Vịnh Nha Trang Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng lợiích giá trị giải trí của du khách trong nước đối với vịnh Nha Trang là 23.281,281

tỷ đồng và thặng dư tiêu dùng là 7760,42 tỷ đồng hàng năm (2007) Giá sẵn lòngtrả của du khách được tính vào phụ phí tiền phòng tại khách sạn của Nha Trangcho một ngày đêm nghỉ là 7875 đồng/du khách/đêm và tổng mức sẵn lòng trả của

du khách xấp xỉ 21,224 tỷ đồng.[12] 37Cũng năm 2008 một nghiên cứu khác của Phạm Hồng Vân nằm trong dự án cảitạo Sông Tô Lịch, nhằm xây dựng mô hình xác định mức đóng góp của cộngđồng dân cư trực tiếp hưởng lợi từ việc cải thiện môi trường Sông Tô Lịch giúpgiảm bớt gánh nặng chi tiêu ngân sách nhà nước Kết quả nghiên cứu đã tìm ramức phí trung bình các hộ dân hai bên bờ Sông Tô Lịch sẵn sàng bỏ ra để cải tạoSông Tô Lịch là 51.000 đồng [13] 38Năm 2009, Bùi Đức Kính và cộng sự thuộc Viện phát triển bền vững vùng Nam

Bộ đã áp dụng phương pháp CVM để định giá cấp nước nông thôn cho ngườidân tại Xã Phướng Vĩnh Đông một xã vùng đồng bằng Sông Cửu Long Kết quảnghiên cứu cho thấy 95%các hộ gia đình sẵn sàng chi trả để có thể được cungcấp nước sạch Mức giá trung bình các hộ gia đình sẵn sàng chi trả để có nướcsạch là 99.596 đồng chiếm khoảng 5.8% tổng thu nhập hộ gia đình Nghiên cứucũng tìm ra mặc dù mức giá là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới WTP của ngườidân; nhưng kết quả còn cho thấy thu nhập, chất lượng nguồn nước, giới tính chủ

hộ, số người già trong gia đình, tình hình sức khỏe tự khai báo của hộ gia đìnhcũng là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sẵn sàng chi trả của các hộ gia đình.[3] 38Năm 2011, Nguyễn Văn Song và cộng sự thuộc trường Trường Đại Học NôngNghiệp đã áp dụng phương pháp CVM, để xác định mức sẵn lòng chi trả choviệc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình tại huyện Gia Lâm.Kết nghiên cứu đã tìm ra mức chi trả bình quân của các hộ dân cho việc thu gomrác thải sinh hoạt là 6000 đồng/người/tháng Nghiên cứu cho thấy mức WTP phụthuộc vào giới tính, trình độ học vấn, thu nhập ,nghề nghiệp, tuổi và số khẩu/hộ.[8] 38Đối tượng nghiên cứu là các hộ gia đình có sử dụng mô hình Biogas thuộc xã Lê

Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 39Chủ hộ gia đình hoặc người quyết định chính trong gia đình là người được phỏngvấn bằng bộ câu hỏi 39Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng: có sử dụng mô hình Biogas, có khả năng trả lời

từ là chủ hộ gia đình hoặc người có khả năng quyết định 39

Trang 8

Đối tượng loại trừ trong nghiên cứu: 39

Đối tượng không sử dụng mô hình Biogas 39

Đối tượng không có khả năng trả lời ( đãng trí, trẻ em ) 39

Đối tượng vắng nhà trong thời gian thu thập thông tin 39

Đối tượng từ chối hợp tác 39

Nghiên cứu được thực từ ngày 24 tháng 11 năm 2013 đến ngày 15 tháng 12 năm 2013 39

Địa điểm nghiên cứu là xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 39

Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kinh tế xã hội 2012 của UBND xã Lê Hồ, báo cáo khảo sát thống kê chăn nuôi Lợn, Trâu Bò, Gia Cầm trên địa bàn xã năm 2013 Ngoài ra còn được thu thập từ các nguồn khác như các báo cáo khoa học, giáo trình,Tạp chí khoa học: Tạp chí khoa học của trường ĐHQG, ĐHNN, Tạp chí khoa học xã hội vv 39

Nhóm nghiên cứu đi khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu để nắm được tình hình khái quát của các hộ sử dụng mô hình Biogas, đồng thời để hỗ có được cơ sở để xây dựng bộ câu hỏi điều tra Nhóm trực tiếp đến các hộ sử dụng mô hình Biogas và quan sát 39

Chọn mẫu: Các hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên từ 124 hộ gia đình có sử dụng mô hình Biogas trên địa bàn xã Lê Hồ.[5] 40

Cỡ mẫu:[2] 40

40

Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contigent Value Method: CVM) nhằm tạo một thị trường chưa tồn tại về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó Viễn cảnh được đưa vào trong nghiên cứu này là giả định chất lượng môi trường sẽ được cải thiện,bệnh dịch ở người và vật nuôi sẽ ít hơn từ đó sẽ tăng thu nhập cho gia đình Nhờ vào việc cải thiện mô hình Biogas nước thải từ Biogas bớt mùi đi, các vi sinh vật gây bệnh mất đi, nước ở cống rãnh ao hồ trong thôn được cải thiện, không khí trong lành hơn thì mức sẵn lòng chi trả cho hệ thống Biogas là bao nhiêu Người được phỏng vấn, trước tiên sẽ được giới thiệu, mô tả để hiểu rõ được quyền lợi, nghĩa vụ của việc đóng góp vào quá trình xã hội hóa môi trường, mua hàng hóa môi trường Sau đó người được phỏng vấn sẽ được hỏi về mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP) của mình khi tham gia mua hàng hóa dịch vụ môi trường có không khí trong lành hơn, người và vật nuôi bớt bệnh dịch đi Người trả lời được xem tấm thẻ chi trả với các mức sẵn lòng chi trả đã được chỉ ra sẵn 40

Kỹ thuật thu thập thông tin 40 Trong nghiên cứu này tôi sử dụng CVM với 7 mức giá với các biện pháp tương ứng với các mô hình Biogas ở các cấp độ khác nhau, được đưa ra để hỏi người

Trang 9

dân về sự sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas Những mức giá này tôi tham khảo từ các hộ dân xây dựng Biogas, từ đội thợ chuyên xây dựng hầm Biogas Dưới đây là bảng với các mức giá và biện pháp tương ứng được đề xuất

41

Bảng 2.1: biện pháp và mức giá tương ứng 41

Nguồn:[tổng hợp từ các hộ xây dựng Biogas và đội thợ xây dựng] 41

Công cụ thu thập thông tin 41

Bộ câu hỏi điều tra được thiết kế xây dựng sau khi đi khảo sát, thảo luận với cộng đồng tại địa phương và tham khảo các bộ câu hỏi sử dụng trong nghiên cứu CVM tại Việt Nam, tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn, nhóm nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu Y Tế công cộng và hệ sinh thái thuộc Trường đại học Y tế công cộng Hà Nội Nội dung bộ câu hỏi bao gồm: 41

Phần giới thiệu tóm tắt nghiên cứu và mục đích của cuộc điều tra; 42

Câu hỏi về nhân khẩu học kinh tế - văn hóa – xã hội của gia đình, thông tin về người trả lời phỏng vấn; 42

Câu hỏi về điều kiện, hiện trạng mô hình Biogas của gia đình; 42

Câu hỏi về tình huống giả định về sự sẵn lòng chi trả của hộ dân cho việc cải tạo mô hình Biogas Trong tình huống giả định, điều tra viên phải nói rõ lợi ích của việc cải tạo mô hình Biogas của gia đình so với mô hình đang sử dụng hiện tại gia đình đang sử dụng 42

Câu hỏi về ốm đau ở người và dịch bệnh ở vật nuôi 42

Tham vấn cộng đồng 42

Trước khi tiến hành tham vấn thu thập số liệu tại địa bàn thì điều tra viên được tập huấn 1 buổi, tiến hành phỏng vấn thử 42

Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 42

Số liệu sau khi được hiệu chỉnh sau đó nhập liệu, xử lý và phân tích nhập vào bằng Microsoft Excel 42

Các sai số hay mắc phải và cách khắc phục 42

Các sai số: 42

+ Sai số do điều tra viên: điều tra viên bỏ sót câu hỏi khi thu thập thông tin, sai số do ghi chép thông tin sai, sai số do điều tra viên không hiểu rõ câu hỏi 42

+ Sai số do người trả lời phỏng vấn: do đặc thù của bộ câu hỏi về các giả định và các tình huống giả định lại đưa ra các mức giá khác nhau Nên đối tượng trả lời có thể chỉ đại khái, hoặc có thể trả lời ở các mức giá rất cao hặc rất thấp so với khả năng của mình 42

+ Sai số do đối tượng không hiểu biết về các giả định được xây dựng 42

Trang 10

+ Sai số trong quá trình nhập liệu 42

Cách khắc phục sai số: 42

+ Đối với sai số do điều ta viên: Tập huấn kỹ cho các điều tra viên về bộ câu hỏi cũng như một số ngôn ngữ của địa phương 42

+ Đối với sai số do đối tượng trả lời phỏng vấn: Hỏi chi tiết rõ ràng, kiểm tra chéo thông tin bằng cách lập lại câu hỏi 43

+ Đối với các sai số trong quá trình thu thập số liệu : giám sát, kiểm tra số liệu tại thực địa 43

+ Đối với sai số trong quá trình hiệu chỉnh và nhập liệu: đọc phiếu và hiệu chỉnh trước khi nhập liệu, tạo các tập check của phần mềm nhằm hạn sai số trong quá trình nhập liệu 43

+ Hiệu chỉnh các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích 43

Trong nghiên cứu này tôi đã sử dụng bảng hỏi để điều tra thông tin các hộ dân sử dụng mô hình Biogas Trong khi xây dựng bảng hỏi tôi có tham khảo và góp ý của giáo viên hướng dẫn, nhóm nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu Y Tế công cộng và hệ sinh thái thuộc Trường đại học Y tế công cộng Hà Nội 43

43

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

Áp dụng công thức tính phần 2.4.3 với tổng số gia đình sử dụng Biogas trong xã là N = 124 [5] Số mẫu nghiên cứu được tính toán bằng: 44

44

n = 95 ( hộ gia đình) 44

Nghiên cứu đã tiến hành điều tra 95 hộ dân trên tổng số 124 hộ có sử dụng mô hình Biogas tại 5 thôn xóm của xã Lê Hồ.Thông tin chung về mẫu được trình bày trong bảng 3.1dưới đây: 44

Bảng 3.1: Thông tin chung về hộ gia đình 44

Thông tin chung về hộ gia đình 44

Số hộ gia đình 44

Tỷ lệ(%) 44

Số người hiện sống trong gia đình 44

1-2 người 44

9 44

9.5 44

3-5 người 44

62 44

Trang 11

>5 người 44

24 44

25.2 44

Sử dụng mô hình Biogas từ 44

0-3 năm 44

39 44

41 44

3-7 năm 44

31 44

32.5 44

7-10 năm 44

21 44

22.1 44

>10 năm 44

4 44

4.4 44

Số lượng gia súc gia cầm/hộ gia đình (con) 44

0-5 con 44

4 44

4.2 44

6-10 con 44

4 44

4.2 44

11- 20 con 44

14 44

14.7 44

21-50 con 44

38 44

40 44

50-100 con 44

19 44

20 44

Trang 12

>100 con 44

16 44

16 44

Nước thải từ Biogas thải ra 44

Tưới rau 44

16 44

16.8 44

Ra ao hồ của nhà 44

3 44

3.2 44

Ra ao, hồ của thôn xóm 44

2 44

2.1 44

Ra cống rãnh ra sông 44

12 44

12.6 44

Ra cống rãnh, ra ao hồ của thôn 44

40 44

42.1 44

Ra ruộng 45

20 45

21 45

Khác( ra mương, cho người khác) 45

19 45

20 45

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 45

Bảng 3 1 trình bày thông tin chung về các hộ gia đình có sử dụng mô hình Biogas được điều tra Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có từ 1- 2 người đang sinh sống là 9.5%, hộ gia đình có từ có từ 3-5 người đang sinh sống có tỷ lệ cao nhất chiếm 65.3% tổng số hộ điều tra còn lại là các hộ gia đình có số người đang sinh sống trong gia đình lớn hơn 5 chiếm 24.2% 45 Kết quả điều tra cũng cho thấy số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 10 năm trở lên

là 4.4%, số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 7-10 năm là 22.1%, số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 3-7 năm là 32.5%, số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 0-3 năm

Trang 13

chiếm tỷ lệ cao nhất 41% Từ kết quả trên cho thấy tỷ lệ số hộ sử dụng mô hình Biogas những năm trở lại đây ngày càng tăng Kết quả trên cũng cho thấy người dân thấy được lợi ích từ việc sử dụng mô hình Biogas để xử lý chất thải chất nuôi

của gia đình nhà mình 45

Kết quả điều tra cũng đã thống kê được số lượng gia súc gia cầm của các hộ sử dụng mô hình Biogas với kết quả cụ thể như sau: số hộ có số gia súc gia cầm từ 0-5 con và số hộ gia đình có số gia súc gia cầm từ 6-10 có tỷ lệ bằng nhau và có tỷ lệ thấp nhất chiếm tỷ lệ 4.2% tổng số hộ Tiếp đến là số hộ gia đình có số gia súc gia cầm từ 11-20 con chiếm tỷ lệ 14.7%, lớn hơn 100 con có 16 hộ chiếm 16% Chiếm tỷ lệ 20% tổng số hộ là các hộ gia đình có số gia súc gia cầm có nuôi từ 50-100 con, chiếm tỷ lệ cao nhất là 40% là các hộ có số gia súc gia cầm từ 21-50 con 45

Kết quả điều tra cũng cho biết việc xử lý nước thải sau Biogas của các hộ Với kết quả số hộ xả trực tiếp ra ao hồ nhà mình là 3.2%, ra ao hồ của thôn xóm là 2.1% , tiếp đến là 12.6% số hộ xả trực tiếp ra cống rãnh ra sông, 42.1% số hộ thải ra cống rãnh ra ao, hồ của thôn là tỷ lệ cao nhất Số hộ sử dụng để bón, tưới cho cây trồng là 21%, còn lại 20% số hộ thải trực tiếp ra mương máng và cho người khác 45

Nhìn chung các hộ điều tra trong gia đình có số người sinh sống từ 3-5 chiếm tỷ lệ cao hơn cả, số hộ có lượng gia súc gia cầm từ 21-50 có tỷ lệ lớn nhất tỷ lệ này cũng phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình 45

Thông tin chung về đối tượng trả lời phỏng vấn được trình bày trong bảng 3 2 dưới đây 45

Bảng 3 2: Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn 45

Thông tin về đối tượng 46

Số lượng người 46

Tỷ lệ(%) 46

Giới đối tượng phỏng vấn 46

Nam 46

42 46

44.2 46

Nữ 46

53 46

55.8 46

Nhóm tuổi phỏng vấn 46

18 – 24 46

0 46

Trang 14

25 – 34 46

7 46

7.4 46

35 – 44 46

44 46

46.3 46

45 – 54 46

32 46

33.7 46

55 – 64 46

9 46

9.5 46

>64 46

3 46

3.1 46

Thu nhập/tháng ( triệu đồng) 46

0-2( triệu đồng) 46

41 46

43.2 46

2-5(triệu đồng) 46

40 46

42.1 46

5-10(triệu đồng) 46

5 46

5.3 46

>10(triệu đồng) 46

1 46

1 46

Không biêt 46

8 46

8.4 46

Học vấn 46

Trang 15

Tiểu học 46

9 46

9.5 46

Trung học cơ sở 46

65 46

68.4 46

Trung học phổ thông 46

19 46

20 46

Trung học chuyên nghiệp 46

2 46

2.1 46

Cao đẳng, đại học 46

0 46

0 46

Ý kiến nhận xét của các hộ chăn nuôi về mùi của nước thải sau Biogas được tổng hợp trong bảng 3.3 dưới đây: 46

Bảng 3.3: Đánh mùi nước thải sau Biogas 47

Chất lượng nước thải sau Biogas 47

Số lượng người 47

Tỷ lệ (%) 47

Có mùi 47

51 47

53.7 47

Không có mùi 47

43 47

45.3 47

Không biết 47

1 47

1 47

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 47

Trang 16

Theo kết quả phỏng vấn các đối tượng và quan sát cho thấy chất lượng nước thải sau Biogas vẫn chưa đảm bảo Cụ thể có tới 53.7% số đối tượng được hỏi trả lời

nước thải sau Biogas vẫn có mùi, 45.3% số đối tượng trả lời là không có mùi 47

Về màu của nước thải sau Biogas của các hộ gia đình sử dụng mô hình, nghiên cứu quan sát thấy hầu hết nước vẫn có màu đen như hình 3.1 và hình 3.2 dưới đây: 47

Hinh 3.2: Nước sau Biogas của hộ Nguyễn Quốc Tuyến thôn Phương Thượng xã Lê Hồ 48

Nước thải từ Biogas của các hộ phần lớn vẫn có màu đen đục và mùi khá nặng Chỉ có một số ít các hộ nước thải ra từ Biogas không có màu đen, những hộ này rơi vào những hộ chăn nuôi ít gia súc gia cầm 48

Môi trường chứa nước thải sau Biogas theo những người được hỏi được thể hiện qua bảng 3.4 dưới đây 48

Bảng 3.4: Đánh giá ô nhiễm môi trường chứa nước thải Biogas 48

Điểm chứa nước thải sau Biogas 48

Số lượng người 48

Tỷ lệ(%) 48

Có ô nhiễm 48

47 48

49.5 48

Không ô nhiễm 48

40 48

42.1 48

Không biết 48

8 48

8.4 48

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 48

Như vậy 49.5% số đối tượng được hỏi trả lời là các điểm chứa nước thải Biogas có ô nhiễm tới khu vực xung quanh 42.1% số đối tượng trả lời là không bị ô nhiễm và 8,4% số đối tượng trả lời không biết có trả lời không biết có ô nhiễm không 48

48

Một vài hình ảnh các điểm chứa nước thải sau Biogas được quan sát và chụp ảnh ghi lại tại một vài điểm cụ thể qua hình 3.3 và 3.4 dưới đây 49

49

Trang 17

Hình 3.3: Điểm chứa nước thải sau Biogas nhà hộ Nguyễn Thị Ngạn thôn

Phương Đàn, xã Lê Hồ 49

Hình 3.4: Điểm chứa nước thải từ Biogas thôn Phương Thượng xã Lê Hồ 50

Theo quan sát tại các điểm chứa nước thải sau Biogas hầu hết đều có màu đen và có mùi tại điểm chứa nước thải thường là mương máng và các ao trong làng 50

Nhìn chung việc sử dụng mô hình Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi về cơ bản đã góp phần cải thiện môi trường xung quanh( so với những hộ không sử dụng mô hình Biogas, nước thải từ chăn nuôi chảy trực tiếp ra môi trường) Tuy nhiên chất thải qua Biogas thải ra môi trường vẫn còn nhiều bất cập, phần lớn nước thải từ Biogas vẫn có mùi khá nặng và có màu đen Trong số 45.3% hộ trả lời nước thải từ Biogas không có mùi thì hầu hết những hộ này đường dẫn nước thải từ Biogas ra đều được bê tông hóa Còn lại các hộ khác trả lời thỉnh thoảng mới có mùi hoặc lúc rửa thì có mùi 50

Nhu cầu của người dân về cải thiện môi trường sống và mô hình Biogas được tổng hợp ở Bảng 3.5 dưới đây: 50

Bảng 3.5: nhu cầu cải thiện môi trường sống và mô hình Biogas 50

Cải thiện môi trường sống 50

Số người 50

Tỷ lệ (%) 50

Muốn cải thiện 50

81 50

85.3 50

Không muốn cải thiện 50

14 50

14.7 50

Không biết 50

0 50

0 50

Cải thiện mô hình Biogas 50

Muốn cải thiện 50

72 50

75.8 50

Không muốn cải thiện 50

22 50

23.2 50

Trang 18

Không biết 50

1 50

1 50

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 50

Qua kết quả tổng hợp kết quả từ phỏng vấn các đối tượng cho thấy đa số các đối tượng được hỏi đều muốn cải thiện môi trường sống và mô hình Biogas Cụ thể là có tới 85.3% số người được hỏi trả lời muốn cải thiện môi trường sống, chỉ có 14.7% số người được hỏi trả lời không muốn cải thiện Số người muốn cải thiện muốn cải thiện mô hình Biogas cũng rất cao với 75.8% tổng số người, số người không muốn cải thiện là 23.2% chỉ có 1% trả lời là không biết Số người muốn cải thiện môi trường sống nhiều hơn đôi chút so với số người muốn cải thiện hê thống biogas có thể là do một số người có tâm lý cải tạo những công trình chung thì được nhưng không muốn cải tạo hệ thống riêng của gia đình 50

Đối với các hộ gia đình sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas, trong nghiên cứu này đưa ra 8 mức giá để hỏi các hộ gia đình về mức sẵn sàng chi trả của họ thể hiện ở Bảng 3.6 dưới đây: 51

Bảng 3 6: Mức sẵn sàng chi trả cho cải thiện mô hình Biogas 51

Mức giá(đồng) 51

Số hộ WTP 51

Tỷ lệ(%) 51

0 51

21 51

29.2 51

500 nghìn đồng 51

21 51

29.2 51

1 triệu đồng 51

14 51

19.4 51

3 triệu đồng 51

4 51

5.6 51

5 triệu đồng 51

6 51

8.3 51

Trang 19

10 triệu đông 51

4 51

5.6 51

15 triệu đồng 51

1 51

1.4 51

>15 triệu đồng 51

1 51

1.4 51

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 51

Trong tổng số 72 hộ gia đình sẵn sàng cải thiện mô hình Biogas, có 1 hộ gia đình chi trả ở mức cao nhất là trên 15 triệu đồng và 1 hộ sẵn sàng chi trả ở mức 10 triệu và cùng chiếm (1.4%) Cùng chiếm tỷ lệ cao nhất là 29.2% đó là các hộ sẵn sàng chi trả 0 đồng và 500 nghìn đồng; 19,4% các hộ sẵn sàng chi trả 1 triệu đồng; 8.3% các hộ sẵn sàng chi trả 5 triệu đồng Còn lại cùng chiếm 5.6% là các hộ sẵn sàng chi trả ở mức 3 triệu đồng và 10 triệu đồng 51

Tỷ lệ các hộ gia đình sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas theo một số đặc điểm cá nhân và hộ gia đình được trình bày từ biểu đồ 3.1 đến biểu đồ 3.5 52

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 52

Biểu đồ 3 1 cho thấy trong số 72 hộ gia đình đồng ý chi trả thì nữ giới sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas cao hơn so với nam giới (54% so với 46%).Điều này cho thấy nữ giới sẵn sàng bỏ tiền ra để cải thiện mô hình Biogas nhiều hơn nam giới 53

Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo thu nhập được thể hiện qua biểu đồ 3.2 dưới đây: 53

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo thu nhập 53

53

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 53

Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy những người có thu nhập từ 2-5 triệu sẵn sàng chi trả cho việc cải tạo mô hình Biogas nhiều nhất (50%), vượt xa những người có thu nhập từ 5-10 triệu và trên 10 triệu/tháng (9.7% và 5.6%), những người có thu nhập từ 0-5 triệu/tháng là 33.3% 53

Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo trình độ học vấn được tổng hợp và biểu diễn qua biểu đồ 3.3 sau: 53

Biểu đồ 3 3: Tỷ sẵn sàng chi trả theo trình độ học vấn 53

54

Trang 20

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 54

Những người có trình độ học vấn trung học cơ sở sẵn sàng chi trả cao nhất (65.3%), tiếp đến là những người có trình độ học vấn trung học phổ thông Còn lại là những người có trình độ học vấn tiểu học và trung học chuyên nghiệp (9.7% và 1.4%) 54

Tỷ lệ các hộ sẵn sàng chi trả theo số người sinh sống trong gia đình, được biểu diễn theo biểu đồ 3.4 sau: 54

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo số người sống trong gia đình 54

54

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 54

Biểu đồ 3.4 cho thấy sự sẵn sàng chi trả của những người mà trong gia đình họ có từ 3- 5 người chiếm tỷ lệ cao nhất (62.5%), chiếm tỷ lệ thấp nhất là những người mà trong gia đình họ chỉ có 2 người cùng sinh sống 55

Số gia súc gia cầm nuôi trong các hộ cũng ảnh hưởng tới sự sẵn sàng chi trả, được thể hiện qua biểu đồ 3.5 dưới đây: 55

Biểu đồ 3 5: Tỷ lệ các hộ sẵn sàng chi trả theo số gia súc gia cầm 55

55

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 55

Kết quả biểu đồ 3.5 cho thấy những hộ gia đình có số lượng gia súc gia cầm từ 21-50 con sẵn sàng chi trả với tỷ lệ cao nhất (37.5%) Những người trong gia đình có nuôi gia súc gia cầm nhỏ hơn 5con chiếm tỷ lệ thấp nhât (1.4%), những người mà trong gia đình có nuôi từ 6-10 con gia súc gia cầm và những nhà có nuôi lớn hơn100 con gia súc gia cầm có tỷ lệ tương đối bằng nhau (19.4% và 20.8%) 55

Mức chi trả theo giới tính của người trả lời phỏng vấn được thể hiện qua biểu đồ 6 dưới đây 55

Biểu đồ 3 6: Mức sẵn sàng chi trả theo giới tính 55

56

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 56 Kết quả biểu đồ 3.6 cho thấy ở hai mức giá 500 nghìn và 1 triệu thì tỷ lệ nữ giới sẵn sàng chi trả cao hơn so với nam giới (57.1% so với 42.9%) Ở hai mức giá 3 triệu và 10 triệu thì có tỷ lệ nữ giới và nam giới bằng nhau, ở mức giá 5 triệu đồng thì tỷ lệ nữ sẵn sàng chi trả là 100% Biểu đồ3 6 cũng cho thấy ở hai mức giá cao nhất là 15 triệu và trên 15 triệu thì tỷ lệ sẵn sàng chi trả đều là nam giới, trong tổng số người sẵn sàng chi trả ở mức giá 0 đồng thì nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới( 55% so với 45%) Mức sẵn sàng chi trả theo số người sống

Trang 21

trong gia đình cho việc cải thiện mô hình Biogas được thể hiện qua biểu đồ 3.7

dưới đây 56

Biểu đồ 3 7: Mức giá sẵn sàng chi trả theo số người trong gia đình 57

57

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 57

Biểu đồ 3.7 cho thấy trong số những gia đình sẵn sàng chi trả thì không có gia đình nào có số người dưới 2 Ở mức giá 1 triệu đồng thì trong tổng số gia đình sẵn sàng chi trả thì tỷ lệ gia đình có số người 2-5 người sẵn sàng chi trả cao hơn gia đình có số người lớn hơn 5 người (60% so với 40) Ở mức giá 10 triệu thì tỷ lệ gia đình có từ 2-5 người và gia đình lớn hơn 5 người có tỷ lệ bằng nhau, ở mức giá 5 triệu thì tỷ lệ sẵn sàng chi trả giữa gia đình có từ 2-5 người có tỷ lệ vượt xa gia đình có số ngườ lớn hơn 5 (83.3% so với 16.7%) ở các mức giá 0 đồng, 3 triệu, 15 triệu, trên 15 triệu đồng đều rơi vào những gia đình có số người sinh sống từ 2-5 người 57

Mức giá sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas theo thu nhập của người trả lời được trình bày qua biểu đồ 3.8 dưới đây 57

Biểu đồ 3 8: Mức giá sẵn sàng chi trả theo thu nhập của người trả lời 58

58

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 58

Biểu đồ 3.8 cho thấy ở hai mức giá cao nhất là 15 triệu và trên 15 triệu đồng tỷ lệ tất cả những người sẵn sàng chi trả đều có thu nhập từ 2-5 triệu đồng Ở mức giá 10 triệu đồng cũng vậy tỷ lệ những người sẵn sàng chi trả có thu nhập từ 2- 5 triệu đồng chiếm tỷ lệ cao 75% trong khi đó 25% còn lại là những người không rõ thu nhập hàng tháng là bao nhiêu 58

Trình độ học vấn của các đối tượng trả lời phỏng vấn và các mức giá họ sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas được thể hiện qua biểu đồ 3.9 sau: 58

Biểu đồ 3 9: Mức giá chi trả theo trình độ học vấn 59

59

Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 59

Kết quả biểu đồ 3 9 cho thấy ở các mức giá cao nhất 5 triệu đồng, 10 và15 triệu và trên 15 triệu đồng thì tỷ lệ sẵn sàng chi trả đều rơi vào đối tượng có học vấn trung học cơ sở Ở các mức giá 500 nghìn, 1 và 3 triệu đồng thì tỷ lệ sẵn sàng chi trả chiếm tỷ lệ cao nhất rơi vào đối tượng có học vấn trung học cơ sở, tiếp đến là các đối tượng có học vấn tiểu học, trung học phổ thông và trung học chuyên nghiệp Ở mức giá 0 đồng thì tỷ lệ sẵn sàng chi trả cao nhất lại rơi vào đối tượng có học vấn trung học phổ thông tiếp đến là trung học cơ sở và tiểu học 59

Mức giá sẵn sàng chi trả theo độ tuổi cho cải thiện mô hình Biogas được trình bày thông qua biểu đồ 3.10 dưới đây: 59

Trang 22

Biểu đồ 3 10: Mức giá chi trả theo độ tuổi 60 60Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 60Qua biểu đồ 3 10 có thể dễ dàng nhận thấy ở hầu hết tất cả các mức giá trừ mức

0 đồng thì tất cả các đối tượng trả lời phỏng vấn có độ tuổi từ 35-55 chiếm tỷ lệcao nhất, số người trên 65 tuổi không có người nào, tuổi từ 25-34 chiếm tỷ lệthấp Kết quả này là hoàn toàn phù hợp vì những người tham gia phỏng vấn hầuhết đều là chủ hộ gia đình 60Mức giá sẵn sàng chi trả để cải thiện mô hình Biogas theo số lượng gia súc giacầm mà gia đình đang nuôi được thể hiện qua biểu đồ 3 11 sau đây: 60Biểu đồ 3 11: Mức giá chi trả theo số lượng gia súc gia cầm nuôi 61 61Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 61Kết quả biểu đồ 3.11 cho thấy ở mức giá cao nhất thì hộ gia đình sẵn sàng chi trảcũng có số lượng gia súc gia cầm lớn nhất trên 100 con, ở mức giá cao thứ hai 15triệu hộ sẵn sàng chi trả có số lượng gia súc gia cầm từ 51-100 con chiếm tỷ lệ100% ở những mức giá 500 nghìn đồng, 1, 3, 5, 10 triệu đồng tỷ lệ sẵn sàng chitrả chiếm tỷ lệ nhiều nhất là những gia đình có nuôi gia súc gia cầm có số lượng

từ 21-50 con Tiếp đến là những gia đình có số gia súc, gia cầm trên 100 con và

từ 51-100 con 61Kết quả mức giá sẵn sàng chi trả theo thời gian sử dụng mô hình Biogas được thểhiện ở biểu đồ 3.12 dưới đây 61Biểu đồ 3 12: Mức giá chi trả theo thời gian sử dụng mô hình Biogas 62 62Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 62Thông qua kết quả biểu đồ 3 12 cho thấy ở hai mức giá cao nhất là 15 và trên 15triệu chiếm tỷ lệ 100% hộ sẵn sàng chi trả đều rơi vào gia đình sử dụng mô hìnhBiogas được từ 3-5 năm ở mức giá 10 triệu đồng cũng tương tự như vậy những

hộ gia đình có thời gian sử dụng mô hình Biogas từ 0-3 năm chiếm tỷ lệ cao hơn

so với gia đình có thời gian sử dụng từ 3-7 năm và từ 7-10 năm (50% so với 25%

và 25%), tuy nhiên ở mức 5 triệu lại có sự khác biệt hộ gia đình có số gia súc giacầm từ 3-7 năm chiếm tỷ lệ cao nhất tiếp đó là những hộ gia đình có thời gian sửdụng Biogas từ 0-3 năm và từ 7-10 năm ở mức 500 nghìn thì tỷ lệ sẵn sàng chitrả của các gia đình có thời gian sử dụng từ 0-3 năm và từ 3-7 năm bằng nhautiếp đến là gia đình có thời gian sử dụng từ 7-10 năm 62

Từ kết quả thu được của các hộ gia đình sử dụng mô hình Biogas ở xã Lê Hồ,huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mà tôi tiến hành nghiên cứu Tôi xin đề xuất một

số giải pháp để cải thiện chất lượng nước thải sau Biogas và môi trường như sau:

Trang 23

62Chính sách: 62

Cơ quan, chính quyền các cấp cần có chính sách khuyến khích các tổ chức cánhân có những sáng kiến, giải pháp cải thiện mô hình Biogas phù hợp để ngườidân có thể tham gia Ngoài ra thì cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ về mặtkinh tế cho những gia đình cải thiện mô hình Biogas nhà họ Chính quyền địaphương cùng với các tổ chức, đoàn thể thành lập hội hoặc câu lạc bộ nhữngngười chăn nuôi có sử dụng mô hình Biogas Để chia sẻ kinh nghiệm chăn nuôicũng như vận hành Biogas hiệu quả 62Kinh tế 63 Địa phương cùng với người dân đầu tư cải tạo nâng cấp đường làng và hệ thốngcống rãnh đồng bộ ở các thôn xóm, nhằm đảm bảo vệ sinh cũng như mỹ quan.Đối với những hộ gia đình xả nước thải không đảm bảo ra cống rãnh, môi trườngthì cần áp dụng thu phí chất thải, nước thải đối với những hộ gia đình này 63

Kỹ thuật 63 Phần lớn hệ thống Biogas ở Lê Hồ bao gồm 2 bể chỉ có một số ít là có 3 bể, đểcải thiện chất lượng nước thải đầu ra thì có thể xây dựng thêm một bể lắng thứ 3

và lắp thêm lưới lọc trước cửa ống dẫn nước thải ra môi trường Ngoài ra thì các

hộ nên định kỳ sử dụng các chế phẩm sinh học để nâng cao hiệu quả phân hủy vàchất lượng nước đầu ra Lượng nước từ Biogas có thể được tái sử dụng (sau khiđảm bảo an toàn) cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản 63Công cụ phụ trợ 63

Để đánh giá chất lượng môi trường nước thải sau Biogas và có những biện phápphù hợp thì nên định kỳ quan trắc phân tích chất lượng nước thải từ Biogas ra 63 Thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môitrường, thông báo công khai kết quả quan trắc phân tích đến các hộ để họ biết

Từ đó họ tham gia vào việc cải thiện mô hình Biogas, để chất lượng nước thải ratốt hơn 63KẾT LUÂN – KIẾN NGHỊ 64Chất thải từ chăn nuôi cùng với chất thải từ sinh hoạt đã và đang là nguyên nhângây ô nhiễm môi trường ở nông thôn hiện nay Việc sử dụng mô hình Biogas để

xử lý chất thải trong chăn nuôi đã phần nào cải thiện được môi trường, cũng nhưtăng thêm thu nhập Tuy nhiên chất thải từ Biogas, đặc biệt là nước thải sauBiogas vẫn còn nhiều bất cập 64 Qua kết quả nghiên cứu, thực trạng nước thải sau Biogas thải ra môi trường củahầu hết các hộ gia đình ở xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cho thấy.Nước thải vẫn mùi khá nặng và có màu đen, việc thu gom và xả thải của các hộcòn nhiều bất cập, làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống của người dân

Trang 24

Bên cạnh đó hệ thống cống rãnh thoát nước ở một vài thôn xóm chưa đồng bộ,nước thải còn ứ đọng gây ảnh hưởng tới môi trường 64 Kết quả điều tra phỏng vấn cũng cho thấy phần lớn các hộ được hỏi đều có nhucầu cải thiện môi trường sống và cải thiện mô hình Biogas Kết quả này cũng chothấy nhận thức của người dân ngày càng cao và có ý thức bảo vệ môi trường 64 Mức WTP của các hộ dân không đồng đều phụ thuộc vào giới tính, thu nhập,trình độ học vấn, thời gian sử dụng mô hình Biogas, số lượng gia súc gia cầmnuôi, số người sinh sống trong gia đình 64 Với số liệu thu được từ điều tra phỏng vấn, nghiên cứu đã xác định được mứcchi trả trung bình của các hộ dân là WTP = 1.895.833,333 đồng/lần cải thiện.tổng mức WTP của các hộ là 136.500.000 đồng 64Nghiên cứu cũng đã đề ra được các nhóm giải pháp về kinh tế, chính sách, kỹthuật, phụ trợ để hỗ trợ cải thiện mô hình 64KIẾN NGHỊ 64

Để phát nâng cao hiệu quả mô hình Biogas Svà khắc phục tình trạng nước thảisau Biogas làm ảnh hưởng xấu tới môi trường, cũng như mỹ quan Tôi xin đưa ramột số kiến nghị: 64Chính quyền địa phương có biện pháp tăng cường, nâng cao ý thức bảo vệ môitrường của người dân.Thông qua các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, lồng ghépvào các chương trình sinh hoạt của các đoàn thể 65

Cơ quan chính quyền địa phương cần ban hành nội quy, quy định, đưa vào hươngước của địa phương, quy chế xử phạt về hành động gây ảnh hưởng tới môitrường 65TÀI LIỆU THAM KHẢO 661.Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012,phương hướng nhiệm vụ năm 2013 662.Bài giảng kinh tế môi trường Khoa kinh tế - Quản lý Môi trường và Đô thị,trường Đại học kinh tế quốc dân) 663.Bùi Đức Kính (2009), ” Áp dụng CVM để định giá cấp nước nông thôn vùngđồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí khoa học Xã hội.1 664.Hoàng Xuân Cơ, Giáo trình kinh tế môi trường NXB giáo dục 2005 665.Khảo sát thống kê chăn nuôi Lợn, Trâu Bò, Gia Cầm trên địa bàn xã Lê Hồnăm 2013 666.Nghiêm Xuân Anh, BOD COD Sông Nhuệ - Đáy, 2010 667.Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Ý Như, Trần Ngọc Anh, Lê Thị Hường, Khảo sáthiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ-Đáy, Tạp chí Khoa họcĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 27, Số 1S (2011) 227-234 66

Trang 25

8.Nguyễn văn Song, Nguyễn Thị Ngọc Phương, Đào Thị Hồng Ngân, Phạm ThịHương, Đỗ Thị Minh Thùy, Chử Đức Tuấn , Xác định mức sẵn lòng chi trả củacác hộ nông dân về dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ởđịa bàn Huyện Gia Lâm.Tạp chí khoa học và phát triển 2011: tập 9, số 5: 853 –

860 Trường ĐHNN Hà Nội 669.Nguyễn Xuân Trạch, Báo cáo khoa họcChất thải chăn nuôi - Hiện trạng và giảipháp, ĐHNN Hà Nôi, 2009 66

10 Ngô Kim Chi Viện Hóa học và các hợp chất thiên nhiên” Xử lý nguồn thảihữu cơ cao bằng mô hình Biogas cải tiến và ứng dụng quỹ tín dụng carbon trongbảo vệ môi trường” 6611.Trần Thu Hà và Vũ Tấn Phương (2005), ”Đánh giá giá trị cảnh quan của vườnquốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà” 66

12 Phạm Hồng Mạnh và cộng sự (2008), ” Đánh giá giá trị giải trí du lịch củakhách du lịch trong nước đối với khu bảo tồn biển vùng Vinh Nha Trang” 66

13 Phạm Hồng Vân (2008), ” Xây dựng mô hình xác định mức phí đóng góp củacộng đồng dân cư trực tiếp hưởng hưởng lợi từ việc cải thiện môi trường sông TôLịch giúp giảm bớt gánh nặng chi tiêu ngân sách nhà nước, thuộc dự án cải tạosông Tô Lịch” 6714.Phạm Việt Cường, Tài liệu giảng dạy môn kỹ thuật máy tính – phần mềmEpiData Đại Học Y Tế Công cộng , 2006 67

15 Website: www Hanam.gov.vn/ 67

DANH MỤC BẢNG

Trang

Trang 26

Bảng 2.1 : Mức giá và biện pháp tương ứng 21 Bảng 3.1 : Thông tin chung về hộ gia đình 24 Bảng 3.2 : Thông tin chung về đối tượng 26 Bảng 3.5 : Nhu cầu cải thiện môi trường sống và mô hình Biogas 33 Bảng 3.3 : Đánh giá về mùi nước thải sau Biogas 27 Bảng 3.4 : Đánh giá ô nhiễm môi trường xung quanh điểm chứa nước thải Biogas 31 Bảng 3.6 : Tỷ lệ mức giá sẵn sàng chi trả cho cải thiện mô hình Biogas 34 Bảng 3.7 : Thống kê mô tả giá trị WTP của đối tượng tham gia phỏng vấn 35

DANH MỤC HÌNH

Trang 27

Trang Biểu đồ 3.1 : Tỷ lệ các hộ sẵn sàng chi trả theo giới tính 36 Biểu đồ 3.2 : Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo thu nhập 37 Biểu đồ 3.3 : Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo trình độ học vấn 37 Biểu đồ 3.4 : Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo số người sống trong gia đình 38 Biểu đồ 3.5 : Tỷ lệ các hộ sẵn sàng chi trả theo số gia súc gia cầm 39 Biểu đồ 3.6 : Mức sẵn sàng chi trả theo giới tính 40 Biểu đồ 3.7 : Mức giá sẵn sàng chi trả theo số người trong gia đình 41 Biểu đồ 3.8 : Mức giá sẵn sàng chi trả theo thu nhập của người trả lời 42 Biểu đồ 3.9 : Mức giá chi trả theo trình độ học vấn 43 Biểu đồ 3.10 : Mức giá chi trả theo độ tuổi 44 Biểu đồ 3.11 : Mức giá chi trả theo số lượng gia súc gia cầm nuôi 45 Biểu đồ 3.12 : Mức giá chi trả theo thời gian sử dụng mô hình Biogas 46 Hình 3.1: Nước thải sau Biogas của hộTrịnh Văn Đằng thôn Đại Phú, xã Lê Hồ 30 Hình 3.2 : Nước thải sau Biogas của hộ Trần Quốc Tuyến thôn Phương Thượng , xã Lê

Hồ 31 Hình 3.3 : Điểm chứa nước thải sau Biogas của hộ Nguyễn Thị Ngạn thôn Phương Đàn, xã Lê Hồ 33 Hình 3.4 : Điểm chứa nước thải sau Biogas tại thôn Phương Thượng, xã Lê Hồ 34

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 28

WTP - willingness to pay : sẵn sàng chi trả

UBND : Ủy ban nhân dân

CN – XD : công nghiệp xây dựng.

CV - Contingent Valuation : đánh giá ngẫu nhiên

CVM - Contingent Valuation Method : phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

Trang 29

MỞ ĐẦU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây, phong trào chăn nuôi ở nhiều địa phương nước ta phát triển khá mạnh, góp phần đưa đời sống người dân ngày một đi lên Đi kèm với việc phát triển chăn nuôi là lượng chất thải phát sinh lớn gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường Ngành chăn nuôi đóng góp 18% hiệu ứng nóng lên của trái đất do thải ra các khí gây gia tăng hiệu ứng khí nhà kính [10] Nhiều hộ gia đình đã sử dụng thiết bị khí sinh học (mô hình Biogas) để xử lý lượng chất thải phát sinh,làm giảm ô nhiễm môi trường Tuy vậy cho đến nay lượng chất thải này vẫn chưa được xử lý triệt để, đặc biệt dịch thải sau Biogas chưa đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường.Vì vậy, cần cải thiện quá trình xử lý hiệu quả chất thải của thiết bị khí sinh học.

Xã Lê Hồ là một xã thuần nông của huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam, nguồn thu chủ yếu của xã chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp, cùng với trồng trọt thì chăn nuôi gia súc gia cầm cũng tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây Tổng đàn gia súc gia cầm của xã là 54.185 con trong đó gia súc là 4285 con, gia cầm là 4990 con [5] Chăn nuôi trên địa bàn xã vẫn tồn tại phổ biến ở quy mô nông hộ, những năm trở lại đây chất thải chăn nuôi phần lớn không được sử dụng trong trồng trọt Chất thải được các hộ xử lý bằng mô hình Biogas, còn lại là thải trực tiếp ra cống rãnh hoặc chở đi vứt ở ven đường, mương máng.

Hiện nay theo thống kê trên địa bàn xã có 124 hộ sử dụng mô hình Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi của hộ gia đình nhà mình [5].Tuy nhiên hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi Biogas ở nhiều hộ gia đình nhưng không đảm bảo về mặt kỹ thuật, vận hành Chất thải trong bể Biogas không được bơm hút thường xuyên định kỳ Nhận thức của người dân về quy trình vận hành các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy nước thải chăn nuôi tràn ra cống rãnh, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, các mầm bệnh trong nước thải, phân thải có thể phát tán rộng trong cộng đồng, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người và động vật Trước thực trạng trên để đảm bảo chất lượng nước thải từ Biogas thì cần phải có giải pháp cải thiện mô hình Biogas trước khi đưa chất thải ra môi trường

Thông tin về tỷ lệ và mức sẵn sàng chi trả của các hộ gia đình cho việc cải thiện mô hình Biogas hiện có là hữu ích cho những nhà hoạch định chính sách trong việc đánh

Trang 30

giá tính khả thi của dự án cải thiện mô hình Biogas Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu

về hiệu quả xử lí chất thải chăn nuôi bằng mô hình Biogas, hiện trạng xử lí chất thải chăn nuôi bằng mô hình Biogas Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về khía cạnh kinh tế đặc biệt là về tỷ lệ và mức sẵn lòng chi trả của các hộ sử dụng mô hình Biogas cho việc

cải thiện mô hình Biogas hiện có xuất phát từ lí do đó tôi lựa chọn đề tài : “Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY - WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình Biogas tại xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” Đề tài vừa

có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1 Đánh giá sơ bộ chất lượng nước thải chăn nuôi sau khi xử lý bằng mô hình Biogas;

2 Xác định nhu cầu của người dân về cải thiện mô hình Biogas và xác định mức

độ sẵn lòng trả (WTP) của hộ dân cho việc cải thiện hệ thống Biogas hiện có;

3 Đề xuất giải pháp cải thiện mô hình Biogas.

Trang 31

Chương 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Xã Lê Hồ nằm ở vị trí phía tây bắc của huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam, cách Hà Nội khoảng 60km phía đông giáp xã Đại Cương, phía Nam giáp xã Đồng Hóa, phía tây giáp 2 xã: Tương Lĩnh và Nguyễn Uý.

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội.

Trang 32

100% các hộ dân trong xã được sử lưới điện quốc gia Trong những năm qua hệ thống lưới điện hạ thế đã được chú trọng đầu tư, cải tạo, nâng cấp, góp phần giảm tổn thất điện năng, phục phụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn.

Tại xã có một trạm cấp nước sạch, cung cấp nước sạch cho các hộ dân trong xã.Tỷ

lệ dân cư sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 92 % [1]

Giao thông, thông tin liên lạc, xây dựng cơ bản

Phía bắc xã Lê Hồ có đường 38 chạy qua, xã nằm trên Quốc lộ 60 nên xã có vị trí giao thông hết sức quan trọng Xã có trục đường liên xã chạy qua theo hướng Đông Nam – Tây Bắc từ xã Đông Hóa đến xã Nguyễn Uý.

Năm 2012 toàn xã tập chung xây dựng bê tông đường trục làng, đường xóm,

mở rộng mặt đường trục chính nội đồng và từng bước mở rộng sân chơi của nhà văn hóa các thôn Thi công xây dựng đường bê tông trục đường thôn và đường xóm được 1746 m [1]

Toàn xã có 100% thôn, xóm sử dụng máy điện thoại với tỷ lệ 11,5máy trên 100 dân Xã có 1 đài truyền thanh cơ sở, 98% số dân trong xã được nghe đài truyền thanh bốn cấp.

Kinh tế, xã hội, vệ sinh môi trường

Về Cơ bản nguồn thu chủ yếu dựa vào nông nghiệp, cấu kinh tế của xãcó xu hướng theo hướng giảm tỷ trọng Nông, Lâm, Ngư nghiệp và tăng tỷ trọng CN - XD và Dịch vụ.

+ Nông, lâm, ngư nghiệp: đạt 43.7%.

+ Công nghiệp xây dựng: đạt 29.8%.

bộ y tế thôn bản đáp ứng nhu cầu của người dân [1]

Trang 33

1.2 Phương pháp luận về xác định mức sẵn lòng trả ( WTP )

1.2.1 Khái niệm sẵn sàng chi trả (Willingness to pay-WTP)

WTP là số tiền tối đa người dân sẵn sàng bỏ ra để mua một loại hàng hóa hay được hưởng chất lượng của môi trường được cải thiện WTP là cách để xác định giá phần lợi ích được hưởng thêm so với điều kiện hiện tại, WTP cũng đo lường độ ưa thích của cá nhân hay xã hội đối với một thứ hàng hóa nào đó WTP đồng thời là đường cầu thị trường của loại hàng hóa đó.

Đối với hàng hóa công cộng thì WTP thường thấp hơn giá trị hàng hóa đó Do tâm

lý xã hội là hàng hóa công cộng không trực tiếp bỏ tiền ra mua nhưng vẫn được hưởng lợi từ hàng hóa đó do đó họ thường trả thấp hơn so với mức sẵn sàng chi trả của họ.

1.2.2 Khái niệm định giá ngẫu nhiên phụ thuộc

Đánh giá ngẫu nhiên ( tên gốc là Contingent Valuation – CV) hay phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp được dùng để đánh giá chất lượng môi trường không dựa trên thị trường Bằng cách xây dựng một thị trường ảo, người ta phải xác định được hàm cầu về hàng hóa môi trường thông qua sự sẵn lòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhận khi họ mất đi hàng hóa đó ( WTA), đặt trong tình huống giả định Thị trường không có thực, WTP thì không thể biết trước, ta gọi đây là phương pháp ngẫu nhiên Một tình huống giả thuyết đưa ra đủ tính khách quan, người trả đúng với hành động thực của họ thì phương pháp là khá chính xác Các nhà phân tích sau đó có tính toán mức sẵn lòng chi trả trung bình của những người được hỏi, nhân với tổng số người hưởng thụ giá trị hay tài sản môi trường thì thu được ước lượng giá trị mà tổng thể dân chi cho tài sản đó.

Phương pháp định giá ngẫu nhiên bỏ qua nhu cầu tham khảo giá thị trường của loại hàng hóa, dịch vụ môi trường bằng cách hỏi thẳng từng cá nhân để giả định giá của một hàng hóa hay giá trị của môi trường Phương pháp thường được áp dụng nhất là phỏng vấn các cá nhân tại hộ gia đình, sử dụng các câu hỏi về sự sẵn sàng chi trả (Willingness

to pay-WTP) của họ cho việc bảo vệ môi trường hay cho một loại hàng hóa nào đó Sau

đó các nhà phân tích có thể tính giá trị WTP trung bình của những người trả lời phỏng vấn nhân với tổng số người được hưởng thụ hàng hóa, lợi ích của việc bảo vệ môi

Trang 34

trường, để có tổng giá trị ước tính của loại hàng hóa hay môi trường đang được xem xét.

Định giá ngẫu nhiên phụ thuộc là một cơ sở cho khảo sát kinh tế dùng để đánh giá nguồn tài nguyên phi thị trường, chẳng hạn như bảo vệ môi trường hoặc tác động của ô nhiễm môi trường Trong khi những tài nguyên phi thị trường này đã mang lại lợi ích cho con người và không có giá trên thị trường hay không bán trực tiếp Phương pháp được gọi là phương pháp ngẫu nhiên vì nó mô phỏng ngẫu nhiên một thị trường trong

đó hành vi của con người được mô hình hóa trong một bảng phỏng vấn Câu hỏi đơn giản nhất để suy ra mức tối đa người dân sẵn lòng chi trả là câu hỏi trực tiếp về một mức giá cụ thể nào đó.

Sự phong phú và linh hoạt của phương pháp định giá ngẫu nhiên được chứng minh qua nhiều ứng dụng rộng rãi Wilks (1990) tính ra các lợi ích của một trung tâm nghệ thuật ở Mildura thông qua giá sẵn lòng chi trả của họ trong trung tâm này, Trần Thị Thu Hà dùng phương pháp này để định giá giá trị du lịch Hồ Ba Bể, Bùi Đức Kính dùng phương pháp này để định giá nước cấp nông thôn[3] Nguyễn văn Song và các cộng sự (2011) dùng phương pháp này xác định số tiền người dân đóng góp hàng tháng cho việc thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Gia Lâm,Hà Nội [8].

Trong phương pháp CVM thường có thể sử dụng 4 loại câu hỏi để xác định mức sẵn sàng chi trả của người dân hay hộ gia đình về một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó.

1 Câu hỏi lựa chọn (có/không): Mức giá được đưa ra và hỏi người trả lời phỏng vấn đồng ý chi trả cho dịch vụ/hàng hóa với mức giá đó không Người trả lời sẽ có 2 lựa chọn là đồng ý hoặc không.

2 Câu hỏi đóng mở: Hỏi trực tiếp người trả lời mức cao nhất và họ có thể trả cho hàng hóa, dịch vụ đó.

3 Thẻ tín dụng: Một dãy các giá được đưa ra và hỏi người trả lời mức giá cao nhất mà người trả lời có thể sẵn sàng chi trả cho hàng hóa/dịch vụ đó.

4 Đấu giá: Một chuỗi các giá sẽ được hỏi người trả lời về sự sẵn sàng chi trả cho loại hàng hóa/dịch vụ nào đó Đối tượng sẽ được hỏi từ mức giá ban đầu, nếu sẵn sàng chi trả thì được hỏi mức giá cao hơn có sẵn sàng chi trả không và nếu không sẵn sàng chi trả với mức khởi điểm thì sẽ hỏi các mức giá thấp hơn cho sẵn sàng chi trả cho loại hàng hóa, dịch vụ đó không.

Trang 35

1.2.3 Các bước để thực hiện định giá ngẫu nhiên phụ thuộc

Bước 1: Xây dựng các công cụ cho điều tra để tìm ra mức WTP của cá nhân Cần

lưu ý thiết kế một kịch bản phù hợp với điều kiện thực tế và đảm bảo người được hỏi hiểu rõ kịch bản được hỏi.

Bước 2: Tiến hành điều tra, cần lưu ý tiến hành điều tra như thế nào? Phỏng vấn

trực tiếp hay gửi thư, lấy ý kiến Tuy nhiên phải đảm bảo tính chính xác và tính hiệu quả.

Bước 3: Xử lý số liệu

Bước này là bước tiến hành tổng hợp những thông tin thu được và xử lý số liệu Những phiếu điều tra không hợp lệ sẽ bị loại bỏ, những thông tin thu thập hợp lệ sẽ được tổng hợp trên cơ sở đó xây dựng các biến để phân tích.

Bước 4:Phân tích câu trả lời từ kết quả điều tra

Bước 5: Ước lượng mức WTP

Dữ liệu được phân tích bằng các phần mềm thống kê để xác định các thông số cần thiết cho báo cáo như trung bình của mẫu,WTP trung bình, sau đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng.

1.2.4 Ưu điểm, hạn chế và các điểm chú ý khi sử dụng phương pháp định giá ngẫu

nhiên phụ thuộc

♦ Ưu điểm

Một ưu điểm nổi trội của phương pháp này là, trên lý thuyết phương pháp có thể được sử dụng để đánh giá các nguồn tài nguyên mà sự tồn tại tiếp tục của nó được người ta đánh giá cao, nhưng bản thân họ không bao giờ đến thăm quan Ví dụ: Nam cực là nơi mà người ta sẵn sàng trả cho việc bảo vệ, nhưng nói chung thì họ không bao giờ đến thăm quan Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi đánh giá chất lượng môi trường của một vùng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Kết quả này cho kết quả đánh giá cao khi người dân hiểu được tính chất các tính chất nghiêm trọng của việc ô nhiễm môi trường mà phải chịu đựng trong giả định.

♦ Hạn chế

Thực hiện CVM tưởng chừng dễ, nhưng có hai vấn đề sau đây rất dễ mắc phải, gây cản trở cho việc làm một nghiên cứu thành công:

Ngày đăng: 26/09/2014, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hoàng Xuân Cơ, Giáo trình kinh tế môi trường NXB giáo dục 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế môi trường
Nhà XB: NXB giáo dục 2005
7. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Ý Như, Trần Ngọc Anh, Lê Thị Hường, Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ-Đáy, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 27, Số 1S (2011) 227-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát"hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ-Đáy
9. Nguyễn Xuân Trạch, Báo cáo khoa họcChất thải chăn nuôi - Hiện trạng và giải pháp, ĐHNN Hà Nôi, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa họcChất thải chăn nuôi - Hiện trạng và"giải pháp
1. Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013 Khác
2. Bài giảng kinh tế môi trường. Khoa kinh tế - Quản lý Môi trường và Đô thị, trường Đại học kinh tế quốc dân) Khác
3. Bùi Đức Kính (2009), ” Áp dụng CVM để định giá cấp nước nông thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí khoa học Xã hội.1 Khác
5. Khảo sát thống kê chăn nuôi Lợn, Trâu Bò, Gia Cầm trên địa bàn xã Lê Hồ năm 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: biện pháp và mức giá tương ứng - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Bảng 2.1 biện pháp và mức giá tương ứng (Trang 41)
Bảng 3.1: Thông tin chung về hộ gia đình - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Bảng 3.1 Thông tin chung về hộ gia đình (Trang 44)
Hình 3. 1: Nước thải sau Biogas nhà bác Trịnh Văn Đằng thôn Đại Phú, xã Lê Hồ. - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Hình 3. 1: Nước thải sau Biogas nhà bác Trịnh Văn Đằng thôn Đại Phú, xã Lê Hồ (Trang 47)
Bảng 3.3: Đánh mùi nước thải sau Biogas - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Bảng 3.3 Đánh mùi nước thải sau Biogas (Trang 47)
Bảng 3.4: Đánh giá ô nhiễm môi trường chứa nước thải Biogas Điểm chứa nước thải sau Biogas Số lượng người Tỷ lệ(%) - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Bảng 3.4 Đánh giá ô nhiễm môi trường chứa nước thải Biogas Điểm chứa nước thải sau Biogas Số lượng người Tỷ lệ(%) (Trang 48)
Hình 3.3: Điểm chứa nước thải sau Biogas nhà hộ Nguyễn Thị Ngạn thôn Phương Đàn, xã Lê Hồ - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Hình 3.3 Điểm chứa nước thải sau Biogas nhà hộ Nguyễn Thị Ngạn thôn Phương Đàn, xã Lê Hồ (Trang 49)
Hình 3.4: Điểm chứa nước thải từ Biogas thôn Phương Thượng xã Lê Hồ - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Hình 3.4 Điểm chứa nước thải từ Biogas thôn Phương Thượng xã Lê Hồ (Trang 50)
Bảng 3.7:  Thống kê mô tả giá trị WTP của đối tượng tham gia phỏng vấn - Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY   WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam”
Bảng 3.7 Thống kê mô tả giá trị WTP của đối tượng tham gia phỏng vấn (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w