Nghiên cứu ứng dụng phương pháp giá thị trường để xác định các giá trị sử dụng trực tiếp của chức năng và dịch vụ hệ sinh thái hạ lưu sông Nhuệ Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam)”. Điều tra khảo sát thực tế về việc nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và chăn nuôi thủy cầm trên địa bàn lưu vực sông Nhuệ Đáy (Đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam) gồm 3 huyện: Kim Bảng Duy Tiên – Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý. Thu thập các số liệu về chất lượng nước sông Nhuệ Đáy năm 2007 và năm 2013 và so sánh chất lượng nước sông từ năm 2007 tới 2013
Trang 1LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việc ước tính giá trị kinh tế, các giá trị dịch vụ và chức năng hệ sinh thái hạ lưu sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam) cho phép hiểu biết một cách tường tận hơn toàn bộ các giá trị thật của chúng
Từ đó, giúp các nhà quy hoạch, các nhà quản lý, các nhà đưa ra quyết định trong việc lựa chọn các phương án phát triển, đầu tư các công trình hạ tầng về nước trong lưu vực sông theo quan điểm phát triển bền vững
Do vậy, với nghiên cứu ban đầu về ước tính giá trị kinh tế các giá
trị dịch vụ và chức năng hệ sinh thái, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu ứng dụng phương pháp giá thị trường để xác định các giá trị
sử dụng trực tiếp của chức năng và dịch vụ hệ sinh thái hạ lưu sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam)”
Trang 2MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Lượng giá các giá trị sử dụng trực tiếp của chức năng và dịch vụ HST hạ lưu sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam).
(Cầu Hồng Phú)
Trang 3NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Điều tra khảo sát thực tế về việc nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và chăn nuôi thủy cầm trên địa bàn lưu vực sông Nhuệ Đáy (Đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam) gồm 3 huyện: Kim Bảng - Duy Tiên – Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý.
Điều tra khảo sát thực tế về việc nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và chăn nuôi thủy cầm trên địa bàn lưu vực sông Nhuệ Đáy (Đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam) gồm 3 huyện: Kim Bảng - Duy Tiên – Thanh Liêm và thành phố Phủ Lý.
Thu thập các số liệu về chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy năm 2007 và năm 2013 và so sánh chất lượng nước sông từ năm 2007 tới 2013
Thu thập các số liệu về chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy năm 2007 và năm 2013 và so sánh chất lượng nước sông từ năm 2007 tới 2013
Tính toán lượng giá các giá trị sử dụng trực tiếp của chức năng và dịch vụ hệ sinh thái hạ lưu sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam).
Tính toán lượng giá các giá trị sử dụng trực tiếp của chức năng và dịch vụ hệ sinh thái hạ lưu sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam).
Đưa ra các biện pháp nhằm cải tạo chất lượng nước sông lưu vực sông Nhuệ - Đáy.
Đưa ra các biện pháp nhằm cải tạo chất lượng nước sông lưu vực sông Nhuệ - Đáy.
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Nam
- Đất ở Hà Nam có ba nhóm chính: Nhóm đất phù sa đồng bằng, nhóm đất đồi và nhóm đất núi
- Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt
- Có lượng mưa trung bình cho khối lượng tài nguyên nước rơi khoảng 1,602 tỷ m3
- Khoáng sản chủ yếu là đá vôi xi măng và đá vôi xây dựng, sét
xi măng, sét gạch ngói, than bùn, ngoài ra có xen lẫn đá vôi hoá chất, Dolomit chất lượng thấp
- Dân cư của tỉnh tính đến hết quý I năm 2013 là 846.653 nhân khẩu, trong đó số hộ gia đình là 243.051
- Hà Nam là một trong những tỉnh có mạng lưới giao thông, cơ sở
y tế, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội phát triển
Trang 51.2 Chất lượng nước sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua địa phận tỉnh
Hà Nam)
1.2.1 Những nguyên nhân gây ô nhiễm chính
Trong nguồn nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp có chứa các thành phần hữu cơ, hoá chất độc hại, các kim loại nặng, dầu mỡ
Nguồn nước thải từ các đô thị chứa nhiều chất hữu cơ là nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng trên hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy hiện nay.
Nguồn thải làng nghề chủ yếu do nước thải và chất thải rắn từ làng nghề nhuộm, dệt vải, nghề
mạ kim loại, chế biến nông sản, sản xuất đồ gỗ, trống chảy tự do ra kênh mương rồi đổ ra sông làm ô nhiễm môi trường.
để chảy tự do theo nước mưa, theo cống rãnh vào mương tiếp nhận và cuối cùng chảy vào sông
Trang 61.2.2 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy
Chất lượng nước Sông Đáy:
Được so sánh theo QCVN 08:2008/BTNMT (loại A2)
Nồng độ NH4+ dao động từ 0,56÷3,4mg/l vượt giới hạn từ 2,8÷17 lần
Nồng độ COD dao động từ 8÷39mg/l trong đó 33/44 số mẫu vượt giới
hạn cho phép
Chất lượng nước Sông Nhuệ:
Được so sánh theo QCVN 08:2008/BTNMT (loại A2)
Nồng độ DO tại các lần lấy mẫu dao động từ 4,1÷5,2 mg/l có 16/22 số mẫu vượt giới hạn cho phép
Nồng độ BOD5 dao động từ 9÷25 mg/l trong đó vượt giới hạn cho phép
từ 1,5÷4,17 lần.
Nồng độ COD dao động từ 14÷44 mg/l có 21/22 số mẫu vượt giới hạn
Trang 71.3 Phương pháp luận về giá thị trường (Market Price Method)
Phương pháp giá thị trường cho phép định giá giá trị kinh tế của các sản phẩm hoặc các dịch vụ của hệ sinh thái mà chúng được mua và được bán trên các thị trường thương mại
Phương pháp giá thị trường có thể được sử dụng để định giá những sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượng của một hàng hóa hay dịch vụ Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật kinh tế chuẩn tắc để đo các lợi ích kinh tế từ các hàng hóa được mua bán trên thị trường, dựa trên số lượng
mà người ta mua ở các mức giá khác nhau, và số lượng được cung cấp ở các mức giá khác nhau.
Các kỹ thuật lượng giá sử dụng giá thị trường có thể được sử dụng để xác định giá trị của những sản phẩn từ môi trường ven bờ, các nguồn tại nguyên mà được trao đổi, buôn bán và sử dụng cả trực tiếp lẫn gián tiếp.
Lượng giá tại hiện trường, ròng = ∑PiQi - Ci
Trong đó:
Pi: Giá của sản phẩm tại cổng nông trại.
Qi: Lượng sản phẩm thu thập được.
Ci: Chi phí liên quan đến thu thập, sản xuất và tiếp thị sản phẩm
Trang 8 Những lợi thế của phương pháp giá thị trường
như cá, gỗ, hoặc củi
Như vậy, các giá trị
của chúng đối với
như cá, gỗ, hoặc củi
Như vậy, các giá trị
của chúng đối với
tương đối
dễ có được đối với các thị trường đã được thiết lập.
Dữ liệu về giá cả, số lượng và chi phí
tương đối
dễ có được đối với các thị trường đã được thiết lập.
Phương pháp này
sử dụng
dữ liệu quan sát
được về các sở
thích thực
tế của
người tiêu thụ.
Phương pháp này
sử dụng
dữ liệu quan sát
được về các sở thích thực
tế của người tiêu thụ.
Phương pháp này
sử dụng
các kỹ thuật kinh tế
chuẩn, có thể chấp nhận được.
Phương pháp này
sử dụng
các kỹ thuật kinh tế
chuẩn, có thể chấp nhận được.
Trang 9 Các vấn đề và những hạn chế của phương pháp giá thị trường:
- Dữ liệu thị trường có thể chỉ sẵn có đối với một số lượng hạn chế các hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi một tài nguyên sinh thái
và có thể không phản ánh giá trị của tất cả các kiểu sử dụng hữu ích của một tài nguyên
- Giá trị kinh tế đúng của các hàng hóa hoặc dịch vụ có thể không được phản ánh đầy đủ trong các giao dịch thị trường, do những sự không hoàn hảo của thị trường và/hoặc những thất bại về chính sách
- Những sự thay đổi theo mùa và các tác động khác lên giá cả cần phải được cân nhắc
- Phương pháp này không thể được sử dụng dễ dàng để đo giá trị của những sự thay đổi có quy mô lớn hơn mà chúng có khả năng ảnh hưởng đến việc cung và cầu đối với một hàng hóa hay dịch vụ
- Thông thường, phương pháp giá thị trường không trừ đi (khấu trừ) giá trị thị trường của các tài nguyên khác được sử dụng để mang các sản phẩm của hệ sinh thái vào thị trường, và như vậy có thể đánh giá quá cao (phóng đại) các lợi ích
Trang 10CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
các giá trị sử dụng trực tiếp của chức năng và dịch vụ HST lưu vực sông Nhuệ - Đáy, gồm giá trị nuôi trồng thủy sản; giá trị đánh bắt thủy sản; giá trị chăn nuôi thủy cầm; giá trị cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ ngày 10 tháng 04 năm 2014 đến ngày 20 tháng 5 năm
2014
- Địa điểm:
+ Huyện Duy Tiên: xã Hoàng Đông, xã Duy Minh, xã Duy Hải
+ Huyện Kim Bảng: xã Thanh Sơn, xã Khả Phong, xã Ngọc Sơn
+ Huyện Thanh Liêm: Thị trấn Kiện Khê, xã Thanh Tâm, xã Thanh Nghị
+ Tp Phủ Lý: phường Châu Sơn, phường Lê Hồng Phong, phường Quang Trung và xã Phù Vân
Trang 112.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát và điều tra thực
địa
Phương pháp khảo sát và điều tra thực
địa
Phương pháp thu thập; thống kê, tổng hợp tài liệu
Phương pháp thu thập; thống kê, tổng hợp tài liệu
Phương pháp phỏng vấn chính thức và bán chính thức
Phương pháp phỏng vấn chính thức và bán chính thức
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp
giá thị trường
Phương pháp
giá thị trường
Trang 12CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng các hệ sinh thái trong khu vực
có 52 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 32 họ có biên độ sinh thái khác nhau sống trong hệ sinh thái này
Nhóm các loài thực vật sống chìm trong nước : Rong
mái chèo, Rau mác thon, Rau bát, Rau đuôi chó
Nhóm các loài thực vật sống chìm trong nước : Rong
mái chèo, Rau mác thon, Rau bát, Rau đuôi chó
Nhóm các loài thực vật sống trôi nổi trên mặt nước :
Bèo tây, Bèo tai chuột, Bèo tấm, Rau muống, Ngổ trâu Những nơi
nước nông gần bờ xuất hiện thêm các đại diện chịu ngập cố định
như Rau dừa nước, Rau mương đứng, Cỏ gừng nước, …
Nhóm các loài thực vật sống trôi nổi trên mặt nước :
Bèo tây, Bèo tai chuột, Bèo tấm, Rau muống, Ngổ trâu Những nơi
nước nông gần bờ xuất hiện thêm các đại diện chịu ngập cố định
như Rau dừa nước, Rau mương đứng, Cỏ gừng nước, …
Nhóm các loài thực vật chịu ngập : khá đa dạng về dạng
sống từ các cây gỗ, cây bụi (Và nước, Trần bì trung quốc, Giáo
vàng, Sang tràng…)đến những loài thân cỏ dạng lúa, thân thảo
(quần xã Sậy, Quần xã Rau dừa nước, Cỏ gừng nước, Cỏ lồng vực
nhỏ, Lác nước…
Nhóm các loài thực vật chịu ngập : khá đa dạng về dạng
sống từ các cây gỗ, cây bụi (Và nước, Trần bì trung quốc, Giáo
vàng, Sang tràng…)đến những loài thân cỏ dạng lúa, thân thảo
(quần xã Sậy, Quần xã Rau dừa nước, Cỏ gừng nước, Cỏ lồng vực
nhỏ, Lác nước…
Nhóm các loài trên đất ướt chậm thoát nước ven sông: Những cây thường gặp là Sung, Si , Lộc vừng, Roi , Tre,
Dừa, Gạo hoa đỏ, Phèn đen…
Nhóm các loài trên đất ướt chậm thoát nước ven sông: Những cây thường gặp là Sung, Si , Lộc vừng, Roi , Tre,
Dừa, Gạo hoa đỏ, Phèn đen…
Trang 133.2 Đánh giá diễn biến chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy
(đoạn chảy qua địa phận tỉnh Hà Nam) trong
năm 2007 và năm 2013
3.2.1 Chất lượng nước sông Đáy
Kết quả quan trắc chất lượng nước sông Đáy năm 2007, ta thấy nồng độ trung bình các chất hữu cơ và dinh dưỡng trên sông Đáy tại các điểm quan trắc theo thời gian từ năm 2007 tới nay nhìn chung đều
có chiều hướng tăng
Nồng độ PO43- được đo tại các điểm quan trắc trong năm 2013 đã giảm đi nhiều so với năm 2007, chỉ riêng tại cầu Hồng Phú do đây là nơi nối với sông Nhuệ nên nồng độ PO43- tại đây tăng gấp 2,6 lần so với thời điểm năm 2007
Trang 143.2.2 Chất lượng nước sông Nhuệ
Nước sông có nồng độ các chất dinh dưỡng cao và thường xuyên
bị ô nhiễm, nhất là vào các các tháng mùa khô (từ tháng 1 – 4 và từ tháng 9 – 12) do nước thải từ Hà Nội đổ về
Kết quả phân tích cho thấy nước bị ô nhiễm chất hữu cơ và đặc biệt là mức độ ô nhiễm chất dinh dưỡng khá cao
Nồng độ NO4+ cao dao động từ 0,8÷3,6 mg/l vượt giới hạn từ 4÷18 lần so với QCVN 08/2008/BTNMT loại A2 nhưng so với thời điểm của 2007 tại cùng các vị trí thì ta có thể thấy nồng độ NO4+
đã được giảm xuống đáng kể
Nồng độ COD tại các cống Nhật Tựu và cống Ba Đa trên sông Nhuệ năm 2013 có xu hướng tăng dần lên so với thời điểm năm 2007
Trang 153.3 Lượng giá các giá trị sử dụng trực tiếp của các chức năng và dịch vụ HST hạ lưu sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà
Nam).
Lượng giá tại hiện trường, ròng =
∑PiQi – Ci
Trong đó:
Pi = Giá của sản phẩm tại cổng nông trại.
Qi= Lượng sản phẩm thu thập được.
Ci= Chi phí liên quan đến thu thập, sản xuất và tiếp thị sản phẩm
Trang 163.3.1 Ước tính giá trị khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và
chăn nuôi thủy cầm từ năm 2007
Ước tính giá trị khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi thủy cầm của lưu vực sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh
Trang 173.3.2 Giá trị khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi
thủy cầm của lưu vực sông Nhuệ - Đáy ( đoạn chảy qua
tỉnh Hà Nam) hiện nay
Từ năm 2007 trở lại đây chất lượng nước sông bị suy giảm đột
ngột, nồng độ các chất ô nhiễm vượt nhiều lần giới hạn cho phép
nên các loài cá nuôi bị chết hàng loạt
Tình trạng ô nhiễm của lưu vực sông Nhuệ - Đáy đã ảnh hưởng rất lớn tới việc khai thác thủy sản và chăn nuôi thủy cầm Một số bệnh phát sinh thường gặp như bệnh viêm ruột đốm đỏ do vi khuẩn, xuất huyết do virus, ngoại ký sinh… gây hại trên hầu hết các đối tượng sống ở sông và vật nuôi trên sông
Do đó, hiện nay việc ước tính giá trị khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi thủy cầm trên địa bàn lưu vực sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam) là không thể Bởi chất lượng nước sông lưu vực sông Nhuệ - Đáy ở trong tình trạng bị ô nhiễm nặng nề nên không thể phục vụ được cho hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản cũng như chăn nuôi thủy cầm của người dân địa phương
Trang 183.3.3 Giá trị cung cấp nước
- Giá trị cung cấp nước sinh hoạt:
+ Nhà máy nước Tân Sơn = 6.691.269.150 VNĐ
+ Nhà máy nước TP Phủ Lý = 2.066.529.030 VNĐ
- Giá trị cung cấp nước nông nghiệp = 10.638.401.780 VNĐ
Giá trị cung cấp nước (sinh hoạt và nông nghiệp)
= 8.757.798.180+ 10.638.401.780 = 19.396.199.960 VNĐ
Khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và
chăn nuôi thủy cầm
Trang 193.4 Đề xuất giải pháp
+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục với nhiều hình thức và biện
pháp phù hợp để nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn nước, môi trường sinh thái, cảnh quan và khai thác bền vững
+ Xây dựng và thực hiện chương trình tập huấn cho cán bộ quản lý, cán
bộ chuyên trách từ cấp tỉnh, thành phố đến cấp huyện, phường xã
+ Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường như tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường, gia đình văn hóa, vệ sinh tốt
Trang 20KẾT LUẬN
Hệ sinh thái trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam)
khá phong phú và đa dạng với 52 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 32
họ có biên độ sinh thái khác nhau
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng đã gây ra nhiều hậu quả xấu cho môi trường Hiện trạng môi trường nước của lưu vực sông Nhuệ - Đáy vẫn đang diễn biến phức tạp, ngày càng xấu đi và đang là vấn đề bức xúc.
Năm 2007 trở về trước, qua điều tra khảo sát ta thấy chất lượng nước sông vẫn có thể sử dụng để nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và chăn nuôi thủy cầm giá trị khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi thủy cầm của lưu vực sông Nhuệ - Đáy (đoạn chảy qua tỉnh Hà Nam) từ năm 2007
Trang 21- Giám sát, quản lý chặt chẽ chất lượng môi trường, dự báo, phòng chống thiên tai và có hiệu quả.
- Ngoài các giá trị sử dụng trực tiếp thì lưu vực sông Nhuệ - Đáy còn có các giá trị sử dụng gián tiếp như khả năng làm sạch, nơi
cư trú của con người, phát triển du lịch… Nhưng do thời gian nghiên cứu giới hạn nên trong bài khóa luận này chỉ đề cập tới các giá trị sử dụng trực tiếp Đối với các giá trị sử dụng gián tiếp của lưu vực sông Nhuệ - Đáy sẽ bổ sung trong các nghiên cứu sau