Nhà phê bình văn học Đặng Thai Mai trong Giảng văn Chinh phụ ngâm đã viết “…Sự thực thì hai trăm năm sau khi tập CHINH PHỤ NGÂM đã được viết bằng chữ Hán và phu diễn vào trong hình thức
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XVIII, Đoàn Thị Điểm đượcđánh giá cao: “là một người có kỳ tài trong văn nữ giới” (27), là “người nổitiếng hay chữ” (39) Riêng bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành được khẳng định “…là áng văn hay nổi tiếng không nhường Truyện Kiều, được phổ biến sâu rộng hơn cả giai tác Nguyễn Du” (Nguyễn Thạch Giang – Chinh
phụ ngâm diễn ca)
Nhà phê bình văn học Đặng Thai Mai trong Giảng văn Chinh phụ
ngâm đã viết “…Sự thực thì hai trăm năm sau khi tập CHINH PHỤ NGÂM
đã được viết bằng chữ Hán và phu diễn vào trong hình thức Việt văn của
nó, người ta chỉ biết có một bài Chinh phụ, người ta chỉ nhớ đến một khúcngâm chinh phụ ; ấy là tập CHINH PHỤ NGÂM của Đoàn Thị Điểm.”
Kể cả tác phẩm Truyền kỳ tân phả bằng Hán văn của bà cũng rất nổi tiếng, được Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí khen là:
“Lời văn hoa mỹ dồi dào”
Không những thế, lại có rất nhiều giai thoại văn học xung quanhcuộc đời nữ sỹ tài hoa này, như Đoàn Thị Điểm ngoài việc xướng họa vớicha và anh “kể có hàng chục, hàng trăm bài”, bà còn xướng họa với nhiềudanh sỹ đương thời, đã từng làm cho “sứ giả Trung Quốc” lúng túng bằngnhững câu đối sắc sảo, và đã đánh bại Trạng Quỳnh (Nguyễn Quỳnh, đỗHương cống thời Lê mạt) trong nhiều lần đối đáp, khiến hình ảnh bà càngtrở nên hấp dẫn trên văn đàn Việt Nam
Thế nhưng đến nay vẫn còn một số nghi vấn đặt ra xung quanh cuộcđời và sự nghiệp sáng tác của nữ sỹ tài hoa này Chẳng hạn:
- Đoàn Thị Điểm có phải là tác giả bản dịch Chinh phụ ngâm hiện
hành hay không?
- 6 truyện trong Truyền kỳ tân phả phải chăng đều là tác phẩm của
bà?
Trang 2- Ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm và tác phẩm Truyền kỳ tân phả,
liệu bà còn những sáng tác nào nữa không…
Vì các lẽ trên mà chúng tôi đã chọn đề tài luận văn là “Nghiên cứu
Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị thực lục”, một tác phẩm do một người cháu
rể của Đoàn Thị Điểm biên soạn nhằm góp phần giải quyết các tồn nghi,đẩy việc nghiên cứu về Đoàn Thị Điểm đi lên phía trước
2 Lịch sử vấn đề
Liên quan tới đề tài “Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị
thực lục” mà chúng tôi đã chọn, có các bài viết và các công trình nghiên
cứu sau đây :
Năm 1937, có công trình Chinh phụ ngâm dẫn giải của Nguyễn Đỗ
Mục, trong đó tác giả cho rằng Đoàn Thị Điểm tên chính là Nguyễn ThịĐiểm, em gái tiến sỹ Nguyễn Trác Luân, là người đã diễn ra quốc văn tác
phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn bằng Hán văn.
Tháng 1 – 1978 trên Tạp chí Văn học có đăng bài Về một cuốn Hồng
Hà phu nhân di văn mới phát hiện được của tác giả Nguyễn Kim Hưng.
Bài viết giới thiệu văn bản Hồng Hà phu nhân di văn mới tìm thấy.
Tác giả Nguyễn Kim Hưng cho rằng “…Nhờ tham gia biên soạn bộThư mục Hán – Nôm, chúng tôi đã có điều kiện để làm việc ấy Sau nhiềuphen kiên trì tìm kiếm, những tưởng đã không thể tìm thấy gì nữa, thì maymắn làm sao, năm 1973 chúng tôi phát hiện ra một cuốn sách nhan đề
Hồng Hà phu nhân di văn nằm lẫn giữa các cuốn sách khác Mở đọc thì
quả nhiên đây là một tuyển tập sáng tác của nữ sĩ họ Đoàn” Và tác giảcũng cho biết nguồn tư liệu được lấy từ bộ Thư mục Hán Nôm do “Thưviện Khoa học xã hội xuất bản Bản in rô - nê - ô ; 11 tập ; Hà Nội 1970 –1972” Chúng tôi lần theo sự chỉ dẫn trên để đi tìm, nhưng không hề thấy
một cuốn Hồng Hà phu nhân di văn nào “nằm lẫn giữa các cuốn sách
khác” như tác giả Nguyễn Kim Hưng đã nói Vậy thực hư thế nào ? Vấn đềnày sẽ được chúng tôi trình bày trong chương 2, nói về vấn đề văn bản
Trang 33 Mục tiêu nghiên cứu
Từ trước đến nay, việc nghiên cứu thân thế và sự nghiệp sáng tác củaĐoàn Thị Điểm thường dừng lại trên một vài tác phẩm đơn lẻ và cũng chưa
đi đến sự thống nhất về danh mục tác phẩm của bà
Bởi vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận văn chúng tôi là cố gắng xác lậpmột danh mục đầy đủ và tương đối có hệ thống về tác phẩm của Đoàn ThịĐiểm, trên cơ sở kế thừa những gì mà người đi trước đã đạt được, cộng với
các thông tin liên quan do Đoàn Thị thực lục cung cấp Đồng thời, qua kết
quả khảo sát văn bản, nêu lên một số suy nghĩ riêng của mình chung quanhcác vấn đề đang tồn nghi về Đoàn Thị Điểm cũng như những sáng tác của bà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Nghiên cứu Đoàn Thị Điểm qua Đoàn Thị thực
lục”, đối tượng nghiên cứu của luận văn là tất cả các tư liệu trực tiếp hoặc
gián tiếp liên quan đến cuộc đời và sáng tác của Đoàn Thị Điểm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Việc nghiên cứu văn bản chủ yếu tiến hành trong phạm vi những tácphẩm được xác định là của Đoàn Thị Điểm
Chúng tôi sẽ không sa đà vào những vấn đề chưa có điều kiện giải
quyết triệt để, như Truyền kỳ tân phả có bao nhiêu truyện, bản dịch Chinh
phụ ngâm hiện hành là của ai Trọng điểm của luận văn này là giới thiệu
các tác phẩm mới phát hiện của Đoàn Thị Điểm, đặc biệt là mảng thơ, câu
đối, văn tế được ghi chép trong Hồng Hà phu nhân di văn mà lâu nay ít
người chú ý tới, hoặc tuy đề cập nhưng chưa có điều kiện đi sâu Mặt khác,chúng tôi cũng bổ sung những hiểu biết mới về gia thế và cuộc đời Đoàn
Thị Điểm qua nguồn tư liệu Đoàn Thị thực lục.
5 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận vănnày là: Phương pháp thống kê, phương pháp văn bản học Hán Nôm vàphương pháp phân tích văn học
Trang 4Phương pháp thống kê là đem những sự vật cùng trong một phạm vitập hợp lại, sau đó phân tích chúng xem loại nào cùng một tính chất, hìnhthức, thể loại, cùng thể hiện một nội dung cần miêu tả.
Phương pháp văn bản học Hán Nôm là xác định tình trạng văn bản,xác định thiện bản, các bản sao, bản in, giấy in, mầu mực, thể chữ, kỹthuật, bảo tàng, sách cổ, xác định tác giả và niên đại ra đời của tác phẩm
Phương pháp phân tích văn học là phương pháp xem xét hoàn cảnh
ra đời của tác phẩm, cùng nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật mà tácphẩm hàm chứa
Tuy trình bày tách bạch các phương pháp nghiên cứu như trên,nhưng trong thực tế, chúng thường có mối quan hệ khăng khít với nhau và
hỗ trợ cho nhau Vì vậy luận văn sẽ vận dụng chúng một cách tổng hợp
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVIII và thân thế Đoàn Thị Điểm Chương 2: Văn bản Đoàn Thị thực lục và phần chép về Hồng Hà
phu nhân di văn
Chương 3: Giá trị tư tuởng và nghệ thuật của Hồng Hà phu nhân di văn
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XVIII
VÀ THÂN THẾ ĐOÀN THỊ ĐIỂM
1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVIII
Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVIII là một xã hội mà chế độ phongkiến bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng và không có lối thoát.Những mâu thuẫn chứa chất trong lòng xã hội phong kiến đến giai đoạnnày bộc lộ gay gắt và bùng nổ thành những cuộc đấu tranh xã hội quyếtliệt
Cuộc nội chiến kéo dài giữa họ Trịnh và họ Nguyễn đã làm cho nhândân Việt Nam, nhất là nhân dân ở Đàng ngoài vô cùng khốn khổ Bức xúctrước hết là chuyện tô thuế Tất cả mọi người, từ dân đinh cho đến ngườigià, người tàn tật, người hát rong, người làm trò múa rối v,v… đều phảinộp thuế Các nghề thủ công cũng không đứng ngoài Mọi phí tổn cho cuộcsống trụy lạc, xa xỉ của vua chúa, quý tộc, quan lại đè nặng lên đầu nhândân lao động Họ Trịnh nhiều lần tăng mức thuế Ngoài những ngạch thuế
cũ, năm 1731, Trịnh Giang còn bắt khách hộ (người nơi khác đến ngụ cư)
và các hạng tạp lưu cũng phải nộp thuế, tăng thêm thuế ruộng công, tư mỗimẫu thêm 2 tiền Bên cạnh thuế thi hành từ năm 1720, họ Trịnh thu thêm
“tiền hộ phân”, tính theo từng hộ Nhằm khai thác triệt để nguồn tô, thuế,
họ Trịnh đánh thuế vào cả những loại ruộng đất không sản xuất được nhưđất nơi đồng chua, nước mặn, đất đồi rừng khô cằn, bãi cát trắng Phan HuyChú có nhận xét về chế độ tô thuế của họ Trịnh : “…một tấc đất cũngkhông sót, không chỗ nào là không đánh thuế Cái chính sách vét hết lợi,hình như quá cay nghiệt” Tình trạng thiếu thuế năm này dồn sang nămkhác trở thành một gánh nặng khủng khiếp đối với người dân
Trang 6Tiếp đến là nạn dao dịch Các chúa Trịnh tuỳ tiện bắt dân phu đi xâydựng đền đài, dinh thự Trong những ngày dao dịch, nhân dân phải tự túcchứ không được trả công Các chúa Trịnh lo việc ăn chơi và xây dựngchùa chiền hơn lo việc trị nước Trịnh Cương xây chùa Phúc Long, dựnghành cung Cổ Bi, bắt dân ba huyện ở Kinh Bắc phục vụ suốt sáu năm ròng
rã, cuối cùng sợ dân nổi loạn, phải ra lệnh dừng lại Trịnh Giang nối ngôicha, là người “hôn ám, nhu nhược”, “hoang dâm vô độ”, sau khi đình việcxây dựng chùa chiền, cung điện được một năm, quay sang xây dựng nhiềuhơn Ông ra lệnh sửa chữa chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều), chùa SàiNghiêm (Chí Linh), dựng chùa Hồ Thiên (Kinh Bắc), chùa Hương Hải vànhiều nhà thờ, đền miếu khác…Mỗi cuộc trùng tu hay tôn tạo chùa chiềnnhư vậy, gánh nặng dao dịch lại đè nên vai nhân dân
Không những thế, các cuộc chiến tranh phong kiến liên miên của thế
kỷ XVIII đã mang đến cho nhân dân thêm một nỗi khổ nữa : nạn binh dịch,dầu rằng chúa Trịnh cố gắng ưu đãi binh sĩ Trong nhân dân, những câu cathan vãn thương tâm vang lên khắp nơi:
Con cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.
hoặc:
Lính vua lính chúa lính làng, Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra.
Giá vua bắt lính đàn bà,
Để em đi đỡ anh và bốn năm…
Trong khi đó, ruộng đất lại tập trung nhiều vào tay một số người,nông dân phải cày ruộng thuê, nộp tô nặng và bao nhiêu loại lễ vật cho chủđất Làng xã có một ít ruộng đất công còn lại cũng rơi hết vào tay bọn chachú, quyền hào Nông dân còn phải lo đắp đê, đắp đường và bao nhiêu
Trang 7công việc phục dịch khác Đó là vào những dịp thu thuế, nhân dân phảicung đốn cho bọn quan lại mỗi bữa ăn một tiền Khi thuế thu xong, nhândân lại phải nộp tiền tiễn đưa: cứ một trăm quan tiền thuế thì nộp bẩy quanhai tiền tiễn đưa Đấy là chưa kể cách hạch sách khác của bọn quan thuthuế này Ở các huyện, xã, bọn cường hào giảo quyệt tha hồ làm bậy, quấyphá cuộc sống yên ổn của người dân Chúng vu oan giá họa, bày đặtchuyện kiện tụng để cướp đoạt tài sản của dân lành
Nạn trộm cướp lớn nhỏ xảy ra khắp nơi, ở Yên Quảng, bọn cướpbiển thường đổ bộ quấy nhiễu, cướp phá nhân dân Ở Đa Giá Thượng(Nam Định), một ổ cướp lớn hàng trăm người đã nhân đường sá hiểm trở,lập làng chờ sẵn những người qua lại hay ngủ trọ nơi đây để sách nhiễu.Chúng hoạt động suốt hơn hai mươi năm trời, triều đình mới chịu cho quân
đi đánh, san bằng làng cướp
Hơn thế nữa, sự quan tâm không đủ của nhà nước đến sản xuất đãtạo nên nhiều mối đe dọa tự nhiên Thế kỷ XVIII, nạn đê vỡ, hạn lụt xảy raliên miên, uy hiếp thường xuyên nền sản xuất nông nghiệp Thực ra tìnhtrạng thiên tai mất mùa, đói kém đã xảy ra khá phổ biến từ cuối thế kỷXVII ; sang đầu thế kỷ XVIII, thiên tai, mất mùa càng xảy ra triền miên vàtrầm trọng hơn Các chức quan hà đê, quan khuyến nông vẫn tồn tại nhưngbọn này lợi dụng việc đắp đê, sửa đường để tham ô, vơ vét hơn là bảo vệ và
tu bổ đê điều, nên hạn hán, lụt lội vẫn xảy ra thường xuyên Năm 1702, đêsông Mã, sông Chu ở Thanh Hoá bị vỡ, mùa màng bị mất sạch, nhân dân bịđói lớn Sang năm 1703, nạn đói lan ra cả bốn nội trấn ở đồng bằng và khuvực kinh thành, làm cho giá lúa cao vọt, một tiền chỉ đong được bốn bátthóc Đến những năm 1712, 1713, một trận đói lớn lan tràn khắp Đườngngoài, người dân phải ăn vỏ cây, rau quả, lá cây, thây chết đói đầy đường,thôn xóm trở nên tiêu điều Đặc biệt nghiêm trọng là nạn đói năm 1741.Nạn đói bắt đầu ở trấn Hải Dương rồi lan dần ra khắp cả Đàng ngoài Sử cũchép : “Dân bỏ cả cày cấy, thóc lúa dành dụm trong xóm làng đều hết sạch
Trang 8…Dân lưu vong bồng bế, dắt nhau đi kiếm ăn đầy đường Giá gạo cao vọt,
100 đồng tiền không đổi đuợc một bữa ăn Dân phần nhiều sống nhờ rau
cỏ, đến nỗi ăn cả chuột, rắn Người chết đói ngổn ngang, người sống sót
không còn được một phần mười” (Việt sử thông giám cương mục) Thóc
gạo khan hiếm đến nỗi có nơi một mẫu ruộng chỉ bán đủ mua một cái bánhnướng, có người tiền của đầy nhà mà vẫn phải chết đói Phạm Đình Hổ
trong Vũ trung tuỳ bút chép “ruộng đất đã hầu thành ra rừng rậm, những
giống gấu chó, lợn lòi sinh tụ ngoài đồng Những nguời dân sống sót phải
đi bóc vỏ cây, bắt chuột đồng mà ăn” Hàng vạn nông dân đã chết đói quanhững nạn đói kéo dài và khủng khiếp ấy Những người sống sót qua cácnạn đói, nạn dịch cũng không còn điều kiện sinh sống phải bỏ làng xóm,đồng ruộng đi kiếm ăn ở nơi khác, tạo thành một tầng lớp người dân lưuvong đông đảo
Đó chính là cuộc sống bấp bênh, cực khổ của người dân dưới thờicác chúa Trịnh, một cuộc sống ngột ngạt kéo dài đã tạo nên những lời taoán “quan tha, ma bắt”:
Ăn mày là ai, ăn mày là ta, Đói cơm rách áo hoá ra ăn mày
Tình hình càng về sau càng khó khăn, nhân dân càng sống cơ cực,bấp bênh và tất nhiên “tức nước vỡ bờ”, những cuộc đấu tranh giai cấp ác
liệt không tránh khỏi bùng nổ Việt sử thông giám cương mục viết: “chính
sự trái ngược, thuế khoá nặng nề, lòng người mong mỏi cho chóng loạnlạc” Năm 1737, một nhà sư là Nguyễn Dương Hưng đã lãnh đạo dânnghèo và dân đói ở các miền thuộc tĩnh Sơn Tây và tĩnh Thái Nguyên đứnglen chống lại chính quyền họ Trịnh Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của NguyễnDương Hưng là cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở Thanh Hoá, rồi đến cáccuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Đình Dung, HoàngCông Chất, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương,v.v…
Trang 9Các chúa Trịnh trước sức mạnh của nhân dân đã lao đao khốn đốnrất nhiều Họ Trịnh sai các lộ lập đồn hoả tiêu trên núi, đêm ngày canh gác.Mặt khác, họ Trịnh cũng tăng cường phòng thủ, thường xuyên cho quântuần hành ở những nơi hiểm yếu và tuyển thêm binh lính các trấn để bổsung cho bộ máy đàn áp Đã hai lần Trịnh Doanh thân cầm quân đi đánhnghĩa quân, nhưng nghĩa quân chỗ này bị phá thì chỗ khác lại nổi lên Mỗilần nghĩa quân hoạt động thì chúa Trịnh lại hao binh tổn tướng rất nhiều.Tướng của Trịnh Doanh là Nguyễn Trọng Uông giữ chức thống lĩnh Bắcđạo đã bị Nguyễn Tuyển gia binh, đốc lĩnh Hoàng Kim Trảo bị Vũ ĐìnhDung chém chết Năm 1741, Đặng Minh Luân giữ chức Thượng đạo đốclĩnh Hải Dương cùng với nhiều tỳ tướng bị Nguyễn Tuyển bắt sống ở ĐôngTriều Năm 1745, Hoàng Công Kỳ bị nghĩa quân của Hoàng Công Chấtgiết chết Năm 1743 Đốc lĩnh thuỷ đạo của chúa Trịnh là Trịnh Bàng bịNguyễn Hữu Cầu giết, ngoài ra còn nhiều tướng lĩnh của chúa Trịnh cũng
bị Nguyễn Hữu Cầu giết chết
Triều đình phong kiến tỏ ra bất lực trước sự lớn mạnh của phong tràokhởi nghĩa nông dân Việc chống lại nghĩa quân không còn dễ dàng nhưtrước, mà là một việc vô cùng gian lao và nguy hiểm Đối với việc “tiễuphạt” nghĩa quân, các tầng lớp phong kiến có các thái độ khác nhau Nhiều
kẻ thấy rằng “tiễu phạt” không còn là một dịp để thăng quan tiến chức nữa
Họ đã mỏi mệt trước lực lượng đấu tranh bền bỉ của nhân dân Đó có lẽcũng là một trong những lý do khiến cho cuộc chiến đấu giữa nghĩa quân
và quân đội họ Trịnh nhiều lần đi đến chỗ tạm hoà…Nhưng mâu thuẫngiữa nhân dân và chế độ phong kiến họ Trịnh là mâu thuẫn không thể hoàgiải được Vì vậy hoà là để rồi lại chiến, và mỗi lần chiến lại làm cho hàngngũ tướng sỹ cứ thưa dần Ngay trong giai cấp phong kiến đã nảy ra tâm lýchán ghét chiến tranh, một thứ chiến tranh tàn phá đất nước, gieo tang tóccho nhân dân, làm mòn mỏi giai cấp phong kiến Chế độ phong kiến sẽ điđến đâu nếu giai cấp phong kiến thống trị mà đại biểu là chúa Trịnh cứ
Trang 10nhắm mắt làm ngơ trước yêu cầu của nhân dân, và cứ lao mình vào cuộcnội chiến không có kết quả thì chỉ làm cho nhân dân thêm mệt mỏi, cuộcsống thêm khổ cực.
1.2 Thân thế và sự nghiệp sáng tác của Đoàn Thị Điểm
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), người làng Giai Phạm (sau đổi thànhlàng Hiến Phạm), huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh HưngYên) Cha là Đoàn Doãn Nghi, mẹ là Vũ thị phu nhân ; anh trai là ĐoànDoãn Luân
Theo Đoàn Thị thực lục (gia phả dòng họ Đoàn) thì họ Đoàn khởi
thuỷ là họ Lê Tổ phụ của Đoàn Thị Điểm là Lê Công Nẫm, làm quan võđời Lê, có quân công, được phong tước Thiêm Hào Tử, chức Đặc tiến kim
tử vinh lộc đại phu, Thái thường tự thiếu khanh Đoàn Thị thực lục ghi: “Lê
Công Nẫm là người chăm chỉ, chịu khó, nhanh nhẹn, tính tình thẳng thắn,điềm đạm, hết sức tận tâm với công việc, nên rất được quan trên tin dùng
Và vì vậy mà ông đã tiến nhanh trên con đường làm quan”
Con Lê Công Nẫm là Công Vị ; con Công Vị là Doãn Nghi
Doãn Nghi mồ côi cha từ nhỏ, được mẹ chăm lo cho sự học hành.Hồi còn bé, ông rất thông minh, chăm chỉ, cần cù, siêng năng học tập vì thếrất được nhiều người yêu mến, cho là “tuổi nhỏ mà rất sáng dạ” Gia phảdòng họ ghi: “Doãn Nghi sinh ra mặt mày sáng sủa, phong tư ôn nhã, tuổicòn nhỏ mà rất ham học (…) sớm hôm kinh sử rèn tập, sau trở nên ngườivăn hay học rộng” Ông thi Hương đỗ Hương cống, “đó là vị thuỷ tổ về vănhọc của dòng họ” Sau thi Hội không đỗ, Lê Doãn Nghi bèn đi dạy học.Nhân trong một giấc mộng, thấy “thần nhân” bảo ông nên đổi sang họĐoàn, ông liền làm theo Họ Lê ở Giai Phạm đổi ra họ Đoàn, bắt đầu từđây Doãn Nghi trước đã có vợ là Nguyễn Thị sinh được Thị Quỳnh vàDoãn Sỹ (Doãn Sỹ sau đỗ Hương cống, làm Tri huyện) Nguyễn Thị vốntính vụng về, công việc nội trợ không được chu đáo, vì thế mà vợ chồng
sau đó bỏ nhau Đoàn Thị thực lục chép : hồi này Doãn Nghi còn trọ học ở
Trang 11Thăng Long, ngày ngày qua lại phường Hà Khẩu (nay là phố Hàng Buồm),thường gặp một người con gái họ Vũ – con một viên quan võ cao cấp đượcphong tước Thái Lĩnh Bá, nguyên người làng Vũ Điện, huyện Nam Xương.Người con gái này được gia đình dạy dỗ từ nhỏ nên “phong tư tốt đẹp, dángđiệu khoan nhàn, nhất là việc kim chỉ thêu thùa lại càng khéo léo” Vì gặpmặt lâu ngày thành quen, Doãn Nghi đem lòng yêu mến người con gái ấy.Nhân khi về thăm nhà, ông liền nhờ mẹ tới cầu hôn để làm vợ thứ.
Sau khi lấy Doãn Nghi, Vũ Thị sinh được hai người con là DoãnLuân và Thị Điểm Vũ Thị vốn là người tài hoa, khéo léo ; khi về nhàchồng, trên thì lấy hiếu thờ mẹ chồng, ngoài thì lấy nghĩa ăn ở với ngườithân tộc Bà nổi tiếng đảm đang, giỏi việc nhà, hai vợ chồng “kính nhaunhư khách” Vũ Thị còn là một người phụ nữ thông minh sắc sảo Gia phả
họ Đoàn chép: “Có lần bà chỉ nghe hai con đọc sách, ngâm thơ, tuy rằngchưa thấy tác phẩm lần nào, bà cũng có thể thuộc lòng, đọc lại cả chương
mà không sai một chữ Phàm những sách như Bách gia chư tử, Tam quốc,
Thuỷ hử, không sách nào là bà không đọc” Vũ Thị thường giảng giải kinh
luân, hiếu hạnh cho các con nghe Và những điều ấy đã có ảnh hưởng rấtlớn đối với Đoàn Thị Điểm về sau
Ngoài người mẹ, cha và anh Đoàn Thị Điểm cũng là những tấmgương sáng, nhất là về tinh thần hiếu học Cha đỗ thi Hương, làm quan đếnchức Điển Bạ, được nhận hàm Bát phẩm Anh trai là Đoàn Doãn Luân đỗGiải nguyên trường thi Kinh Bắc Chí tiến thủ của cha anh luôn luôn khích
lệ Đoàn Thị Điểm vươn lên
Ngay từ nhỏ, Đoàn Thị Điểm đã được cha và anh dạy cho học Giaphả cho biết bà học rất thông minh, “miệng nói ra là thành văn chương vàlàm việc gì cũng có phép tắc” Nhất là về hiếu hạnh và nữ công của bà thì
cả vùng đều biết tiếng
Năm Đoàn Thị Điểm 16 tuổi, Thượng thư Lê Anh Tuấn - thầy họccủa bà - thấy bà là người có tài sắc, đã đưa về Thăng Long nơi quê mẹ của
Trang 12bà để nuôi dạy, có ý định về sau sẽ giới thiệu Đoàn Thị Điểm vào phủ chúa
Trịnh Theo Đoàn Thị thực lục thì “khi bà mới đến nhà Lê Anh Tuấn, quan
Thượng thư bắt làm một bài thơ Nôm để thử tài, đầu đề là : “Nhất nhật bấtkiến như tam thu” (Một ngày không gặp nhau, thấy dài bằng ba thu) Bàliền ngâm ngay hai câu sau đây để đối lại:
Những mang mấy khắc giăng cầm hạc, Ngỡ đã vài phen đổi lá ngô.
Lê Anh Tuấn đặc biệt khen ngợi, rồi yêu quý như con đẻ
Trong thời gian ở nhà Lê Anh Tuấn tại Thăng Long để học tập, ĐoànThị Điểm quen biết được nhiều những người bạn của cha nuôi, và bà đã tậnmắt chứng kiến cảnh loạn lạc ở Kinh thành Điều này sẽ giúp bà rất nhiềutrong sự nghiệp sáng tác về sau Tuy sống giữa chốn đô thị phồn hoa, song
bà chỉ thích văn chương, không ham phú quý, nên cuối cùng đã cố xin trởlại quê nhà
Về đến Giai Phạm, bà lại cùng anh Đoàn Doãn Luân luận đàm sách
vở văn chương và nghiên cứu cả về những môn âm dương, lý số Được lúcnhàn rỗi, hai anh em lại cùng nhau xướng hoạ thơ từ, thách thức ganh tỵnhau từng câu, từng chữ, “có cái thế như hai nước địch” (Nguyễn Đỗ Mục)
Gia phả họ Đoàn chép: “Có lần ông Luân thấy em gái đương ngồi soigương, đùa ra một vế rằng:
“Chiếu kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm”
(Nghĩa là: Soi gương vẽ mày, một nét hoá thành hai nét).Lúc ấy ông Luân đương ngồi bên cầu ao rửa tay, bà liền đối ngay:
“Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân”
(Nghĩa là: Kề ao ngắm nguyệt, một vầng hoá ra đôi vầng)
Sự tài tình ở đây là cảnh rất thật mà lại khéo dùng tên người là
“Điểm” và “Luân” đúng với chuyện vẽ mày và ngắm trăng
Những câu đối đáp giữa hai anh em như thế là rất nhiều, không thể
kể ra hết, đáng tiếc là về sau phần lớn thất lạc
Trang 13Năm 1729 cha mất, bà theo gia đình đưa linh cữu thân phụ về quênhà, rồi theo anh sang ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (Yên Mỹ - HưngYên ngày nay) Trong thời gian này, bà đang vào khoảng 24-30 tuổi, cónhiều người mộ danh tiếng bà tới thử tài và cầu hôn Đoàn Thị Điểm làngười kén chồng rất mực, cho là nếu không lấy được tấm chồng ưng ý thìthà chẳng lấy còn hơn, mặc dù theo quan điểm hôn nhân thời phong kiến,đến 25 tuổi chưa lấy chồng, người ta cho là đã quá muộn.
Sau khi đã hết tang cha, có cậu công tử làng Hoạch Trạch là NhữĐình Toản (ông này sau đỗ Tiến Sỹ, làm quan đến Thượng thư) và quanThượng thư làng Kim Lũ (gia phả không ghi tên cụ thể) nhờ mối đến dạmhỏi, nhưng bà đều không ưng thuận đám nào Bà chỉ ở nhà chăm chỉ làm
ăn, phụng dưỡng mẹ già và những lúc nhàn rỗi, lại cùng anh vui với vănchương, giảng bàn lý số
Năm 1735, Đoàn Doãn Luân chết, để lại hai con nhỏ, trai là ĐoànDoãn Sỹ, gái là Đoàn Lệnh Khương Trên đường đưa linh cữu anh về quê,Đoàn Thị Điểm đã viết bài văn tế anh rất bi thiết, trong đó có những đoạnxúc động khiến người nghe, người đọc không cầm được nước mắt
Từ đấy bà cùng người chị dâu cố sức chèo chống để gia đình khỏisuy sụp, trên thì phụng dưỡng người mẹ già yếu, dưới thì nuôi hai cháu nhỏ
ăn học Theo Đoàn Thị thực lục, trước bà có nghiên cứu sách thuốc, nay ra
hành nghề, kiếm tiền độ nhật Bà lại làm hộ văn chương cho người khác để
có chút tiêu pha
Về sau, muốn tránh những phiền phức về hôn nhân, Đoàn Thị Điểm
đã nhận lời một bà phi của chúa Trịnh quê ở Đường Hào, vào cung dạyhọc
Năm Kỷ Mùi niên hiệu Vịnh Hựu thứ 5 (1739), cuối đời chúa TrịnhGiang, vì chính sự ở phủ chúa ngày một đổ nát, bà xin thôi dạy học ở trongcung để về quê Tương truyền Đoàn Thị Điểm do nghiên cứu nhiều về lýhọc, đã có thể suy đoán mà có gieo một quẻ, biết vùng Vô Ngại nơi hiện
Trang 14đương ở sắp trở thành một bãi chiến trường, nên bà đem gia đình chuyểnđến xã Chương Dương, bên bờ sông Hồng (nay thuộc Thường Tín, HàĐông) và mở trường dạy học Đấy là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta có
người phụ nữ dám mở trường riêng để đào tạo nhân tài Đoàn Thị thực lục
chép: “Xem qua các chuyện con gái thời xưa thì thấy không hiếm kẻ có tàihọc, nhưng chưa từng thấy có kẻ dạy học trò đỗ đạt” Quả vậy, trong số họctrò của bà, có Đào Duy Doãn, người Chương Dương về sau đã thi đỗ Tiến
sỹ (năm 1763)
Chương Dương vốn gần Thăng Long, nhiều người ở Kinh đô mộtiếng bà tới cầu hôn Năm 1742, lúc này Đoàn Thị Điểm đã 37 tuổi, bà nhận
lời làm kế thất ông Nguyễn Kiều Đoàn Thị thực lục chép: “Một hôm bà
đương ngồi giảng sách, sĩ tử đứng vây quanh nghe giảng đến hơn năm mươingười…Chợt có một kẻ từ ngoài đi vào, theo sau có vài người bõ già bưng
đệ lên một cái hộp, trong hộp có bức thư phong dán rất kỹ Bà mở thư raxem, thấy là bức thư cầu hôn của ông Tiến sỹ Tả thị lang Nguyễn Kiều Xemxong bà than rằng: “Ta hồi trẻ kén chồng hơn hai mươi năm, đến nay đãkhông để tâm đến việc ấy nữa Thường bảo giai nhân tài tử xưa nay, gặp gỡ
là một sự khó khăn, chi bằng rửa sạch lòng trần, nuôi lấy cái khí tượng tronglặng Nay người này từ đâu đến, bỗng lại khuấy động lòng ta !” Rồi bàkhước từ việc cầu hôn ấy Sau hơn một tuần, lại thấy quan Tả thị lang saicháu gọi bằng cậu ruột đem thư đến khẩn khoản nài xin, nói hiện sắp phảisang sứ Trung Quốc mà việc nhà bộn bề, thiếu người nội trợ, không ai coisóc…lời thư khẩn thiết, khiến bà không cầm được lòng Song ngồi bình tĩnhnghĩ lại, bà vẫn thấy là không thể đồng ý được Đám học trò biết chuyện, cốsức tác thành, cả mẹ bà cũng khuyên lơn, bất đắc dĩ bà mới ưng thuận vậy
Đoàn Thị Điểm vốn là người quán xuyến Khi về nhà chồng, bà
“quản lý công việc nhà chồng rất chu đáo, khiến các em chồng cùng đám tỳ
thiếp bên chồng đều mến phục” (Đoàn Thị thực lục).
Trang 15Cưới nhau được hơn một tháng, Nguyễn Kiều phải lên đường đi sứtriều Thanh, mãi đến năm 1745 mới về Trong ba năm vắng chồng, ĐoànThị Điểm sống chẳng khác nào người “chinh phụ”, và có lẽ chính trong
thời gian này (1743 – 1745), bà đã dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng
Hán văn của Đặng Trần Côn ra Quốc âm
Đoàn Thị Điểm sống trong thời điểm này, thời điểm đất nước loạnlạc, chiến tranh liên miên, cuộc sống đói nghèo Bản thân Đoàn Thị Điểm
và cũng chịu nỗi cơ cực ấy, nên bà đã thấu hiểu những gì mà tác giả Đặng
Trần Côn gửi gắm vào trong tác phẩm Chinh phụ ngâm là một tác phẩm
viết về chiến tranh, là khúc ngâm của người chinh phụ, là lời than thở củamột người phụ nữ có chồng ra chiến trường Những tình tiết cấu tạo nêntoàn bộ khúc ngâm là nỗi niềm lo âu, sợ hãi, trông đợi của người vợ trẻ,đầm đìa nước mắt hàng ngày, hàng đêm trông ngóng chồng trở về Chínhđiều này đã được Đoàn Thị Điểm bày tỏ trong tác phẩm, khiến cho tácphẩm còn có sức lưu truyền sâu rộng hơn cả tác phẩm bằng Hán văn banđầu của Đặng Trần Côn Cũng trong lúc làm công việc dịch nghĩa văn bản
Đoàn Thị thực lục chúng tôi có tìm thấy trong mục Hồng Hà phu nhân truyện có đoạn “hữu tác trước Chinh phụ ngâm từ truyện vu thế tương
truyền giá chinh phụ từ diễn âm thị Hồng Hà phu nhân…” Điều này có thể
thấy rõ Đoàn Thị Điểm chính là tác giả bản Chinh phụ ngâm bằng chữ
Nôm mà lâu nay vẫn còn nghi vấn
Sau ngày Nguyễn Kiều trở về, vợ chồng “lại cùng nhau ngâm thơvịnh phú, phẩm liễu bình hoa, cùng yêu nhau về tài, kính nhau về nết”
(Đoàn Thị thực lục).
Năm 1748, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9, Nguyễn Kiều được lệnh điềuvào Nghệ An Đoàn Thị Điểm cùng chồng theo đường thuỷ xuôi dòng sông
Nhị vào Nghệ An Trên đường đi bà nhuốm bệnh Đoàn Thị thực lục chép:
“Phu nhân một hôm thấy trong người bần thần khó chịu, tuy vẫn gượngcơm cháo, nhưng bệnh tình mỗi ngày cảm thấy một nặng hơn Khi đến trấn
Trang 16Nghệ An thì bệnh trở nên trầm trọng” Ngày 4 tháng 8 (âm lịch), bệnh bà
đã rất nguy kịch Đến ngày 11 tháng 9 năm ấy, bà mất, thọ 44 tuổi
Nguyễn Kiều thương xót vô cùng, làm lễ “thành phục” rồi quàn quantài tới một tháng Hàng ngày, buổi sáng và buổi chiều sau giờ làm việc, ôngđều đến đây cúng lễ Được ít lâu, ông chọn ngày, sai người đưa thi hài bà
về an táng ở quê Vì bận việc quan, ông không theo về được, chỉ lập trênbến để tế lễ trước lúc đưa linh cữu xuống thuyền Ông đọc một bài văn tế,rồi dặn các hầu thiếp dọc đường tế một tuần, các con cũng vậy…Các bàivăn tế này đều bằng chữ Hán, hiện nay vẫn giữ được, lời lẽ bi thiết Bài văn
tế của Nguyễn Kiều thể hiện nỗi lòng của người chồng thương vợ tha thiết,nỗi mất mát không gì bù đắp nổi Ta thử đọc một đoạn:
“Sao Bảo vụ sáng ngời, hạt Văn Giang kết đọng khí linh tú Cái tàicủa nương tử thật xưa nay hiếm có, cớ sao ông trời ban cho cái tài lại thubớt phúc phận, cho cái danh lại dè xẻn tuổi thọ thế ru?(…) Người dẫu trămthân khôn chuộc, hận đến nghìn đời cũng chẳng cùng Kìa những ngườiđàn bà vô tư, người ta sống lâu tuổi hạc da mồi, cớ sao người tài hoa tộtbậc dường này mà phúc lộc lại mỏng manh đến thế ? Tội nghiệp thaynương tử, ở yên không có chỗ, nối dõi không có con, ngoài 30 tuổi mới lấychồng, hơn 40 tuổi đã tạ thế; vùi âm dương ở một chỗ, ném tài nghệ vàokhoảng không, trốn bà từ mẫu đã già, bỏ mấy cháu côi còn dại Há chẳngphải là mệnh trời không thương mà tạo vật không công hay sao? ”
Đọc những lời thương khóc ấy, có thể thấy quan Tả thị lang NguyễnKiều quý trọng tài năng, đức độ của Hồng Hà phu nhân như thế nào và cáichết của phu nhân đã khiến ông đau thương biết là bao nhiêu! Một ngườithông minh lỗi lạc, đức hạnh tài hoa như Đoàn Thị Điểm mà cuối đời toàngặp những gian nan vất vả Quan niệm “tài mệnh tương đố” “hồng nhanbạc mệnh” của người xưa không phải hoàn toàn không có cơ sở !
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trang 17Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XVIII là xã hội với cuộc nội chiến kéodài giữa họ Trịnh và họ Nguyễn đã làm nhân dân Việt Nam, nhất là nhândân ở Đàng ngoài vô cùng khốn khổ Chiến tranh liên miên kéo theo nó là
tô thuế, nạn dao dịch, binh dịch Không những thế các chúa Trịnh còn loviệc ăn chơi và xây dựng chùa chiền hơn lo việc trị nước, mỗi cuộc trùng tuhay tôn tạo chùa chiền là gánh nặng dao dịch, thuế má theo đó tăng lênkhiến cuộc sống của người dân vô cùng khốn cùng Nhà nước lại khôngquan tâm đến sản xuất đã tạo nên nhiều mối đe dọa tự nhiên Thế kỷ XVIII,nạn đê vỡ, hạn lụt xảy ra liên miên, uy hiếp thường xuyên nền sản xuấtnông nghiệp, tình trạng thiên tai mất mùa, đói kém xảy ra khá phổ biến ởthế kỷ này
Triều đình tỏ ra bất lực trước sức lớn mạnh của các cuộc khởi nghĩanông dân Việc chống lại nghĩa quân không còn dễ dàng như trước mà làmột việc vô cùng gian lao và nguy hiểm Nhiều kẻ thấy việc “tiễu phạt”nghĩa quân không còn là một dịp để thăng quan tiến chức nữa Họ đã mỏimệt trước lực lượng đấu tranh bền bỉ của nhân dân Ngay trong giai cấpphong kiến đã nảy ra tâm lý chán ghét chiến tranh, một thứ chiến tranh tànphá đất nước, gieo tang tóc cho nhân dân, làm mòn mỏi giai cấp phongkiến, cuộc sống càng thêm khổ cực
Qua Đoàn Thị thực lục chúng ta có thể biết rõ hơn về thân thế và sự
nghiệp của Đoàn Thị Điểm : quê nội của bà là làng Giai Phạm nổi tiếng
“nhân kiệt địa linh”, quê ngoại của bà là đất Thăng Long lừng danh “ngàn
năm văn hiến” Đoàn Thị thực lục cũng cho biết bà học rất thông minh, giỏi
văn chương “miệng nói ra là thành văn chương và làm việc gì cũng phảiphép” Nhất là về hiếu hạnh và nữ công của bà thì cả vùng đều biết tiếng
Do sống ở Thăng Long, quê mẹ thời gian dài nên bà đã trau dồi được nhiềukiến thức, quen biết nhiều người nơi đây, và bà cũng chứng kiến cảnh loạnlạc ở Kinh thành Điều đó đã tạo cho bà có được hồn thơ cùng với thực tế
Trang 18cuộc sống giúp bà sau này dịch thành công ra chữ Nôm tác phẩm Chinh
phụ ngâm của Đặng Trần Côn bằng Hán văn
Trang 19Đoàn Thị thực lục nguyên được chép trong một tập sách có nhan đề
“Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phúthôn cổ tự chỉ” Tập sách này có được là do phái viên của Học viện Viễnđông Bác cổ Pháp tại Hà Nội về tận xã Giai Phạm tiến hành sao chép cácgiấy tờ có chữ Hán và chữ Nôm, tức cái gọi là “cổ chỉ” (giấy cổ) hoặc “cổ
tự chỉ” (giấy tờ có chữ cổ) để mang về lưu tại Thư viện của Học viện
Tập sách “Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm
xã, Trung Phú thôn cổ tự chỉ” được sao chép vào năm Khải Định 4 (tức1919), dựa vào một bản gốc do xã đệ trình Ở cuối bản sao, có chữ ký củaQuản bạ Lê Văn Thiệu là trưởng thôn, và nhận thực của Lý trưởng ĐoànXuân Mai là cháu xa đời của họ Đoàn
Tập bản sao này hiện được tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu
Hán Nôm, mang ký hiệu AHa1/2, và trong cuốn Di sản Hán Nôm Việt Nam
– Thư mục đề yếu - Bổ di I, do Trần Nghĩa chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội
– 2003, có giới thiệu sơ bộ (xem Quyển Hạ, mục sách 2155) Trong sách
Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu do Trần Nghĩa và Francois
Gpos đồng chủ biên, cũng có giới thiệu một cuốn Đoàn Thị thực lục, nhưng
đây là sách riêng của H Maspero, hiện tàng trữ ở Thư viện Hiệp hội Châu
Á, Paris, mang ký hiệu Paris SA HM 2112 Ở Viện Nghiên cứu Hán Nômkhông có sách này
2.1.2 Tình trạng văn bản
Văn bản chép tay, khổ giấy 27cm x 16cm, 100 tờ, mỗi tờ 2 trang,mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng xấp xỉ 20 chữ Hán viết chân phương
Trang 20Tờ 1a chính giữa trang sách có dòng chữ “Hưng Yên tỉnh, Giai Phạm
xã, Trung Phú thôn cổ tự chỉ” được viết bằng nét chữ to, ở giữa có chuadòng chữ nhỏ “Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng”, có nghĩa đây là tập giấy tờ
cũ ở thôn Trung Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tổng Yên Phú, tỉnhHưng Yên” Bên trái của trang sách ghi dòng chữ nhỏ “Cổ Hiến Phạm xã,thuộc Kinh Bắc xứ, Thuận An phủ, Văn Giang huyện = xưa thuộc xã HiếnPhạm, thuộc xứ Kinh Bắc, phủ Thuận An, huyện Văn Giang” Đây lànhững gì được ghi ở tờ đầu tiên, mặt trước của tập sách
Tờ 1b ghi : “Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, cổ tự chỉ” đây là dòngchữ tiếp nối, cho biết xuất xứ của tập văn bản Tiếp đó, ngay phía bên trái
là mục lục của tập sách gồm các tiêu đề :
- “Hoàng Lê Ngọc phả = Ngọc phả triều nhà Lê”, phía dưới chua dòng chữ nhỏ, viết thành hai hàng (lưỡng cước chú): “Cảnh Hưng ngự chế
tự tính phả hệ = Bài tựa của vua Lê Cảnh Hưng và phả hệ”.
- “Lê Hoàng ấn kiếm thực lục = Thực lục ấn kiếm của nhà Lê”.
- “Đoàn Thị thực lục = Thực lục về họ Đoàn”, phía dưới ghi dòng
chữ nhỏ, viết thành hai hàng “do Hồng Hà Đoàn phu nhân Thị Điểm lượcphả tính di văn = gồm gia phả tóm lược của Hồng Hà phu nhân Đoàn thịĐiểm và phần văn chương còn để lại của bà”
Tờ 2a ghi tiếp mục lục của tập văn bản :
- “Lam Sơn cổ tích lưu thanh sách = Chuyện cổ Lam Sơn lưu sử
xanh”
- “Hoàng Lê Ngọc phả ký tập = Tập ngọc phả của vua Lê”.
- “Kiếm thủy kim truyền ký phả văn = Bài văn phả ký còn truyền đến
nay về hồ Hoàn Kiếm”
Phía dưới trang 2a có dòng chữ nhỏ viết thành 5 hàng, mỗi hàng có 3chữ: “Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, viễn tôn đẳng, bái thủthư = Con cháu xa đời ở thôn Trung Phú, xã Giai Phạm, tổng Yên Phú kínhchép”
Trang 21Tờ 2b là phần chính văn, bắt đầu bằng Hoàng Lê Ngọc phả ký tập từ
tờ 2b đến tờ 24b Dưới tiêu đề có ghi dòng chữ “Ngự chế Ngọc phả ký tự =
Bài tựa của Ngọc phả ký, do nhà vua soạn”
Phần chính văn Hoàng Lê Ngọc phả ký tập được viết bằng chữ to,
phần “lưỡng cước chú” viết bằng chữ nhỏ Và để tỏ ý tôn kính, các chữ
“trẫm”, “tổ”, “thánh”, “thần”, “hoàng” đều viết nhô cao lên (đài đầu) so vớicác dòng chữ còn lại
Các tờ 5b, 6a, 6b phía đầu trang sách là 3 dấu bảo ấn, hình vuông,với 4 chữ “sắc mệnh chi bảo”, viết theo kiểu “triện thể”
Tờ 7a ghi 4 chữ lớn “Thần kiếm hình trạng = Hình dạng của kiếmthần”
Tờ 7b vẽ hình lưỡi gươm thần với 4 chữ “Lê Lợi thuận thiên = LêLợi thuận theo ý trời” “Thuận thiên” còn là nien hiệu của Lê Thái Tổ (LêLợi) được viết ở phần mũi và chuôi kiếm Xung quanh chiếc kiếm thần là 4chữ “Thần kiếm hình trạng = Hình dạng lưỡi gươm thần” cũng được ghibằng triện thể
Từ tờ 8a, dòng 2, đến trang 14b là Hoàng Lê Ngọc phả ký tập, phần
này ghi tên tự, tên huý của các vua triều Lê
Từ tờ 14b đến tờ 17b là “Mỹ tặng vương thụy phi thụy tập ký =Những mỹ tự tặng cho cha, mẹ của các vua”
Từ tờ 17b đến tờ 24b là “Hoàng Lê Ngọc phả tương truyền thế hệ
chi đồ = Sơ đồ về thế thứ các đời của dòng họ vua nhà Lê”.
Phần thứ hai của tập sách là Đoàn Thị thực lục bắt đầu từ tờ 24 đến
tờ 100 Phần này bao gồm:
- Hồng Hà phu nhân gia phả.
- Hồng Hà phu nhân di văn.
- Hồng Hà phu nhân truyện.
- Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký.
Trang 221.Hồng Hà phu nhân gia phả (từ tờ 24 đến tờ 53) : Được viết bằng
chữ to, kèm theo một số lưỡng cước chú
2.Hồng Hà phu nhân di văn (từ tờ 53 đến tờ 95) : Tiêu đề Hồng Hà
phu nhân di văn được viết bằng chữ to, phía trên của mấy chữ “Hồng Hàphu nhân di văn” là hai chữ “Phụ biên” (biên chép thêm vào) Phần nàygồm thơ, văn, câu đối chép lẫn lộn, không tách hẳn theo từng thể loại
3.Hồng Hà phu nhân truyện (từ tờ 95a đến tờ 96a) : Phía dưới dòng
chữ lớn “Hồng Hà phu nhân truyện” là dòng cước chú chữ nhỏ “NguyễnCông Kiều á phu nhân = Bà vợ thứ (Đoàn Thị Điểm) của Nguyễn Kiều”
4.Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký (từ tờ 96a đến tờ
98a) Ở đây, dưới tiêu đề tấm bia “Lê triều Thái học sinh Dương Kính tiênsinh bi chí” là bài văn và bài minh do các môn nhân của Đoàn Doãn Nghisoạn Cuối bài văn bia là tên những người học trò đã khởi công (Đào DuyDung, Nguyễn Đình Dung), góp kinh phí (Vũ Đình Huyên…tất cả 9 người)
và soạn bài văn bia
Tờ 100a cuối tập sách có 4 hàng chữ:
- Hàng thứ nhất: “Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, cổ
tự chỉ = Cổ tự chỉ ở thôn Trung Phú, xã Giai Phạm, tổng Yên Phú”
- Hàng thứ hai: “Khải Định tứ niên bát nguyệt sơ lục nhật thừa pháihồi sao cứ kiến xã nội đệ tường phụng sao tập thành nhất bản = Vào ngày 6tháng 8 năm Khải Định thứ tư (tức năm 1919) phái viên (của Học việnViễn đông bác cổ Pháp tại Hà Nội) về tận địa phương sao chép, theo vănbản do xã cung cấp, thành một tập)
- Hàng thứ ba: “Lê tộc trưởng tôn quản bạ Lê Văn Thiệu ký = Ngườigiữ tài liệu là Lê Văn Thiệu, cháu đích tôn của dòng họ Lê, ký tên”
- Hàng thứ tư: “Thừa nhận thực Đoàn tộc viễn tôn Lý trưởng ĐoànXuân Mai = Người nhận thực là Đoàn Xuân Mai, cháu xa đời của họĐoàn”
Trang 232.1.3 Nội dung văn bản
Sau khi hiểu rõ tình trạng văn bản, chúng ta hãy đi vào nội dung từngphần trong tập sách
Để tiện theo dõi, ta có thể chia văn bản ra làm hai phần chính:
- Hoàng Lê Ngọc phả ký tập
- Đoàn Thị thực lục
Sau đây là nội dung cụ thể của từng phần:
1.Hoàng Lê ngọc phả ký tập: Đây là bản phả ký của các vua nhà Lê,
bắt đầu từ Lê Thái Tổ dấy quân dựng nghiệp, thu nạp tướng sỹ, đến sự tíchlưỡi gươm thần và câu chuyện trả lại thanh kiếm (hoàn kiếm) của BìnhĐịnh Vương Lê Lợi Sự tích kể rất hấp dẫn, như việc Lê Thận người SơnNam, huyện Cổ Lôi (nay là huyện Lôi Dương tỉnh) khi theo Lê Lợi dựngnghiệp ở đất Lam Sơn, một đêm đánh cá vớt được một lưỡi gươm bằng sắtdài ba phân, rộng hai tấc, dầy ba phân và việc “đầu quân” của ông
Ngoài ra, cũng từ Hoàng Lê Ngọc phả ký tập, ta có thể lần đầu nhìn
thấy hình vẽ về chiếc bảo ấn “Sắc mệnh chi bảo” của vua Lê; một hình vẽ
về “thanh gươm thần” của Bình Định Vương Lê Lợi; cùng bản sơ đồ(nhưng cũng khá tường tận) về thế thứ các dòng, các chi thuộc tộc họ củanhà Lê, trong đó có ghi chép cả ngày sinh, ngày giỗ của từng người cũngnhư vương hiệu, thụy hiệu…của họ, kể cả người hôn phối cùng họ
Những ghi chép này khả dĩ bổ sung cho chính sử
Phần Ngọc phả nhà Lê sở dĩ được đưa vào làm “mào đầu” cho Đoàn
Thị thực lục, là bởi lẽ như bên dưới ta sẽ thấy, họ Đoàn vốn dĩ từ họ Lê
tách ra, nên kể về gốc gác thì họ Đoàn là hậu duệ của họ Lê, của Lê Trừ, Lê
Lợi…nghĩa là Ngọc phả nhà Lê xuất hiện trong cùng sách với Đoàn Thị
thực lục là có lý do sâu xa của nó, chứ không phải ngẫu nhiên.
2.Đoàn Thị thực lục: Trong Đoàn Thị thực lục có bốn mục khác nhau chia làm a, b, c, d Riêng nội dung phần b là Hồng Hà phu nhân di
Trang 24văn được trình bày rõ ở phần sau Còn 3 phần a, c, d sẽ được trình bày cụ
thể như sau:
a.Hồng Hà phu nhân gia phả (Tập gia phả của dòng họ Hồng Hà phu
nhân, tức Đoàn Thị Điểm) : Tập gia phả này do người con rể của ĐoànDoãn Y là cháu rể Đoàn Doãn Luân (anh rể Đoàn Thị Điểm) biên soạn.Trước hết, tác giả kể chuyện thuỷ tổ họ Đoàn từ họ Lê đổi thành Điều này
như trên kia từng nói, giải thích tại sao đầu tập sách lại là Hoàng Lê Ngọc
phả ký tập Tiếp đó, gia phả chép từ cụ 9 đời của Đoàn Thị Điểm là Lê
Phúc Lâm đến các thế hệ sau Gia phả nêu chi tiết nguồn gốc của dòng họ
từ cụ 5 đời là Lê Công Nẫm, được chân lao dịch, do cần cù chịu khó, đượcquan trên tin dùng, trải làm đến chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tháithường tự thiếu khanh, tước Thiên Hào Tử Lê Công Nẫm sinh Lê Công
Vị ; Lê Công Vị sinh Lê Doãn Nghi - thủy tổ về văn học của dòng họĐoàn
Gia phả đi sâu vào cả cuộc đời và sự nghiệp của Đoàn Doãn Nghi cùngcon cháu của ông Từ việc mô tả dáng vẻ khoáng đạt, phong cách tự tại, nếtchăm chỉ học hành của Doãn Nghi hồi còn nhỏ, đến công lao của người mẹDoãn Nghi trong việc nuôi dưỡng, chăm chút và kỳ vọng ở con như thếnào, đây là bước chuẩn bị khá tốt để Doãn Nghi vào đời Ở đây cũng giảithích rõ tại sao tới Doãn Nghi, họ Lê lại đổi thành họ Đoàn : Doãn Nghi thimãi không đỗ, một hôm nằm mơ thấy thần bảo nên đổi họ thành “Đoàn” thì
có thể làm nên sự nghiệp lớn Ông làm theo lời thần và đã thi đỗ trong kỳthi sau đó
Sách còn kể lại cuộc hôn nhân giữa Doãn Nghi với người vợ sau (bà
họ Vũ), từ đó sinh ra Đoàn Doãn Luân và nhất là Đoàn Thị Điểm - người
đã làm vẻ vang cho dòng họ Đoàn và cho cả lịch sử văn học Việt Nam nóichung, dòng văn học thế kỷ XVIII nói riêng
Gia phả đã dành một dung lượng khá lớn để chép về Đoàn Thị Điểm,nhân vật chính của tập sách Với tư chất thông minh từ bé cộng với nền
Trang 25giáo dục, giáo dưỡng của gia đình, cụ thể là mẹ và bà ngoại, Đoàn ThịĐiểm sớm hình thành một nhân cách, một văn phong riêng để làm nênnhững tác phẩm văn học có giá trị sau này Gia phả đã chép lại những câuđối sắc sảo giữa hai anh em bà cùng sự thông minh ứng xử của bà trongcuộc sống hàng ngày, tài tháo vát nội trợ để chèo chống gia đình khi cha vàanh đều qua đời, để lại gánh nặng cho bà với muôn vàn khốn khó bởi cuộcsống hàn sỹ không màng danh lợi mang lại.
Tập sách cũng kể về cuộc hôn nhân muộn màng của Đoàn Thị Điểmvới Tiến sỹ Tả thị lang Nguyễn Kiều quê làng Phú Xá, huyện Từ Liêm (naythuộc ngoại thành Hà Nội), người mà Đoàn Thị Điểm rất khâm phục cả vềtài năng lẫn đức độ
Đọc Hồng Hà phu nhân gia phả, có thể thấy được bức tranh sinh
động về cuộc sống của Đoàn Thị Điểm và gia đình bà những năm đầu củathế kỷ XVIII Nó không chỉ đơn thuần là một tập gia phả với ngày sinh,ngày mất cùng các tên thụy, tên hiệu như những tập gia phả khác, mà ở đâycòn phản ánh được phần nào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thời Lê mạtđầy rối ren, bất ổn mà Đoàn Thị Điểm và những văn sỹ có tài thời này đangnếm trải
Trong gia phả, ngoài việc nói đến sự xuất thân cũng như gia thế củadòng họ Đoàn, tính cách, tư chất của Đoàn Doãn Luân, sự thông minh sắc sảocủa Vũ Thị - mẹ của Hồng Hà phu nhân, ta còn thấy có các bài văn tế sau:
Văn tế Doãn Luân Công văn (bài văn tế anh Đoàn Doãn Luân) Đây
là tác phẩm do Đoàn Thị Điểm soạn Lời văn rất thống thiết, bi ai, phản ánh
sự tiếc thương và đau đớn vô hạn của người em gái đối với người anh trai
có tài nhưng chết trẻ, cùng những tình cảm sâu sắc không có gì thay thếgiữa hai anh em Bài văn diễn tả nỗi vất vả, gánh nặng gia đình mà bà phảigánh vác sau khi người anh qua đời Tình cảnh người chị dâu có hai connhỏ bơ vơ giữa cảnh đời cay cực, người em gái không thể không chia sẻ…
Trang 26Chúng tử trung đồ văn: Đây là bài văn của các người con Nguyễn
Kiều tế Đoàn Thị Điểm trên đường đưa linh cữu về quê
Ngu tế văn: Đây là bài văn của Nguyễn Kiều tế vợ là Đoàn Thị
Điểm, đọc vào lễ hạ thuyền đưa linh cữu về quê nhà Hưng Yên Bài văn tế
là lời kể thống thiết của người chồng đối với người vợ mà ông yêu mến.Lời văn thể hiện rõ sự thương tiếc và tôn trọng của người chồng đối vớingười vợ có tài nhưng mệnh bạc
Hạ thuyền trung đồ chúng thiếp tế văn : Đây là bài văn của các
người thiếp Nguyễn Kiều tế Đoàn Thị Điểm, đọc vào lúc làm lễ hạ thuyền
Gia phả cũng dành một số trang thích đáng để nói về người cháu ruộtgọi Đoàn Thị Điểm bằng cô, đó là Đoàn Lệnh Khương, một người phụ nữ
có tài, có sắc nhưng kém về năng lực so với người cô ruột của mình Ở đây
có cả những câu đối kể về công lao của Đoàn Lệnh Khương, do người con
rể của Đoàn Doãn Y, em ruột của Đoàn Lệnh Khương chép lại Ngoài racòn có bài văn của Đoàn Doãn Y tế người anh rể Nguyễn Xuân Huy (tứcchồng của chị mình là Đoàn Lệnh Khương phu nhân) cũng là người bạnlớn tuổi thuở nhỏ của ông Bài văn tế với lời văn tế súc tích đã thể hiệnđược tình cảm của những người bạn thân thiết quý trọng nhau
Phần cuối Hồng Hà phu nhân gia phả chép về sự luyến nhớ của
người em rể (chúng tôi chưa biết được tên thật) của Đoàn Doãn Y đối vớinhững nhân vật kiệt xuất của họ Đoàn mà ông vô cùng kính phục, và đâycũng là một trong các lý do thôi thúc ông thu thập tư liệu để biên soạn tập
gia phả Đoàn Thị thực lục này.
c Hồng Hà phu nhân truyện (Truyện của Hồng Hà phu nhân) : Phần
này chép về Đoàn Thị Điểm là vợ kế (á phu) của ông Hạo Hiên Nguyễn
Kiều, và là em gái của Đoàn Doãn Luân Ở Hồng Hà phu nhân truyện có nói đến Đặng Trần Côn, tác giả Chinh phụ ngâm bằng Hán văn và tương
truyền người diễn Nôm là Đoàn Thị Điểm, trong khoảng thời gian NguyễnKiều đi sứ Trung Quốc ba năm
Trang 27d Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký (Văn khắc trên bia
mộ cha Hồng Hà phu nhân) Bài văn bia chép Đoàn Doãn Nghi vốn họ Lê,sau đổi thành họ Đoàn, người xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, phủ ThuậnYên (Châu), tỉnh Bắc Tổ tiên là người có công, làm quan đến chức Đặctiến kim tử vinh lộc đại phu, Thái thường tự thiếu khanh, tước Thiêm Hào
Tử Có người vợ đầu là Nguyễn Thị, sinh một gái Đoàn Thị Quỳnh, mộttrai Đoàn Doãn Sỹ
Người vợ thứ hai là Vũ Thị, con Thái lĩnh bá họ Vũ, người làng VũĐiện, huyện Nam Xương Vũ Thị sinh hai con là Đoàn Doãn Luân và ĐoànThị Điểm Văn bia kể về công trạng của Đoàn Doãn Nghi, tính cách và tưchất thông minh cũng như lòng mến mộ của học trò đối với ông
Cuối bài văn bia là danh sách những môn nhân đã đóng góp kinh phí
và tổ chức việc dựng bia
2.2 Giới thiệu Hồng Hà phu nhân di văn
Hồng Hà phu nhân di văn là một tập hợp những sáng tác của Đoàn
Thị Điểm do một người cháu rể của Đoàn Thị Điểm sưu tầm được, gồm 65tác phẩm được sắp xếp một cách lộn xộn gần như gặp đâu chép đấy Nhữngsáng tác này gồm nhiều thể loại, chủ yếu là thơ, văn, câu đối, viết theonhiều chủ đề khác nhau Có thể thấy số di văn này được tác giả làm trongnhiều trường hợp khác nhau : cảm tác, thù ứng, xướng họa, viết hộ chongười khác…
Sau đây là bảng thống kê toàn bộ tác phẩm của Đoàn Thị Điểm trong
Đoàn Thị thực lục Các tác phẩm sẽ được sắp xếp theo thể loại Trong mỗi
thể loại, tác phẩm được liệt kê theo trật tự số tờ, trang của văn bản
Trang 28
Hoạ của ĐTĐ
Viết cho mình
Làm
hé cho người
1 Văn -Phụng nghĩ bản đình
đệ niên nhập tịch kỳphúc tàng câu ướcthúc mục lục bảngvăn
Từ tê53-56
2 -Tế huynh Doãn Luân
Công văn
3 Đại nghĩa hạ hiệp trấn
quan trướng văn
6 -Đại nghĩ bái hạ tham
đốc quan cẩm hồi tỉnhthân ngũ luật
Trang 2911 -Đại huynh phụng cựu
Đông Triều huyệnquan thi nhị luật
Trang 31- Đại dữ nhân thông
Trang 3266 - Câu đối với anh
Đoàn Doãn Luân
Dưới đây là phần phiên âm, dịch nghĩa một số tác phẩm tiêu biểu của
Hồng Hà phu nhân trong Đoàn Thị thực lục.
1.Phụng nghĩ bản đình đệ niên nhập tịch kỳ phúc tàng quy ước thúc
mục lục bảng văn (tờ 53b)
Lạc hữu tàng quy chi hý tòng lai dĩ hỹ Hán Vũ tỵ chi lịch đại vĩ chi
dĩ hài thần nhân hòa cao hạ nhi thọ Quốc mạch ư vô cương, tụng thánh đức ư vô ký dã Duy ngã chi hương sơn nhạc trữ tinh càn khôn chung khí quyết nê đồ, quyết phần nhưỡng ốc dã phì nhiêu, bất hoát cốc, bất cương lăng, địa hình thản dị lê tắc cốc thúc mạch chủng chủng nghi hữu nghi, tuỳ
hạ tuỳ cao, kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ, phong phong kỳ vưu kỳ nhất phục nhất khởi Thử nãi Thuận Văn cảnh trung chi đệ nhất thắng địa giả dã
Trang 33Kỳ trung tắc bối xuất giai nhân vấn sinh nhan sỹ, nam tắc vũ bị túc đĩnh triều đình lương đống chi tài, nữ tắc sắc hành kiêm ưu, liên vương tướng tần phi chi quý Thương cổ giả hoài Bão Thúc chi liêm phong công nghệ giả chiêm Ninh Phong chi diệu kỹ Hữu nghĩa mai nhân lỗi tiêu dao tân dã đẳng, công danh nhị tự bất nhất nhập tâm Hữu phong soa vũ lạp điều đệ Đào Nguyên văn thị phi bán điểm tất song yểm nhĩ Thử ngã hương chi địa linh nhân kiệt phẩm đề bất tận, nhi phi khả số kỳ nhất nhị dã Kỳ tục tắc sùng trọng lễ văn ưu du đạo lý, các an sở ngộ bần vô siểm, phú vô kiêu Doãn diệp vu trung văn bất hoá chất bất lý, ngũ thân tắc hữu thân hữu nghĩa, hữu biệt, hữu tín, thuỷ chung tại tư, đán tịch tại tư Tứ lân tắc tương bảo, tương trợ, tương tuất, tương chu Tạo thứ ư thị điên bái ư thị thử, hựu ngã hương chi dân thuần tục hậu nhi ư Hiến Phạm chi danh vi vô quý dã
Nhĩ lai, nhất thốc tân đình, nhưng tiền cựu chỉ, hữu phương ấn liệt
kỳ hình, tiền trường khê, dẫn kỳ thuỷ y nhiên thần lực, bất tu Dương Liêu chi minh, uyển nhược thiên thành, kê giả Ly Lâu chi trí Thập nhị lan can khuất khúc, lưu minh nguyệt ư thiềm đầu, tứ bát song hộ linh lung, nạp thanh phong ư tụ lý Tức chi giả, bất cẩm nhi cẩm, thanh hoàng xích bạch, liễu chiếu giao huy; vọng chi giả, tự sơn phi sơn, kỷ tân ngạnh nam, sâm si tịnh tri, ư thị đình nội khai nhan tịch trung tự xỉ nãi tiếu đàm nhi tương vị viết Thanh xuân bất tái lai, nhân sinh quý thích chí, tam nhật vu mai, tứ nhật cử chỉ, lưỡng thời nông sự ân tư cần tư, trú nhĩ vu mao tiêu nhĩ sách đào chung tuế dự mưu, hoàng chỉ, lao chỉ Cố bạch câu quá khích tống quan gia hận tuế nguyệt chi bất lưu nhi bỉnh chúc dạ du lý trích tiên trướng xuân hoa chi vô cơ
Thẩn kim xuân lệnh cáo thôi hạ thiên ngôn chí liên hồng phô diễm hàm hoa ngư tử hý hành nhân liễu lục thuỳ âm lộng ảnh kim thiền hoán du
tử đối thử lương thần hảo cảnh khả bất cập thời hành lạc dĩ biểu thăng bình chi thịnh sự hồ Vu tư thời hề, bốc hiệp cát quyện, tứ trần la y, tập
Trang 34đoan đoan hạo hạo chi giai nhân, tổng giản giản hồng hồng chi danh kỹ Mấn ủng Vu Sơn, quần phao Tương Thuỷ, đả ban phục sức tiên nghiên, mi khai tân nguyệt, mục trạm thu ba, trang điểm tư dung minh mỵ Diệu vũ giả, lộng khinh nhu như giáng thụ Tiện đương triền cẩm chi xa thanh ca giả hài luật lữ, nhược thiền sầu khởi ái thúc lăng chi phí lưu thuỷ cao sơn cầm âm tuyệt diệu, chung kỳ phục hưng, nhĩ bất phương đan xuyên sơn liệt thạch thạch địch vận du dương Cổ khách cánh sinh Nhĩ hà lận xuy
Hu giai bách nhĩ hương lân diệc các nhất tuân lễ ý tọa yết đường nhân minh huấn hảo lạc vô hoang thân thư hữu nhược cách ngôn dĩ hoà vi quý tiên bàn hậu bàn hiến thù giao thố đức tương mạc chí đê ngang, tả giáp hữu giáp ẩm tửu tương hoan lễ tiếp vật sinh ngã nhĩ như thử tắc khoan hề xước hề bất vi ngược hề Phú hỹ tịch hỹ hựu gia giáo hỹ Tuy yến
du chi trung diệc hữu khả hoan tiện thị cổ tiên vương nhân lý kỳ vi phong hoá chi trợ Khởi bất ý tai, lão ấu đồng từ viết Duy nhân bả tiền cơ đinh thuyết thoại phó công thư sao bảng yết vu đình trung dụng nghiêm ước nhĩ Dịch nghĩa
Làm thay mục lục bảng văn trò chơi tàng quy ước thúc cầu phúchàng năm của đình ta
đỗ, kê, ngô đều thích hợp, tuỳ nơi cao nơi thấp mà gieo trồng Các ngọn núikim, mộc, thuỷ, hoả, thổ ngọn thì thấp xuống, ngọn lại nhô lên trông rất kỳ
lạ Đó chính là nơi thắng địa bậc nhất của vùng Thuận Văn
Trang 35Trong đó nơi làng xã sinh giai nhân, ngạn sỹ Nam thì văn võ gồm
đủ, có tài năng, là lương đống của triều đình Nữ thì có sắc đẹp, đức hạnh,tựa vương tần phi tướng Người buôn bán thì ôm phong độ thanh liêm củaBão Thúc, thợ thủ công thì chiếm được kỹ thuật tuyệt xảo của Ninh Phong
Có người mang bừa Nghĩa vác cày Nhân đi lại thong dong trên cánh đồngHữu Sằn, hai chữ công danh không chút bận tâm, có người khoác áo tơi,đội nón lá qua lại chốn Đào Nguyên, nửa tiếng thị phi không hề lọt tới Đâychính là quê hương ta địa hình nhân kiệt, phẩm đề bất tận, được xếp thứnhất thứ nhì nơi đây Phong tục quê hương ta coi trọng lễ nghĩa, đạo lýđược giữ gìn Các nhà trong làng thấy nghèo không chê, giàu không kiêu.Năm nhà thì có thân, có nghĩa, có biệt, có tín, thuỷ chung như nhất, sớm tối
có nhau Các nhà hàng xóm ở liền nhau thì bảo vệ nhau, yêu thương đùmbọc nhau, tạo thành vùng dân cư sống đẹp, theo lễ nghĩa ở nơi này Quêhương ta thật là nơi phong tục thuần hậu, phong tục phồn thịnh xứng đángvới tên làng là Hiến Phạm mẫu mực, quả là không hổ thẹn về điều đó
Gần đây có một khu đình mới được xây dựng trên nền đất cũ, bênphải có hình chiếc ấn vuông, mặt trước có con suối dài, vẫn có sức thần,không đợi sự sáng suốt của Dương Liêu, hệt như tay thánh, nào cần đến trítuệ của Ly Lâu Khu đình có mười hai lan can gấp khúc, lưu lại ánh trăngsáng ở đầu thềm Bốn mái tám cung ánh sáng lung linh, thu nạp gió mát.Cảnh đẹp không phải gấm mà như gấm : xanh, vàng, đỏ, trắng lấp lánhgiao hoà ánh sáng, ngắm nhìn thấy không phải núi mà như núi, các cànhcây liễu thị đan chéo nhau ở trên đó Trong đình các vị trưởng lão phântheo cấp bậc cười nói mà rằng Tuổi xuân trôi đi không trở lại, đời ngườiquý nhất là được thoả chí của mình Ngày mồng ba sửa sang dụng cụ, ngàymồng bốn xuống ruộng cày bừa Nông vụ hai mùa lo lắng chăm chỉ Buổisáng đi cắt cỏ tranh, buổi tối ngồi đánh tranh, suốt năm bận rộn không lúcngơi tay Cho nên có câu: Bóng ngựa trắng đi qua kẽ hở, thời gian thấm
Trang 36thoắt Năm tháng trôi qua nhanh không dừng lại mà đang đêm đốt đuốc đichơi Nhớ khi xưa Lý trích tiên thường chơi đây đó
Huống chi tiết xuân vừa qua, tiết hạ lại đến, sen hồng phô sắc, cá contung tăng dưới nước ngậm hoa thoả thích cùng người, liễu xanh rủ bóng,chuồn bay la đà soi bóng nước Cảnh nô đùa bên bờ nhộn nhịp, nét mặt hânhoan, sắc hè tươi mới, thật là cảnh đẹp không gì sánh bằng, vui chơi thoảthích, cuộc sống an bình thịnh vượng Bấy giờ chọn ngày tốt, phô bày lụa
là, tụ tập những cô gái đẹp, trắng trẻo, đoan trang và các danh kỹ thướt tha,rực rỡ Tóc búi lại như núi Vu, quần phấp phới trên sông Tương, ăn mặctrang điểm rất tươi đẹp, lông mày nhọn cong như mảnh trăng non, đôi mắtbiếc xanh như làn thu thuỷ, vẻ đẹp rạng rỡ, tươi tắn Người múa giỏi trôngnhẹ nhàng, mềm mại như cành non, đáng được thưởng nhiều gấm vóc.Người hát hay hợp luật lã, tiếng lanh lảnh như ve ngân, đâu tiếc gì lụa đẹpban khen, tiếng đàn tuyệt diệu, gây khúc lưu thuỷ, cao sơn, đã có Chung
Kỳ sống lại xin chớ ngừng đàn Tiếng sáo du dương vang điệu xuyên sơnlập thạch, đã có Cổ Khách phục sinh, xin đừng ngừng thổi…
Than ôi, trăm nhà ở cạnh nhau, làng xóm ân cần đùm bọc nhau, đềutuân theo lễ ý chân thành, ngày vui giở sách cùng xem lời giáo huấn ngườixưa để lại làm rạng ngời tổ tông, sống vui vẻ mà không hoang độ, truyềnnhau câu cách ngôn : Dĩ hòa vi quý, lấy sự vui vẻ hoà thuận làm trọng, nhà
ở cạnh nhau có việc cùng bàn, trước sau đoàn kết vui vẻ, cùng chung chénrượu, sống có đức mà chẳng phân cao thấp Bên tả, bên hữu uống rượucùng vui bàn về lễ nghi, lẽ sống cuộc đời, tất cả như thấy được cuộc đờisống vui vẻ khoan từ, nhân thứ Cảnh giàu sang, cảnh vui vẻ lại gia thêm sựgiáo dưỡng của cha ông để lại Tuy trong lúc vui chơi cũng có thể thấyđược sự trợ giúp phong hoá của trời đất, sự giúp sức nhân đức của các vị tổtiên Sao có thể không thấy nhu ý của các vị đời trước để lại cho con cháu.Ngày hội vui vẻ lão ấu đồng từ : Nhân có công đức tổ tiên để lại mà con
Trang 37cháu được hưởng phúc lớn, xin được ghi chép, niêm yết trong đình để mọingười cùng xem.
2.Phụng nghĩ bản đình phụng sự đối liên văn (tờ 56a)
Nộ trần dục đảo tam giang thuỷ,
Tồn lý không dư bách chiến thành.
Tùng thụ sương nghiêm hoài lý thao,
Giang lưu ba kích nộ trần thanh.
Thập bát chiến hùng uy bắc cảnh đông cương thiên cổ,
Thất thập từ hiển thánh trần tiền lý hậu nhất nhân.
Để trụ ngật đồi ba vạn cổ cương thường tâm hữu lý,
Tật phong tri kình thảo nhất thiên qua kích mục vô trần
Tam quan môn trụ
Thanh miếu tuế thời hương lăng hoả bất quan cánh hoán cục,
Trang 38Hồng châu kim cổ lộ cương thường xúc khởi kính lai nhân.
Dịch nghĩa
Phụng sự bản đình làm thay câu đối văn
Khí phách nhà Trần vang dội sóng nước Tam Giang,
Trường tồn nhà Lý không còn lại thành Bách Chiến
Trồng thông sương treo cành cây chí khí nhà Lý còn mãi,
Sông chảy sóng cồn khí phách nhà Trần còn vang
Mười tám trận chiến cảnh phương bắc uy nghi, cương vực phươngđông lừng lẫy chiến công còn lưu danh muôn năm,
Bẩy mươi miếu đền rạng danh công đức thánh hiền một nguời trướcTrần sau Lý
Dựng cột đá vững mới biết sóng cường, đạo cương thường muônnăm bền vững, trong lòng thờ nhà Lý,
Gặp trận gió lớn mới biết sức cỏ nào cứng cỏi, cả trời gươm giáosáng loà, trong mắt không có nhà Trần
Cung kính dâng lên án thư
Bản đình từ trước đến nay chuyên thờ tự, cúng tế Đây là miếu thờtướng quân họ Đoàn, cô thần triều Lý, anh hùng lẫm liệt, chính khí kiêncường Tương truyền tướng quân một lần đánh trận thất bại ở xứ Đồng Đao(xã An Phú, thuộc bản tổng), đầu chưa chặt đứt, một sợi dây mũ buộc vàolưng ngựa, ngựa xông lên một dặm đến xã An Nhân (thuộc huyện ĐườngHào), ngài hiển tiết nơi đất này Dân lập miếu hương hoả, mỗi khi gió tàntrăng xế, bốn bề lặng ngắt, khí thiêng phát hoả, ánh sáng rừng rực, trônggiống như một đám cháy lớn, phát sáng cả một vùng Từ đó dân dựng miếuthờ ngài nơi đây, trải qua các đời từ Lý đến Lê, gặp nhiều biến thiên cuộcđời miếu vẫn trường tồn, không bị mất đi, điều đó có được do tướng quân
có chí khí kiên cường, trung thành, một lòng thờ vua nên được hiển tiết Từkhi Hồng Hà phu nhân (Hồng Hà họ Đoàn, huý Điểm, tên chữ là Hồng Hà,
là con gái thứ của Doãn Nghi công đỗ giám sinh thời Lê, em gái Doãn
Trang 39Luân công đỗ giải nguyên xứ Kinh Bắc) đề phụng câu đối này, sau đókhông thấy linh khí phát hoả lên nữa, không còn thấy hiện trên đời, truyềnrằng do văn chương của Hồng Hà đã nói được tâm sự của ngài Cho nênkhi nghe nói đến chuyện này, trong dân gian vẫn truyền tụng truyền thuyếtnày, lời nói trong dân gian chưa biết là hư hay thực, nhưng quả thật vănchương hay đến nghìn đời vẫn còn học, quỷ thần cũng phải kinh sợ.
Đề cửa Tam quan
Miếu thanh tịnh tháng năm hương hoả, cuộc đời thay đổi, miếu vẫntrường tồn cùng thời gian,
Xứ Hồng Châu đạo cương thường xưa nay nối tiếp mãi đời sau
3.Tế huynh Doãn Luân công văn (tờ 57b)
Ô hô nhạn trận kinh hàn, vọng Tiêu, Tương nhi thống khấp ;
đường hoa ngộ vũ, trắc cương lĩnh dĩ đốt ta Hà hạo thiên chi bất điếu nhất chí vu thị dã ? Thống duy ngô huynh sinh lai hàn tố chí lệ trác ma Học quan cổ kim, đối thời nhân nhi vô quý ; thuật cùng thiên địa, dữ tiền triết nhi đồng khoa Bất hạnh mệnh đồ suyễn bác, đạo thống khảm kha Triết nhân kỳ uỷ xuân đường thệ kỳ huynh ẩn ưu nhi cương trường giai liệt huynh bi toan nhi huyết lệ tận thuỳ phụ mễ ủng xan (ủng tự nghi tác ung tự) sự mẫu ích kiên ư hiếu hạnh, thương bần ai đạo, tiềm tâm bất hoặc kỳ Thời vận bất tề, cửu đới nho quan ư phủ tự, bất danh tịch thậm kinh khôi bắc đạo ư hoè vi
Phù hà tài tinh lạc độ, minh giám thất huy, nhất sinh chi văn tư khôi (nguyên tác khôi) kỳ, thổ yên vụ, thổ chu cơ hề, bất khả phục đổ, bán thế chi kinh tế, bão phụ khuất hoàng tuyền, khuất thanh thảo hề, bất khả thi Ngọc lâu ức tích hoạch thừa nhan muội, cửu ấp xuân phong chi hoà chiếu
tử lý nhi kim xuyền phản giá muội thất phù cảnh sắc chi thảm thê Y hy, y
hy, lân huynh giả muội, lân muội giả thuỳ ? Nhất tắc lân huynh chi công danh phương tiến, nhất tắc lân muội chi chung tiên vô y Khả thống giả.
Trang 40Tổ phụ đinh linh lãnh lạc, gia đình chưởng thượng minh châu hề, ký tào trụy phá, giai tiền ngọc thụ hề, cánh thất phô vinh, hàm di dĩ cung thất ngô huynh nhi sầu thương tuế vãn thực hoè dĩ vọng thất ngô huynh nhi niệm thiết gia thanh Huynh sở dĩ hữu phụ ư minh minh, vưu khả thống hận giả, mẫu thị thuỳ cung gia kế lũ không Dị cảm Bốc Thương chi lệ lạc, nan cấm Di Phủ chi tình chung, cận ỷ môn viễn ỷ lư, tư ái dĩ tuỳ thuỷ, nhật kiến xuất tắc nguyện, nhập tắc phục cù lao tận phó thuỷ lưu đông, thử huynh sở
dĩ ẩm hận nhi yêm chung tình chi thâm giả, hình bố cảo châm, cầm sắt đồng âm nhất trận bắc phong hề Phân bắc dực bách niên trường dạ hề, đoạn đồng tâm sức trướng thê ngâm Tam Hiệp mộng hồn kinh oán mộng thương giang y trở cửu lĩnh thâm xứ ủng sầu thâm thử huynh ư bàng bạc chi tế, khởi bất tưởng thuỳ biệt nhi niệm châu khâm tình chi thậm giả, kiều mộc ảnh thuỳ tử thụ vô y Viện tĩnh nhi oa oa khấp lệ sào không nhi á á thanh đề nhược nữ thuỳ điều, dữ mục tuyệt thuộc ly mao lý ấu nhi sơ học,
xu đình thuỳ giáo, hối lễ thi
Thử huynh ư tuyền nguyên chi hạ, khởi bất tưởng y bát nhi niệm cô khuê duy dư lưu nhan sắc ư nguyệt lạc ốc lương tương thức giả cử giai thống điệu tụ tinh thần ư di biên trần giản, môn sinh giả mạc bất thê hoàng Huống đồng bào chi chi muội cảm tâm xứ, xúc tâm mục xứ, kỳ hạt thắng thiên thảm vạn thương, đản hữu thể huynh chi tình, giáo điệt nữ dĩ tửu thực, thị nghị kế huynh chi chí, miễn ấu tử dĩ đức âm Khổng chương như thử tắc huynh chi linh, kỳ khả uý nhi muội chi thanh, kỳ khả thương bần hàn triệt cốt vô dĩ tự tương Đơn trầm nhất phiến, huyền tửu sổ bôi thống tai.
Thượng hưởng.
Dịch nghĩa
Than ôi ! Đàn én sợ rét, nhìn sông Tiêu, sông Tương mà gào thét :hoa lê gặp mưa, lên gò đống mà than thở Đến nông nỗi như thế này màtrời không thương sót Đau đớn thay anh sinh ra đã có chí nhà nho thanhbạch, cần cù chăm chỉ học hành vào bậc nhất xưa nay, đối với người đươngthời không chút hổ thẹn; học thuật sâu rộng, đỗ cùng khoa với nhiều vị hiền