1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã (qua thực tiễn tại huyện điện biên, tỉnh điện biên)

98 751 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 638 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt thời gian, Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2004 – 2009, bởi đây là quá trình bầu cử đại biểu Hội đồng nhâ

Trang 1

Tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ, tên đề tài: “Thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (Qua thực tiễn tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên)”

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Trong quátrình viết đề tài này, tôi đã sử dụng một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc và những thông tin trong văn bản của Nhà nước nhưng đã được chú dẫn

Công trình này chưa được tác giả công bố

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU

CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 10

1.1 Khái niệm, nội dung của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 101.2 Khái niệm, vai trò và các hình thức thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 211.3.Tiêu chí đánh giá và các yếu tố đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp

luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 36

2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Những yếu

tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội

đồng nhân dân cấp xã tại huyện Biên Biên, tỉnh Điện Biên 362.2 Thực trạng thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Biên Biên, tỉnh Điện Biên 382.3 Đánh giá việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 60

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 70

3.1 Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 703.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại

biểu Hội đồng nhân dân cấp xã 733.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu

Hội đồng nhân dân cấp xã 75

KẾT LUẬN 91

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp năm 1992 đã xác định bản chất của Nhà nước ta và phươngthức chủ yếu sử dụng quyền lực nhà nước của nhân dân Điều 2 Hiến phápnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm

2001) đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Tiếp đó, Điều 6 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Điều 4 Luật tổ chức Hội đồng đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đã ghi rõ:“Hội đồng nhân dân là

cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước và địa phương”

Với bản chất là một nhà nước có chế độ chính trị dân chủ, Nhà nước tađược sử dụng một hệ thống các phương pháp và biện pháp dân chủ rộng rãi để

tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Gần sáu mươi lăm năm qua, Nhànước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt Góp phần vào nhữngthành tựu to lớn đó không thể không kể đến vai trò của pháp luật bầu cử

Để bảo đảm sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước trong bối toàn cầu hóa, cần xây dựng chính quyền nhân dân thực sựvững mạnh, dân chủ, hiệu quả Nhận thức được điều đó, Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VI của Đảng đã xác định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực chất

Trang 4

của việc đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị” Thể hiện sự quyết tâm trong

việc kiện toàn hệ thống chính trị và phát huy dân chủ, nội Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IX Đảng tiếp tục chỉ ra nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, hoàn thiện những quy định về bầu cử, ứng cử, về tiêu chuẩn và cơ cấu các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ” [8.tr122 – tr12] Như vậy về mặt nhận

thức lý luận, việc đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị và phát huy dân chủtrong chế độ bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện đã và đang được Đảng tangày càng quan tâm

Tuy nhiên, việc phát huy dân chủ trong pháp luật bầu cử đại biểu các cơquan đại diện không chỉ là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật, mà còncần phải được thể hiện trong cả trong hoạt động thực thi pháp luật bầu cửtrong thực tiễn cuộc sống Vì thế, cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật bầu cử nói chung và pháp luật về bầu cử đại biểu hội đồngnhân dân cấp xã nói riêng cần phải tổ chức thực hiện tốt pháp bầu cử

Thực tế cho thấy việc thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật bầu cửđại biểu các cơ quan đại diện nói riêng trong thời gian qua có lúc, có nơi cònchưa được nghiêm chỉnh Chính vì thế, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ

chín của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ:“cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọng trong việc tuyên truyền và tổ chức thi hành pháp luật một cách nghiêm minh”. [9, tr 204 -205]

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng hoạt động tổ chức thực hiện chính

sách, pháp luật Người cho rằng:“Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi Nhưng khi chính sách đúng thì sự thành công hay thất bại của chính sách

đó là do cách thức tổ chức công việc, lựa chọn cán bộ và kiểm tra Nếu một trong ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng trở nên vô nghĩa”.[ 14,

tr 150 – 151] Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, sự thành công hay thất bạicủa chính sách pháp luật còn do nơi thực hiện

Trang 5

GS.TSKH Đào Trí Úc, trong bài: “Xã hội học thực hiện pháp luật những khía cạnh nhận thức cơ bản” của đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2005 có viết:“Nỗ lực xây dựng pháp luật sẽ không đạt được kết quả, nếu nối liền theo đó thiếu nỗ lực cho việc thực hiện pháp luật” [10, 2/2002]

Chính sách đúng, phương pháp tổ chức phù hợp là cơ sở cho sự thànhcông của một chính sách pháp luật Và như vậy, chính sách pháp luật bầu cửđại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã sẽ đạt kết quả, góp phần vào công cuộcđổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị khi và chỉ khi nó được đảm bảo thực hiệntrên thực tế Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2004 –

2009 cho thấy: việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

xã có lúc, có nơi còn chưa được bảo đảm, còn có biểu hiện của vi phạm phápluật bầu cử một cách nghiêm trọng Nguyên nhân của thực trạng đó, một phần

do sự bất cập giữa lý luận với thực tiễn, một phần do ý thức của các chủ thểtrong quá trình thực thi pháp luật, dẫn đến hệ quả là tính dân chủ trong phápluật bầu cử chưa được bảo đảm Đây là một trong nhưng nguyên nhân làm cho

bộ máy chính quyền cấp xã ở một số địa phương chưa thực sự vững mạnh Chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu việc thực pháp luật bầu cử đại biểu cơquan đại diện từ chính quyền cấp xã xuất phát tính chất quan trọng của hệthống chính quyền cấp cơ sở (cấp xã) bởi: với cách thức tổ chức hệ thốngchính quyền 4 cấp như bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay (cấp trung ương,tỉnh, huyện, xã) thì chính quyền cấp xã là cấp chính quyền quan trọng nhất,cấp chính quyền gần dân và sát dân nhất Mọi chủ trương đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều được triển khai tổ chức thựchiện đến từng người dân thông qua bộ máy chính quyền cấp cơ sở - cấp xã(theo quy định của pháp luật chính quyền cấp cơ sở bao gồm chính quyền cấp

xã, phường, thị trấn đều được gọi chung là cấp xã) Cấp xã là cấp có ý nghĩa,qua trọng trong việc đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị của nhà nước ta hiện

Trang 6

cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương có vai trò rất lớn cho việc thực hiện mục

tiêu này TS.Văn Tất Thu đã nhận định: “Hội đồng nhân dân cấp xã được hình thành trên đơn vị hành chính lãnh thổ xã – xã là đơn vi hành chính cuối cùng, nhỏ nhất trong các đơn vị hành chính lãnh thổ Đơn vị hành chính lãnh thổ tự nhiên, gắn chặt chẽ với dân cư cơ sở Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện trực tiếp cho ý chí của nhân dân, là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều do xã tổ chức triển khai thực hiện đến từng người dân” [30, 3/2009]

Việc nghiên cứu về thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân cấp xã tại một đơn vị hành chính cụ thể là huyện Điện Biên, tỉnh Điện

Biên Tỉnh Điện Biên là một trong những “phên giậu” của Tổ quốc, có đường

biên giới chung với nước bạn Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và Cộng hòanhân dân Trung Hoa Tại tỉnh Điện Biên trình độ dân trí còn thấp, dân cưphân bổ không đồng đều, kinh tế - xã hội chậm phát triển, nguồn nhân lực cònđang rất hạn chế Đây có thể là những rào cản dẫn đến việc thực hiện phápluật bầu cử nói chung và việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồngnhân dân cấp xã nói riêng chưa được tốt

Những phân tích trên, là cơ sở cho việc tác giả lựa chọn, nghiên cứu đề

tài: “Thực hiện pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã: Qua thực tiễn tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” trong khuôn khổ của một luận văn thạc

Trang 7

sĩ luật học.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Bầu cử với bản chất là một trong những phương thức thể hiện dân chủ,

là “thước đo” dân chủ của một quốc gia gắn liền với chế độ dân chủ đại diện,

Nó được đề cao trong các nền dân chủ đương đại

Ở Việt Nam, liên quan đến bầu cử, có những công trình nghiên cứu

như: Luận án “Chế độ bầu cử ở nước ta - những vấn đề lý luận và thực tiễn”

(2009) của Vũ Văn Nhiêm có nội dung chủ yếu là lập luận về sự cần thiếtphải đổi mới chế độ bầu cử và nêu các giải pháp đổi mới chế độ bầu cử cơquan đại diện cao nhất (Quốc hội) trên phương diện lý luận và thực tiễn Cuốn

sách “Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội -2006), do TS Đặng Đình

Tân (Chủ biên) đã khẳng định: bầu cử là phương thức rất quan trọng và hữu

Dưới góc độ chính trị học, nội dung cuốn sách đưa ra một số kết luận bổ ích

về thực trạng của chế độ bầu cử nước ta Sách chuyên khảo của tập thể tác giả

do GS.TSKH Đào Trí Úc (Chủ biên) với tiêu đề: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội -

2005) có đánh giá vai trò quan trọng của chế độ bầu cử trong việc xây dựngNhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhómnghiên cứu đã chỉ rõ rằng chế độ bầu cử ở Việt Nam hiện nay chưa được quantâm đúng mức Do vậy, một trong các biện pháp nền tảng để xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta trongthời gian tới là cần nghiên cứu, đổi mới để khắc phục sự bất cập của chế độbầu cử hiện hành Chuyên đề được đăng trên Thông tin khoa học pháp lý do

TS Trương Đắc Linh biên soạn với tiêu đề “Chính quyền địa phương với việc đảm bảo thi hành hiến pháp và pháp luật” (2002) có nội dung đề cập vai trò

Trang 8

của chính quyền địa phương trong việc đảm bảo thi hành hiến pháp và phápluật và đưa ra những hạn chế vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễndẫn đến việc thực hiện pháp luật không được bảo đảm tại chính quyền địaphương Tác giả cho rằng, đây là một trong những nguyên nhân đe dọa sựsống còn của cả một hệ thống chính trị Đánh giá được tầm quan trọng củachính quyền địa phương trong việc thực hiện pháp luật, từ đó tác giả đã đưa ranhững phương hướng tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trongviệc thực hiện pháp luật trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực bầu cử

Ngoài ra, còn có các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành

PGS.TS Thái Vĩnh Thắng có bài viết “Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay” (Tạp chí

Nhà nước và pháp luật, số 5 (157)/2001) Trong bài viết này, tác giả đã chỉ rõcần mở rộng dân chủ, nâng cao vai trò của cử tri trong bầu cử TS.Bùi Ngọc

Thanh có bài viết “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII- Những vấn đề từ thực tiễn” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 7(103), tháng 7/2007) Với tư cách

là Tổng thư ký Hội đồng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, TS Bùi NgọcThanh đã chỉ ra những tồn tại, nhất là dưới góc độ thực tiễn trong việc tổ chứcthực hiện pháp luật bầu cử nước ta và đề xuất một số biện pháp khắc phục

GS.TSKH Đào Trí Úc có bài viết “Xã hội học thực hiện pháp luật những khía cạnh nhận thức cơ bản” đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/2005 Trong bài này, GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng, thực hiện pháp luật là đời sống thứ hai của pháp luật: “Đời sống thứ hai của pháp luật có mức độ phức tạp hơn nhiều so với lần sinh thứ nhất của nó Chính vì chưa nhận nhận rõ hết tính phức tạp của lĩnh vực thực hiện pháp luật mà chúng ta thấy có một thực tế là: Tuy Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua đã có nhiều nỗ lực để ban hành pháp luật, tạo nên một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ để thúc đẩy phát

Trang 9

triển các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội nhưng yếu nhất vẫn là khâu thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống” [10, 2/2002]

“Chế độ bầu cử” và cách thức thực hiện pháp luật còn được đề cập trongcác giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam hoặc Luật Hiến pháp nước ngoài thuộcChương trình đào tạo Cử nhân luật Trong các giáo trình này, thường cóchương (mục) riêng viết về chế độ bầu cử, với mục đích chủ yếu là cung cấpnhững kiến thức cơ bản về bầu cử, pháp luật về bầu cử cho sinh viên luật

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập chế độ bầu

cử và thực hiện pháp luật ở chính quyền cơ sở Trong nội dung các bài viết ít,nhiều đều đề cập thực trạng pháp luật bầu cử dưới góc độ thực tiễn, nhưng

chưa quan tâm nhiều đến pháp luật bầu cử dưới góc độ “ đời sống thứ hai của pháp luật”, hay nói cách khác là chưa thật sự quan tâm đến việc nghiên cứu

thực tiễn thực hiện pháp bầu cử ở các địa phương, nhất là nghiên cứu việcthực hiện pháp luật bầu cử ở những xã vùng núi, vùng sâu, vùng xa như ởhuyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là đánh giá đúng thực trạng và đưa ranhững giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trongquá trình trình thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xãnhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân cấp xã, trong đó có các xã ở vùng núi, vùng cao như huyện Điện Biện,tỉnh Điện Biên nói riêng

Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ:

- Phân tích cơ sở lý luận về pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dâncấp xã: khái niệm, vai trò và các hình thức thực hiện pháp luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã

Trang 10

- Xây dựng các tiêu chí đáng giá hiệu quả của việc thực hiện pháp luậtbầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã.

- Phân tích và đánh tình hình thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã (qua thực tiễn tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên)

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu

cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

4 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu của luận văn

Về mặt không gian, thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân

dân cấp xã là một vấn đề nghiên cứu có phạm vi rộng lớn, liên quan đến tất cảcác đơn vị hành chính lãnh thổ cấp cơ sở trong phạm vi cả nước, ở mỗi vùng,miền lại có những đặc điểm đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, vănhóa – xã hội (Toàn quốc hiện nay có 11.066 xã bao gồm: 1352 phường; 9101

xã và 613 thị trấn được gọi chung là cấp xã) [1] Trong phạm vi nghiên cứucủa Luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn việc nghiên cứu trong phạm vi mộthuyện của tỉnh Điện Biên (huyện Điện Biên), nơi đây có vị trí địa lý, kinh tế,văn hóa - xã hội mang tính đặc thù của các tỉnh miền núi Đây là là nhữngyếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả việc thực hiện pháp luật bầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân cấp xã nơi đây

Về mặt thời gian, Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu việc thực hiện pháp

luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2004 – 2009, bởi đây

là quá trình bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã đầu tiên được áp dụngtheo Luật bầu cử mới (Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003)được xây dựng trên những quan điểm, đường lối, chính sách mới của Đảngtrong công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa nhằm phát huy dân chủ và củng cố, xây dựng bộ máy chính quyền cơ

sở thực sự vững mạnh

Trang 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới đất nước,phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân về xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì nhân dân là cơ

sở để phân tích, đánh giá các vấn đề trong luận văn Tư tưởng Hồ Chí Minh

về giành, giữ chính quyền và phát huy dân chủ, tư tưởng về quyền lực nhànước thuộc về nhân dân là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu thựchiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trong Luận văn.Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phântích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịchsử; phương pháp so sánh, để giải quyết các vấn đề đặt ra trong Luận văn

6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn

Là công trình nhỏ nhưng Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên vềviệc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã qua thựctiễn thực thi pháp luật bầu cử tại một địa phương cụ thể Kết quả nghiên cứu

đề tài có đóng góp như sau:

- Góp phần đổi mới nhận thức về vai trò của việc thực hiện pháp luậtbầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất các giải pháp xuất phát từ thực tế nhằm hoàn thiện cơ sởpháp lý về pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệutham khảo, nghiên cứu cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh vàcác cơ quan, tổ chức hữu quan

7 Kết cấu của luận văn

Bố cục luận văn gồm có: Mở đầu, 3 chương, Kết luận và Danh mục tàiliệu tham khảo

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN

PHÁP LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ

1.1 Khái niệm, nội dung của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

1.1.1 Khái niệm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Bầu cử đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người Trong chế độ công

xã nguyên thủy, do nhu cầu cần có người đứng đầu quản lý công việc chung củathị tộc nên mỗi thị tộc bầu ra người đứng đầu, thường bầu ra Tù trưởng và Thủlĩnh quân sự Thời kỳ chiếm hữu nô lệ cũng đã tồn tại chính thể cộng hòa vớiViện nguyên lão bao gồm đại diện của những chủ nô quý tộc và đại diện củanhững người cầm vũ khí Dưới chế độ phong kiến chuyên chế nói chung bầu cửkhông được áp dụng, trong cuộc đấu tranh chống giai cấp phong kiến, giai cấp tưsản đã sử dụng bầu cử như một vũ khí hữu hiệu để hạn chế quyền lực của giaicấp phong kiến Cách mạng dân chủ tư sản xác lập chế độ dân chủ tư sản vớituyên bố chủ quyền nhân dân, cũng đồng thời khẳng định bầu cử là phương thứccăn bản để ủy quyền, qua đó thành lập ra các thiết chế đại diện

Ở Việt Nam, tầm quan trọng của thiết chế bầu cử ngay lập tức được khẳngđịnh bởi cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 với mục đích lựa chọn đượcnhững đại biểu xứng đáng tham gia lãnh đạo, quản lý một nhà nước kiểu mới ởĐông Nam châu Á Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố: Tất cả quyềnlực nhà nước thuộc về nhân dân Việt Nam trở thành biểu tượng của độc lập tự do,với sự hiện diện của một bản hiến pháp ghi nhận quyền dân chủ của nhân dân.Ngày nay trong các nhà nước đương đại nào “chế độ bầu cử” đều đóng vai tròquan trọng trong hệ thống các chế độ chính trị của một quốc gia Nó là một chế địnhquan trọng hàng đầu được ghi nhận trong Hiến pháp của các nước

Trang 13

Trên phương diện lý luận, chế độ bầu cử nhìn chung đều được hiểu là hệ thốngcác nguyên tắc, các quy định của pháp luật quy định trình tự bầu cử đại biểu các cơquan đại diện trong bộ máy nhà nước Tương tự như vậy, chế độ bầu cử ở Việt Namcũng được hiểu bao gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật quy định trình tựtiến hành hoạt động bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện của bộ máy nhà nước (ởtrung ương có pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội, địa phương có pháp luật bầu cửđại biểu Hội đồng nhân dân)

Các quy định pháp luật về bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện tạo thành phápluật bầu cử Pháp luật bầu cử được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật do cơ quannhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnhvực bầu cử đại biểu các cơ quan đại diện nhằm thiết lập nên các cơ quan đại diệntrong bộ máy nhà nước

Pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được hiểu là: tổng

thể những quy định của pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do cácchủ thể có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh tronglĩnh vực bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhằm thiết lập nên các cơquan đại diện tại chính quyền cấp xã theo quy định của pháp luật

Nhưng nếu pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ đượcnhìn nhận trên phương diện lập pháp bao gồm các hoạt động như: xây dựng vàban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về bầu cử đại biểucác cơ quan đại diện tại chính quyền cấp xã là chưa đủ, vì pháp luật là một phạmtrù tương đối trừu tượng có tính khái quát cao, nó luôn là sự tổng kết, mô hìnhhóa các quan hệ xã hội Chúng ta cần nhìn nhận pháp luật ở góc độ thứ hai, góc

độ thực tiễn, đó là việc thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

xã trong đời sống xã hội Từ góc độ thứ hai ta thấy, muốn đưa pháp luật bầu cửđại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã vào cuộc sống phải có các điều kiện, cơ chếbảo đảm thực thi

Trang 14

Từ những phân tích trên, khái niệm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã còn có thể được hiểu là: tổng thể các quy định của pháp luật

chứa đựng các quy tắc xử sự chung, do các chủ thể có thẩm quyền ban hành,điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã và các cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã trên thực tiễn nhằm thiết lập nên các cơ quan đại diệntại chính quyền cấp xã

1.1.2 Nội dung pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Nội dung pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được quyđịnh trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật bầu cử Hội đồngnhân dân 2003 và các văn bản liên quan khác, bao gồm:

1.1.2.1 Các nguyên tắc của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt hoạt động xâydựng pháp luật và thực thi pháp luật bầu cử Nguyên tắc bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã gồm các nguyên tắc hiến định: phổ thông, bình đẳng, trựctiếp và bỏ phiếu kín, ngoài ra tinh thần pháp luật bầu cử còn thể hiện nguyên tắc

bỏ phiếu tự do Đây sẽ là “bộ” tiêu chí để đánh giá tính chất, mức độ dân chủ vàtính công bằng trong chế độ bầu cử đại biểu dân cử nói chung và đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã nói riêng

Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, nội dung của nguyên tắc này là đảm bảocho mọi công dân thường trú hay tạm trú trên địa bàn xã không phân biệt dântộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hóa, nghềnghiệp, thời hạn cư trú, chính kiến, nguồn gốc xã hội… Đủ 18 tuổi trở lên cóquyền tham gia bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật Đây là nguyên tắc bảo đảmtính công khai dân chủ và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân địatrong hoạt động bầu cử đại biểu cơ quan đại diện cấp xã

Trang 15

Nguyên tắc bình đẳng được hiểu là việc các cử tri tham gia bầu cử (ứng

cử và đi bầu) ở địa bàn xã đều phải bình đẳng với nhau Sự bình đẳng giữa các

cử tri được thể hiện: trong việc bỏ phiếu không có sự phân biệt như dân tộc,giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, chính kiến….;Mỗi cử tri một phiếu bầu, sức nặng (giá trị) của mỗi lá phiếu là tương đươngnhau Ngoài ra, nguyên tắc bình đẳng còn thể hiện là sự bình đẳng giữa cácứng cử viên được giới thiệu ứng cử và các ứng cử viên tự ứng cử Không ai cóthể bị hạn chế quyền bầu cử,ứng cử, trừ những trường hợp bị hạn chế do phápluật quy định Các ứng cử viên bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin và sửdụng các phương tiện truyền thông trong công tác vận động bầu cử

Nguyên tắc bầu cử trực tiếp được hiểu là việc các cử tri địa phương có

đủ điều kiện luật định có quyền trực tiếp tham gia bỏ phiếu bầu đại biểu các

cơ quan đại diện mà không cần thông qua tầng, nấc trung gian nào Cử tri địaphương thể hiện ý chí của mình bằng cách trực tiếp viết phiếu bầu đại biểuđại diện cho mình tham gia vào cơ quan đại diện cấp xã, tự tay bỏ phiếu vàohòm phiếu, không nhờ người bầu cử hộ, bầu cử thay hoặc không bầu cử quađường gửi thư Trường hợp cử tri không thể tự viết phiếu bầu, có thể nhờngười khác viết hộ, nhưng phải tự tay bỏ phiếu vào hòm Nếu cử tri trong xã

bị khuyết tật không tự bỏ phiếu bầu vào hòm phiếu thì có thể nhờ người kháchoặc nếu vì ốm, đau cử tri không đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử phảiđưa hòm phiếu phụ và phiếu bầu cử đến tận nơi để cử tri bỏ phiếu Nguyêntắc này bảo đảm người đại biểu Hội đồng nhân xã trực tiếp tiếp nhận ủyquyền từ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân địa phương và chịu tráchnhiệm trước cử tri địa phương

Nguyên tắc bỏ phiếu kín Nguyên tắc được quy định nhằm đảm bảo cho

sự lựa chọn của mỗi cá nhân, họ được tự do thể hiện ý chí của mình khi lựachọn người đại diện mà không bị ảnh hưởng của bất kỳ sự tác động nào Khu

Trang 16

vực bỏ phiếu có phòng viết phiếu kín, hòm phiếu kín; không ai được đến xemlúc cử tri viết phiếu bầu; phiếu không có dấu hiệu đặc biệt, in sẵn tên đểkhông phát hiện ra phiếu của người nào, cử tri phải trực tiếp viết phiếu và bỏphiếu, nếu không biết viết (gạch tên) thì có thể nhờ người viết hộ nhưng phải

tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu

Nguyên tắc tự do bỏ phiếu Pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân

dân cấp xã hiện nay chưa trực tiếp quy định nguyên tắc này trong các văn bảnpháp luật bầu cử Tuy nhiên, việc pháp luật bầu cử quy định đi bầu cử là

“quyền” của công dân (Điều 54 Hiến pháp 1992; Điều 2 Luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân) mà không quy định việc cử tri đi bỏ phiếu là “nghĩa vụ”,thì trong tinh thần của pháp luật bầu cử đã thể hiện nguyên tắc này bỏ phiếu

tự do Tuy nhiên, việc bỏ phiếu tự do phải được hiểu là cử tri có quyền thựchiện quyền bầu cử của mình hoặc không thực hiện quyền bầu cử (cử tri cóquyền đi bỏ phiếu hoặc không đi bỏ phiếu bầu cử) hoặc có quyền lựa chọn bỏphiếu cho bất cứ ứng cử viên nào trong đơn vị bầu cử của mình

Ngoài ra, pháp luật còn quy định tính công khai trong hoạt động bầu cử,mọi công đoạn của quá trình bầu cử đều phải diễn ra công khai như: việc giớithiệu và lập danh sách ứng cử viên, các thông tin liên quan đến các ứng cửviên, danh sách cử tri, việc kiểm phiếu … Trừ thời điểm bỏ phiếu phải đảmbảo không có sự tham gia của bất cứ nhân vật nào, kể cả nhân viên phụ tráchcông việc bầu cử tại phòng bỏ phiếu Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự thốngnhất giữa hành vi lựa chọn trong phiếu bầu và nhận thức của cử tri

1.1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Quyền bầu cử, ứng cử và cách tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử

Trang 17

Quyền bầu cử, ứng cử được pháp luật bầu cử quy định mọi công dân

Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng,tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều

có quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; trừ những trường hợp quy địnhtại điều 25 của Luật Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên, có đủ điều kiện

và tiêu chuẩn quy định đều có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân trừnhưng trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật Ngoài ra, Điều 30 còn quy

định: “Người tự ứng cử, người được giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương nào phải là người cư trú hoặc làm việc thường xuyên tại địa phương đó; Người tự ứng cử người được giới thiệu ứng cử chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử và không được tham gia vào Ban bầu cử hoặc Hội đồng bầu cử, thuộc đơn vị mình ra ứng cử” [18]

Cách tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử Điều 2 của Luật được

quy định như sau: tuổi bầu cử và ứng cử của công dân được tính theo ngày,tháng, năm sinh ghi trong giấy khai sinh đến ngày bầu cử đại biểu Hội đồngnhân dân Trường hợp không có giấy khai sinh căn cứ vào sổ hộ khẩu hoặcgiấy chứng minh tính tuổi thực hiện quyền bầu cử, ứng cử

Nguyên tắc lập danh sách cử tri

Danh sách cử tri là cơ sở pháp lý để cử tri nhận thẻ cử tri, thực hiệnquyền bầu cử của mình, việc lập danh sách cử tri được pháp luật bầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân cấp xã quy định như sau:

Ủy ban nhân dân cấp xã lập danh sách cử tri theo khu vực bỏ phiếu trên

cơ sở bảo đảm nguyên tắc sau: khi lập danh sách cử tri không được bỏ sótquyền bầu cử của bất cử cử tri nào, trừ trường hợp bị hạn chế quyền bầu cửđược quy định tại Điều 25, Điều 31 của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhândân 2003) Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi mìnhthường trú hoặc cư trú

Trang 18

Cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã phải là người cư trúthường xuyên có quyền lợi gắn bó với địa phương, nếu mới chuyển đến thìphải hoàn tất thủ tục hoặc có giấy giới thiệu chuyển đến cư trú làm ăn sinhsống tại địa phương mới có quyền bầu cử đối với cử tri là những người chưa

có hộ khẩu thường trú, nhưng có giấy chứng nhận chuyển đi của cơ quan nhànước có thẩm quyền ở nơi cư trú mới thì được ghi vào danh sách cử tri tại địaphương nơi cư trú mới để tham gia bầu cử; Trường hợp tạm vắng khỏi nơi cưtrú để đi lao động, làm ăn xa hoặc vì lý do khác, nếu đã đăng ký tạm trú từ 6tháng trở lên ở nơi cư trú mới thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại địaphương nơi cư trú mới để thực hiện quyền bầu cử; Trường hợp tạm vắng khỏinơi cư trú để đi lao động để đi thăm người thân, đi du lịch hoặc vì lý do khácthì ghi tên vào danh sách hộ khẩu thường trú để thực hiện quyền bầu cử (Điều

14 Nghị định số 19/NĐ–CP)

Kế hoạch số 38/KH–UB của Ủy ban nhân dân Lâm thời, tỉnh Điện Biên

hướng dẫn: Đối với dân di cư tự do ở khu vực tái định cư mới, nếu ổn định đời sống và có công ăn việc làm, có quyền lợi gắn bó với địa phương thì vẫn

có quyền đi bầu cử.

Chậm nhất là 35 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban nhân dân cấp xã phảiniêm yết danh sách cử tri tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã và những nơi côngcộng trong khu vực bỏ phiếu; đồng thời thông báo rộng rãi địa điểm để ngườidân biết Luật quy định như vậy, nhằm bảo đảm để tất cả các cử tri đều đượcthực hiện quyền bầu cử Mặt khác, nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong bầu cử,không ai có thể đi bỏ phiếu ở nhiều nơi

Công tác tuyên truyền, vận động bầu cử

- Công tác tuyên truyền pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã đảm bảo công tác thông tin, tuyên truyền, cổđộng cho cuộc bầu cử tại điạ phương theo chỉ đạo của Hội đồng bầu cử [21]

Trang 19

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ quan thông tin báo chí trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền về cuộc bầu cử.

Tổ chức cho cử tri học tập những nội dung cơ bản của Luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân, một số điều về Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân năm 2003 như: các điều quy định về quyền và nghĩa vụ củacông dân trong việc tham gia ứng cử và bầu cử, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồngnhân dân các quy định về lập danh sách cử tri, quyền khiếu nại, tố cáo, chứcnăng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân; các nơi có đồng bào dân tộc có thểdùng tiếng địa phương để phân tích cho đồng bào tiếp thu [17]

- Quyền vận động bầu cử, người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu

Hội đồng nhân dân ở địa phương nào thực hiện quyền bầu cử ở địa phương đónơi mình ứng cử thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông quaphương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật để người ứng cửbáo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thựchiện trách nhiệm đại biểu trong trường hợp họ trúng cử đại biểu Hội đồngnhân dân cấp xã và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm Việc gặp gỡtiếp xức cử tri do Ủy ban thường trực của mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức,vận động bầu cử phải được tiến hành công khai, dân chủ, bình đẳng; Khôngđược lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền nội dung trái với Hiến pháp

và pháp luật hoặc làm tổn hại đến danh dự, uy tín và quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, cá nhân khác; Không biến vận động bầu cử thành nơi để khiếunại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo Phải bảo đảm an ninh, trật tựtrong quá trình vận động bầu cử

Cách tính số đại biểu, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu

- Số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử: Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu

Hội đồng nhân dân được bầu không quá 5 đại biểu Ủy ban nhân dân cấp bầu

Trang 20

cử, căn cứ vào tình hình địa phương ấn định số đại biểu ở mỗi đơn vị bầu cử,hạn chế số đơn vị được bầu dưới 3 đại biểu.

- Đơn vị bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã được xác định là

thôn, làng, ấp, bản (gọi chung là thôn) Ủy ban nhân dân cấp xã ấn định sốđơn vị bầu cử và số danh sách đơn vị bầu cử trình Ủy ban nhân dân cấp trêntrực tiếp phê chuẩn Việc xác định đơn vị bầu cử được căn cứ vào số lượngdân cư và số đại biểu được bầu của đơn vị hành chính

- Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, được quy

định như sau: Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu.Sốlượng cử tri ở mỗi khu vực bỏ phiếu được quy định từ 300 đến 4.000 cử tri Ởmiền núi, hải đảo những nơi không tập trung thì dù chưa có tới 300 cử tricũng có thể thành lập khu vực bỏ phiếu Việc chia khu vực bỏ phiếu do Ủyban nhân dân cấp xã ấn định và phải được Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếpphê chuẩn

vị bầu cử này) và đại diện tập thể cử tri địa phương Nhiệm vụ chủ yếu của

Ban bầu cử là kiểm tra, đôn đốc công tác bầu cử tại địa phương; Tổ bầu cử,

Ban thường trực Ủy ban thường trực mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp,quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một tổ bầu cử từ có 5 đến 9 tổviên để tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Trang 21

trong phạm vi khu vực bỏ phiếu (Điều 18), đối với đơn vị bầu cử cấp xã thànhviên Ban bầu cử, kiêm luôn nhiệm vụ của Tổ bầu cử [21]

Thành phần ban bầu cử cấp xã, cần phải lựa chọn những có nhiệt tìnhcông tác, có kiến thức nhất định và có khả năng thực hiện nhiệm vụ bầu cử,chấp hành tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước Đối với chức danh thư ký tổbầu cử, chọn người có khả năng tổng hợp ghi biên bản bầu cử để tránh sai sótnhầm lẫn.[21]

Nguyên tắc đối với các thành viên Tổ phụ trách bầu cử: Các thành viêntrong tổ chức này không được vận động cho các ứng cử viên

Nghị định số 19/2004/NĐ–CP quy định về trách nhiệm của các thànhviên tổ chức phụ trách bầu cử: Thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử phảinắm vững các quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;các văn bản hướng dẫn các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương và

ở địa phương Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, thànhviên của tổ bầu cử phải luôn công tâm, khách quan, trung thực đối với nhiệm

vụ, quyền hạn được giao.[21]

Quy trình tổ chức Hội nghị hiệp thương

Quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu được tổ

chức qua ba vòng hội nghị hiệp thương: Bước một: Tổ chức hội nghị hiệp

thương lần thứ nhất ở cấp xã do Ban thường trực Ủy ban mặt trận tổ quốc chủtrì hội nghị để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người ứng cử của

cơ quan, thôn, bản, tổ dân phố trên địa bàn; Bước hai: Các cơ quan, tổ chức,

đơn vị và thôn, tổ dân phố được phân bổ số lượng đại biểu tiến hành giới

thiệu người ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã; Bước ba: Tổ chức

hội nghị hiệp thương lần thứ hai để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ những

người ứng cử vào cơ quan đại diện cấp xã; Bước bốn: Tổ chức hội nghị lấy ý

kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác (nếu có) về

những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã; Bước năm: Tổ chức

Trang 22

Hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lập danh sách chính thức những ngườiứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

Trình tự bầu cử và kết quả bầu cử ở mỗi đơn vị bầu cử

- Trình tự bầu cử

Thời gian bỏ phiếu được quy định từ 7 giờ và kết thúc vào 19 giờ cùng

ngày Nếu sớm hơn không được quá 5 giờ và kết thúc muộn được quá 20 giờcùng ngày

Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu cho mỗi cấp Hội đồng nhân dân,

cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay, trừ trườnghợp không tự viết được phiếu bầu có thể nhờ người khác viết hộ nhưng phải

tự mình bỏ phiếu Người viết hộ phải đảm bảo bí mật phiếu bầu của cử tri.Nếu vì tàn tật không thể tự tay bỏ vào hòm phiếu thì có thể nhờ người khác tựtay bỏ phiếu vào hòm Cử tri viết phiếu không ai được xem kể cả thành viêncủa tổ bầu cử Mọi người đều phải tuân thủ nội quy phòng bỏ phiêú; Khôngđược tuyên truyền vận động bầu cử tại nơi bỏ phiếu

Địa điểm bỏ phiếu và phòng bỏ phiếu: địa điểm bỏ phiếu phải trangnghiêm, có đủ phương tiện vật chất để phục vụ bầu cử và thuận lợi cho cử triđến bầu [18]

- Kết quả bầu cử ở mỗi đơn vị bầu cử

Ban bầu cử kiểm tra các biên bản kiểm phiếu của các tổ bầu cử và lậpbiên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình, biên bản xác địnhkết quả bầu cử phải phản ánh một số nội dung biên bản như: Số cử tri thamgia bỏ phiếu, tỉ lệ phiếu đạt được so với tổng số cử tri đã được lập danh sách;

số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử Những người ứng cử được quá nửa sốphiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử Trường hợp có nhiềungười có số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử

Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động bầu cử

Trang 23

Ban thường trực Ủy ban mặt trận tổ quốc cấp xã cần phối hợp chặt chẽ với các

tổ chức thành viên và thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, giám sát và vậnđộng nhân dân giám sát quá trình tổ chức, thực hiện cuộc bầu cử Quá trình bầu cửđảm bảo các thủ tục, trình tự tiến hành bầu cử thực sự dân chủ, đúng luật

Bầu cử thêm, bầu cử lại

Các tổ phụ trách bầu cử trong lần bầu cử đầu tiên tiếp tục làm nhiệm vụtrong cuộc bầu cử thêm, bầu cử lại trong những trường hợp cụ thể theo quyđịnh của pháp luật

1.2 Khái niệm, vai trò và các hình thức thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Bên cạnh việc tìm hiểu pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã từgóc độ pháp luật thực định, cần xem cách thức tổ chức và thực hiện pháp luậtbầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã của các chủ thể Đây là nội dung quan trọnglàm nên thành công cho các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã

1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Về mặt lý luận, hoạt động xây dựng và ban hành pháp luật được coi làquá trình lao động quyền lực của các chủ thể, trong đó chủ thể chính là các cơquan có thẩm quyền (Quốc hội, các cơ quan của quốc hội, Chính phủ, các Bộ)cùng với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân (trong quá trình tham gia ýkiến, quan điểm điều chỉnh) Và như vậy thì pháp luật dù ở dạng nào (quyphạm hay chế định) cũng là những phạm trù trừu tượng, có mức khái quát rấtcao Khi pháp luật được đưa vào đời sống thực tiễn, số lượng các chủ thểtham gia các quan hệ pháp luật rộng hơn rất nhiều cho nên hoạt động thựchiện pháp luật có tính phức tạp, sinh động hơn so với hoạt động xây dựngpháp luật

Trang 24

Tính lôgic của cơ sở lý luận về pháp luật và thực hiện pháp luật trongthực tiễn được GS.TSKH Đào Trí Úc mô tả theo phác đồ sau:

Phác đồ về quá trình hình thành “đời sống thứ hai” của pháp luật

Theo phác đồ trên đây, GS.TSKH Đào Trí Úc lý giải: “Thực hiện pháp luật với tính cách là một nhu cầu, một phạm vi hết sức phức tạp của các quan

hệ xã hội,, có mối liên hệ với thực tiễn xã hôi, phản ánh tính chất phức tạp của các quan hệ do pháp luật sinh ra Có thể nói: Thực hiện pháp luật là đời sống thứ hai của pháp luật có mức độ phức tạp nhiều hơn so với lần sinh thứ nhất của nó” [10]

Với góc nhìn xã hội học về thực hiện pháp luật, GS.TS Võ Khánh Vinh

nhận định “Đời sống pháp luật không phải ở các văn bản của các bộ luật và các quy định, mà là các quan hệ thực hiện của mọi người tuân thủ (hoặc vi phạm) các quan hệ pháp luật Từ quan điểm xã hội học, nghiên cứu vấn đề về thực hiện pháp luật là nghiên cứu về con đường tác động ngược trở lại của hình thức pháp lý đối với nội dung xã hội” [27, tr108]

Trong giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của trường Đạihọc luật Hà Nội xuất bản năn 2008 GS.TS Lê Minh Tâm đưa ra khái niệm:

“Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi

thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [11, tr 468]

Từ những phân tích như trên, tôi nhận thức được rằng: Thực hiện pháp luật là một khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý Bản chất của thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể (Nhà nước, cá

Thực hiện Hành vi pháp luật pháp luật

Các quan

hệ pháp luật

Trang 25

nhân, tổ chức) thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy phạm pháp luật Dựa trên các quy định của pháp luật (quy phạm pháp luật), trong phạm vi quyền

và nghĩa vụ của mình thông qua hành vi thực tế, hợp pháp, các chủ thể cụ thể hóa các quy định pháp luật vào đời sống thực tiễn.

Vận dụng các tri thức lý luận đã dẫn ở trên tôi đưa ra khái niệm thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là quá trình thực hiện có mục đích của các chủ thể (cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật bầu cử) thông qua hành vi thực tế, hợp pháp của mình, hiện thực hóa các quy phạm pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, được quy định trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

1.2.2 Vai trò của của việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Thứ nhất, thực hiện pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

cấp xã có vai trò hợp pháp hóa, chính đáng hóa chính quyền cơ sở

Tại Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) đã khẳng định: Ý chí của nhân dân thông qua bầu cử định kỳ và chân thực là nền tảng cho thẩm quyền và tính hợp pháp của quyền lực nhà nước Trong thế giới ngày nay,

không kể chính quyền của một quốc gia hay một khu vực hành chính đượcthành lập không qua bầu cử thường không được các quốc gia hay cộng đồngquốc tế thừa nhận hoặc nếu có được thừa nhận thì cũng chỉ được thừa nhậnmột cách dè dặt bởi một số quốc gia thân cận Ngược lại, một chính quyềnxuất hiện do dân thành lập theo định kỳ thông qua bầu cử công khai, theonhững nguyên tắc tiến bộ như: tự do, công bằng, trung thực và khách quan thì

đó là chính quyền hợp pháp được do nhân dân thành lập.Về nguyên tắc, mộtchính quyền đó sẽ được sự thừa nhận, ủng hộ của cộng đồng dân cư nơi chính

Trang 26

quyền đó được thành lập và của cộng đồng thế giới Và cũng như vậy, khipháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được đảm bảo thực hiện,phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương điều đó đồngnghĩa với việc bộ máy chính quyền xã được thành lập trên cở sở sự ủy nhiệmquyền lực hợp pháp từ nhân dân Bộ máy chính quyền địa phương được xâydựng phù hợp với lòng dân, được nhân dân ủng hộ Ngược lại, nếu pháp luậtbầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã không được đảm bảo thực hiện, kếtquả bầu cử không phản ánh không chân thực, không phù hợp với ý chí củanhân dân địa phương, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác, khi đó kết quả của

cuộc bầu cử đó chỉ là “vỏ bọc” được mượn để hợp thức hóa chính quyền địa

phương, là cách thức thành lập chính quyền phản khoa học nhất trong các nhànước dân chủ đương đại hiện nay và đương nhiên hệ quả kéo theo là chínhquyền đó sẽ không được sự thừa nhận của nhân dân, không được nhân dânủng hộ Đây là một trong những nguyên nhân làm chính quyền địa phươnghoạt động không hiệu quả và là mầm mống làm phát sinh những mâu thuẫn

xã hội, gây mất ổn định chính tri tại địa phương

Thứ hai, thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

đảm bảo phát huy dân chủ cơ sở góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội

Tính dân chủ sẽ được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

là không thể không khẳng định trong các Nhà nước dân chủ hiện đại Nhưngtính dân chủ trong bầu cử nhằm hợp pháp hóa chính quyền là quan trọng hơn

cả, bởi đó là sự khởi nguồn và bảo đảm cho nhiều hoạt động dân chủ khác, Vì

thế, trong Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, mở rộng dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội” Dân chủ trong pháp luật bầu

cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là một phương thức phát huy dân chủ

Trang 27

trực tiếp ở cơ sở, tính dân chủ sẽ được phản ánh trong trên nhiều phương diện

của pháp luật bầu cử: Dân chủ trong việc các đại biểu thực hiện quyền tham

gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã: người đạt điều kiện đều có thểtham gia tự ứng cử hoặc được các các cơ quan, tổ chức giới thiệu ứng cử; Dânchủ trong việc lựa chọn cơ cấu, thành phần đại biểu ứng cử bao gồm: đại diệncho các thành phần dân tộc, các tầng lớp nhân dân tại địa phương; Dân chủtrong hình thức bỏ phiếu: tất cả mọi công dân (cử tri) tại địa phương có đủđiều kiện luật định đều có quyền tham gia bỏ phiếu lựa chọn những đại biểuđại diện cho ý chí của mình Trường hợp vì những lý do khách quan mà cử trikhông thể đến nơi bỏ phiếu, pháp luật dự liệu những biện pháp khắc phục để

cử tri có điều kiện thuận lợi để lựa chọn theo ý chí của mình Thực hiện thànhcông cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là hiện thực hóa cácquan điểm của Đảng, các quy định pháp luật của Nhà nước về phát huy dânchủ cơ sở, mở rộng dân chủ, xây dựng một bộ máy chính quyền vững mạnhcấp cơ sở

Thứ ba, thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

có vai trò thiết lập cơ quan đại diện ở chính quyền cơ sở, duy trì trật tự xã hội ở địa phương, đảm bảo sự vận hành xuyên suốt của bộ máy nhà nước.

Cách thức thành lập cơ quan đại diện nhà nước ở cấp xã, xét cho cùng đó

là sự tích hợp những ý chí riêng lẻ của từng cá nhân thành ý chí tập thể - làbiểu hiện của việc nhân dân thành lập nên một bộ phận của bộ máy nhà nước,quyền lực nhân dân liên hiệp tạo nên quyền lực nhà nước Nên việc thực hiệnpháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được bảo đảm, kết quảbầu cử khách quan có vai trò quyết định trong việc thành lập cơ quan quyềnlực nhà nước ở địa phương

Sự vận hành của bộ máy nhà nước bao gồm sự vận hành của các cơ quannhà nước từ trung ương đến cơ sở Hội đồng nhân dân cấp xã một cơ quan đại

Trang 28

diện nhân dân ở địa phương– là cơ quan trong hệ thống các cơ quan hình thànhnên bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập trên

cơ sở ý chí của cử tri địa phương Như vậy, trên cơ sở pháp luật bầu cử, bằnghành vi hợp pháp của mình nhân dân địa phương đã thành lập lên cơ quan dân

cử, cơ quan đại diện ở địa phương, thay mặt nhân dân địa phương thực hiệnchức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội góp phần đảm bảo cho sự vận hànhđồng bộ của bộ máy nhà nước hoạt động xuyên suốt, đồng bộ và hiệu quả.Thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có hiệuquả, ngoài việc xây dựng được hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sởvững mạnh và đảm bảo cho sự vận hành xuyên suốt, thống nhất của bộ máynhà nước, thì thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xãcòn có vai trò trong việc duy trì ổn định trật tự xã hội tại địa phương Thực tế

đã chứng minh, nếu một chính quyền được xây dựng trên sự đồng thuận củangười dân sẽ được người dân hậu thuẫn, ủng hộ đó là một trong nhữngphương thức quan trọng để xây dựng một nền chính trị pháp quyền hữu hiệu,một xã hội ổn định mà ở đó không có cơ hội cho những mầm mống xung đột

Hình thức thực hiện pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

xã được hiểu là: Tổng hợp các cách thức (biện pháp) mà các chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, bằng

Trang 29

hành vi thực tế, hợp pháp của mình, cụ thể hóa các quy phạm pháp luật bầu

cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, thực hiện quyền chính trị cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận, nhằm lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt nhân dân địa phương quản lý nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng một chính quyền cơ sở vững mạnh, có hiệu quả.

Thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thực chất

là quá trình các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bầu cử hiện thực hóa cácquy phạm pháp luật bầu cử đại biểu dân cử cấp xã vào đời sống thực tiễn Chủthể trực tiếp tham gia hiện thực hóa các quan hệ pháp luật bầu cử bao gồm:các cơ quan nhà nước; các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức khác và mọicông dân đủ 18 tuổi trở lên nếu không bị pháp luật quy định hạn chế quyềnbầu cử đều được tham gia bầu cử đại biểu, các cơ quan của chính quyền cấp

xã Với sự đa dạng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bầu cử nhưvậy, thì mỗi chủ thể có cách thức thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã một cách khác nhau bao gồm:

Tuân thủ pháp luật

Tất cả các chủ thể, thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật bầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân cấp xã đều thực hiện pháp luật bầu cử dưới hình thứctuân thủ pháp luật bầu cử, tức là bằng nhận thức của mình, các chủ thể kìmchế không thực hiện những hành vi mà quy phạm pháp luật về bầu cử cấm, vínhư: đối với các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật không được viphạm các điều pháp luật cấm trong các khâu tổ chức bầu cử, kiểm phiếu hoặcdùng các thủ đoạn khác làm sai lệch kết quả bầu cử Đối với công dân, khôngđược dụ dỗ, gây rối hoặc ép buộc người khác gây trở ngại cho cuộc bầu cử đạibiểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Chấp hành (thi hành) pháp luật

Thi hành pháp luật bầu cử, là việc các chủ thể trên cơ sở luật định các

Trang 30

chủ thể mà pháp luật quy định có nghĩa vụ phải thực hiện những hành vi pháp

lý nhất định trong hoạt động bầu cử Bản chất của bầu cử là dân chủ, vì thếpháp luật Việt Nam không quy định việc đi bầu cử là nghĩa vụ, do vậy, việcchấp hành nghĩa vụ đi bầu cử của công dân trong trường hợp này không đượcđặt ra Tuy nhiên, một số chủ thể được giao nhiệm vụ tổ chức công tác bầu cử tạichính quyền cơ sở như: Ủy ban Mặt trận tổ quốc; Thường trực Hội đồng nhândân cấp xã; Hội đồng bầu cử; Tổ bầu cử phải thực hiện pháp luật theo phươngthức này, tức là phải nghiêm chỉnh chấp hành các về trình tự, thủ tục bầu cử

.Sử dụng pháp luật

Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể sử dụng quyềnnăng được pháp luật bầu cử quy định Bằng hành vi hợp pháp của mình cáccông dân thông qua hành vi bỏ phiếu chọn những đại biểu xứng đáng thamgia vào cơ quan đại diện ở chính quyền cơ sở Ngoài ra, các chủ thể còn cóthể sử dụng quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồngnhân dân cấp xã khi quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật

về bầu cử bị xâm hại Ví dụ: bị tước quyền bầu cử một cách không hợp pháp,hay khi hạn chế quyền ứng cử của các đại biểu khi không có căn cứ, khi đó cácchủ thể trên cơ sở các quy định của pháp luật có thể sử dụng quyền luật địnhcủa mình, thực hiện hành vi khiếu nại hoặc tố cáo các chủ thể vi phạm phápluật bầu cử Trong cách thực thực hiện này, các chủ thể của quan hệ pháp luậtbầu cử có sự lựa chọn trong việc thực hiện quyền của mình, họ có thể thực hiệnhoặc không thực hiện xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của chính họ

Áp dụng pháp luật

Là cách thức thực hiện pháp luật về bầu cử Đại biểu Hội đồng nhândân cấp xã mang tính đặc thù Các chủ thể được Nhà nước trao quyền đềuphải chấp hành các quy định pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dâncấp xã Trên cơ sở thẩm quyền được trao, các chủ thể ra các quyết định

Trang 31

mang tính pháp lý áp dụng đối với từng chủ thể cụ thể trong những trườnghợp nhất định, phương thức thực hiện này mang tính tổ chức – quyền lực.Thông thường, áp dụng pháp luật bầu cử được thực hiện trong những trường

hợp sau: Thứ nhất, khi các chủ thể được trao thẩm quyền ban hành hành các

văn bản, tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện công tác bầu cử (chủ thểmang quyền lực nhà nước ban hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị tổchức thực hiện pháp luật về bầu cử hay các văn bản xử lý của Hội đồng bầu

cử trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân) Thứ hai, trong

trường hợp đặc biệt, hình thức này sẽ được các các chủ thể có thẩm quyền ápdụng như ra quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức, cánhân nào đó có hành vi vi phạm pháp luật bầu cử

Ngoài ra, thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xãthực hiện pháp luật bằng các hình thức khác mang tính chất tổ chức- kỹ thuật,nghiệp vụ mà trong phạm vi luận văn này tôi không đề cập

1.3.Tiêu chí đánh giá và các yếu tố đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

1.3.1 Tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nói chung, bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã nói riêng được đánh giá là hiệu quả, thành công khi

và chỉ khi cuộc bầu cử đó phản ánh được tính dân chủ và đảm bảo các nguyêntắc luật định Hiệu quả của hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

xã có thể được đánh giá dựa trên những tiêu chí sau:

Thứ nhất, phải thể hiện được tính dân chủ, công bằng trong hoạt động

bầu cử

Thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã đảm bảođược tính dân chủ, công bằng sẽ góp phần không nhỏ trong việc thực hiện

Trang 32

mục tiêu chính trị - xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong công cuộcxây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.Mục tiêu chính trị - xã hội của việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã được thể hiện trên những nội dung sau: 1- Đảmbảo cho cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, là đợt sinh hoạt dânchủ sâu rộng của mọi tầng lớp nhân dân ở địa phương Hơn nữa, là dịp đểnhân dân tham gia trực tiếp vào việc xây dựng chính quyền ở địa phương,nhằm xây dựng chính quyền địa phương thực sự là của dân, do dân và vì dân

tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; 2- Cơ cấu thành, phần đại biểu Hội đồng

nhân dân trong nhiệm kỳ phải phản ánh được tính đại diện của mọi tầng lớp

của nhân dân địa phương; 3 - Khẳng định chế độ tốt đẹp của Đảng cộng sản

Việt Nam lãnh đạo – một chế độ hết lòng vì nhân dân vì mục tiêu: dân giầu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Một chế độ luôn gắn bó vớinhân dân và được nhân dân tin yêu

Thứ hai, tuân thủ các nguyên tắc: phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực

tiếp, bỏ phiếu kín và bỏ phiếu tự do trong hoạt động bầu cử

Nguyên tắc phổ thông đòi hỏi khi tiến hành cuộc bầu cử đảm bảo mọi

công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú ở đơn vị hành chính cấp xã đủđiều kiện luật định đều phải được ghi vào danh sách cử tri Không phân biệtdân tộc nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóanghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ 21 tuổitrở lên đều có quyền tham gia ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi khi thực hiện pháp luật bầu cử các chủ

thể trong quan hệ pháp luật phải đảm bảo cho mọi công dân đều có cơ hộingang nhau khi tham gia bầu cử, nghiêm cấm sự phân biệt dưới mọi hìnhthức Ngoài ra, nguyên tắc này còn hàm chứa nội dung phải phân bổ hợp lý cơcấu, thành phần, số lượng đại biểu để đảm bảo tiếng nói đại diện cho các

Trang 33

vùng, địa phương, tầng lớp nhân dân trong xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ

nữ phải có tỉ lệ đại biểu thích đáng

Nguyên tắc bỏ phiếu trực tiếp thể hiện khi tiến hành bầu cử phải đảm

bảo cho công dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, không nhờngười bầu cử hộ, bầu cử thay Trường hợp cử tri không viết được phiếu bầu cóquyền nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu vào hòm phiếu,người viết phiếu bầu hộ phải đảm bảo bí mật thông tin trên lá phiếu của cử tri

Nguyên tắc bỏ phiếu kín Khi tiến hành bầu cử phải đảm bảo tính khách

quan trong việc lựa chọn đại biểu của các cử tri Nội dung nguyên tắc này đòihỏi, cử tri đi bầu ai, không bầu ai đều phải được đảm bảo bí mật, khi cử tri viếtphiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên của các tổ chức phụtrách bầu cử, không ai được viết hoặc can thiệp vào việc viết phiếu bầu cử của

cử tri, cử tri viết phiếu bầu trong phòng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu kín

Nguyên tắc bỏ phiếu tự do, được hiểu là trong quá trình thực hiện pháp

luật bầu cử là, cử tri đi bầu cử là quyền cơ bản của công dân được hiến phápghi nhận, cử tri có quyền phát huy quyền làm chủ của mình thông qua việc cửtri đi bỏ phiếu lựa chọn người đại diện cho mình hoặc không đi.Cử tri cóquyền lựa chọn các ứng cử viên theo ý chí của mình, tất cả những quyền cơbản của công dân nhất thiết phải được tôn trọng và đảm bảo thực hiện Bầu cử

tự do phải trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc khác của luật bầu cử, nguyêntắc bình đẳng, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu theo quy định của pháp luật

Thứ ba, bảo đảm quyền ứng cử, quyền vận động bầu cử của các ứng cử

viên, quyền của cử tri nơi người ứng cử công tác, làm việc và cư trú.

Quyền ứng cử, của công dân được bảo đảm trong thực hiện bầu cử đại

biểu Hội nhân dân cấp xã được thể hiện, mọi công dân có quyền được các tổchức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan nhà nước ở địa phươnggiới thiệu, được xem xét đưa vào danh sách ứng cử hoặc công dân khác nếu

Trang 34

tự thấy mình đủ tiêu chuẩn, trình độ, năng lực thì có quyền nộp hồ sơ tự ứng

cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Quyền vận động bầu cử, Ban thường trực Mặt trận tổ quốc Việt Nam

phải tạo điều kiện tổ chức cho các ứng cử viên tiếp xúc, vận động cử tri, tuânthủ các quy định của pháp luật Vận động bầu cử phải công khai, dân chủ tạođiều kiện cho cử tri địa phương hiểu rõ hơn về bản thân người ứng cử vàđường lối chính trị mà ứng cử viên đó đưa ra, trên cơ sở đó cử tri có điều kiệnlựa chọn bỏ phiếu cho những người đại biểu xứng đáng đại diện cho ý chí,nguyện vọng mình

Bảo đảm quyền của cử tri đơn vị bầu cử nơi người ứng cử làm việc, côngtác và cư trú trên nguyên tắc bảo đảm quyền chính trị cơ bản của công dân:khi lập danh cử tri không được bỏ sót quyền bầu cử cử tri nào đủ điều kiệnluật định; không được đưa những đối tượng không đủ điều kiện luật định vàodanh sách cử tri

Thứ tư, kết quả bẩu cử phải thể hiện được tính khách quan, phản ánh

đúng ý chí, nguyện vọng của cử tri địa phương.

Kết quả bầu cử là sự phản ánh đa số ý chí cử tri trong cuộc bầu cử Nó chỉmang tính khách quan khi và chỉ khi đảm bảo cho cuộc bầu cử thực sự tự do vàcác khâu tổ chức hoạt động kiểm phiếu và kiểm tra, giám sát hoạt động bầu cửphải trung thực, công minh phản ánh đúng thực tiễn của hoạt động bầu cử

1.3.2 Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có hiệu quả

Từ ban hành pháp luật đến việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã, xét cho cùng đều do con người thực hiện Điều đóchứng tỏ, việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu dân cử cấp xã đạt hiệu quảhay không? phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các chủ thể trong mọi giaiđoạn thực thi của pháp luật bầu cử từ khâu xây dựng, ban hành các văn bản

Trang 35

pháp luật đến khâu tổ chức đưa pháp luật bầu cử vào đời sống thực tiễn, kể cảkhi kết thúc cuộc bầu cử thì hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nhiệm

kỳ vừa được bầu đó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo cho thực hiệnpháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã có hiệu quả Ngoài ra, việc tínhtoán nhằm hạn chế được những yếu tố khách quan như: giao thông, điều kiệnkinh tế người dân tạm thời trong những thời điểm nhất định cũng phần nàonâng cao chất lượng hiệu quả của việc thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hộiđồng nhân dân cấp xã Từ những phân tích như trên, chúng tôi cho rằng, hiệuquả của việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã cóthể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố sau:

1.3.2.1 Sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật với thực tiễn bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Trong khâu xây dựng pháp luật, đòi hỏi của các nhà soạn luật cần thiết

phải xây dựng được một “khung pháp lý” phù hợp về pháp luật bầu cử đại

biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhằm khắc phục những hạn chế khách quantrong quá trình thực hiện Dẫu biết rằng, pháp luật chỉ mang tính phổ quát, lànhững mô hình khái quát nên từ thực tiễn, nhưng nếu bỏ qua hẳn tính đặc thùtrong pháp luật bầu cử thì đôi khi pháp luật khi ban hành không thể được bảođảm thực hiện bởi chính những yếu tố đặc thù đó Vì thế có tác giả từng nhận

định: Những quy phạm pháp luật ra đời sẽ không thể đi vào cuộc sống, nếu

nó không xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn và không trả lời những câu hỏi bức xúc từ thực tiễn đặt ra Nên những văn bản do nhà nước ban hành ai cũng biết, nhưng trong cuộc sống lại có một luật khác “Luật của cuộc sống”.

[16]

1.3.2.2 Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã

Điều 8 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003

quy định:“Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân được bảo đảm bằng

Trang 36

hiệu quả của các kỳ họp Hội đồng nhân dân…… các Ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân”; Điều 36 quy định:“Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào quản lý nhà nước” Với nội dung pháp luật ghi nhận như trên, cho phép ta

đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp

xã, thông qua hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp xã trong nhiệm

kỳ của các đại biểu, bởi các đại biểu Hội đồng nhân dân họ là người trực tiếpthực hiện những nhiệm vụ cử tri trao cho Nếu Hội đồng nhân dân hoạt động

có hiệu quả, đồng nghĩa với việc pháp luật bầu cử đã phát huy hết hiệu năngcủa nó, các cử tri địa phương đã lựa chọn và trao quyền cho những đại biểuxứng đáng để ủy nhiệm quyền lực, người đại biểu đã thực hiện tốt vai trò làngười đại biểu nhân dân của mình

1.3.2.3 Ý thức của các chủ thể trong quan hệ pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Yếu tố ý thức của các chủ thể trong pháp luật bầu cử, có ý nghĩa quyếtđịnh rất lớn đến “chất lượng” thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồngnhân dân cấp xã Ý thức của các chủ thể trong quan hệ pháp luật bầu cử cần

phải nhìn nhận dưới hai góc độ Thứ nhất, ý thức của các chủ thể có thẩm

quyền áp dụng pháp luật bầu cử (các chủ thể được trao quyền tiến hành bầu

cử) Thứ hai, ý thức của công dân trong việc phát huy quyền làm chủ của

mình, góp phần tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội tại địa phương

1.3.2.4 Hạn chế các trở ngại khách quan là một trong những yếu tố đảm bảo thuận lợi cho pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được thực hiện hiệu quả

Đối với công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, đặc biệt đối

Trang 37

với những xã vùng cao của các tỉnh miền núi, thì các yếu tố khách quan cũng

là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện pháp luật bầu cửchưa đạt hiệu quả cao như: giao thông đi lại không thuận tiện, điều kiện kinh

tế của người dân địa phương Vì vậy, hạn chế được những trở ngại kháchquan này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã tại nơi đây

1.3.2.5 Hoạt động kiểm tra, giám sát của các tổ chức chính trị- xã hội và của công dân

Thực thi quyền lực và thi hành pháp luật luôn luôn là những hoạt độngcần sự kiểm tra, giám sát đầy đủ và hữu hiệu Đây là cách thức hoạt động củamột nhà nước dân chủ, để bảo đảm cho pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồngnhân dân cấp xã được đảm bảo thi hành thì vai trò của công tác kiểm tra, giámsát là không thể phủ nhận Sự giám sát đòi hỏi ở đây phải được tiến hành từ

hai phía, thứ nhất là sự giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội đối với các

thành viên của tổ chức mình và giám sát hoạt động của các cán bộ đang trực

tiếp thực thi pháp luật bầu cử Thứ hai, là sự giám sát của công dân đối với

việc thi hành pháp luật của các chủ thể thực thi pháp luật bầu cử Việc kiểmtra, giám sát thường xuyên sẽ giúp cho nhưng hành vi sai lệch của các chủ thểtrong công tác tổ chức bầu cử được uốn nắn, sửa chữa kịp thời

1.3.2.6 Đảm bảo vai trò tiên phong của Đảng trong thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã

Vai trò tiên phong của Đảng trong công tác bầu cử không phải bằng việcĐảng lãnh đạo hoạt động bầu cử mà ở khả năng Đảng vạch ra đường lối chínhtrị đúng đắn, khơi dậy sự gắn bó đoàn kết trong nhân dân và khả năng tuyêntruyền, giáo dục, thuyết phục, toàn dân, toàn xã hội chấp thuận những chínhsách của Nhà nước Ngoài ra, vai trò tiên phong của Đảng còn được thể hiệnqua sự gương mẫu của các đảng viên trong việc thực thi pháp luật bầu cử

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẦU CỬ

ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ TẠI

HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Biên Biên, tỉnh Điện Biên

Về điều kiện tự nhiên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nằm ở nằm

phía Tây Nam của tỉnh Điện Biên Diện tích tự nhiên của huyện là 168,98 ha,dân số toàn huyện khoảng 108.389 người, được phân bổ trên 18 xã là đơn vị

cơ sở trực thuộc (không có đơn vị cơ sở phường, thị trấn) [4], ngoài cơ cấu tổ

chức hành chính thì thôn, bản là cộng đồng dân cư bền vững Diện tích đất tựnhiên rộng, địa hình phức tạp bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, kết cấu hạ tầngyếu kém, giao thông không thuận tiện, nhiều đồi, núi dốc, nhiều bản trong các

xã không có trục giao thông chính chủ yếu đi đường bộ ra trung tâm xã Cũng

do sự chia cắt về địa hình, nên dân cư trong huyện phân bổ không đồng đều,tập trung đông hơn ở 9 xã vùng thấp và rất thưa thớt trên những xã vùng caonhư: xã Na Ư, Mường Lói, Mường Nhà, Mường Pồn, Pa Thơm… do địa hìnhcủa những xã này chủ yếu đồi, núi dốc cao, nên mật độ dân cư rất thưa thớt,trung bình nơi đây khoảng 8 - 10 người/ km2, họ thường sống dải rác trên cácngọn đồi hoặc các sườn dốc nên việc đi lại, sinh hoạt là khá khó khăn

Cũng do giao thông không thuận tiện, đường đi vào một số xã chưa cótrục giao thông chính nên việc mua sắm, vận chuyển cơ sở vận chất phục vụcho chính quyền cấp xã vẫn còn thiếu thốn, sơ sài, chưa được bảo đảm để đápứng nhu cầu phục vụ người dân trong xã Hiện tại một số xã trụ sở Hội đồng

Trang 39

nhân dân và Ủy ban nhân dân còn là những ngôi nhà tạm - nhà gỗ, trát vách.

Về kinh tế- xã hội, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là một huyện miền

núi, kinh tế - xã hội có điểm xuất phất thấp, đời sống người dân chủ yếu là sảnxuất tự cấp, tự túc bằng việc đốt nương khai hoang, làm rẫy trồng ngô vàtrồng lúa nương là phổ biến Mặt bằng dân trí thấp nên việc áp dụng khoa học– kỹ thuật vào sản xuất còn rất hạn chế, đời sống người dân nơi đây đã khókhăn lại càng trở nên khó khăn Dân số có tỉ lệ đói nghèo cao, số hộ dânnghèo của các xã vùng cao chiếm khoảng 30% - 40% số dân trong xã, hiện tạivẫn còn những gia đình không có muối trắng, ăn cơm với nước lã vì họ không

có tiền mặt, tính trung bình thu nhập theo đầu người khoảng 2,0 – 2,5 triệu

đồng/người/năm Kinh tế khó khăn, người dân địa phương bận “kiếm sống”

để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Vì thế nên các vấn đề chính trị cũng

ít làm họ quan tâm hơn, bởi việc đáp ứng nhu cầu tối thiểu hàng ngày về kinh

tế đã chi phối họ quá nhiều

Về văn hóa xã hội, đặc trưng nổi bật nhất của huyện Điện Biên so với

các huyện khác của tỉnh Điện Biên là sự đa dạng về các thành phần dân tộc,với 08 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa gắnvới những phong tục, tập quán và tiếng nói riêng taọ nên nền văn hóa tương

đối đa dạng bao gồm: “dân tộc Kinh chiếm 27,86%, dân tộc Thái chiếm 57,7%, dân tộc H.Mông 8,51/%, còn lại là các thành phần dân tộc khác (Tày, Cống, Xạ Phang, Nùng” [3] Mặc dù mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng,

nhưng tựu chung lại cũng họ có điểm tương đối đồng Thứ nhất là tính cộngđồng của người dân tộc trong quan hệ dòng tộc và những thành viên khác sinhsống trong cùng bản là rất cao Thứ hai, hệ ngôn ngữ phổ biến cho 07 thành

phần dân tộc (trừ dân tộc Kinh) là hệ ngôn ngữ Tày – Thái và hệ ngôn ngữ Mông – Khơ me” [7] Điểm đáng lưu tâm nhất về trật tự chính trị nơi đây,

Trang 40

một số xã của huyện Điện Biên có địa giới hành chính giáp đường biên giớicủa nước bạn Lào, đồng bào dân tộc thiểu số khu vực giáp gianh chủ yếu làngười dân sống du canh, du cư một cách tự phát, không chỉ người dân tronghuyện di cư từ xã này sang xã khác, từ bản này sang bản khác trong cùnghuyện, mà còn có các dân cư của tỉnh khác như: Cao bằng, Lạng Sơn, TuyênQuang và công dân của nước bạn Lào di cư sang một số bản trong huyệntương đối nhiều (chiếm khoảng 3% - 7% dân số của một số xã vùng cao) như

xã Na Ư, xã Pa Thơm (bởi khi di cư họ thường di cư 5 - 10 hộ gia đình),những người dân này khi chuyển đến đây thường xác định cư trú lâu dài, nên

họ làm nhà trên những dẻo núi cao, khai hoang diện tích đất rộng chủ yếutrồng ngô và trồng lúa nương, họ sống phân bổ đều trên các diện tích đất đãđược khai hoang, chạy dài theo dọc biên giới Việt- Lào, nơi họ sinh sốngthường rất ít dân “bản địa” qua lại, số dân di cư này hầu hết đều có cuộc sốngkhó khăn về kinh tế, trình độ dân trí thấp, không có bất kể giấy tờ tùy thân gì

để làm căn cứ xác định nhân thân của họ Họ do thiếu hiểu biết nên họ cũngkhông có nhu cầu được quản lý, trừ khi gia đình họ bị dịch bệnh hoặc một sốyêu cầu khác liên quan đến chính sách họ mới có nhu cầu liên hệ với chínhquyền cấp xã Những người dân này do cuộc sống khó khăn, sống cô lập nênrất manh động dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo dụ dỗ đi ngược vớiđường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây mất ổn địnhchính trị tại đại phương

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện Biên Biên, tỉnh Điện Biên

Hoạt động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại huyện ĐiệnBiên, tỉnh Điện Biên nhiệm kỳ 2004 - 2009 diễn ra trong điều kiện Tỉnh ĐiệnBiên vừa được chia tách thành hai tỉnh, tỉnh Điện biên và tỉnh Lai châu Một

Ngày đăng: 26/09/2014, 01:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bùi Ngọc Thanh, Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII - những vấn đề từ thực tiễn. Tạp chí lập pháp số 7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII - những vấn đề từ thực tiễn
10. Đào Trí Úc,“Xã hội học thực hiện pháp luật những khía cạnh nhận thức cơ bản” Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xã hội học thực hiện pháp luật những khía cạnh nhận thức cơ bản”
22. Nguyên Thủy (2007), Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ quốc Phạm Thế Duyệt: Giám sát, phản biện là vì dân, Báo Thanh niên, ngày 21.7.2006 23. Tài liệu của trung tâm hợp tác quốc tế CECS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát, phản biện là vì dân
Tác giả: Nguyên Thủy
Năm: 2007
24. Thái Vĩnh Thắng, Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
25. Vũ Đình Hòe, Hồi ký Thanh Nghị. Nxb. Văn học Hà Nội - 1997, tr. 318 26. Vũ Văn Nhiêm, “Chế độ bầu cử ở nước ta – những vấn đề lý luận vàthực tiễn”. Luận án tiến sĩ luật học, năm 2009, tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký Thanh Nghị". Nxb. Văn học Hà Nội - 1997, tr. 318 26. Vũ Văn Nhiêm, "“Chế độ bầu cử ở nước ta – những vấn đề lý luận và "thực tiễn”
Nhà XB: Nxb. Văn học Hà Nội - 1997
28. Văn kiện đối thoại chính sách (2006), Đẩy mạnh chiều sâu dân chủ và tăng cường sự giám sát của người dân Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh chiều sâu dân chủ và tăng cường sự giám sát của người dân Việt Nam
Tác giả: Văn kiện đối thoại chính sách
Năm: 2006
1. Báo cáo về các đơn vị hành chính, Cục Thống kê, tỉnh Điện Biên, năm 2009 Khác
2. Báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2004 của Bộ Nội vụ Khác
3. Báo cáo số liệu điều tra dân số của Cục Thống kê, tỉnh Điện Biên, năm 2004 4. Báo cáo số liệu dân số, huyện Điện Biên 2004 Khác
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội-2001, tr. 122 - 123 Khác
9. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2004, tr. 204 -205 Khác
11. Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật - Nxb. Công an nhân dân, năm 2008, tr. 468 Khác
12.Giáo trình Luật Hiến pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội - 2009 Khác
14. Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội - 1995, tập 5 tr.150 - tr. 151 Khác
19. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Khác
20. Montesquier, Tinh thần pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội- 1996, tr 49 Khác
21. Nghị định số 19/2004/NĐ – CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 2003 Khác
27. Võ Khánh Vinh, Giáo trình nhập môn Xã hội học pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội- 2003, tr. 108 Khác
29. Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật Khác
30. Số 30 Vạn Tất Thu, vai trò của Hội đồng nhân dân trong Bộ máy chính Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w