1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ

93 1,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Phương Anh
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những sáng tạo của con người thì ăn, mặc, ở, đi lại là những lĩnh vực gần gũi nhất, trực tiếp nhất với đời sống con người cho nên nó có ý nghĩa rất quan trọng để nhận diện đặc trưng văn hóa thông qua những sáng tạo trong văn hóa đảm bảo đời sống. Với ý nghĩa đó để triển khai một đề tài rộng lớn hơn thì bước đầu chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu ở cấp độ nhỏ là: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ làm cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu ở cấp độ lớn hơn.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

BÁO CÁO TỔNG KẾT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

CẤP VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

Tờn đề tài: Văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ

qua ca dao, tục ngữ

Số đề tài: VNH.13.01

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Phương Anh

Hà Nội, tháng 8 - 2014

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất tập trung những giá trị văn hoá truyềnthống của Việt Nam Có thể nói, sẽ không thể hiểu sâu sắc những đặc trưng văn hoángười Việt nếu không nghiên cứu đầy đủ về không gian văn hoá này Để nghiên cứutoàn diện về đồng bằng Bắc Bộ trên tất cả các phương diện thì cần đến rất nhiều cáclĩnh vực học thuật, những cách tiếp cận khác nhau và sự nghiệp nghiên cứu này làlâu dài, không bao giờ dừng lại Chính vì vậy mà từ lâu đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ trên nhiều khía cạnh khác nhau Để góp phầnnghiên cứu sâu thêm về đồng bằng Bắc Bộ, đề tài này thử tiếp cận theo một hướngmới không lặp lại các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành truyền thống mà coiđối tượng như một không gian văn hoá với tổng hòa các mối quan hệ (con ngườivới tự nhiên và con người với những tác động đa chiều khác)

1.2 Trong kho tàng di sản văn hoá của mỗi dân tộc, văn học dân gian luôncó vị trí quan trọng đặc biệt Vì nó là sáng tạo của quần chúng nhân dân, là nhữngđúc kết mang tính khái quát cao được truyền từ đời này sang đời khác Đối với ViệtNam giá trị của loại hình di sản này còn cao hơn rất nhiều vì văn học thành văn xuấthiện muộn hơn lịch sử lập quốc và trong một thời gian dài, chữ viết được sử dụnglại là chữ Hán, loại văn tự ngoại lai có nhiều hạn chế khi chuyển tải tư duy và sángtạo văn hoá của người Việt Hơn thế, chữ Hán phức tạp, khó học, sử dụng khôngđơn giản nên không thể là công cụ ghi chép, sáng tác của nhân dân lao động Trongbối cảnh đó, sáng tác dân gian theo lối truyền miệng là kết tinh sáng tạo văn hoá củanhân dân Trong loại hình di sản này, ca dao, tục ngữ có sức sống lâu bên nhất trongđời sống tinh thần của nhân dân Nếu ca dao là nơi người dân gửi gắm vào đónhững tâm tư, tình cảm và những ước vọng thì tục ngữ được coi là túi khôn chứađựng những bài học tổng kết, đúc rút tri thức, kinh nghiệm về mọi mặt của đời sốngcon người Chính vì vậy, ca dao, tục ngữ có thể xem là một nguồn tư liệu quý đểnghiên cứu không gian văn hoá người Việt đồng bằng Bắc Bộ

1.3 Do giá trị tự thân, từ lâu ca dao, tục ngữ đã được nghiên cứu dưới cácgóc độ khoa học chuyên ngành như văn học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian… và

Trang 3

đã mang lại những kết quả có giá trị, góp phần nâng cao nhận thức trên nhiều khíacạnh của văn hoá và con người Tuy nhiên, hạn chế của tiếp cận chuyên ngành làchưa chỉ ra được quan hệ tương tác giữa các yếu tố nên rất khó nhận diện đượcnhững đặc trưng về một không gian văn hóa Ngày nay, trong tiến trình phát triểnhiện đại hóa, những yếu tố truyền thống đang bị tác động của cuộc sống hiện đạilàm mất đi từng ngày nên việc triển khai nghiên cứu theo hướng tiếp cận khu vựchọc để có được những nhận thức tổng hợp về một không gian văn hóa qua thể loạivăn học dân gian truyền thống không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn là một đề tàicó ý nghĩa thực tiễn.

1.4 Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt và văn hóacho người nước ngoài, chúng tôi nhận thấy trong ca dao, tục ngữ chứa đựng vô vànnhững tri thức dân gian của ông cha ta được tích tụ từ bao đời, mà để có thể tìmhiểu, nghiên cứu, giải mã cho không chỉ người Việt mà cả người nước ngoài họctiếng Việt và hiểu được văn hóa Việt Nam một cách thấu đáo là một việc làm hết sứccó giá trị và thật không dễ dàng gì Tìm hiểu không gian văn hóa đồng bằng Bắc Bộkhông chỉ cho ta có cái nhìn toàn cảnh về đời sống của con người ở đó mà còn giúpcho chúng ta có cái nhìn khoa học và những chính sách phù hợp góp phần vào việcbảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Trong những sáng tạo của con người thì ăn, mặc, ở, đi lại là những lĩnh vực

gần gũi nhất, trực tiếp nhất với đời sống con người cho nên nó có ý nghĩa rất quantrọng để nhận diện đặc trưng văn hóa thông qua những sáng tạo trong văn hóa đảmbảo đời sống Với ý nghĩa đó để triển khai một đề tài rộng lớn hơn thì bước đầu

chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu ở cấp độ nhỏ là: Văn hóa đảm bảo đời sống của

người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ làm cơ sở để thực hiện đề tài

nghiên cứu ở cấp độ lớn hơn

2 Phạm vi nghiên cứu

2.1 Về không gian: Không gian văn hóa là một khái niệm tương đối, cho nên

nó không có đường cho giới hạn như địa giới hành chính Về cơ bản lấy tam giácchâu (châu thổ Bắc Bộ) làm cái lõi, bao gồm các tỉnh từ Ninh Bình trở ra Bắc khôngthuộc vùng trung du và miền núi Đó là không gian về địa lý, ngoài ra cũng có chỗ

Trang 4

chờm ra ngoài nhưng về cơ bản vẫn được coi là phạm vi của không gian đồng bằngBắc Bộ.

2.2 Về tư liệu: Vì đề tài đi theo huớng tiếp cận mới, lấy ca dao tục ngữ làm

tư liệu để nghiên cứu nên chúng tôi sẽ tập trung phân tích sâu, sử dụng nhiều loạihình ca dao, tục ngữ Tuy nhiên đề tài còn kết hợp với các nguồn tư liệu khác như tưliệu thư tịch, tư liệu điền dã (sưu tầm tư liệu), kế thừa các kết quả nghiên cứu củacác nhà nghiên cứu để đối chiếu, kiểm chứng để có được nhận thức sâu sắc và toàndiện hơn

2.3 Về thể loại: Ca dao, tục ngữ là hai thể loại của văn học dân gian nênchúng tôi cũng phải xác định đặc điểm cơ bản của chúng trên tinh thần dân gian vàtính cách đặc thù: có tính truyền miệng, tính phi văn bản và tính tập thể của cơ chếsáng tác riêng biệt Hơn nữa ca dao, tục ngữ ở đây được giới hạn trong kho tàngvăn học dân gian của người Việt – chính là tộc người chiếm 90% dân số, và đóngvai trò căn bản trong việc thống nhất quốc gia và trong việc hình thành tính cáchngười Việt

Cùng với những tập hợp ca dao, tục ngữ tác giả sưu tầm bổ sung, nguồn tài

liệu chính được sử dụng là hai bộ sách Kho tàng tục ngữ người Việt (2 tập), của các

soạn giả Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Nguyễn Thúy Loan, Phan Lan Hương,Nguyễn Luân, do Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin công bố vào tháng 12 năm

2002; Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), của các soạn giả Nguyễn Xuân Kính,

Phan Đăng Nhật (chủ biên), Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang,

do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin xuất bản năm 1995 Hai bộ sách này đượcdùng làm nguồn tài liệu duy nhất vì ở đây số lượng câu ca dao, tục ngữ thu thậpđược nhiều nhất từ trước đến nay, bao gồm 12.487 câu ca dao, 16.098 câu tục ngữcổ truyền (từ trước Cách mạng tháng Tám) của người Việt

Kho tàng tri thức dân gian người Việt vốn hết sức rộng lớn, vì vậy trongkhuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ giới hạn đề cập đến những câu ca dao, tục ngữnói về văn hóa đảm bảo đời sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Để có đượcnguồn tư liệu xác thực chúng tôi đã sử dụng phương pháp loại suy làm tiêu chí choviệc thu thập nguồn tư liệu trong 2 tập “Kho tàng ca dao người Việt” và 2 tập “Khotàng tục ngữ người Việt”

Trang 5

3 Phương pháp xử lý tư liệu

Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc tổ chức và xử lý cơ sở dữ liệu theo cácchủ đề phản ánh các mặt đảm bảo đời sống: Ăn, mặc, ở, đi lại

Tiến hành thống kê tìm ra tần suất của từng chỉ báo trong toàn bộ tập hợp vàtrong từng nhóm

Trên cơ sở thống kê định lượng các nhóm tổ hợp, tiến hành so sánh, đốichiếu với những nguồn tư liệu khác, nhận định khác của các công trình nghiên cứuđã công bố để rút ra những nhận xét, tổng kết

Đề tài tập hợp được một hệ thống các đơn vị ca dao, tục ngữ có liên quan đếnvăn hóa đảm bảo đời sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ từ một kho tàng ca daotục ngữ phong phú nhất cho đến nay

Nghiên cứu, góp phần nhận diện sâu sắc hơn đặc trưng văn hóa của vùngđồng bằng Bắc Bộ, góp phần vào việc xác định, lưu giữ những đặc điểm, tư duy, lốisống và những tri thức văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc

Thử nghiệm phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin để xử lý đối vớimột loại tư liệu không mới vào đề tài nghiên cứu Khu vực học

Trang 6

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu biên soạn từ điểnVăn hóa đảm bảo đời sống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ.

5 Cấu trúc của đề tài

Bố cục đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận gồm có 3 chương :

Chương 1: Nguồn tư liệu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Văn hóa ẩm thực của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữChương 3: Văn hóa mặc, ở và đi lại của người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao,tục ngữ

Trang 7

Chương 1 NGUỒN TƯ LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Những khái niệm cơ bản

1.1 Khái niệm “Văn hóa”

Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, bởi vì văn hóa là một phạm trù rấtrộng lớn với nhiều tầng và đa nghĩa Cho nên khái niệm văn hoá có thể tiếp cận từnhững góc độ khác nhau mà đưa ra những định nghĩa khác nhau về văn hoá.Chúng tôi có thể phân ra thành một số nhóm định nghĩa về văn hóa sau đây:

a Định nghĩa theo hình thái chuẩn mực của văn hóa:

“Văn hóa là toàn bộ nếp sống được xác định bằng môi trường xã hội vàthông qua các cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội ấy” (Kôlibecgơ)

b Định nghĩa theo hình thái giá trị của văn hóa:

“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ratrong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; các giá trị ấy nói lên trình độ pháttriển của lịch sử loài người” (Từ điển triết học, Nxb Chính trị Matxicơva, 1972)

c Định nghĩa theo hình thái biểu tượng của văn hóa:

“Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu trưng quy định thế ứng xử củacon người và làm số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên hệ họ lại thànhmột cộng đồng riêng biệt” (Định nghĩa của từ điển danh mục tiêu đề về phát triển

văn hóa do Unesco đưa ra, dẫn trong sách: Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay Bộ Văn hóa Thông tin, thể thao xuất bản, Hà Nội,1992,tr164).

d Định nghĩa theo hướng bao quát, tổng hợp, theo bề rộng nội hàm kháiniệm văn hóa:

“Văn hóa với tư cách là tổng thể các dấu hiệu tinh thần, vật chất, trí tuệ vàtình cảm đặc biệt, xác định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội Nóbao hàm không chỉ các nghệ thuật và khoa học, mà còn cả lối sống, các quyền cơbản của sự tồn tại nhân sinh, những hệ thống giá trị, các truyền thống và các quan

Trang 8

niệm” (Tuyên ngôn của Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa do Unesco tổchức vào tháng 8 năm 1982, được hầu hết tất cả các nước tham gia nhất trí “ InFinal Report, Paris 1984, chapt 4, tr41”).

Định nghĩa về văn hoá của Hồ Chí Minh: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mụcđích cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở, đi lại và các phương thức sử dụng Toàn bộ nhữngsáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, tr.431).Hay khi nghiên cứu đặc trưng của Khu vực học hiện đại được tiến hành theokhông gian văn hoá với nhiều cấp độ khác nhau, “Văn hoá ở đây cần được hiểu theonghĩa rộng là tất cả những sáng tạo hữu thức của con người vì mục đích tồn tại và

phát triển”[8, tr.53-65]

Từ những định nghĩa nói trên, có thể hiểu: Văn hoá là hoạt động của con người sáng tạo ra những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần nhằm mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của cộng đồng Văn hoá luôn đồng hành với cuộc sống và sự phát triển đi lên của con người và xã hội.

Để nhận ra diện mạo của một không gian văn hóa một cách cơ bản nhất thìcác nhà nghiên cứu đã dựa vào các mục đính nghiên cứu khác nhau để phân chia:Có nhà nhà nghiên phân chia văn hóa theo đối tượng hưởng thụ là “văn hóa vật chất

và văn hóa tinh thần”; có nhà nghiên cứu lại phân chia văn hóa theo dạng thức tồntại là “văn hóa vật thể, phi vật thể” Tuy nhiên, ở đề tài này chúng tôi tiếp cận nộidung nghiên cứu cơ bản Khu vực học là một không gian văn hóa, theo GS.Vũ MinhGiang thì có thể tiếp cận văn hóa theo thành tố, trên cơ sở đó tác giả đã tạm phân ralàm 4 thành tố văn hóa theo thứ tự như sau:

a Văn hóa sản xuất: Là tất cả những hoạt động của con người để tạo ra củacải vật chất Đây được coi là hoạt động quan trọng nhất của mỗi cộng đồng cư dân

b Văn hóa đảm bảo đời sống (ăn uống (ẩm thực), mặc, ở, đi lại): Là lĩnh vựchoạt động cơ bản, đảm bảo sự tồn tại, phát triển của mỗi cộng đồng

c Văn hóa quy phạm đạo đức: Là bao gồm cả phong tục tập quán, thiết chếchính trị và hệ thống luật pháp của cộng đồng cư dân đó

Trang 9

d Văn hóa tâm linh: Là nơi con người gửi gắm lòng tin vào tôn giáo tínngưỡng của đời sống tâm linh.

Đề tài này, tác giả bước đầu đã vận dụng phương pháp nghiên cứu khu vựchọc vào nghiên cứu thành tố thứ hai là Văn hóa đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở và đilại) [9, tr46]

Sản phẩm sáng tạo của tất cả các thành tố văn hóa đều không tách rời môitrường và hoàn cảnh Đó là kết quả ứng xử của con người với môi trường tự nhiên,xã hội Sự khác nhau về văn hóa phần nhiều do đặc điểm của môi trường và hoàncảnh tạo ra

1.2 Khái niệm “Không gian văn hóa”

Không gian văn hóa là một khái niệm rất đặc trưng của Khu vực học Giớihạn của Không gian văn hóa tương đối mềm dẻo Đó là một phạm vi tương đối mởchứ không phải là một không gian đóng cứng Trong thực tế rất khó xác địnhnhững đường biên ngăn cách giữa các vùng văn hóa Giữa chúng thường có cáckhúc điệu và quá trình giao lưu, tiếp biến luôn diễn ra Tính mềm dẻo còn thể hiện

ở chỗ đôi khi cũng có thể nghiên cứu dựa vào không gian hành chính, nhưngkhông bao giờ được quên rằng đặc trưng văn hóa không bị ngăn bởi đường biêngiới hành chính Do vậy không gian văn hóa được hiểu theo nghĩa mềm dẻo làkhông phải là một không gian đóng kín bởi biên giới hành chính mà còn có thể cónhiều loại hình không gian văn hóa khác nhau Có những không gian người ta cóthể lấy hành chính để nghiên cứu ví dụ: Không gian văn hóa xã này, làng này,huyện kia được ngăn cách bằng một con sông hay một con đê để nghiên cứu Cũngcó những không gian văn hóa lấy tiêu chí là tộc người như: Không gian văn hóaThái, tiêu chí là tôn giáo - Không gian văn hóa Đạo Hồi, tiêu chí là ngôn ngữ -Không gian văn hóa của cộng đồng Thái – Kađai, không gian văn hóa người Hoa(sinh sống ở khắp nơi), có rất nhiều dạng thức khác nhau tùy thuộc vào cách phânchia Cho nên theo tác giả [9, tr.52] có thể có phân chia thành 5 loại không gianvăn hóa như sau:

- Không gian theo giới hạn tự nhiên

- Theo không gian phân bố tộc người

- Phân bố theo tôn giáo

Trang 10

- Theo không gian lãnh thổ quốc gia, đơn vị hành chính

- Không gian hỗn hợp

Ở đây không gian được chọn để nghiên cứu là đồng bằng Bắc Bộ - mộtkhông gian chủ yếu là người Việt sinh sống

Đồng bằng Bắc Bộ là một phạm vi ở đó có con người sống và sáng tạo vănhóa Để nghiên cứu một thực thể rộng lớn và phong phú như thế người ta có thểtiếp cận nó bằng nhiều cách: Các nhà địa lý tiếp cận không gian này bằng cách đođếm điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái Người làm lịch sử có thể xem đồngbằng Bắc Bộ hình thành, phát triển trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử… như thếnào? Nhà kinh tế xem cư dân ở đây hoạt động sinh lợi ra làm sao ?

Còn nghiên cứu dưới dạng khu vực học là nghiên cứu tổng hợp trong cùng mộtđiều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái Tư liệu dùng để khám phá không gianvăn hóa trong đề tài này là ca dao, tục ngữ

Không gian văn hóa có thể chia thành nhiều cấp độ khác nhau Về đại thể

người ta thường chia không gian văn hóa thành 4 cấp độ để nghiên cứu:

- Thế giới (World): là một không gian dung chứa một //một số nền văn minhtầm cỡ nhân loại và những dạng thức văn hóa chịu ảnh hưởng

- Khu vực (Area)

- Vùng (Region)

- Tiểu vùng (Sub – region)

- Trường hợp (Case): Có thể là không gian cư trú hoặc hành chính

Tuy chia thành cấp độ lớn, nhỏ khác nhau, nhưng cấp độ không gian văn hóanhỏ hơn thường không nằm trọn trong gian văn hóa lớn hơn Chẳng hạn, khu vựcĐông Nam Á không nằm trọn trong thế giới Trung Hoa hay thế giới Ấn Độ mà chịuảnh hưởng cả hai

Dù là ở cấp độ lớn hay nhỏ thì chúng ta đều có thể tìm ra những nét tươngđồng Mức độ tương đồng tỉ lệ nghịch với cấp độ phạm vi Cấp độ phạm vi càngnhỏ tính tương đồng văn hóa càng cao Ví dụ Không gian văn hóa phương Đông làmột không gian ở cấp độ rộng lớn, tính tương đồng chỉ còn lại ở một số đặc trưng

cơ bản Ngược lại, khi nghiên cứu không gian văn hóa của một làng cụ thể nào đó ởcấp độ hành chính thì tính tương đồng của không gian văn hóa thể hiện càng đậm

Trang 11

nét Không gian văn hóa có thể là một phạm vi địa lý, nhưng cũng có một phạm vitheo phân bố tộc người, tôn giáo,

Ở đề tài này giới hạn không gian nghiên cứu là phạm vi đồng bằng Bắc Bộ

1.3 Khái niệm “Người Việt – Đồng bằng Bắc Bộ”

Việt Nam là một nước đa dân tộc (gồm có hơn 54 dân tộc) Người Việt làchủ thể, là linh hồn quy tụ các tộc người nhỏ thành quốc gia dân tộc Vậy ngườiViệt ở đây chính là người Kinh, là tộc người chiếm 90% dân số, đóng vai trò cănbản trong việc thống nhất quốc gia và trong việc hình thành tính cách văn hóa ViệtNam Người Việt vốn được coi là tộc người chiếm cứ vùng châu thổ của các consông lớn và là tộc người giữ vai trò chủ đạo trong quá trình xây dựng nền văn minhnông nghiệp Đồng bằng Bắc Bộ là châu thổ lớn của nước ta, nơi hội tụ nhiều yếu tốvăn hóa nên thường được coi là cái nôi của văn minh Việt cổ

Trong Văn hóa tìm tòi và suy ngẫm, GS.Trần Quốc Vượng cho rằng: “Châu

thổ Bắc Bộ không bằng phẳng nên không gọi là đồng bằng” Trừ một tỉnh TháiBình không có núi, tất cả các tỉnh khác của châu thổ Bắc Bộ đều có địa hình núi đồixen kẽ châu thổ và thung lũng” nên gọi là châu thổ Bắc Bộ Đây cũng là một ý kiếnxác đáng

Châu thổ Bắc Bộ theo phân vùng địa lý của Lê Bá Thảo trong Thiên nhiên Việt Nam thì “Đồng bằng Bắc Bộ là một châu thổ hình tam giác cân rộng rãi và

đường bệ: đỉnh của châu thổ nằm tận Việt Trì, còn đáy của nó thì kéo dài từ QuảngNinh xuống tận Ninh Bình, được giới hạn ở phía bắc và phía nam bởi những dãyđồi đá phiến chạy lúp xúp, những dãy núi đá vôi cao ngất nghểu” [26, tr.152] Ýkiến này của tác giả đưa ra trên cơ sở phân tích dựa vào ranh giới địa chất trầm tích

phù sa Hay trong Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý, tác giả lại bao quát toàn bộ

diện mạo của đồng bằng với các yếu tố địa lý, địa hình khí hậu và ranh giới địa lývùng; trong đó tác giả đề cập nhiều tới quá trình hình thành vùng đất với tổ chức xãhội, tổ chức không gian sản xuất nông nghiệp của vùng Theo nhận xét của ông thì:

Cư dân đồng bằng Bắc Bộ đã biết “sống hài hòa với tự nhiên và sử dụng nó theohướng có lợi cho mình [27, tr.319]

Một trong những công trình tiêu biểu về văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ là

Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam của GS Ngô Đức Thịnh Dựa trên

Trang 12

các sắc thái văn hóa địa phương, tác giả cho rằng điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên

là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt về không gian được thểhiện qua những nét đặc trưng riêng biệt trong lối sống, ứng xử, phong tục tập quáncủa cư dân Theo cách phân chia đó thì đồng bằng Bắc Bộ có thể chia thành các tiểuvùng với các dạng văn hóa khác nhau Mỗi tiểu vùng thể hiện những nét đặc thùriêng của mình do sự đa dạng về điều kiện địa lý và hoàn cảnh lịch sử Chẳng hạntác giả đưa ra nhận xét rằng, “vùng Kinh Bắc - Hà Bắc phong cảnh đẹp, có núi, cósông, có đồng bằng rộng, bằng phẳng, cao ráo, không bị ngập lụt, thích hợp chotrồng lúa và hoa mầu” [29, tr.106] còn dạng văn hóa Vĩnh lạc - Phúc Thọ mang tínhchuyển tiếp giữa tiểu vùng văn hóa Đất Tổ và Thăng Long - Hà Nội, mà trung tâm

là đoạn ngã ba sông Đáy, chạy suốt từ Sơn Tây đến Hà Đông Đây là vùng đất đaitrù phú, ngoài quê lúa, đây còn là quê lụa” [29, tr.113] Như vậy, các công trìnhnghiên cứu đều có điểm chung là coi điều kiện tự nhiên là nhân tố quan trọng tácđộng vào cuộc sống tạo nên diện mạo văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ

1.4 Khái niệm “Ca dao, tục ngữ”

Trong các sách Việt Nam xuất bản vào thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX, có một tác

phẩm sử dụng khái niệm “tục ngữ”như Phương ngôn tục ngữ, Tục ngữ tạp biên, Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục…Bên cạnh đó, có thể kể đến những tác

phẩm là những sách Nôm khuyết danh công bố bằng chữ quốc ngữ như:

- Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn của Huỳnh Tịnh Của (xuất bản năm 1986)

- Tục ngữ phong dao (1928) của Nguyễn Văn Ngọc

- Tục ngữ, ca dao (1932) của Phạm Quỳnh

Có thể dễ dàng nhận thấy trong quan niệm của các nhà Nho và các trí thức tânhọc trước Cách mạng tháng Tám (1945), tục ngữ, ngạn ngữ và phương ngôn khôngcó sự phân biệt rạch ròi Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, ba khái niệm này

vẫn được dùng trong đó từ tục ngữ được dùng phổ biến hơn.

Tục ngữ là đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian và ngôn ngữ học Ngônngữ học khảo sát tục ngữ như một hiện tượng ngôn ngữ, thường quan tâm đến ngữnghĩa và cấu trúc câu cũng như phương pháp diễn đạt Văn học dân gian lại xem tụcngữ như những tác phẩm văn học dân gian, nghiên cứu về hình tượng thi pháp vàcác ý nghĩa biểu đạt

Trang 13

Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ, nhưng chưa có một địnhnghĩa nào được xem là chuẩn, có khả năng ứng dụng vào việc nghiên cứu mọi mặt

của tục ngữ Trong tác phẩm Văn học dân gian Việt Nam, những công trình nghiên cứu Bùi Mạnh Nhị đưa ra cách giải thích như sau: Tục ngữ (tục: thói quen có lâu

đời, được mọi người công nhận; ngữ là: lời nói) là những câu nói dân gian ngắngọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh và thường mang nhiều ý nghĩa thể hiện nhữngkinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội), đượcnhân dân áp dụng vào đời sống, tư duy và lời ăn tiếng nói hàng ngày Đây là mộtthể loại văn học dân gian” [23, tr.254]

Trong “Đạo lý trong tục ngữ”, Nguyễn Đức Dân lại nêu ra định nghĩa: “Tục

ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm, vềquan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tư nhiên cũng như xãhội” [4, tr.58]

Trong sách “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Vũ Ngọc Phan thì cho rằng

Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luânlý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn cónó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự nó không diễnđược một ý trọn vẹn” [24, tr.37] Trong khi đó, Nguyễn Văn Mệnh lại khẳng định

“Giữa thành ngữ và tục ngữ có thể tìm ra những đặc điểm khu biệt rõ ràng ở cả haiphương diện nội dung và hình thức” Từ nhận xét về nội dung thì thành ngữ giớithiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, một tính cách, một thái độ Còntục ngữ lại đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệmsâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng đạo đức”

Ví dụ: “Ăn hương ăn hoa”, “Ăn mận trả đào”, “Cày sâu cuốc bẫm”, “Ba chân bốn cẳng”,… là thành ngữ.

“Bát chè đặc uống say, lời nói ngay nghe sướng”, “Cá không ăn muối cá ươn”,

“Cơm chín tới, cải vồng non, gái một con, gà mái ghẹ” là câu tục ngữ

Xét về mặt ngôn ngữ, tục ngữ là câu trọn vẹn, còn thành ngữ là cụm từ

Tuy đưa ra các khái niệm tục ngữ không hoàn toàn giống nhau nhưng các tácgiả đều chú ý đến mặt “ổn định về cấu trúc”, “có hình thức bền vững” của tục ngữ

Trang 14

Theo chúng tôi, định nghĩa mà tác giả Nguyễn Đức Dân đưa ra trong “Đạo lý trongtục ngữ” là phù hợp hơn cả

Thuật ngữ ca dao là một từ Hán Việt, theo nghĩa gốc, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc đã từng được

dùng với nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau Trong từ điển thuật ngữ văn học củanhóm tác giả Lê Bá Hán thì ca dao được hiểu: “Theo nghĩa gốc thì ca là bài hát cókhúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu” [10, tr.16] và một thời gian ca daođược hiểu là “Danh từ chung chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dângian có hoặc không có khúc điệu”[10, tr.26]

Cùng với thời gian, nội hàm khái niệm ca dao đã dần dần thu hẹp lại Hiện naycác nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam “dùng danh từ ca dao để chỉ riêngthành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệmtiếng láy, tiếng đưa hơi)” Với nghĩa này thì ca dao là bộ phận chủ yếu và quantrọng nhất của thơ dân gian truyền thống

Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) thì ca dao được định nghĩa là

“Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệunhất định Hoặc có thể hiểu “Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hìnhthức giống như ca dao cổ truyền”

Theo Đinh Gia Khánh thì “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm đượcnhư những thể loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca”[13, tr.76]Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Ca dao không có nghĩa là toàn bộ những câu hátcủa một loại dân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ, hát ghẹo,…) khi tước

đi tiếng đệm tiếng láy, tiếng đưa hơi” mà “Ca dao là những sáng tác văn chươngđược phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểmnhất định và bền vững về phong cách”[14, tr.79]

Như vậy, có thể nhận thấy ca dao là những câu thơ do nhân dân lao động sángtác và được phổ biến rộng rãi Những câu thơ này gắn bó mật thiết với đời sống củanhân dân lao động, dễ nhớ, dễ thuộc để làm nơi gửi gắm vào đó những tâm tư, tìnhcảm và những ước vọng của con người Hầu hết nội dung của các câu ca dao đềuphản ánh các mối quan hệ trong cuộc sống hàng ngày như: tình yêu nam nữ, quan

hệ gia đình, xã hội Ngoài ra, ca dao còn đề cập đến các hiện tượng thiên nhiên,những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh bảo vệ đất nước Ví dụ ba câu ca dao như:

Trang 15

“Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

“Trầu em, trầu quế, vừa vôi Anh ăn một miếng kết đôi vợ chồng”

“Hỡi cô đội nón quai thao

Đi qua Thanh Liệt thì vào làng anh Làng anh, Tô Lịch trong xanh

Có nhiều vải nhãn ngon lành em ăn Vải ngon thì nhất làng Bằng Khắp thành Hà Nội hỏi rằng đâu hơn?”

Ở Việt Nam, ca dao được xuất hiện trong mọi hoàn cảnh, từ thôn quê tớithành thị, từ đồng bằng tới miền núi, từ giai cấp bình dân tới văn nhân, thi sĩ Cadao xuất hiện dưới mọi hình thức và rất đa dạng Ca dao có lúc nhẹ nhàng thanh

thoát: ‘Đôi ta như lửa mới nhen// Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu”.

Đôi khi lại chát chúa, đớn đau: “Chồng gì anh, vợ gì tôi// Chẳng qua là cái

nợ đời chi đây”.

Ca dao cũng có thể là tiếng vui đùa, giải khuây: “Lỗ mũi mười tám gánh lông// Chồng yêu chồng bảo lông hồng trời cho”,v.v Trên đây chỉ là một vài ví dụ

trong kho tàng ca dao Việt Nam Nội dung thật phong phú và ảnh hưởng của nókhông dừng ở một địa danh hay một biên giới nào cả Khi giao thiệp với nhau,nhiều khi người ta mở đầu và rào trước đón sau bằng câu ca dao Khi trả lời người

ta cũng dựa vào chúng để đi tới một quyết định hay từ chối một vấn đề mà không sợlàm mất lòng nhau

Tóm lại, mặc dù rất khó để xác định lịch sử cũng như nguồn gốc ra đời cụthể của ca dao Việt Nam nhưng có thể nói ca dao Việt Nam bắt nguồn từ chínhđời sống tinh thần phong phú của dân tộc ta Nhưng dựa vào những nhận địnhtrên cũng như về biện chứng lịch sử triết học và ngôn ngữ học chúng ta có nhậnđịnh chung:

 Ca dao chỉ có thể xuất hiện sau khi xã hội ta có sự phân chia giai cấp ở mức

độ nhất định, điều này là hợp lý, bởi đó là phương tiện giao tiếp để rút ngắnlời nói nhưng vẫn đạt được những ý tứ, tâm tư nguyện vọng cần biểu đạt

Trang 16

 Ca dao ở nước ta xuất hiện trước khi có chữ viết Bởi lẽ như đã giải thích ởtrên thì ca dao phổ biến trong nhân dân từ xưa, trong khi đó chữ Hỏa Hìnhthì chỉ được sử dụng ở tầng lớp Quý tộc hoặc tương tự Nếu xét về mặt logicthì bản chất chữ viết là một cấp độ cao hơn về ký hiệu, để ký hiệu lại ngônngữ thì trình độ nhận thức và xã hội hóa đã ở một mức độ khá cao, trong khi

ca dao thì có thể manh nha ngay từ khi có tổ chức và phân hóa lao động

 Ca dao không phải sản phẩm của một con người nào, chính xác nó phải làcủa cả một xã hội, một nền văn hóa với tư duy, khái quát hóa, vận dụng tâm

tư tình cảm của con người lao động làm nên một thế giới ca dao Như vậy cadao dù nói theo nghĩa một câu đơn thuần hay là tập hợp nhiều câu ca dao thìnó phải xuất phát từ toàn dân

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng nguồn tư liệu ca dao, tục ngữ với một sốquy ước sau:

Chúng tôi sử dụng tên gọi đơn vị ca dao, tục ngữ tương đương với câu ca

dao, tục ngữ Một đơn vị ca dao, tục ngữ có thể là một câu nhưng có khi bao gồmnhiều câu diễn tả trọn vẹn một ước vọng, một lời khuyên răn nào đó, Dưới đây là

3 đơn vị/câu :

1 Ăn trông nồi ngồi trông hướng;

2 Trầu cau đắt lắm anh ơi // Anh ăn điếu thuốc cầm hơi đỡ buồn;

3 Ước gì ta được quần thâm // Thì ta làm cỗ mười mâm bánh giầy // Giò hoa chả lụa ta bày lên trên // Quang song tám gié cho bền // Mượn người cho khỏe gánh lên họ hàng

Chúng tôi coi ca dao, tục ngữ là một loại tư liệu đồng hạng nên không có sựphân chia tách bạch đơn vị nào là tư liệu ca dao, đơn vị nào là tư liệu tục ngữ

Việc lựa chọn và thống kê những đơn vị ca dao, tục ngữ để đưa vào kho tưliệu của đề tài, chúng tôi căn cứ vào những đơn vị có nội dung đề cập đến văn hóađảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở và đi lại) Cho nên, có thể số lượng đơn vị ca dao nộidung này nhiều hơn, số lượng đơn vị tục ngữ nội dung kia ít hơn và ngược lại thìvấn đề này, đề tài của chúng tôi không đề cập đến

Đơn vị ca dao, tục ngữ trong đề tài này được nhập vào chương trình xử lýngữ liệu Chương trình tự động xếp theo vần chữ cái đầu Anphabe theo từng chủ đề

Trang 17

2 Nguồn sử liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan

Chính vì đồng bằng Bắc Bộ có vị trí quan trọng như đã nói ở trên, cho nênvùng đất này luôn là chủ đề hấp dẫn và được nghiên cứu từ rất sớm bởi cả nhữnghọc giả trong và ngoài nước Chủ đề này đã thu hút và làm nổi danh nhiều học giảnghiên cứu khoa học xã hội nói chung trên khắp thế giới như: Pierre Gourou, DavidMarr, James C Scott, Keith Taylor, Sakurai Yumio, Lương Văn Hy (Việt kiềuCanada), Momoki Shiro,…

Có thể nói người nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam nói chung và về đồngbằng Bắc Bộ nói riêng đã có một bề dày lịch sử Theo kết quả thống kê của tác giảDavid Marr trong cuốn sách về thư mục Việt Nam xuất bản năm 1992 thì trong

1038 đầu sách, bài báo, tư liệu nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ thì có đến 577công trình là của các tác giả nước ngoài (chiếm 55%) Những số liệu này đủ chothấy mức độ quan tâm của người nước ngoài suốt gần hai thế kỷ qua đối với các vấn

đề về đồng bằng Bắc Bộ

Trong số những công trình nghiên cứu đó có không ít nghiên cứu tập trungvào văn hóa của làng Việt đồng bằng Bắc Bộ Ban đầu là những ghi chép, khảo tả,sau đó là những phân tích, đánh giá và những phát hiện khoa học có giá trị

Có lẽ nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ và người nông dân nơi đây sớm hơn

cả bằng cách tiếp cận địa lý nhân văn là công trình của Pierre Gourou Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (1936) Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt

không chỉ ở tính khoa học của nội dung nghiên cứu, tính hiệu quả của phương phápđiều tra thực địa, tính sắc sảo của những phân tích đánh giá mà còn ở tính cập nhậtcác vấn đề nghiên cứu Có thể nói những kết quả nghiên cứu, những dự báo củaPierre Gourou từ 70 năm trước cho đến nay vẫn còn tính thời sự như vấn đề đất đai,dân số và lực lượng lao động, công nghiệp và trao đổi thương mại,… ở nông thônchâu thổ Bắc Kỳ Đây là công trình mà sau này hầu như bất kì học giả nào nghiêncứu về nông thôn châu thổ sông Hồng cũng đều sử dụng làm tư liệu tham khảo

Phải đến sau thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ những năm 90, học giả nướcngoài từ rất nhiều quốc gia, rất nhiều chuyên ngành, rất nhiều cách tiếp cận khácnhau đã đến Việt Nam nghiên cứu về các làng quê đồng bằng Bắc Bộ Có thể nóichưa bao giờ khu vực này lại hấp dẫn đông đảo học giả nước ngoài đến thế, họ đến

Trang 18

từ khắp năm châu mà tiêu biểu là từ Nhật, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nga, TrungQuốc….Đặc biệt giai đoạn này có sự trở lại của đội ngũ các nhà nghiên cứu Việtkiều vốn trước kia bối cảnh chính trị đã hạn chế sự trở về của họ, đặc biệt là rất khóđể tiếp cận nghiên cứu ở vùng châu thổ Bắc Bộ.

Đi thực địa ở các làng châu thổ Bắc Bộ của Việt Nam ngay từ những nămđầu sau Đổi mới, học giả Lương Văn Hy đã liên tiếp có những nghiên cứu có giá trị

về sự thay đổi của người nông dân, của làng quê trong quá trình xây dựng nông

thôn mới và chuyển đổi cơ cấu kinh tế Đáng chú ý là cuốn Cuộc Cách mạng ở làng: truyền thống và biến đổi ở miền Bắc Việt Nam (1992) tập trung vào nghiên

cứu những thay đổi về chính trị, xã hội đến đời sống văn hóa của làng Sơn Dương,tỉnh Phú Thọ

Cùng thời kỳ với Lương Văn Hy, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài kháccũng có những tìm hiểu thú vị về làng Việt và nông dân châu thổ Bắc Bộ nhưNguyễn Tùng (Việt kiều Pháp) với nghiên cứu thực địa 8 thôn ở xã Đường Lâm,Sơn Tây, Hà Tây (nay là Hà Nội) từ năm 1992 và đến năm 1999 ông cùng một số

đồng nghiệp hoàn thành cuốn Mông Phụ: một làng Việt ở châu thổ sông Hồng.

Trong suốt 4 năm (1996 -1999), Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội đãphối hợp với Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (Nay là Viện Hànlâm Khoa học xã hội Việt Nam) trong một chương trình nghiên cứu lớn về đồng

bằng Bắc Bộ Một phần kết quả nghiên cứu đó được in trong cuốn Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (2002) của một số học giả Pháp với tên tuổi

quen thuộc đã từng nghiên cứu về châu thổ Bắc Bộ Việt Nam như: Nguyễn Tùngquan tâm đến không gian làng thông qua khái niệm làng, không gian hành chính,không gian cư trú, không gian canh tác và đặc biệt là gắn kết không gian làng vớikhông gian quốc gia trong sự nối kết, hòa nhập và phát triển; Olivier Tessier tìmhiểu về phong tục tập quán, lịch sử làng và đặc biệt là sự di cư tạm thời của dânlàng với mong muốn cải thiện cuộc sống và tình cảm gắn bó với làng quê; NellyKrowolski lại khám phá ra sự phục hồi và phát triển của mạng lưới chợ quê, AlainFioruci nghiên cứu về dòng họ trong những sự liên quan đến tập tục cưới hỏi trongquá khứ và hiện tại của một làng quê đồng bằng Bắc Bộ điển hình là làng MộTrạch,…

Trang 19

Từ những kết quả nghiên cứu của các học giả nước ngoài dưới nhiều góc độkhác nhau Một điều không thể phủ nhận là những nghiên cứu của họ đã đóng gópđáng kể cho ngành Việt Nam học về nội dung các vấn đề nghiên cứu, phương phápnghiên cứu, cách tiếp cận cũng như việc tạo ra các lý thuyết hoặc vận dụng lý thuyếtvào các nghiên cứu trường hợp cụ thể Đặc biệt từ những nghiên cứu của ngườinước ngoài, các nhà khoa học Việt Nam có dịp nhìn nhận lại những nghiên cứu của

họ và thông qua các cơ hội hợp tác để học hỏi và có được cái nhìn khách quan hơn

về Việt Nam nói chung, về đồng bằng Bắc Bộ nói riêng

Với các nhà nghiên cứu Việt Nam, những ghi chép về phong tục tập quáncủa làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện từ khá sớm trong các ghi chép củacác nhà Nho từ thế kỷ thứ 19, phổ biến ở đời vua Tự Đức, Thành Thái Sang đến

những năm đầu thế kỷ 20 xuất hiện tác phẩm của Phan Kế Bính:Việt Nam phong tục; Toan Ánh: Nếp cũ, Hội hè đình đám,… và một số bài viết ngắn giới thiệu về

phong tục ở làng được in chủ yếu trên tạp chí nghiên cứu Việt Nam của viện ViễnĐông Bác Cổ Pháp

Giai đoạn sau đổi mới, những nghiên cứu về làng Việt đồng bằng Bắc Bộ tậptrung vào hai xu hướng cơ bản: một là những nghiên cứu mang tính chất khái quát

về nông thôn trong đó lấy làng làm đơn vị khảo sát và phân tích chính, hai là nhữngnghiên cứu trường hợp cụ thể của từng làng

Ở xu hướng thứ nhất, trước hết phải kể đến các công trình: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (Nguyễn Từ Chi, 1984); Làng Việt Nam- một số vấn đề kinh tế xã hội (Phan Đại Doãn, 1992); Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc

Bộ thế kỷ 18 - 19 (Nguyễn Quang Ngọc, 1993), … và rất nhiều bài nghiên cứu có

giá trị của các tác giả như Diệp Đình Hoa (1998), Đào Thế Tuấn (1991), Bùi XuânĐính (1994),…

Sau này có một số chương trình nghiên cứu lớn tiêu biểu như: Đề tài nghiêncứu cấp Nhà nước của tác giả Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang, chủ biên (1996):

Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay; Chương trình nghiên cứu

về Làng xã ở đồng bằng sông Hồng (1996-1999) do Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp

tại Hà Nội phối hợp với Trung tâm KHXH và NVQG (nay là Viện Hàn lâmKHXHVN) thực hiện Đây là những chương trình nghiên cứu lớn, có giá trị thu hút

Trang 20

một lực lượng đáng kể các nhà khoa học từ các trường Đại học, các Viện nghiêncứu đầu ngành tham gia.

Ở xu hướng thứ hai, nghiên cứu theo hướng tiếp cận khu vực học, đặc biệtphải kể đến chương trình nghiên cứu Bách Cốc, với sự hợp tác của Trung tâmnghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa, Đại học Quốc gia Hà Nội (nay là ViệnVNH&KHPT) với các học giả Nhật Bản về nông thôn, nông nghiệp châu thổ sôngHồng đã thu hút được nhiều nhất các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khácnhau cùng tham gia (hơn 200 các nhà khoa học), thời gian chương trình nghiên cứudài nhất (14 năm) Cái mới và khác của chương trình nghiên cứu Bách Cốc trướchết là ở chỗ áp dụng triệt để phương pháp tiếp cận liên ngành (Interdisciplinaryapproach), sử dụng các phương pháp, thiết bị kỹ thuật hiện đại để đo đạc, triển khaitheo một kế hoạch, nhất quán chặt chẽ

Một trong những sáng tạo có giá trị của vùng đồng bằng Bắc Bộ là văn họcdân gian Văn học dân gian là sự phản ánh sinh động cuộc sống qua ngôn ngữ vănhọc với những điệu ca, vần thơ, hò vè đến những câu ca dao, tục ngữ… Cho nên cóthể thấy mỗi khúc quanh của lịch sử Việt Nam lại rộ lên các loại hình sáng tác vănhọc dân gian thì đó là đặc điểm thể hiện thái độ, ứng xử của nhân dân đối với tất cảquan hệ xã hội thông qua các thể loại đó Chính vì vậy văn học dân gian được sựquan tâm đặc biệt của giới học giả Việt Nam

Là một chất liệu quý thể hiện rất rõ tâm lý tình cảm của người Việt nên từlâu các tác giả lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,

Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, đã sử dụng ca dao, tục ngữ trong các sángtác Trong các sách về địa lý, thiên văn, các loại địa phương chí, ký văn, ca daotục ngữ được các tác giả dẫn chứng để minh họa cho ý kiến của mình khi đề cập đếntính cách con người, lý giải sự kiện hay hiện tượng nào đó, coi ca dao tục nhữ nhưnhững tổng kết kinh nghiệm, khái quát thế ứng xử mang tính thuyết phục cao

Cùng với các tác phẩm chữ Nôm, ca dao tục ngữ còn được tập hợp, ghi lại

bằng chữ quốc ngữ và kèm theo đó là khảo cứu, chú giải Tục ngữ cổ ngữ gia ngôn

là cuốn sách sưu tầm ca dao tục ngữ sớm nhất hiện được viết bằng chữ quốc ngữ.Sách do Huỳnh Tịnh Của biên soạn, xuất bản vào năm 1896 Tác giả đã sưu tầm cả

ca dao, tục ngữ, thành ngữ và sắp xếp theo vần chữ cái đầu câu Đây là một cuốn

Trang 21

sách nhỏ, với số lượng trang không nhiều mà tác giả đã cố gắng làm được nhiềuviệc như sưu tầm, biên soạn, giải thích từng câu là một đóng góp lớn

Từ sau đó cho đến năm 1945, xuất hiện thêm một số công trình bằng chữ

quốc ngữ sưu tầm, biên soạn ca dao, tục ngữ Có thể kể đến: Nam ngạn chích cẩm (Phạm Quang Sán, 1918), Việt Nam ngạn ngữ phương ngôn thư (Nguyễn Văn Lễ, 1931), Tục ngữ ca dao (Phạm Quỳnh, 1932), An Nam tục ngữ (Vũ Như Lâm và Nguyễn Đa Giang,1933), Ngạn ngữ Phong dao (Nguyễn Can Mộng, 1936), Trong giai đoạn này, có thể coi cuốn sách Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc là

công trình sưu tầm, hệ thống và khảo cứu đồ sộ nhất

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), việc sưu tầm ca dao, tục ngữ vẫn được nhiều

tác giả quan tâm Nổi bật nhất là cuốn Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan

xuất bản lần đầu năm 1956 (cuốn sách này cho đến nay đã tái bản đến 12 lần và đến lần

xuất bản thứ 7 (1971) được đổi tên là Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam.

Đến năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, các ngành khoa học xã hội vànhân văn có bước phát triển vượt bậc Cùng trong tình hình chung đó, ngành vănhọc dân gian nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng đã có được sự quan tâm thíchđáng Từ thời gian này ngoài các sách sưu tầm, biên soạn ca dao, tục ngữ nói chung

còn có các sách giải nghĩa tục ngữ mang tính chất từ điển (Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ tục ngữ, ca dao Việt Nam của Việt Chương, Tục ngữ ca dao Việt Nam của Mã Giang Lân, Tục ngữ ca dao chọn lọc của Trần Mạnh Thường, Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ của Hoàng Văn Hành,

Mặc dù, như đã nói ở trên, ca dao, tục ngữ là tấm gương phản chiếu cuộcsống, nhưng cho đến nay loại hình này vẫn chủ yếu nghiên cứu của ngành Ngữ văn,nghĩa là xem xét từ góc độ văn học và ngôn ngữ Việc coi văn học dân gian như một

tư liệu, một ngả tiếp cận để nhận thức về cả không gian văn hóa ở vùng đồng bằng

Trang 22

Bắc Bộ chưa có bao nhiêu Các bài viết, các công trình nghiên cứu đi vào nội dungcủa ca dao, tục ngữ rất phong phú nhưng hầu hết đề cập đến vấn đề bản chất thểloại, vấn đề khai thác, sưu tầm, phân tích thi pháp, vấn đề so sánh ca dao, tục ngữvới các thể loại văn học dân gian khác So sánh ca dao, tục ngữ Việt với ca dao, tụcngữ các dân tộc khác,

Gần đây, vấn đề “văn hóa ứng xử”, “thiên nhiên và con người”, “hình tượngthiên nhiên” qua ca dao, tục ngữ được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trong nhiềucông trình khoa học ở những khía cạnh khác nhau Nhưng dù ở bất cứ góc độ nào,

xu hướng chung của các tác giả vẫn đi vào hướng nghiên cứu chuyên ngành như:văn hóa học, ngôn ngữ học, văn học, địa lí học, xã hội học, tâm lý học, … Với ýnghĩa đa diện của vấn đề như vậy nên sẽ thật khó để có thể nắm bắt và liệt kê đầy

đủ các công trình, vì vậy chúng tôi chỉ xin điểm qua những nội dung chính của một

số công trình tiêu biểu mà tác giả ít nhiều khai thác đề tài này qua nguồn tư liệu vănhọc dân gian là ca dao, tục ngữ

Tiếp cận từ góc độ văn hóa học, TS Trần Thúy Anh tác giả công trìnhnghiên cứu “Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ” đã dựnglên một mô hình ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ… xácđịnh hệ giá trị của thế ứng xử Viêt Nam là lưỡng đoan (hay đa đoan) với những giátrị tinh thần, bao gồm sự : hòa hiếu - khoan dung - giản dị vui vẻ … Mô hình ứng

xử mà tác giả muốn định danh và định tính là “mô hình tình nghĩa” Tác giả đã đưa

ra những kết luận rất xác đáng Điều mới mẻ trong công trình này mà chúng tôinhận thấy là tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu địa văn hóa Tác giả đãphân ra các tiểu vùng ở châu thổ Bắc Bộ như: Đông, Nam, Đoài, Bắc [3, tr.47]; tuynhiên tác giả không tập trung đi vào phân tích từng đặc trưng thế ứng xử của mỗivùng miền mà chủ yếu đề cập đến phương diện văn hóa vật thể Tác giả viết: “Bắc

là vùng châu thổ cao, đồng mùa nhiều, làng nghề, làng buôn, mạng lưới chợ quêsinh động, dày đặc, vô vàn lễ hội chùa, đền đình phân chia Nét bản sắc là “cỗ batầng”, “nón ba tầm”, “áo mớ ba mớ bảy”, “quan họ”, “hội Gióng”, “Ăn Bắc mặcKinh” Nam là vùng chiêm trũng, với mắm tôm, mắm tép (tép riu), thợ đấu, đàovượt thổ, múa rối nước (Nguyên Xá), làm ăn khắc khổ, “Xắn váy quai cồng”,

“Sống ngâm da, chết ngâm xương” nhưng được an ủi tâm linh là có Mẫu Liễu

Trang 23

Hạnh, tiên Chử Đồng Tử, hầu bóng, hát chầu văn,…” [3, tr.148] Sử dụng cadao, tục ngữ làm “công cụ” (từ của tác giả) với hướng tiếp cận chủ yếu của côngtrình nghiên cứu này nghiêng về lịch sử và văn hóa nhiều hơn Do vậy, tính baoquát của công trình nghiên cứu là rất cao, đặc biệt ở góc độ lịch sử, văn hóa học

và xã hội học

Tác giả Đặng Thị Diệu Trang với công trình “Thiên nhiên trong ca dao dân

ca trữ tình đồng bằng Bắc Bộ” bước đầu đã đi vào thống kê các câu ca dao dân ca

trữ tình đồng bằng Bắc Bộ theo các chủ đề: thiên nhiên với hình thức biểu đạt nộidung:đất nước con người, lao động sản xuất, chống phong kiến thực dân, tình yêuhôn nhân và gia đình; Thiên nhiên với thế giới nghệ thuật: nghệ thuật so sánh, ngôn

từ, biểu tượng, kết cấu Tác giả đã sử dụng các lý thuyết vùng văn hóa để lý giải sựxuất hiện của các hình tượng thiên nhiên trong ca dao dân ca đồng bằng Bắc Bộkhông phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình thích ứng của cưdân nơi đây với môi trường tự nhiên và xã hội Tác giả đã lấy dẫn chứng để phântích và minh họa vai trò nghệ thuật của các hình tượng trong quá trình xây dựng cáccông thức kết cấu truyền thống để biểu đạt thế giới tâm hồn phong phú của ngườidân lao động chẳng hạn như: Không gian làng quê đồng bằng Bắc Bộ bình lặng, trữtình với khung cảnh đặc trưng của rặng tre, cây đa, bến nước, sân đình… là nơi hẹn

hò, gặp gỡ, trao duyên của các đôi trai gái, nơi diễn ra mọi sinh hoạt cộng đồng làngxã của người nông dân trong xã hội cổ truyền

Công trình nghiên cứu “Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình” của tác giảPhạm Việt Long đã chỉ ra trong tục ngữ có bốn mối quan hệ gia đình cơ bản: quan

hệ vợ chồng; quan hệ cha mẹ-con; quan hệ anh em, chị em ruột; quan hệ dâu rể vớigia đình Trong đó mối quan hệ vợ chồng được phản ánh nhiều nhất so với các mốiquan hệ khác Nhìn Tổng quan về quan hệ gia đình người Việt, ngoài mối quan hệvốn từ xưa vẫn có phần căng thẳng giữa nàng dâu và mẹ chồng, còn lại các mốiquan hệ khác được tục ngữ phản ánh với cái nhìn ấm áp, làm nổi bật sự gắn bó, hòathuận, có trách nhiệm, coi đó là tiêu chí để xây dựng gia đình êm ấm và bền vững.Chính nhờ vậy, dòng chảy chính trong các câu tục ngữ về gia đình dã tạo nên âmhưởng của chủ nghĩa nhân đạo, cổ vũ cho tình thương yêu, gắn bó giữa con ngườivới nhau” [20,tr.111]

Trang 24

Có thể thấy các công trình nghiên cứu và biên soạn về ca dao tục ngữ đượcthực hiện rất nhiều, trải rộng trên các lĩnh vực như thể loại ngôn ngữ, thơ ca, vầnđiệu, hình tượng… nhưng nghiên cứu tổng thể về không gian văn hóa nói chung,thành tố văn hóa đảm bảo đời sống (ăn, mặc ở và đi lại) nói riêng của nhân dânđược gửi gắm vào đó vẫn còn là mảnh đất mới Qua khảo sát cho đến nay, chưa cómột công trình khoa học nào ở trong và ngoài nước lấy ca dao, tục ngữ làm tư liệunghiên cứu theo hướng Khu vực học để tìm ra những đặc trưng của một không gianvăn hóa vùng, miền với các thành tố văn hóa cấu thành nên, làm đối tượng nghiêncứu Vì những lý do đó nên tôi đã chọn thể loại mà bản thân tôi cũng ham thíchđược nghiên cứu, hy vọng khía cạnh như thế này, rõ ràng là một loại tư liệu dùng đểkhám phá không gian văn hóa chắc chắn sẽ có được những đóng góp ở một mức độnào đó.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi vẫn ít nhiều được kếthừa những thành quả nghiên cứu của các học giả đi trước và gợi mở ra nhiều ý kiếnquý báu cho chúng tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu về không gian văn hóa người Việt ởđồng bằng Bắc Bộ Đó là những yêu cầu mà đề tài phải giải đáp một cách khoa họctheo hướng liên ngành Khu vực học

Phương pháp nghiên cứu mà chúng tôi được kế thừa trực tiếp nhất phải kể

đến: Biểu hiện của truyền thống Việt Nam qua phân tích thống kê Tục ngữ phong dao [8, tr.38] là một công trình nghiên cứu ở khía cạnh nội dung các giá trị truyền

thống của Việt Nam Tác giả đề tài đã sử dụng triệt để phương pháp nghiên cứuđịnh lượng và định tính để phân tích và mô tả các số liệu thống kê theo từng nhómtổ hợp nghĩa để thấy được tần số xuất hiện có tỉ lệ cao hay thấp, phản ánh sự quantâm của dân gian tới từng mặt của đời sống xã hội, biểu hiện như thế nào đối vớicác giá trị truyền thống của dân tộc Tuy đây mới chỉ là một khía cạnh mà tác giả đisâu vào nghiên cứu nhưng nó là một gợi ý hết sức quan trọng và quý báu cho tôi đivào thực hiện nghiên cứu đề tài này

3 Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

3.1 Khái niệm Khu vực học

Khu vực học là một khoa học liên ngành mà đối tượng nghiên cứu là khônggian văn hóa

Trang 25

Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về lý thuyết nghiên cứu khu vực học.Nhưng với đề tài này, chúng tôi đã vận dụng lý thuyết nghiên cứu Khu vực học của

GS Yumio Sakurai, GS Vũ Minh Giang để tiến hành nghiên cứu về tổng thể khônggian địa lý, văn hóa, xã hội với nhiều cấp độ khác nhau Có thể vận dụng nghiêncứu không gian văn hóa của khu vực nghiên cứu để có được nhận thức tổng hợp vềmột không gian thống nhất, toàn vẹn trên một khu vực địa lý, lịch sử, văn hóa vàtìm ra được những giá trị văn hóa mà không gian đó mang lại

Để tìm hiểu đặc trưng của một không gian văn hóa cần nghiên cứu nhữngsáng tạo của con người trong quá trình tương tác với điều kiện tự nhiên, môi trườngxã hội và hoàn cảnh lịch sử Trong đó, quan hệ ứng xử của con người với điều kiện

tự nhiên là nhân tố cơ bản tạo nên đặc trưng văn hoá [9, tr.31]

Đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa với địahình chằng chịt sông ngòi, hồ ao, và những ô trũng ngập nước, là địa bàn tụ cư có

cả người Việt (kinh) và các dân thiểu số khác sinh sống Không gian đó vừa thuậnlợi cho sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước vừa đặt ra cho con người những thửthách vô cùng khó khăn Địa bàn đó còn là nơi giao thoa văn hóa và có vị trí địachính trị quan trọng nên môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử cũng đòi hỏi cư dân

ở đây những nỗ lực phi thường

Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử là những nhân tố có tác động trựctiếp đến sự hình thành đặc trưng văn hoá nên khi tìm hiểu bất kỳ một khu vực nàorất cần phải nghiên cứu sâu sắc những nhân tố ấy Tuy nhiên, đây không phải chỉ lànhững tham số địa lý hay sự kiện lịch sử thuần tuý, mà phải được xem xét trong mốiquan hệ với con người và văn hoá, trong quan hệ lịch đại và đồng đại

Phương pháp nghiên cứu thực địa, hay nói chung mục đích của phương phápnày là sưu tập tài liệu để nghiên cứu khoa học là một phương pháp nghiên cứu cơbản của Khu vực học Phương pháp nghiên cứu thực địa của Khu vực học là đểnhằm nhận thức toàn thể trên cơ sở quan sát cảnh quan và tiếp xúc với người bảnđịa Tất nhiên có rất nhiều lĩnh vực khoa học đều áp dụng phương pháp thực địanhư: xã hội học, nhân học, kinh tế học, Ví dụ như các nhà Sử học đi sưu tập cácloại văn bia, gia phả và tục lệ, Các nhà Xã hội học đi thống kê độ tuổi, dân số,

Trang 26

mức sống, nhưng họ có chung một điểm khác là ít quan tâm về môi trườngsinh hoạt của con người sống trong đó Phương pháp nghiên cứu Khu vực hoc thìlại rất quan tâm đến sự tiếp xúc trực tiếp với môi trường và con người trong khuvực để hiểu toàn bộ khu vực một cách đầy đủ nhất Đó là nguyên tắc cơ bản củaKhu vực học.

Phương pháp nghiên cứu thực địa của Khu vực học là để nhận thức tính đặctrưng toàn thể Nhận thức toàn thể không phải là tổng số kết quả phân tích các yếu

tố mà hiểu tổng thể bằng cảm tính GS Yumio Sakurai đã có lần ví dụ một hình ảnh

rất dí dỏm “Một chàng trai yêu một cô gái không phải là kết quả phân tích các bộ phận trên hình thể của cô gái đó bằng các chỉ số: mắt, mũi, miệng, vòng 1,2,3 mà phải hiểu tổng thể cô gái đó bằng cảm tính (định tính)” Đối với nhà Khu vực học,

khu vực giống như là người yêu (chàng trai)

Bằng phương pháp thực địa “Các chuyên gia Khu vực học có thể nhận rađược chủ trương cá tính của khu vực mà sự nghiên cứu trên giấy không thể kháchquan có được Nói chung các nhà nghiên cứu ngoài khu vực học đều có chủ trương

và ý kiến khoa học của mình nhưng nhà Khu vực học thì giới thiệu tính đặc trưngkhu vực bằng phương pháp khoa học không phải là ý kiến của mình Chủ trươngcủa chủ đề Khu vực học được khu vực quyết định chứ không phải là nhà Khu vựchọc quyết định” [36, tr7]

3.2 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Nghiên cứu khoa học trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay nói chung,ngành khoa học xã hội nhân văn nói riêng đều hướng đến liên ngành hóa Đã cókhông ít trường đại học, cơ quan nghiên cứu trên thế giới có kế hoạch xây dựngchương trình nghiên cứu và đào tạo liên ngành hóa nhưng hiện nay ngoài lĩnh vựcKhu vực học chưa thấy xuất hiện khoa liên ngành nào Vì mục đích cơ bản của hầuhết các lĩnh vực khoa học là phân tích các yếu tố chứ không phải là tổng hợp cácyếu tố nên ít cần đến phương pháp tiếp cận liên ngành “Nghiên cứu liên ngành lànghiên cứu một phương pháp riêng để hiểu toàn thể Chính vì vậy không có phươngpháp tiếp cận liên ngành thì Khu vực học không có được kết quả nghiên cứu tổngthể và khách quan Nghiên cứu Khu vực học là hiểu toàn thể khu vực bằng cảm tính

Trang 27

và biểu hiện kết quả đó bằng phương pháp liên ngành Với ý nghĩa đó, nghiên cứuliên ngành giống như thuật ngữ Khu vực học, nếu số lượng thuật ngữ càng nhiều thìbiểu hiện đặc tính khu vực càng phong phú” [36, tr.13]

Như đã nói ở trên, mỗi khu vực nghiên cứu đều có những đặc tính riêng Ví

dụ: Nghiên cứu về khu vực châu thổ sông Hồng, trước hết chúng tôi thấy tính đặc trưng rõ nét nhất là văn hóa trồng lúa nước và nông thôn làng xã,… Trong quá

trình tìm hiểu lịch sử khu vực đồng bằng sông Hồng, mỗi nông dân làm nôngnghiệp trên nhiều mảnh đất nhỏ, manh mún với kỹ thuật thô sơ, thâm canh và đổicông Cho nên họ cần phải tổ chức một cộng đồng sản xuất gắn kết với cộng đồngxã hội Đó chính là làng xã đồng bằng sông Hồng, là kết quả của tác động giữa môitrường tự nhiên và con người của khu vực đồng bằng sông Hồng Vì vậy nếu khôngcó kiến thức kỹ thuật cấy lúa và lịch sử cộng đồng của người nông dân ở đồng bằngsông Hồng thì không thê hiểu được tính đặc trưng của khu vực đồng bằng sôngHồng Vì thế phương pháp khoa học Khu vực học được cá tính đặc trưng của khuvực học quyết định

Một chuyên gia không thể nghiên cứu nhiều lĩnh vực được Vì vậy nghiêncứu liên ngành Khu vực học phải là nghiên cứu nhóm Phương pháp liên ngànhnhóm chia ra ba loại [36, tr.26]:

Loại 1: Đa ngành (Multiscipline) là một nghiên cứu nhóm được tập trung vào

một khu vực nhưng các lĩnh vực nghiên cứu lại bằng phương pháp riêng Cho nênmặc dù nghiên cứu nhóm nhưng kết quả nghiên cứu độc lập với nhau, ít có quan hệvới các lĩnh vực khác Vì vậy nghiên cứu đa ngành chưa có kết quả tổng hợp đểquyết định cá tính của khu vực

Loại 2: Hợp tác các ngành (Transdiscipline) là các lĩnh vực trao đổi kết quảnghiên cứu với nhau để tương đối hóa kết quả của lĩnh vực riêng Kết quả nghiêncứu đó có nhiều kiến thức của các lĩnh vực khác nhau, làm cơ sở tham khảo cholĩnh vực nghiên cứu cá nhân nhưng chưa là cơ sở để trở thành một kết quả nghiêncứu trường hợp

Loại 3: Liên ngành (Interdiscipline) là cả nhóm nghiên cứu toàn thể, tổnghợp kết quả của mỗi lĩnh vực để quyết định cá tính khu vực

Trang 28

3.3 Phương pháp định lượng và định tính

Trong nhận thức của con người, bất cứ một hiện tượng, sự vật, sự kiện nàocũng biểu hiện ra bên ngoài để người ta nhận thức dưới hai dạng: Dạng tính (tínhchất), dạng lượng (số lượng) Ví dụ: Món ăn này chứa hàm lượng protein rất cao(định tính); Món ăn này có hàm lượng 186g protein (định lượng) Hóa ra khi người

ta so ngay với các món ăn khác thì 186g protein không phải là cao Có lẽ người nàyđang ăn kiêng nên suy ra nhận xét là protein rất cao

Nhận thức dưới dạng định tính đôi khi phản ánh không đúng lắm, nhưng nóphản ánh sự khái quát nào đó cho nên phân tích định lượng là phải đo đếm đốitượng nghiên cứu cho ta hình dung cụ thể hơn

Ở đề tài nghiên cứu này chúng tôi dùng phương pháp định tính là miêu tả câu

ca dao, tục ngữ xem nó phản ánh, hình tượng, biểu cảm ý nghĩa gì và như thế nào?Ví dụ: (đồ ăn, thức uống, phương tiện đi lại ) những hình tượng biểu trưng nàycũng cần phải được lượng hóa ra những con số cụ thể thì mới có thể hình dung,khái quát được Ví dụ: Khi tổ hợp tất cả câu ca dao tục ngữ nói về đi lại chỉ có 170trên tổng số 2000 câu thì cho ta một hình dung nó chiếm tỷ lệ ít Ngược lại nếu là

1500 trên tổng số 2000 câu thì cho ta thấy biểu hiện sự quan tâm của người Việtđồng bằng Bắc Bộ với nội dung này hay hình tượng đó nhiều hay ít cao hay thấp Việc xử lý loại tư liệu ca dao tục ngữ, chúng tôi rất chú trọng đến phươngpháp định lượng Bởi vì trong tập hợp hàng nghìn câu mà tôi đã thu thập được nhưvậy nếu đem từng câu ra để phân tích lời lẽ văn chương thì đó là đối tượng nghiên

cứu của văn học dân gian Mà ở đây sử liệu như là tư liệu cho nên phương pháp

phân tích định lượng đóng vai trò rất quan trọng Định lượng bao gồm: phải nhómgộp lại, quy nó về các chủ đề, tổ hợp nghĩa rồi phân lớp, chia nhỏ ra để nghiên cứu.Việc nghiên cứu theo các chủ đề, tổ hợp,… như vậy sẽ cho chúng ta một cái hìnhdung là những tác động của điều kiện tự nhiên ấy, nó phản ánh mối quan hệ củangười với thực thể ấy và thực thể ấy được dùng bằng hình tượng như thế nào?Trong khi phân chia tư liệu, nhóm gộp từng loại thì các loại hình này đềuđược thống kê để có được kích thước của từng tập hợp (loại này có số lượng là baonhiêu ?) Từng phân nhóm đều được tính toán cụ thể để xem nó đóng vai trò tỉ lệ

Trang 29

bao nhiêu đối với từng mẫu, với từng tập hợp đã được thống kê Trên cơ sở đó cóthể biết được tần số xuất hiện của mỗi loại hình đó có ý nghĩa như thế nào đốivới tổng thể để có thể hiểu được tầm quan trọng của yếu tố ấy trong cuộc sống

của con người Chẳng hạn: Đi lại của người Việt đồng bằng Bắc Bộ thì có rất

nhiều loại phương tiện, cách thức Qua thống kê cho biết được tần số xuất hiệncủa loại phương tiện giao thông thủy trên tổng số các loại phương tiện giaothông thì cho chúng ta thấy tầm quan trọng của môi trường nước đối với đờisống của người Việt

Người Việt Nam đã từng sinh ra và lớn lên, tụ cư ở một môi trường mà nhưnhiều nhà nghiên cứu đã từng chỉ ra môi trường nước chiếm chỗ đã đóng vai tròquan trọng trong đời sống của người Việt Người Việt đi lại thời chủ yếu cổ bằngphương tiện giao thông trên mặt nước như thuyền, đò, bè, mảng, chứ không phảibằng xe Người Việt rất giỏi thủy chiến, cho nên những sáng tạo văn hóa gắn vớinước cũng rất phổ biến Theo thống kê có đến 235/328 đơn vị đề cập đếnphương tiện đi lại bằng đường thủy Điều đó cho thấy tỷ lệ của sự phản ánh ấytrong ca dao tục ngữ với phương tiện giao thông đường bộ nó quan trọng đếnmức độ như thế nào

3.4 Phương pháp xử lý tư liệu văn học dân gian của đề tài

Bản thân văn học dân gian là một đối tượng nghiên cứu của các nhà nghiêncứu folklore học Nhưng đề tài này, chúng tôi không đi vào nghiên cứu nó như làmột đối tượng nghiên cứu mà dùng nó như là một loại tư liệu để nghiên cứu vềkhông gian văn hóa Vì vậy cách ứng xử với loại tư liệu này không phải là áp dụngphương pháp nghiên cứu của văn hóa dân gian để trực tiếp nghiên cứu nó mà taphải hiểu biết những kiến thức của văn học dân gian để xử lý nó Trong số nhữngphương pháp nghiên cứu, có phương pháp xử lý hình tượng vì văn học dân gian là

sự khái quát, tổng kết kinh nghiệm truyền từ đời này đến đến đời khác Cho nênkhông phải cái gì cũng thể hiện được bằng câu, bằng chữ, bằng từ để biểu thị hếtnhững cái điều muốn nói ra mà đó còn là hình tượng ẩn dụ, phản ánh cái gì đó màngười ta muốn nói Cho nên chúng tôi phải giải quyết, xử lý loại tư liệu này như làhình tượng, biểu tượng

Trang 30

Nghĩa của câu ca dao, tục ngữ nhiều khi là cách nói ẩn dụ hình ảnh, để cho

người ta nói vậy mà không phải vậy Ví dụ: Nói đến đi lại: “Nước đến đâu bắc cầu đến đấy” ở đây hoàn toàn không nói về “cầu”, không nói về “nước” mà rõ ràng là

nói đến cách thức ứng xử nào đó Qua đó ta có thể hiểu được cách ứng xử của ngườiViệt là một đối phép thực tế, nước đến đâu thì làm cầu đến đấy không có viển vông

gì Nhưng còn hàm ý thứ hai nữa là ta có thể hiểu tính cách ứng xử của người Việt

là thực tế quá đến mức ít lo xa giống như: “Nước đến chân mới nhảy”.

Vì vậy khi nghiên cứu, tác giả luôn luôn phải xem xét, xử lý nó trong mốiquan hệ so sánh để xem người ta nói vậy trong ngữ cảnh nào, nói vậy trong tư liệuthực nó ra làm sao? với các nguồn tư liệu văn học dân gian ở các vùng miền khác đểlàm nổi bật những ý niệm, những nét tiêu biểu, đặc trưng về thành tố văn hóa đảmbảo đời sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trong quá khứ lưu truyền đếnngày nay và trong tương lai

3.5 Các tiêu chí xác định nguồn tư liệu và cách thức phân loại

Kho tàng tri thức dân gian người Việt vốn hết sức là rộng lớn, vì vậy trongkhuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ giới hạn đề cập đến những câu ca dao, tục ngữnói về Văn hóa ẩm thực (ăn, mặc, ở, đi lại) của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Những câu ca dao, tục ngữ được chúng tôi lựa chọn để đưa vào tư liệu của đềtài này là những câu có ngữ cảnh nói về văn hóa đảm bảo đời sống: đặc sản ẩmthực, kinh nghiệm ẩm thực, ẩm thực với chăm sóc sức khỏe, ẩm thực với bồidưỡng luân thường đạo lý; trang phục; nhà ở và phương tiện đi lại phổ biến củangười Việt thì được đưa vào phân tích, còn những câu chắc chắn không phải củangười Việt đồng bằng Bắc Bộ thì chúng tôi loại ra Chúng đã tôi đã dựa vào cáctiêu chí sau:

Những câu ca dao tục ngữ nói về điều kiện tự nhiên (mây, trời , gió, mưa,sông nước ) nếu không rõ đặc trưng, không phân biệt được của riêng Bắc Bộ, Nam

Bộ hay Trung Bộ thì chúng tôi dùng chung;

Những câu ca dao, tục ngữ mà chúng tôi thấy không rõ của đồng bằng Bắc

Bộ thì loại ra;

Những câu ca dao, tục ngữ nói về vùng núi không phải của đồng bằng thìcũng loại ra;

Trang 31

Những câu ca dao, tục ngữ dễ nhận ra là của miền Trung như (cát trắng, gióLào, sản vật đặc trưng của miền Trung); của Nam Bộ như (ghe, kênh rạch, hoa quả

là măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, soài ) thì chúng tôi không sử dụng làm nguồn

tư liệu

Về cơ bản, chúng tôi đã sử dụng phương pháp loại suy để xác định nguồn tưliệu của đề tài này một cách trung thực và khách quan nhất Tuy nhiên trong quátrình loại có thể là chưa triệt để đến mức tối đa Đặc biệt với nguồn tư liệu là khotàng văn học dân gian, thì đó là con số dung sai cho phép có thể chấp nhận được đốivới bất cứ công trình khoa học nào

Ca dao, tục ngữ phản ánh sự quan tâm, những ước vọng, của nhân dân về tựnhiên, xã hội và con người Sự quan tâm, mong muốn đó đến mức độ nào, có thể đođếm, tính toán được thông qua số lượng của các câu ca dao, tục ngữ thể hiện về mộtmặt, một chủ đề nào đó Hơn hai mươi tám nghìn câu trong công trình 4 tập củaNguyễn Xuân Kính (chủ biên) không phải là từng ấy vấn đề được đề cập đến màthường mỗi vấn đề có nhiều câu tập trung phản ánh

Có những câu ca dao, tục ngữ có nội dung vừa ở chủ đề ăn uống nhưng lại

vừa ở chủ đề mặc Ngon bát canh, lành manh áo; No cơm hơn lành áo; Người cơm gạo, sống áo bù nâu,…Trường hợp này chúng tôi sử dụng tư liệu vào cả hai chủ đề.

Cũng có trường hợp đơn vị ca dao, tục ngữ ở một chủ đề nhưng nằm ở hai tổ hợpnghĩa (Nghĩa kinh nghiệm và nghĩa ẩn dụ bồi dưỡng đạo lý) Nhưng theo nguyêntắc nhất quán từ đầu là phải quy nó về một tổ hợp để đưa vào chương trình phântích và xử lý số liệu nên chúng tôi đã sắp xếp nghiêng về tổ hợp có nội dung nâng

tầm nghĩa cao hơn (nghĩa bóng) nói về ăn uống thật (nghĩa đen) Chẳng hạn: Ăn mặn khát nước; Ăn cơm không biết trở đầu đũa, Ăn cây nào, rào cây ấy,… chúng

tôi đã quy về tổ hợp nghĩa ẩn dụ bồi dưỡng đạo lý con người Vì vậy, việc áp dụngphương pháp thống kê để phát hiện sự phân bố về số lượng của các vấn đề đượcphản ánh trong ca dao, tục ngữ là một việc làm rất có ý nghĩa Điều này giúp chochúng ta đi tới một nhận thức đầy đủ hơn, khách quan hơn về những di sản truyềnthống được lưu truyền trong ca dao, tục ngữ

Bốn tập Kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Xuân Kính (chủbiên) đã sắp xếp theo trật tự chữ của tiếng đầu và ở hệ thống này nhóm tác giả biên

Trang 32

soạn đã có những tập hợp theo các chủ đề lớn Chẳng hạn: Hai tập Kho tàng ca dao người Việt tác giả cũng đã sắp xếp theo trật tự chữ của tiếng đầu, ở bảng tra cứu

này, nhóm biên soạn đã giới thiệu theo 9 mục chủ đề lớn và mỗi chủ đề lớn lạichia ra thành các chủ đề nhỏ có nội dung liên quan đề cập đến với dụng ý phảnánh những nét chính của cuộc đời con người, tâm hồn người Việt và bộ mặt củaxã hội cũ:

1 Đất nước và lịch sử

2 Quan hệ gia đình và xã hội

3 Lao động và nghề nghiệp

4 Tình yêu lứa đôi

5 Sinh hoạt văn hóa văn nghệ

6 Những lời bông đùa, khôi hài, giải trí

7 Những nỗi khổ, cảnh sống lầm than

8 Những thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội

9 Kinh nghiệm sống và hành động

Hai tập Kho tàng tục ngữ người Việt tác giả đã giới thiệu theo 4 chủ đề lớn:

1 Quan hệ của con người với giới tự nhiên

2 Con người- Đời sống vật chất

3 Con người - Đời sống xã hội

4 Con người - Đời sống tinh thần Những quan điểm nhân sinh và vũ trụ

Sự phân chia của nhóm tác giả biên soạn công trình này mới dừng lại ở sựphân bố cơ bản và bước đầu đã có những định hình cụ thể ở một số chủ đề theo tầngbậc Tuy nhiên kết quả này rất hữu ích, làm cơ sở giúp chúng tôi dễ dàng hơn trongviệc tiếp tục đi vào chọn lựa, phân chia các chủ đề, tổ hợp nhỏ hơn theo mục đíchnghiên cứu của đề tài

Việc phân loại tư liệu vào tổ hợp nào, chủ đề nào là dựa trên cơ sở của sựphân tích định tính và những kiến thức được đào tạo chuyên môn về Ngữ văn, khuvực học, văn hóa học của của tác giả - người làm thống kê đã căn cứ vào sự phảnánh khách quan của tư liệu Mặc dù vậy, trong một câu đôi khi có thể biểu đạt nhiềuý nghĩa nên việc phân loại phải dựa trên tiêu chí xác định mà tác giả đã giới thuyết

ở trên Mặt khác, việc đưa ra các tổ hợp nội dung của từng vấn đề, dù là dựa trên cơ

Trang 33

sở phản ánh khách quan của tư liệu song cũng chỉ nên coi đây như phương án phânloại, xử lý nguồn tư liệu văn học dân gian truyền thống bằng một chương trình xử lýkhông truyền thống lắm Ở những thao tác này, chúng tôi có tham khảo cách phânloại của các công trình nghiên cứu trước đây của tác giả Vũ Ngọc Phan, Vũ MinhGiang và Vũ Văn Quân,…

Các câu ca dao, tục ngữ được chọn để trích dẫn vào trong nội dung của đề tàithì chúng tôi không viết lại nguồn của từng câu ở cuối câu trích dẫn Vì nguồn tưliệu trích dẫn trong nội dung đề tài, chúng tôi đã đưa vào cột nguồn ở phần phụ lục

của đề tài Ví dụ: Ăn trông nồi, ngồi trông hướng [454, tr157, tập I tn]; Tiếng ai như tiếng xứ Đoài //Ăn cơm thì ít ăn khoai thì nhiều [1003, tr 2271, tập II cd].

Ở đây chúng tôi đã kết hợp sử dụng cả phương pháp phân tích định lượng vàđịnh tính thông qua các số liệu đã thống kê được Còn về nội dung thì đã được xácđịnh thành các vấn đề và tổ hợp vấn đề mà dưới đây sẽ được lần lượt đề cập đến ởtừng chương nội dung Các mặt khác như vấn đề thể loại, hình thức nghệ thuật, cấutrúc, ngữ nghĩa của ca dao, tục ngữ không phải là đối tượng quan tâm của chúng tôi

chương trình được thiết kế trong Access luôn đòi hỏi tính chặt chẽ về quan hệ dữ liệu, nếu tổ chức mối quan hệ dữ liệu không đúng logic thì hệ quả sẽ xảy ra theo các

hệ quả sau:

Chương trình có thể không thực thi

Chương trình thực thi không ổn định, có thể gây ra lỗi

Số liệu thống kê có thể không chính xác

Ngược lại, nếu cơ sở dữ liệu (CSDL) được tổ chức tốt, các mối quan hệ ràng buộc hợp logic thì kết quả thu được là đáng tin cậy (xem cụ thể ở phần phụ lục

1 Khái niệm “câu văn bản” ở đây được hiểu là một hoặc một tập hợp các câu ca dao - tục ngữ được lựa chọn để làm căn cứ nghiên cứu.

Trang 34

minh họa chương trình xử lý ngữ liệu) Chương trình không những giúp người sử dụng tránh mắc sai lầm khi phân loại dữ liệu qua hệ thống bẫy lỗi, mà còn giúp người sử dụng thực hiện rất nhiều yêu cầu mà thông thường rất khó thực hiện được bằng tay.

* Tổ chức kho lưu trữ tư liệu

Đơn vị lưu trữ là câu văn bản (câu/ đơn vị ca dao, tục ngữ) Mỗi một câu

văn bản sẽ được làm giàu bằng việc gán thêm các thông tin về phân loại chủ

đề, các tiểu chủ đề, nguồn gốc của văn bản hoặc tài liệu được trích dẫn ra

Các câu văn bản được phân loại theo 4 chủ đề: ăn uống, mặc, ở, đi lại.

Mỗi chủ đề lại được phân ra theo các chủ đề con Trong mỗi chủ đề con lạiđược tiếp tục phân ra thành các chủ đề con khác nữa

Quan hệ giữa chủ đề với câu văn bản là quan hệ một - nhiều, cụ thể là:

a) Mỗi câu văn bản đều mang một ID (identity) duy nhất trong CSDL Thí dụ

câu: “Ai chẳng muốn ăn của ngon, mặc đồ tốt” có IDsentence = 396, và được lưu

trữ 1 lần duy nhất trong Bảng 1 Các câu văn bản được phân loại theo 4 chủ đề như

ở Bảng 2 Ở cột IDtopic trong Bảng 3, câu có IDsentence = 396 được phân loại

thuộc chủ đề ăn uống nên nó có IDtopic = 1, nó lại được phân loại thuộc chủ đề mặc nên nó có IDtopic = 2 Tương tự, câu có IDsentence = 2127 “Ăn cơm hom nằm giường hòm, đắp chiếu Hới” được phân loại thuộc chủ đề ăn uống nên nó có IDtopic = 1, nó lại được phân loại thuộc chủ đề ở nên có IDtopic = 3 Câu có IDsentence = 3222 “Thuyền ai lên xuống bến sông // Phải duyên, phải vợ phải chồng thì vô” thuộc chủ đề đi lại nên có IDtopic = 4

Bảng 1: Nội dung

Phải duyên, phải vợ phải chồng thì vôBảng 2: Chủ đề

Trang 35

thuộc 2 chủ đề ăn uống và mặc Tương tự, câu có IDsentence = 2127 xuất hiện 1 lần

trong Bảng 1, nhưng nó lại xuất hiện 2 lần trong Bảng 3 là vì nó được phân loại

thuộc 2 chủ đề ăn uống và ở

b) N u câu v n b n 1 ch ếu câu văn bản ở 1 chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề ăn bản ở 1 chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề ản ở 1 chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề ở 1 chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề ủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề c phân lo i ti p thu c ch ại tiếp thuộc chủ đề ếu câu văn bản ở 1 chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề ộc chủ đề ủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề

nh h n thì nó ỏ hơn thì nó được lưu trữ như Bảng 4 ơn thì nó được lưu trữ như Bảng 4 được phân loại tiếp thuộc chủ đề ư c l u tr nh B ng 4 ữ như Bảng 4 ư ản ở 1 chủ đề được phân loại tiếp thuộc chủ đề

Bảng 4: Phân loại theo cấp độ của chủ đề

Trang 36

được phân thành loại phẩm chất tốt (IDlevel_1 = 201) Tương tự, câu có IDsentence

= 3127 thuộc chủ đề ăn uống được phân thành loại kinh nghiệm ăn uống (IDlevel_1

= 102) Câu này cũng thuộc chủ đề ở và được phân thành loại điều kiện tốt (IDlevel_1 = 301) Câu có IDsentence = 3222 thuộc chủ đề đi lại được phân thành loại đường thuỷ (IDlevel_1 = 401).

Mối quan hệ giữa Bảng 1 - Bảng 3 - Bảng 4, và giữa Bảng 2 - Bảng 3 - Bảng

4 kiểu như vậy được gọi là quan hệ một - nhiều.

Việc cấp mã ID là do chương trình tự động thực hiện, người sử dụng chỉquan tâm mỗi một việc là làm sao phân loại cho đúng chủ đề mà thôi Toàn bộ quytrình phân loại đều được hiển thị rõ ràng trên Form làm việc trực quan

Tiểu kết

Các khái niệm cơ bản đã dẫn dắt vấn đề nghiên cứu của đề tài tập trung vàongả đường chính là văn hóa, không gian văn hóa, người Việt - đồng bằng Bắc Bộ,các thành tố văn hóa trong đó đặc biệt là thành tố văn hóa đảm bảo đời sống (ăn,mặc, ở và đi lại) Đề tài bước đầu đã những phân tích, giải thích nhằm giới thuyếtphạm vi nghiên cứu cả về không gian lẫn thời gian Nó tạo nên một sợi dây xuyênsuốt, nhất quán về hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu trên cơ sở của lýthuyết nghiên cứu khu vực học

Trọng tâm của đề tài là lấy không gian văn hóa làm đối tượng nghiên cứu,khai thác nguồn tư liệu vốn rất truyền thống là văn học dân gian ca dao, tục ngữnhưng lại áp dụng lý thuyết, phương pháp với việc định dạng đối tượng theo hướngtiếp cận mới Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xử lý tư liệu bằng phươngpháp định lượng tầng bậc, vừa tiết kiệm được trí lực vừa mang lại độ xác thực cao

Nguồn sử liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan được thực hiện rấtnhiều, trải rộng trên các lĩnh vực như thể loại ngôn ngữ, thơ ca, vần điệu, hìnhtượng… nhưng nghiên cứu tổng thể về không gian văn hóa nói chung, thành tố vănhóa đảm bảo đời sống (ăn, mặc ở và đi lại) nói riêng của nhân dân được gửi gắmvào đó vẫn còn là mảnh đất khai hoang, chúng tôi tiếp tục khám phá ở các phần nộidung sau để thấy được sự quan tâm của người Việt đồng bằng Bặc Bộ đến các vấn

đề đó như thế nào?

Trang 37

Chương 2 VĂN HÓA ẨM THỰC CỦA NGƯỜI VIỆT ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

QUA CA DAO, TỤC NGỮ

Ẩm thực/ăn uống là một trong ba phương diện quan trọng bậc nhất của đờisống vật chất để đảm bảo sự tồn tại của mỗi cộng đồng Theo cách nói dân dã thì đó

là một trong ba cái: “cái ăn, cái mặc, cái ở” của con người Con người muốn tồn tại

sự sống thì không thể thiếu một trong ba yếu tố thiết yếu đó Từ rất lâu người Việtđã ý thức được tầm quan trọng của cái ăn uống và điều này được phản ánh rất đậm

nét trong kho tàng ca dao tục ngữ người Việt đồng bằng Bắc Bộ như “Có thực mới vực được đạo, “Người có ăn mới khỏe, mẻ không ăn thì mẻ cũng chết” có nghĩa là

con người phải có cái ăn mới có sức làm việc để thực hành được đạo lý, nếu khôngcó ăn thì đừng mong làm được những chuyện xa xôi, to tát gì Và trong cuộc sống

hàng ngày con người phải lao động để tạo ra của cải vật chất“Có làm thì mới có ăn”, “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ Hay khi ốm đau bệnh tật phải chữa trị kịp thời, uống đúng thuốc và đủ liều lượng thì mới chữa khỏi bệnh được “Ăn cơm đúng bữa, chữa bệnh kịp thời”, “Cơm phải rau, đau phải thuốc”, “Thuốc đắng dã tật”, “Cơm ba bát thuốc ba thang”

Đặc biệt ngày nay, khi xã hội phát triển, khả năng lao động sản xuất để làm

ra của cải vật chất ngày càng được nâng cao Việc ăn uống của con người không chỉcòn là nhu cầu tồn tại mà còn giúp cho con người có được những cái nhìn hoàn mỹhơn cả về đời sống vật chất và tinh thần từ một nhu cầu tưởng chừng là rất tầmthường nhưng vô cùng quan trọng đối với mỗi cộng đồng Qua đó, cho chúng tathấy được những tri thức dân gian ăn sâu vào trong đời sống sinh hoạt hàng ngàycủa cư dân đồng bằng Bắc Bộ và được ca dao tục ngữ lưu truyền từ đời này đến đờikhác từ tri thức chế biến các loại sản vật nông nghiệp làm đồ ăn thức uống, đúc kếtkinh nghiệm,… đến tri thức lựa chọn món ăn ngon - đặc sản của các vùng, kinhnghiệm chăm sóc sức khỏe

Trang 38

Chính vì ăn uống có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống con người nênthông qua ăn uống ông cha ta còn gửi gắm, ẩn dụ nhiều triết lý dân gian vào ca daotục ngữ như: khuyên răn, giáo dục, phê phán, nhằm bồi dưỡng thêm tri thức ứng xửtrong các mối quan hệ gia đình và xã hội, tri thức về đạo lý và văn hóa người Việt.Loại nghĩa ẩn dụ nói về các vấn đề triết lý xung quanh đời sống con người chiếm

20.24% tổng số ca dao tục ngữ nói về ăn uống Ví dụ như: “Miếng ăn là miếng nhục”, “Ăn cháo đái bát”, “Miếng ăn quá khẩu thành tàn”, “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ăn” , “Trách ai đặng cá quên nơm // Đặng chim bẻ ná, quên ơn sinh thành”, “Chớ ăn cây táo rào cây sung”,… Hay trong quan hệ ứng xử vợ chồng,

người vợ Việt được ca dao, tục ngữ sử dụng những hình ảnh bếp núc để ghi lại

những hành động của người phụ nữ cư xử hết sức khôn ngoan, dịu dàng:“Chồng giận thì vợ bớt lời// Cơm sôi nhỏ lửa thì đời nào khê”; Hay“Chồng giận thì vợ bớt lời// Cơm sôi bớt lửa chẳng rơi hạt nào”…

Việc hiểu nghĩa toàn bộ kết cấu của loại nghĩa ẩn dụ này không xuất phát từviệc hiểu nghĩa cụ thể của các thành tố, yếu tố Nói một cách khác nghĩa của toàn

bộ kết cấu là tổng hòa nghĩa của tất cả các nghĩa cấu thành nó chứ không phải bằngcách cộng nghĩa thuần túy của các nghĩa cụ thể Ví dụ: “Bưởi cũng tham, cam cũngmuốn” Ở đây nghĩa của toàn bộ kết cấu không phải là con số cộng giữa hai thành tốgiữa “bưởi cũng tham” cộng với “cam cũng muốn” mà được hiểu theo cách biểutrưng hóa Nghĩa là khi hoạt động ở trong kết cấu này thì ý nghĩ thường trực của kếtcấu bị triệt tiêu thay vào đó là nghĩa hình tượng “con người” có lòng tham lam, cái

gì cũng muốn

Tuy nhiên, ngay trong các cấu trúc được hiểu theo nghĩa ẩn dụ các hìnhtượng, không phải trường hợp nào nghĩa của từng thành tố trong các kết cấu cũngmất đi hoàn toàn Tùy từng hoàn cảnh, có khi nghĩa cụ thể của từng thành tố chỉ bị

mờ nhạt đi ít nhiều Ví dụ: “Gạo da ngà, nhà gỗ lim”, “Nhà ngói cây mít” Được

hiểu với nghĩa hình tượng là nhà giàu ở thôn quê đồng bằng Bắc Bộ, nhưng ở đâynghĩa cụ thể của “nhà ngói” và “cây mít”, “gạo da ngà” và “nhà gỗ lim” vẫn không

bị mất đi mà chính nó là cơ sở để cho ta hiểu nghĩa hình tượng là “nhà giàu” Nóicách khác thì nghĩa của toàn bộ kết cấu không được hình thành bằng con đườngbiểu trưng hóa toàn bộ Nó được hiểu bằng hình ảnh so sánh mang tính chất tượng

Trang 39

trưng Với quan niệm của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ trước đây thì “nhàgiàu” là các gia đình phải có nhà ngói, gỗ lim, thưởng thức sản vật ngon và vườntược, trong đó cây mít là loại cây ăn quả tiêu biểu cho sự phú quý của người ở nôngthôn.

Bởi lẽ, ăn uống của người Việt có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn đến mọimặt đời sống của con người và xã hội như vậy nên qua khảo sát thống kê trong 4 tập

ca dao, tục ngữ chúng tôi đã thu thập được 3.096 đơn vị có nội dung thuộc về vănhóa đảm bảo đời sống (ăn, mặc, ở, đi lại) của người Việt đồng bằng Bắc Bộ Trongđó có tới 2.235 đơn vị nói về ẩm thực, chiếm 72.2%

Có thể nói ẩm thực có tần số xuất hiện cao nhất trong bảng phân bố chungcủa văn hóa đảm bảo đời sống Xin xem các bảng dưới đây:

Bảng 5: Tần số xuất hiện của các thành tố văn hoá đảm bảo đời sống

Ăn uống/Ẩm thực

Tần số xuất hiện

Nếu như ca dao tục ngữ là sáng tạo gắn cuộc sống thường nhật và được tích

lũy qua nhiều thế hệ thì số liệu trong bảng 1 cho thấy Ẩm thực là lĩnh vực được

Trang 40

người Việt đồng bằng Bắc Bộ dành cho sự quan tâm đặc biệt Cũng trên cơ sở phântích định lượng, chúng ta có thể hiểu sâu hơn về sự quan tâm này.

Dựạ vào nội dung phản ánh của các đơn vị ca dao tục ngữ nói về ẩm thựccủa người Việt đồng bằng Bắc Bộ, chúng tôi đã chia 2.235 đơn vị đã thống kê đượcthành các loại hình dưới đây:

Bảng 6: Ca dao, tục ngữ về ẩm thực được thể hiện qua các loại hình

4 Ẩm thực với mối quan hệ gia đình,

xã hội và luân thường, đạo lý

danh: Bún Cổ Đô, ngô Kiều Mộc; Bún Đoàn, quan Triện, biện Khoái Khê; Bún Mai Cương, Tương Đình Tổ; Bún ngon bún mát Tứ Kì // Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa; Bún Tái Đầm, gà hầm Văn Phú, xôi củ làng Chanh…

Nói về món Bánh đúc: Bánh đúc chợ Go, trâu bò chợ Bản; Bánh đúc kẻ Đanh, bánh hành kẻ Láng…

Ngày đăng: 25/09/2014, 23:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb TPHCM và khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb TPHCM và khoa Lịchsử trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
2. Toan Ánh (1992), Phong tục Việt Nam- Nếp cũ gia đình, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam- Nếp cũ gia đình
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1992
3. Trần Thúy Anh (2009), Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử cổ truyền với tự nhiên và xã hội của người Việtchâu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2009
4. Nguyễn Đức Dân (1987), Đạo Khắc Phi, (1999), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội, (lần 3), tr.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo "Khắc Phi, (1999), "Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân (1987), Đạo Khắc Phi
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
5. Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Thu Hà (2001), Từ điển văn hóa ẩm thực Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóaẩm thực Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thị Dung, Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Thu Hà
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
6. Vũ Dung, Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1997), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ ViệtNam
Tác giả: Vũ Dung, Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
7. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1997), Ca dao trữ tình Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao trữ tình Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1997
8. Vũ Minh Giang (2009), Lịch sử Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Vũ Minh Giang
Nhà XB: Nxb Giáodục Việt Nam
Năm: 2009
9. Vũ Minh Giang (2005), Tập bài giảng Khu vực học và liên cứu liên ngành dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh (Chưa xuất bản thành sách) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực học và liên cứu liên
Tác giả: Vũ Minh Giang
Năm: 2005
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn tục Việt Nam- Nếp cũ gia đình, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: tục Việt Nam- Nếp cũ gia đình
Nhà XB: Nxb Thanhniên
11. Diệp Đình Hoa (2000), Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xãhội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
Năm: 2000
12. Nguyễn Hải Kế (1996), Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Hải Kế
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1996
13. Đinh Gia Khánh, Văn học dân gian, tập II, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
14. Nguyễn Xuân Kính (2007), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2007
15. Nguyễn Xuân Kính (1990), Qua ca dao tục ngữ tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc của người Thăng Long- Hà Nội, Tạp chí văn hóa dân gian số 2-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua ca dao tục ngữ tìm hiểu sự sành ăn khéo mặccủa người Thăng Long- Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Năm: 1990
17. Đinh Gia Khánh, (1989) “Văn hóa trong ăn uống”, Văn hóa dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn hóa trong ăn uống”
18. Phan Huy Lê (chủ biên), (1997), Cuộc sống nông thôn ở châu thổ sông Hồng, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống nông thôn ở châu thổ sông Hồng
Tác giả: Phan Huy Lê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1997
19. Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ biên, (1996), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, Tập II, đề tài KX 07 -02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị truyền thống vàcon người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang chủ biên
Năm: 1996
20. Nguyễn Loan, Nguyễn Hòa (1994), Từ điển món ăn Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển món ăn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Loan, Nguyễn Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1994
21. Phạm Việt Long (2010), Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình
Tác giả: Phạm Việt Long
Nhà XB: Nhà xuất bảnĐại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nội dung - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 1 Nội dung (Trang 34)
Bảng 3: Phân loại theo chủ đề - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 3 Phân loại theo chủ đề (Trang 35)
Bảng 4: Phân loại theo cấp độ của chủ đề - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 4 Phân loại theo cấp độ của chủ đề (Trang 35)
Bảng 6: Ca dao, tục ngữ về ẩm thực được thể hiện qua các loại hình - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 6 Ca dao, tục ngữ về ẩm thực được thể hiện qua các loại hình (Trang 40)
Bảng 7: Đặc sản ẩm thực - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 7 Đặc sản ẩm thực (Trang 41)
Bảng 8:                                                 CÁC LOẠI ĐẶC SẢN PHÂN BỐ THEO ĐỊA PHƯƠNG - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 8 CÁC LOẠI ĐẶC SẢN PHÂN BỐ THEO ĐỊA PHƯƠNG (Trang 43)
Bảng 9: Tính chất của một số vật phẩm được thể hiện qua ca dao, tục ngữ - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 9 Tính chất của một số vật phẩm được thể hiện qua ca dao, tục ngữ (Trang 50)
Bảng 10: Số lượng ca dao, tục ngữ nói về ẩm thực với chăm sóc sức khỏe Thứ tự Các mặt thể hiện  Tần số xuất hiện Tỷ lệ % - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 10 Số lượng ca dao, tục ngữ nói về ẩm thực với chăm sóc sức khỏe Thứ tự Các mặt thể hiện Tần số xuất hiện Tỷ lệ % (Trang 53)
Bảng 12: Ẩm thực với bồi dưỡng luân thường, đạo lý - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 12 Ẩm thực với bồi dưỡng luân thường, đạo lý (Trang 57)
Bảng 14: Ca dao, tục ngữ về nhà ở được thể hiện qua các nội dung - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 14 Ca dao, tục ngữ về nhà ở được thể hiện qua các nội dung (Trang 77)
Bảng 15: Kinh nghiệm làm nhà - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 15 Kinh nghiệm làm nhà (Trang 78)
Bảng 16: Nhà ở với quan niệm về giá trị  cuộc sống - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 16 Nhà ở với quan niệm về giá trị cuộc sống (Trang 80)
Bảng 18:  Phương tiện giao thông thủy - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 18 Phương tiện giao thông thủy (Trang 83)
Bảng 17 : Các mặt biểu hiện của đi lại - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 17 Các mặt biểu hiện của đi lại (Trang 83)
Bảng 19:  Phương tiện giao thông bộ - Văn hóa đảm bảo đời sống của người việt đồng bằng bắc bộ qua ca dao, tục ngữ
Bảng 19 Phương tiện giao thông bộ (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w