1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thực tiễn áp dụng công cụ hạn mức tín dụng của ngân hàng nhà nước

21 2,9K 34

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 56,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế. Công cụ Hạn mức tín dụng được ngân hàng Nhà nước sử dụng từ năm 1994 và đã bộc lộ những ưu điểm cũng như hạn chế. Bài viết sẽ đi sâu phân tích thực trạng sử dụng công cụ Hạn mức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế tàichính của Nhà nước Chính sách tiền tệ quốc gia có một vai trò rất quan trọng giúpphát triển đất nước nhưng đối với Việt Nam, khi chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạchhóa tập trung bao cấp nặng nề sang nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, chúng ta chưa có sẵn một chính sáchtiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ trong cơ chế thị trường Do đó xây dựng

và đổi mới chính sách tiền tệ được coi là một khâu đặc biệt quan trọng

Từ khi Nhà nước ban hành hai pháp lệnh ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước ViệtNam đã xây dựng chính sách tiền tệ và coi đây là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước

về tiền tệ và do Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm soạn thảo và thực thi Trong quátrình thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến nay đã thuđược nhiều thành quả đáng ghi nhận, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kinh tếnhằm ổn định tiền tệ quốc gia, tuy nhiên cũng còn rất nhiều việc phải làm để hoàn thiệnđược chính sách tiền tệ Việt Nam để phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu của đất nước

Trong quá trình nghiên cứu môn học Quản lý tiền tệ Ngân hàng trung ương vàtìm hiểu các tài liệu có liên quan nhóm chúng em thấy việc sử dụng công cụ hạn mứctín dụng trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cònnhiều vấn đề cần quan tâm bên cạnh những thành quả đạt được Chính vì vậy chúng em

đã chọn đề tài: “Thực tiễn việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng trong điều hànhchính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua ”

Do việc tìm hiểu còn hạn chế nên bài tiểu luận của nhóm chúng em khó tránhkhỏi những thiếu sót, chúng em rất mong sự góp ý của Cô giáo để đề tài được hoànthiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH

SÁCH TIỀN TỆ 1.1.Ngân hàng trung ương.

1.1.1 Định nghĩa về Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương là một định chế pháp lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng vàngân hàng; giữ độc quyền phát hành tiền tệ, Ngân hàng của các ngân hàng và tổ chứcđiều hòa lưu thông tiền tệ trong phạm vi cả nước nhằm ổn định giá trị của đồng tiền

1.1.2 Chức năng của ngân hàng trung ương

1.1.2.1 Chức năng phát hành tiền

• Ngân hàng trung ương được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui

định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức pháthành ) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốcgia

Đồng tiền do Ngân hàng trung ương phát hành là đồng tiền lưu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cưỡng chế lưu hành, vì vậy mọi người không có quyền từ chối

nó trong thanh toán

Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của Ngân hàng trung ương trongviệc xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế

Trang 3

Dưới chế độ lưu thông tiền vàng, các Ngân hàng trung ương được yêu cầuphát hành tiền giấy trên cơ sở có vàng đảm bảo Tuy nhiên, yêu cầu phải có vàng đảmbảo khi phát hành tiền giấy dẫn đến sự thiếu linh hoạt trong phát hành tiền do khốilượng tiền phát hành không gắn với nhu cầu lưu thông trao đổi hàng hoá mà phụ thuộcvào số lượng vàng dự trữ của Ngân hàng trung ương Khi nhu cầu tiền tệ của nền kinh

tế vượt quá khả năng đảm bảo của lượng vàng dự trữ, các Ngân hàng trung ương khôngthể đáp ứng được Do vậy yêu cầu đảm bảo bằng vàng dần dần bị nới lỏng tiến tới bãi

bỏ

Chức năng này được Ngân hàng trung ương thực hiện thông qua các kênh:

- Cho vay đối với các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng

- Qua thị trường ngoại tệ, vàng

- Cho ngân sách nhà nước vay

- Qua thị trường mở

1.1.2.2 Chức năng ngân hàng của các ngân hàng

Trong trường hợp này Ngân hàng thương mại trở thành khách hàng củaNgân hàng trung ương Khi thực hiện chức năng này Ngân hàng trung ương sử dụngcác dịch vụ sau:

Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng, bao gồm:

-Tiền gửi thanh toán: đáp ứng nhu cầu chi trả

-Tiền gửi dự trữ bắt buộc: áp dụng đối với các tổ chức tín dụng có huy động

Trang 4

Cho vay đối với các tổ chức tín dụng: thông qua hoạt động tái chiết khấu vàcho vay có thế chấp các giấy tờ có giá nhằm điều tiết khối lượng tiền cung ứng mộtcách có hiệu quả.

Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt: các tổ chức tín dụng có thể thựchiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng trung ương thông qua hình thứcthanh toán bù trừ

1.1.2.3 Ngân hàng Trung ương Là Ngân hàng nhà nước:

Ngân hàng trung ương cung ứng các phương tiện thanh toán cho hệ thống khobạc nhà nước

Thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động tiền tệ, tín dụng và thanh toán đốinội và đối ngoại

Thay mặt Chính phủ tham gia ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toánvới nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế

Thay mặt chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài chính tín dụng quốc tế vớicương vị là thành viên của tổ chức này

Trang 5

1.1.3 Vai trò điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương.

Điều hành chính sách tiền tệ quốc gia là một vai trò rất quan trọng của Ngânhàng trung ương bởi chính sách tiền tệ quốc gia là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong

đó Ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khốilượng tiền cung ứng nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền, đồng thời thúc đẩy sựtăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm

Vai trò này thể hiện ở việc Ngân hàng trung ương có trách nhiệm xây dựng vàthực thi chính sách tiền tệ quốc gia, tức là Ngân hàng trung ương sẽ quyết định về nộidung chủ yếu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ thông qua các chính sách: chínhsách cung ứng và điều tiết khối lượng, chính sách tín dụng cho nền kinh tế, chính sáchngoại hối, chính sách tạm ứng cho ngân sách Việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngânhàng trung ương sẽ được thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ vàviệc quyết định sử dụng công cụ nào là tùy thuộc vào tình hình kinh tế và bối cảnh tàichính trong từng thời kỳ cụ thể Từng động thái của Ngân hàng trung ương đều ảnhhưởng đến các hoạt động của ngân hàng, của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ đếntiềm lực tài chính quốc gia

Trang 6

1.2.Chính sách Tiền tệ.

1.2.1.Khái niệm về Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô do ngân hàngtrung ương soạn thảo và tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội củađất nước trong một thời kỳ nhất định

Trong nền kinh tế, có nhiều chính sách vĩ mô, mỗi chính sách đều có vị trí vàvai trò riêng, trong đó, chính sách tiền tệ luôn được coi là một chính sách quan trọng,

có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chính sách vĩ mô khác

Trong nền kinh tế, ổn định tiền tệ và nâng cao sức mua đồng tiền trong nướcluôn được coi là mục tiêu có tính chất dài hạn Ngân hàng trung ương điều hành chínhsách tiền tệ phải kiểm soát được tiền tệ, cho phù hợp giữa khối lượng tiền với mức tăngtổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa, giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, giữa tiền vàhàng, không gây thừa hoặc thiếu so với nhu cầu của lưu thông Xét cho cùng, chínhsách tiền tệ có thể được xác định một trong hai hướng sau:

Chính sách tiền tệ mở rộng là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế,nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm Trong trường hợpnày, chính sách nhằm vào chống suy thoái

Chính sách tiền tệ thắt chặt là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế,nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, trường hợp nàychính sách tiền tệ nhằm vào việc giảm lạm phát

Chính sách tiền tệ được vận hành theo hướng nào tùy thuộc vào thực trạng kinh

tế và tiền tệ trong từng thời kỳ, thông qua nhiều công cụ khác nhau Việc định hướngchính sách tiền tệ theo hướng nào, thực sự là nghệ thuật của các nhà hoạch định chínhsách

Trang 7

1.2.2 Mục tiêu cuối cùng của Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà ngân hàng trung ương thôngqua các hoạt động của mình tác động vào khối lượng tiền trong lưu thông nhằm phục

vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ;trong đó mục tiêu cao nhất là ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm

Ổn định tiền tệ

Ổn định tiền tệ bao gồm ổn định sức mua đối nội và ổn định sức mua đối ngoạicủa đồng tiền quốc gia, nó thể hiện qua việc kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá hốiđoái.Từ đó giúp ổn định giá cả - đây là mục tiêu hàng đầu và dài hạn của chính sáchtiền tệ vì khi giá cả ổn định sẽ giúp cho Nhà nước hoạch định được phương hướng pháttriển kinh tế một cách có hiệu quả hơn do loại trừ được sự biến động của giá cả, ngoài

ra nó còn giúp cho môi trường đầu tư ổn định, góp phần thu hút vốn đầu tư, khai thácmọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất đem lại nguồn lợicho mình cũng như xã hội

Tăng trưởng kinh tế:

Nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng ổn định là yêu cầu phát triển kinh tế của mỗiquốc gia và là một trong những nhân tố quan trọng để đảm bảo cho sự ổn định của tiền

tệ Ngược lại, tiền tệ ổn định thì tăng trưởng kinh tế mới bền vững, mới nâng cao đượcthu nhập của người lao động, đảm bảo các chính sách xã hội được thỏa mãn, trên cơ sở

đó ổn định về chính trị và xã hội

Trang 8

Nền kinh tế tăng trưởng là khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn hơn nhịp độtăng dân số Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế (tức là saukhi trừ đi tỷ lệ lạm phát cùng thời kỳ) Qúa trình thực hiện tăng, giảm lượng tiền cungứng có ảnh hưởng rất lớn đến thực trạng nền kinh tế Vì thế một trong những mục tiêucủa chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế.

Công ăn việc làm

Cùng với mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ cũng hướng vào mụctiêu tạo công ăn việc làm cho mọi thành viên trong xã hội, nhất là đối với các quốc giachưa phát triển, năng suất lao động thấp, dân số tăng với tốc độ cao thì tỷ lệ thất nghiệpcao là tất yếu Vì vậy, chính sách tiền tệ phải tập trung vào việc tạo ra công ăn việc làmnhiều hơn nhằm giảm thất nghiệp bằng các biện pháp tác động để tăng cường vốn đầu

tư mở rộng các hoạt động trong nền kinh tế

Tuy nhiên chống thất nghiệp, tạo công ăn việc làm chỉ có thể đảm bảo một tỷ lệnhất định, khó có thể xóa được thất nghiệp hoàn toàn Mỗi nước đều có một tỷ lệ thấtnghiệp tự nhiên, việc giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng là một trong những mục tiêucủa chính sách tiền tệ Muốn đạt được mục tiêu về công ăn việc làm thì phải kết hợpchống suy thoái, nhất là suy thoái định kỳ và phải đạt được mức tăng trưởng kinh tế ổnđịnh

Trang 9

CHƯƠNG II HẠN MỨC TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG HẠN MỨC TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRONG THỜI GIAN QUA 2.1.Công cụ hạn mức tín dụng.

Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp một cách trực tiếpmang tính hành chính của Ngân hàng trung ương để khống chế mức tăng khối lượngtín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng cho nền kinh tế, đảm bảo mức tăngtrưởng tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đề ra trong điều hành chính sách tiền

tệ hàng năm

2.1.1.Định nghĩa về Hạn mức tín dụng

Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng trung ương buộc các ngânhàng thương mại tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế

kinh tế trong một thời kỳ nhất định

một ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế trong từng thời kỳ

Trang 10

2.1.2 Cơ sở xác định:

phải phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế

hàng thương mại xác định căn cứ vào tỷ trọng cho vay của ngân hàng đó trong quá khứ

so với tổng mức cho vay của hệ thống ngân hàng

2.1.3.Cơ chế tác động

khống chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế Do vậy, cơ chế tác động của nómang tính áp đặt ở dạng chỉ tiêu kế hoạch hàng năm không được vượt quá đối với hệthống ngân hàng thương mại

mại từ đó khống chế khối lượng tiền cung ứng tăng thêm để phù hợp với trình độ pháttriển của nền kinh tế, tránh tình trạng tổng khối lượng cung tiền tăng quá mức trong lưuthông Lúc này, Ngân hàng trung ương phải theo dõi hoạt động cho vay của các ngânhàng thương mại, nếu ngân hàng thương mại cho vay vượt quá hạn mức tín dụng quyđịnh sẽ bị xử phạt

dụng cho vay

Trang 11

2.1.4.1.Ưu điểm

soát chặt chẽ tổng lượng tiền cung ứng

bởi việc mở rộng tín dụng quá lớn

lớn hơn mức tăng lãi suất danh nghĩa

2.1.4.2.Nhược điểm

không thoả mãn nhu cầu vốn của nền kinh tế

cấu kinh tế (các ngân hàng muốn quay vòng vốn nhanh để tăng doanh số cho vay)

định không phù hợp Do những ngân hàng thương mại có khả năng huy động nhiềuvốn lại bị hạn chế cho vay, trong khi một số ngân hàng không có khả năng huy độngvốn lại không sử dụng hết được hạn mức của mình Điều nguy hiểm hơn nữa là chínhviệc kìm hãm này sẽ làm phát sinh các tổ chức tài chính mới, nằm ngoài phạm vi kiểmsoát của Ngân hàng trung ương, thay thế ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay Kếtquả cuối cùng là làm cho chính sách tiền tệ dựa trên hạn mức tín dụng mất đi hiệu lực,

Trang 12

2.2.Thực tiễn áp dụng công cụ hạn mức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2.2.1.Từ năm 1994 đến năm 1997

2.2.1.1.Thực tiễn áp dụng

Từ năm 1994, Ngân hàng Nhà nước thực hiện hạn mức tín dụng cho 4 ngânhàng thương mại quốc doanh Sau đó, việc áp dụng hạn mức tín dụng được mở rộngsang ngân hàng thương mại cổ phần và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài lớn nhằmhạn chế tốc độ cho vay, để kiểm soát lạm phát Trong điều kiện thị trường thứ cấp chưaphát triển, Ngân hàng Nhà nước chưa thể sử dụng thị trường mở để kiểm soát sự giatăng tổng phương tiện thanh toán, thì việc sử dụng công cụ này là cần thiết

Tuy nhiên, do bản chất của hạn mức tín dụng là công cụ điều hành mang tínhhành chính, can thiệp trực tiếp và chỉ được phân bổ đối với một số ngân hàng thươngmại, nên phần nào hạn chế tính công bằng trong cạnh tranh Đồng thời, hạn mức tíndụng cũng không được điều chỉnh một cách linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đã làmảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế

Trang 13

2.2.1.Thực trạng nền kinh tế xã hội trong năm 2010 và hai tháng đầu năm 2011

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2010

Kinh tế thế giới đang dần phục hồi song vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiềm ẩn.Trong nước, thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sốngdân cư Trong bối cảnh đó Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiềuNghị quyết, chính sách cùng các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể, trong đó trọng tâm vàtrực tiếp là Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thựchiện tốt Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2010 Đồng thời tập trung lãnh đạo, chỉđạo các ngành, các cấp, các địa phương thực hiện nghiêm và đồng bộ các giải pháp, nỗlực vượt qua khó khăn, huy động hiệu quả các nguồn lực, tận dụng kịp thời và tối đa cơhội, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Kế hoạchphát triển kinh tế-xã hội năm 2010 là: “Nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởngkinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chấtlượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xãhội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn địnhchính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạtmức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006-2010”

Tình hình kinh tế - xã hội 2 tháng đầu năm 2011

Trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô có những biểu hiện không ổn định: Giá

cả trên thị trường thế giới và trong nước có xu hướng tăng, thị trường tài chính, tiền tệ

Ngày đăng: 25/09/2014, 22:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w