NỘI DUNG 5: CHUYÊN ĐỀ LIÊN QUANCHUYÊN ĐỀ 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀTỔ CHỨC, BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY CHUYÊN ĐỀ 2 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN VÀ CÔNG TÁC XÂY
Trang 1MỤC LỤC Tài liệu phục vụ kỳ thi nâng ngạch cho viên chức khối Đảng, đoàn thể năm
201x NỘI DUNG 1: BÀI SOẠN 16 CÂU HỎI + TRẢ LỜI ÔN THI CÔNG
CHỨC KHỐI ĐẢNG
Câu 1: Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Câu 2 Vai trò công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ hiện nay : đổi mới pháttriển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm xây dựng Đảng là vấn đề then chốt
Câu 3 Các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Câu 4: Vì sao từ khi có chính quyền đảng CS VN là Đảng duy nhất lãnh đạo nhànước và Xã hội:
Câu 5: Vì sao khi có chính quyền Đảng ta là Đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước
Câu 9: Vai trò của Đảng viên đối với – trong sự lãnh đạo của Đảng
Câu 10: Sự khẳng định của Đảng ta không có gì khác ngoài việc xây dựng tổquốc phục vụ nhân dân vì sao ? phân tích ý nghĩa
Cau 11 – Trong cong tac xay dung Dang, can phai xay dung vung manh nhữngmặt gì? Nêu rõ
Câu 12:XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, NÂNG CAONĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG
Câu 13: Những đặc điểm của Đảng CSVN cầm quyền hiện nay/
Câu 14 Các tổ chức xây dựng cơ sở Đảng có vai trò vị trí gì trong nguyên tắcxây dựng Đảng
Câu hỏi 15 Đảng cộng sản VN đã lãnh đạo nhân dân ta qua các thời kỳ nào Câu 16- Nền tảng tư tưởng của Đảng
Trang 2NỘI DUNG 2: CÁC CHUYÊN ĐỀ PHỤC VỤ ÔN THI CÔNG CHỨC KHỐI ĐẢNG
Chuyên đề Nội dung
1. Chế độ công vụ và một số vấn đề về đổi mới cơ chế quản lý
công chức, viên chức
2 Quan điểm của đảng và nhà nước về công tác tư tưởng, lý luận
và báo chí
3 Những vấn đề mới trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
4 Những vấn đề cơ bản củahệ thống chính trị việt nam
5 Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và những vấn đề toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
6 Nền hành chính và cải cách hành chính nhà nước
7 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
8 Quan điểm của đảng, nhà nước về phát triển giáo dục - đào tạo
và khoa học - công nghệ, phát triển văn hóa và con người trongthời kỳ mới
9 Một số vấn đề xây dựng đảng trong tình hình mới
NỘI DUNG 3: HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN:
1 – Giáo trình đường lối cách mạng của đảng cộng sản Việt Nam
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT VÀ TÓM TẮT NỘI DUNG MÔN ĐƯỜNG LỐI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đặc biệt là : chương 1- sự ra đời của đảng cộng sản VN và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 2 – Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc Đại hội 11 của đảng
+ Quan trọng: cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH bổ sung và phát triển 2011
+ Báo cáo chính trị của BCH TW khoá 10
3- Đặc biệt qtrọng : điều lệ Đảng cộng sản VN do Đại hội lần thứ 11 thông qua
HIẾN PHÁP 1946, HIẾN PHÁP 1959, HIẾN PHÁP 1980, HIẾN PHÁP 1992
Trang 3NỘI DUNG 5: CHUYÊN ĐỀ LIÊN QUAN
CHUYÊN ĐỀ 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀTỔ CHỨC, BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY CHUYÊN ĐỀ 2 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CẦM QUYỀN VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI CHUYÊN ĐỀ 3 : XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
CHUYÊN ĐỀ 4 : CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ VÀ QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
CHUYÊN ĐỀ 5 : NỀN HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
CHUYÊN ĐỀ 6 : MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XI
CHUYÊN ĐỀ 7 : ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ -XÃ HỘI
CHUYÊN ĐỀ 8 : TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THẾ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHUẨN BỊ KIẾN THỨC Những nội dung về Đảng và xây dựng Đảng Thi : Tự luận: TB nhận thức của cá nhân về chủ đề công tác xây dựng Đảng
Trắc nghiệm : Trả lời câu hỏi thể hiện nhận thức của mình
Tự luận : TN nội dung vấn đề về đảng và xây dựng Đảng
Giới hạn nội dung:
1 – Giáo trình đường lối cách mạng của đảng cộng sản Việt Nam Đặc biệt là : chương 1- sự ra đời của đảng cộng sản VN và Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng
2 – Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc Đại hội 11 của đảng + Quan trọng: cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH bổ
sung và phát triển 2011 + Báo cáo chính trị của BCH TW khoá 10 3- Đặc biệt qtrọng : điều lệ Đảng cộng sản VN do Đại hội lần thứ 11 thông qua
Mỗi câu 3 điểm – 3 câu 90 điểm
1 câu trình bày nhận thức Trắc nghiệm có 20 câu – có 3 loại câu hỏi - lựa chọn đáp án khoanh tròn
Lựa chọn đúng sai, lựa chọn điền từ vào chỗ trống Môn thi tự luận 10 đề mỗi đề 3 câu 1 đề ( 20-30 câu )
Trang 4NỘI DUNG 1: BÀI SOẠN 16 CÂU HỎI + TRẢ LỜI ÔN THI CÔNG
CHỨC KHỐI ĐẢNG
Câu 1: Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Chủ yếu : Các nhân tố đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của các nhân tố gì ?
- Phân tích cơ sở sáng tạo sự ra đời của Đảng
Là sự kết hợp Chủ nghĩa Mác Lê Nin với phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân
Sự ra đời có 3 nhân tố
Phân tích:
1- vị trí vai trò của quá trình yêu yêu nước
2- Phong trào yêu nước và phong trào công nhân có thể kết hợp với nhau
3- Phong trào công nhân và phong trào yêu nước có quan hệ chặt chẽ với nhau
4- Phong trào yêu nước của tri thức Việt Nam cũng là nhân tố kết hợp của 3 nhân tố trên
5 sáng tạo
(Lành) -1- Sự ra đời của Đảng CSVN
- nhân tố ra đời, phân tích cơ sở sáng tạo của sự ra đời của Đảng: CN Mác + phnog trào đấu tranh của công nhân+ nhân dân vai trò phong trào yêu nước trong quá trình đấu tranh + kết hợp phong trào đấu tranh của công nhân, có quan hệ chặt chẽ.
Nội dung 2: Vai trò của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện hiện nay:
Đại hội gần đây Đảng đã xây dựng “ xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt” ( thi trắc nghiệm có thể hỏi đến)
Về vai trò then chốt- giải thích tại sao có vai trò then chốt
Ý Chính:
1- Lịch sử CM khẳng định vai trò sự lãnh đạo của Đảng quyết định sự thắng lợi của cách mạng VN
2- Công cuộc đổi mới trong Công nghiệp Hoá, hiện đại hoá
Rất có nhiều thuận lợi và thách thức đặt ra nên vai trò của Đảng, công tác xây dựng Đảng ( quan trọng) với tư cách là
Sáng suốt
nội dung 3: đảng ta là Đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước
sự Lãnh đạo, công tác xây dựng Đảng với vai trò then chốt
Công tác xây dựng Đảng cũng cần phải quan tâm ( n nhiệm vụ quan tâm )
Trang 5Cũng có những nguy cơ: Đảng cũng có những sai lầm: tham ô, thoái hoá, biến chất
(Lành) – 2 Vai trò công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ hiện nay : đổi mới phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm xây dựng Đảng là vấn đề then chốt.
+ Vai trò then chốt, lịch sử cách mạng nước ta, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng VN
+ công cuộc đổi mới công nghiệp hoá+ hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, thuận lợi và thách thức khó khăn
+ Đảng ta là đảng cầm quyền lãnh đạo: Thuận lợi và nguy cơ, mắc sai lầm, tham nhũng, thoái hoá biến chất, đường lối sai lầm
3 Các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng trong thời kỳ đổi mới
- qua bao nhiêu kỳ đại hội
- từ thời đổi mới 1986
Dấu ấn quan trọng nhất nổi bật của mỗi kỳ đại hội (đánh giá , khẳng định nhiệm vụ kỳ trước, đề ra phương hướng kỳ sau)
1- Đại hội 6 là đại hội mở đầu của công cuộc đổi mới
Là đại hội xác định đường lối
Mốc rất quan trọng
2 - Đại hội 7: Đảng thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới Đại hội thông qua chiến lược xây dựng XH (1991-2005)
2- Đại hội 8 (1996) – THông qua đại hội thúc đẩy CNH, HĐH
dấu ấn : Đẩy mạnh CNH, HĐH xây dựng đất nước ( câu hỏi trắc nghiệm )
Đánh giá nhiệm vụ chặng đường
3- Đại hội 9 : tổng kết 10 - 15 năm đổi mới
Thông qua chương trình phát triển, chiến lược phát triển XH đổi mới (2001- 2010)
10 năm
4- Đại hội 10 : Đánh giá 20 năm xây dựng công cuộc đổi mới
Đề ra đường lối
Đề ra định hướng
Mục tiêu sớm đưa nước ta
4- Đại hội 11 Chú ý Đ Đ: THông qua cương lĩnh xây dựng đất nước lên CNXH - Dấu mốc quan trọng
Trang 6Cương lĩng phát triển KTXH 2011-2020 ( mục tiêu đưa đất nước ta trở thành nước
CN – văn kiện
3- (Lành): Các kỳ đại hội Đảng đại biểu toàn quốc trong thời kỳ đổi mới:
từ năm 1986 -2012 có mấy kỳ đại hội
+ điểm nổi bật các kỳ là gì ?
+ đánh giá, kiểm điểm
+ Đaị hội 6 mở đầu công cuộc đổi mới (1986)
+ đại hội 7 (1991) thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển KTXH 91-2000 ( 10 năm)
+ Đại hội 8 (1996) đẩy mạnh công nghiệp hoá + Hiện đại hoá + đánh giá nhiệm vụ chặng đầu tiên hoàn thành dẫn đến đẩy mạnh Công nghiệp hoá , hiện đại hoá
+ Đại hội 9 (2000 ) tổng kết 15 năm đổi mới, đề ra chiến lược phát triển KTXH 10 năm
+ Đại hội 10 ( 2006) Đánh giá 20 năm đổi mới 1986- 2006 đề ra chủ trương mới ctác tình trạng kém phát triển đó là mục tiêu
+ Đại hội 11 : Thông qua cương lĩnh và bổ sung phát triển chiến lược phát triển KTXH từ 2011 – 2020 đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp hiện đại
4- Nguy cơ chủ yếu của Đảng – khoá 7 -1954 có 4 nguy cơ
Đảng đề ra đất nước
- Tụt hậu về kinh tế
- Tham nhũng, lãng phí
- Chệch hướng XHCN
- Diễn biến hoà bình
1- Nguy cơ 1 : 1 bộ phận không nhỏ cán bộ Đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị , đạo đức lối sống ( nguy cơ lớn) dẫn đến sự tồn vong của chế độ
2- Nguy cơ 2: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu ,xa dân
3- Nguy cơ 3: tình trạng vi phạm các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng
Trang 7Năm 2011 có 3 nguy cơ
- Một bộ phận ko nhỏ Đảng viên suy thoái chính trị đạo đức lối sống
- Tình trạng tham nhũng, lãng phí nhũng nhiễu nhân dân
- vi phạm quy tắc tổ chức xây dựng ĐẢng
*******************/
5- Câu hỏi: Vì sao từ khi có chính quyền đảng CS VN là Đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và Xã hội:
- ND chính 1: Nêu suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền
Đảng TT sự nghiệp cách mạng của mình với vai trò LĐXH
- ND chính 2: không có lực lượng chính trị nào đảm nhiệm ngoài đảng CSVN, nhân dân tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng
-Có thể lãnh đạo đất nước ko có lực lượng chính trị nào khác
Tham gia hoạt động chính quyền
Và nhân dân và TT gọi là Đảng ta
- ND 3 mục tiêu 3 Lý tưởng của Đảng
Mục tiêu của Đảng và mục tiêu xây dựng đất nước thống nhất với nhau
Câu hỏi:Lành vì sao khi có chính quyền Đảng ta là Đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và
Xã hội?
- Không có lực lượng chính trị nào đảm nhiệm ngoài Đảng CSVN
Nhân dân tin tưởng tuyệt đối sự lãnh đạo của đảng
- Lý tưởng, mục tiêu của Đảng là do nhân dân, vì nhân dân
- từ khi ra đời, lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc
6- Câu hỏi - Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của Đảng ( vì sao ?) + trước hết về lý luận Nguyên tắc tập trung dân chủ xuất phát từ bản chất của Đảng cộng sản
+ Đảng là XD tiên phong Đảng là sự tự nguyện của những người ưu tú để vào Đảng , vào đảng để phấn đấu mục tiêu
+ về thực tiễn xuất phát từ các thời kỳ lịch sử của Đảng trải qua thử thách, khó khăn phức tạp, lâu dài
Sự vững mạnh của Đảng, trên cơ sở mở rộng dân chủ phát huy sự đoàn kết thống nhất về mặt ý chí, phát huy trí tuệ của toàn Đảng
Đảng phát huy trí tuệ chung, đi tới thống nhất hành động
Trang 83- Xuất phát từ thực tiễn hoạt động của đảng và các Đảng trên Thế giới ( nhờ đó áp dụng )
Nhìn ra thế giới có nhiều Đảng tan rã vì đã không theo nguyên tắc tập trung dân chủ tôn trọng theo như ở Nga khai trừ hơn 100 Đảng viên
Câu hỏi : Lành: Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản của Đảng
- Lý luận: Xuất phát từ bản chất của Đảng, đội tiên phong
- thực tiễn : Xuất phát nhu cầu, xây dựng hoạt động của Đảng ta
******************/
7- Câu hỏi : (Lành) Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật ? (H) : vì sao đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội LĐXH những pháp luật
Là 1 nguyên tắc trong Hoạt động của Đảng
Tlợi: 1- Mục đích của đảng : Đảng ko có mục đích gì khác ngoài mục đích xây dựng 2- Nhà nước pháp quyền XHCN ,
Không ai có quyền đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật
3- Bản thân Đảng viên cũng là nhân dân nên phải có nghĩa vụ
CH hiến pháp và pháp luật
4 - Bản thân hiến pháp và pháp luật là thể chế hoá, cụ thể hoá có đtr của đảng vì vậy các tổ chức, đảng viên chấp hành thể chế cũng là chấp hành đường lối của Đảng ( 5 Trong công tác xây dựng Đảng cũng là củng cố xây dựng Đảng, gữi vững trong đoàn kết thống nhất trong Đảng )
Câu hỏi : (Lành) Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật ?
Mục đích của Đảng: + xây dựng nhà nước vững mạnh, do dân, vì dân, lính của Dân + Nhà nước pháp quyền XHCN do nhân dân, vì nhân dân
+ Bản thân Đảng viên cũng là công dân có nghĩa vụ chấp hành
+ Bản thân hiến pháp và pháp luật chính là sự thể chế hoá, cụ thể hoá của Đảng Nên các thành viên phải chấp hành nguyên tắc
8- Câu hỏi : củng cố đoàn kết Đảng
1- Đảng phải có cương lĩnh chiến lược đường lối đúng đắn để làm cơ sở cho sự đoàn kết 2- thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng
3- Xây dựng và thực hiện các quy chế làm việc
4- Các nguyên tắc đó cần phải cụ thể hoá ra, ai phải làm gì, cầm quyền trách nhiệm đến đâu, các chế độ học hành, trai đổi thông tin báo cáo
Trang 95- Quy chế làm việc
6- Bố trí đúng đội ngũ cán bộ ( người đứng đầu là quan trọng)
7- Tăng cường giáo dục cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân
8- Xây dựng các cơ chế chính xách xoá bỏ bất bình đẳng trong Đảng
9- Phát hiện sớm và giải quyết dứt điểm hiện tượng mất đoàn kết ( xử lý cán bộ , điều chuyển cán bộ )
Câu hỏi : Lành : củng cố đoàn kết Đảng
1 gữi vững đoàn kết thống nhất phải có cương lĩnh chiến lược đường lối đúng đắn
2 Củng cố nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng
3 Xây dựng thực hiện các quy chế làm việc cấp uỷ Đảng, tổ chức Đảng
4 Bố trí người đứng đầu đúng vị trí
5 Tăng cường giáo dục cách mạng, ý thức đoàn két
6 Xây dựng cơ chế chính sách xoá bỏ bất bình đẳng
7 Phát hiện sớm giải quyết những bất đồng trong nội bộ Đảng
***************/
8 – Câu hỏi : Vai trò của Đảng viên đối với – trong sự lãnh đạo của Đảng
1- Đường lối chủ trương
Đảng tham gia xây dựng các nghị quyết của Đảng từ cấp trung ương đến cấp cơ sở 2- Vai trò của Đảng viên đối với tổ chức
Đảng viên là thành tố lập thành Đảng
Có Đảng viên tốt - dẫn đến thể hiện chất lượng tổ chức Đảng
3- Đảng viên phải làm tốt vai trò trách nhiệm trong việc động viên nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chủ trương chính xách ,tham gia các hoạt động của Đảng viên trong cơ quan ( vai trò 3: đảng viên đối với nhân dân)
Câu hỏi :Lành: Vai trò của Đảng viên, vai trò lãnh đạo của Đảng
- Vai trò Đảng viên
- Vai trò của Đảng viên với tổ chức
- Đảng viên phải làm tốt động viên hướng dẫn đường lối Đảng
-i- 9 - Câu hỏi : Bản chất của Đảng CSVN (trắc nghiệm ) i-
(Văn kiện đại hội 10, cương lĩnh 11 thông qua)
Đảng CSVN là gì về bản chất Đảng
Quan tâm - sự phát triển của Đảng trong nhận thức của Đảng
Trang 10Đảng CSVN không chỉ trung thành lợi ích của giai cấp công nhân mà còn là đại biểu trung thành cho nhân dân lao động và dân tộc.
Tại sao lại như vậy ?
Là sự phát triển rất quan trọng trong nhận thức của Đảng ta
Chứng minh : 1- Nước ta lợi ích của Giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và các tầng lớp
2- Mục đích của Đảng là phục vụ nhân dân đem lại lợi ích cho nhân dân
3- Không tách rời khỏi dân tộc, gắn bó với dân tộc, đại biểu trung thành với lợi ích dân tộc
Nhờ gắn bó với dân tộc, đại biểu trung thành với nhân dân
+ Sự khẳng định của Đảng ta không có gì khác ngoài việc xây dựng tổ quốc phục vụ nhân dân vì sao ? phân tích ý nghĩa
Ngay từ khi ra đời, Đảng là sản phẩm của sự đấu tranh giải phóng dân tộc và tự do cho nhân dân
Về Bản chất Đảng ta là đảng cộng sản, gắn bó với nhân dân phục vụ lợi ích của nhân dân
- thực tế lịch sử
- Đảng ko có mục đích riêng cho mình,phục vụ nhân dân không có mục đích riêng
* Ý nghĩa:
1- Củng cố niềm tin của nhân dân sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục tin tưởng
2- Khi Đảng phục vụ nhân dân, Đảng cũng phải xây dựng, chỉnh đốn gắn bó với nhân dân, bảo vệ phát huy TT cho nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân, chống quan liêu tham ô, tham nhũng
Đảng lãnh đạo nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân
Đảng thông qua bộ máy nhà nước để thực hiện quan điểm của mình là do nhân dân, của nhân dân , vì nhân dân
Cau 10 – trong cong tac xay dung Dang, can phai xay dung vung manh những mặt gì? Nêu rõ
Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng phải xây dựng trên 3 mặt
Trang 11trong cong tac xay dung Dang, cần phải xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức
Nội dung 1 Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị:
1- Đảng xây dựng đề ra Cương lĩnh đường lối đúng đắn, tổ chức C thực hiện tốt đường lối đó
2- Củng cố nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng viên
3- Củng cố nâng cao vao trò lãnh đạo, uy tín chính trị của Đảng
NDung 2 : Xây dựng Đảng về tư tưởng
1- Kiên trì vận dụng phát triển sáng tạo tư tửỏng Mác – Lê Nin
2 – Làm cho toàn Đảng đứng vững trên lập trường công nhân, thống nhất về mặt nền tảng tư tưởng
3- Củng cố tư tưởng, đoàn kết trong toàn Đảng về mục tiêu, đường lối
4- giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng của Đảng viên
Nội dung 3 : Xây dựng Đảng về tổ chức
1 – Xây dựng Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng
2- Xây dựng cấp uỷ Đảng các cấp đội ngũ cán bộ Đảng viên trong sạch, vững mạnh 3- Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng
Nguyên tắc tập trung dân chủ
4- xây dựng thực hiện tốt nguyên tắc, làm việc
5 – Tăng cường kiểm tra giám sát trong Đảng
6- Làm tốt công tác quản lý chính trị nội bộ, không để lọt trong đội ngũ
Câu 11 : XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG (đọc văn kiện ĐH 11
1 Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị
2 Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận
3 Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân
4 Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị
5 Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên
6 Đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ
7 Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát
8 Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Câu 12: Những đặc điểm của Đảng CSVN cầm quyền hiện nay/
Trang 12Đảng cầm quyền
1- Đảng là Đảng duy nhất cầm quyền
Nền chính trị của nước ta là nền chính trị thất nguyên , ko có đa nguyên
2- Đảng lãnh đạo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Đẩy mạnh CNH, HĐH chủ động tiếp cận quốc tế
3- Đảng cầm quyền trong điều kiện Đảng nước ta tiến hành công cuộc đổi mới
Bản thân nhà nước cũng đang trong quá trình hoàn thiện xây dựng nhà nước pháp quyền
Nhà nước đang trong quá trình đổi mới
4- Đảng l/s of dân tộc con người VNam thống nhất
Lối suy nghĩ cung cách ứng xử
Câu 13 Các tổ chức xây dựng cơ sở Đảng có vai trò vị trí gì trong nguyên tắc xây dựng Đảng
Theo điều lệ Đảng , TT Xây dựng Đảng có 2 vai trò
1- Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng
2- Tổ chức cơ sở Đảng Là hạt nhân chính trị của cơ sở ( chứng minh cụ thể )
Tổ chức cơ sở Đảng là cấp cuối cùng trong hệ thống xây dựng Đảng
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp thực hiện chủ trương đường lối chính xách của Đảng
3- Tổ chức cơ sở Đảng là nơi kiểm nghiệm bổ sung phát triển hoàn thiện chính sách chủ trương của Đảng
4- Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp tiến hành xây dựng các hoạt động tiến hành về công tác xây dựng Đảng
5- Tổ chức cơ sở Đảng là cầu nối giữa Đảng với nhân dân
Trang 13Câu hỏi 14 Đảng cộng sản VN đã lãnh đạo nhân dân ta qua các thời kỳ nào
1- Thời kỳ chính (1930-1945 ) Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng , giành chính quyền đỉnh cao là cách mạng tháng 8 – 1945
2- Thời kỳ thứ 2 (1945-1954) - vừa kháng chiến vừa kiến quốc giải phóng hoàn toàn Miền Nam
3- Thời kỳ thứ 3 (1954-1975) - thực hiện 2 chiến lược xây dựng cách mạng xã hội Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam xây dựng đất nước
THắng lợi năm 1975 giải phóng hoàn toàn đất nước
4.- Thời kỳ thứ 4 (1975- 1986) cả nước xây dựng CNXH tiến hành 2 cuộc chiến tranh Xâm lược biên giới Tây Nam và phía Bắc
5 Thời kỳ thứ 5 (1986 – nay ) đổi mới toàn diện CNH, HĐH
đất nước to lớn, of
Câu 15- Nền tảng tư tưởng của Đảng
Lịch sử Đảng Cộng sản VN lấy CM Max Lê nin, tư tưởng HCM là kim chỉ nam
1 Chủ nghĩa Max Lê nin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học là chiến lược
và sách lược chung cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
- tư tưởng HCm cùng với chủ nghĩa Max Lê Nin tư tưởng HCM là hệ thống giáo dục sâu sắc là kết quả của sáng tạo of tư tưởng HCM
- Thực tế lịch sự đã chứng minh nhờ có trung thành và phát triển sáng tạo CM Max Lê Nin Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng thành công
-*********/Chương III: Đảng c âm quyền xây dựng cương lĩnh đường lối đúng đắn tổ chức thực hiệntốt, củng cố nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường chính trị , bản lĩnh đúng đắn, củng cố nâng cao uy tín vai trò lãnh đạo của Đảng
* Xdựng Đảng về tư tưởng
Trung thành, kiên định xd Đảng, trung thành tuyệt đối
Tài liệu phục vụ kỳ thi cho viên chức khối Đảng, đoàn thể năm
201X
Chuyên đề I
Trang 14CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhànước chúng ta đã quan tâm đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức Quátrình xây dựng hệ thống thể chế về quản lý cán bộ, công chức và công vụ đã liên tụcđược đổi mới, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển từng bước đápứng yêu cầu cải cách hành chính Nhà nước Những mốc son ghi lại dấu ấn quan trọngtrong quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam kể từnăm 1945 đến năm 1998 được thể hiện qua việc ban hành các văn bản sau:
- Sắc lệnh số 75/SL ngày 10/11/1945 về trưng tập công chức;
- Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam;
- Sắc lệnh số 02/SL ngày 9/3/1998 của Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủnghĩa Việt Nam công bố ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức
Kể từ đây, cán bộ, công chức đã từng bước tiếp cận, xây dựng đội ngũ theonhững quy định của Pháp lệnh, từ khâu tuyển dụng dưới hình thức thi tuyển đầu vàođến các khâu thực hiện chế độ, chính sách, đánh giá, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật…đều theo những quy định thống nhất Trong thời gian 10 năm (từ năm 1998 đến 2008),
kể từ ngày ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và được sửa đổi, bổ sungvào năm 2000 và năm 2003 cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạothành hệ thống thể chế và cơ sở pháp lý quan trọng để đổi mới cơ chế quản lý cán bộ,công chức
Trong quá trình tiếp tục cải cách nền hành chính nhà nước và hoàn thiện chế độcông vụ, công chức, gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác cán
bộ, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính,nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, trong nhiệm kỳ vừa qua,Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua hai Bộ Luật quan trọng vềquản lý công chức, viên chức, đó là Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viênchức năm 2010 Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công
vụ, công chức, thế chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đápứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân
PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC
1 Khái quát quá trình phát triển pháp luật về cán bộ, công chức
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật cán bộ,công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt
Trang 15động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng các khái niệm: cán bộ; côngchức; viên chức Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992(đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật tổ chức Chính phủ;Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Luật bình đẳng giới; LuậtLuật sư; Luật chứng khoán; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật trợ giúp pháp lý; Luậtcông nghệ thông tin; Luật đấu thầu; Luật công an nhân dân; Luật nhà ở; Luậtphòng chống tham nhũng; Luật giáo dục; ) đều có những điều, khoản quyđịnh sử dụng nhiều lần các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức".Nhưng chưa có một văn bản luật nào giải thích các thuật ngữ này Trong điềukiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặc biệt là đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơquan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chứccủa Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội Với điểm đặc thù này, việcnghiên cứu để xác định rõ cán bộ; công chức; viên chức một cách triệt để rất khó
và phức tạp Bên cạnh đó, việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, chính sáchđãi ngộ đối với cán bộ cũng như đối với công chức và viên chức chưa thể hiệnđược những điểm khác nhau giữa các nhóm, chưa gắn với đặc điểm và tính chấthoạt động khác nhau của cán bộ với công chức, viên chức Vấn đề làm rõ thuậtngữ “cán bộ”; “công chức”; “viên chức” được coi là vấn đề cơ bản, quan trọng,
là một nhu cầu cần thiết xuất phát từ thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý đặt ra hiệnnay
Nhìn lại lịch sử, năm 1950 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 76/SLban hành Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam chỉ được
xác định trong phạm vi các cơ quan Chính phủ Theo Sắc lệnh 76/SL, những
công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức
vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều
là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định (trích Điều 1, Sắc lệnh Số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950) Do hoàn
cảnh kháng chiến sau đó, nên tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SLnhưng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không được áp dụng
Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nước, chúng rathực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, theo đó tất cả những người làmviệc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, doanhnghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọichung trong một cụm từ là “cán bộ, công nhân viên nhà nước” Hầu như mọingười khi kê khai lý lịch nếu đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức củaĐảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp nhà nước đều ghi ởmục thành phần bản thân là "cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước" Nghị định
Trang 16169/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 25 tháng 5 năm 1991 quyđịnh công chức theo một phạm vi rộng hơn, bao gồm:
“a/ Những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tương đương.
b/ Những người làm việc trong các Đại sứ quán, lãnh sự quán của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
c/ Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách.
d/ Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng e) Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong Bộ máy của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát các cấp.
g/ Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của văn phòng Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Nhân dân các cấp.
Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định”.
Những trường hợp không thuộc phạm vi công chức, bao gồm:
“a/ Các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
b/ Những người giữ các chức vụ trong các hệ thống lập pháp, hành pháp,
tư pháp được Quốc hội hoặc Hội đồng Nhân dân các cấp bầu ra hoặc cử ra theo nhiệm kỳ.
c/ Những hạ sĩ quan, sĩ quan tại ngũ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam,
1
Trang 17chính, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể Vấn đề ai là cán
bộ, ai là công chức cũng chưa xác định được Những người làm việc trong các tổchức, đơn vị còn lại như doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang thì do cácvăn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, về công
an nhân dân điều chỉnh Với quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, cáctiêu chí: Công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ Ngân sách nhànước mới chỉ là những căn cứ để xác định một người có phải là "cán bộ, côngchức" hay không Tuy nhiên, vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chưa đượcgiải quyết
Năm 2003, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, côngchức, Nhà nước đã thực hiện việc phân định biên chế hành chính với biên chế sựnghiệp Việc phân định này đã tạo cơ sở để bước đầu đổi mới cơ chế quản lý đốivới cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước với cán bộ, công chức trongcác đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Nhưng vấn đề làm rõ thuật ngữ “côngchức” và thuật ngữ “viên chức” cũng chưa được giải quyết Có chăng, trongNghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi tắt cán
bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là viên chức vàNghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi tắt cán
bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước là công chức Nhưng nhưthế, cách gọi tắt này không giải quyết được vấn đề làm rõ thuật ngữ ‘cán bộ”,
“công chức”, “viên chức”
Vì không xác định và phân biệt được rõ thuật ngữ “cán bộ”; “công chức”,
“viên chức” nên đã dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác địnhnhững điểm khác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền vànghĩa vụ, đến quy định về cơ chế quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồidưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất,đặc điểm hoạt động của cán bộ cũng như của công chức và viên chức Do đó,nhiệm vụ cơ bản, quan trọng và đầu tiên mà Luật cán bộ, công chức đã giảiquyết thành công, đó là làm rõ được những tiêu chí xác định ai là cán bộ, ai làcông chức Từ đó, mới có cơ sở và căn cứ để đưa ra những nội dung đổi mới vàcải cách thể hiện trong Luật cán bộ, công chức, tạo cơ sở để giải quyết nhữngvấn đề mà thực tiễn quản lý đang đặt ra Đồng thời, đây cũng là căn cứ để xácđịnh rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức năm 2008 vàtiếp theo Luật viên chức được ban hành năm 2010 để điều chỉnh đối với đội ngũviên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
2 Phân định cán bộ, công chức và viên chức
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Luật viên chức
Trang 18dân Việt nam; trong biên chế; hưởng lương từ Ngân sách nhà nước (riêng
trường hợp công chức và viên chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ, nhiệm
vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; cán bộ và công chức được phân định
theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã;
công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã) Cán
bộ, công chức và viên chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với cơchế hình thành hoặc chế độ làm việc
Cán bộ: Khoản 1 Điều 4 của Luật cán bộ, công chức quy định cán bộ là
công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danhtheo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị- xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởnglương từ ngân sách nhà nước Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ
gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được
tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xãhội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danhtheo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắnliền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lựcchính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chínhtrị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theocác văn bản Pháp luật tương ứng chuyên ngành điều chỉnh hoặc theo Điều lệ Do
đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật cán bộ, công chức 2008 quy định, những ai
là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị xã hội sẽ được các cơ quan
có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị- xã hộiquy định cụ thể Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác địnhtheo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chứcToà án nhân dân, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước và các quy định kháccủa pháp luật có liên quan và do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể
Công chức: Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức quy định công chức
là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chứcdanh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-
xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân độinhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
Trang 19với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpthì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quyđịnh của pháp luật
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế
tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh Những người đủ các
tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển dụng vào làm việc trongcác cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máylãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng(thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xácđịnh là công chức Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạtđộng của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định)được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổchức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Việcquy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thônggiữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã hội trong hệthống chính trị Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nướctrên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chínhtrị ở Việt Nam
Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcủa các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thểhiện và khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cungcấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triểncân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêudân chủ và công bằng xã hội Hiện nay, khi vai trò của Nhà nước đang đượcnhấn mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường, nhằm khắc phục ảnh hưởng củasuy thoái kinh tế tác động đến sự ổn định đời sống xã hội thì việc quy địnhcông chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập lạicàng có ý nghĩa và thể hiện tư duy pháp lý tiến bộ của Luật cán bộ, công chức
2008 Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị
sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt độngcủa từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp có thẩm quyền thành lập và quản lý
Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xãhội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang đãđược quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 củaChính phủ quy định những người là công chức
Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, công chức được xác định theo cáctiêu chí: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
Trang 20đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật,làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chínhtrị- xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.
Viên chức: Theo quy định tại Luật viên chức được Quốc hội thông qua
ngày 15 tháng 11 năm 2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng
theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Theo đó, viên chức được xác định theo các tiêu chí: được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc; hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập Đây là những người mà hoạt
động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân nhưgiáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, hoạt động khoa học, văn hoá, nghệ thuật,
thể dục, thể thao Những hoạt động này không nhân danh quyền lực chính
trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước mà chỉ thuần tuý mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp vụ, chuyên môn
Việc phân định cán bộ và công chức, viên chức của Luật cán bộ, côngchức và Luật viên chức là căn cứ pháp lý để quy định cơ chế quản lý phù hợpvới cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức ở trung ương, cấp tỉnh,cấp huyện; cán bộ cấp xã, công chức cấp xã cũng như quy định cơ chế quản lýphù hợp với viên chức Với những quy định mới này, pháp luật về cán bộ, côngchức và về viên chức đã tiếp tục quy định những vấn đề thể hiện tính đặc thùtrong hoạt động công vụ của cán bộ khác với hoạt động công vụ của công chức;hoạt động nghề nghiệp của viên chức liên quan đến các nội dung như: quyền vànghĩa vụ, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồidưỡng; điều động, luân chuyển; đánh giá; Ví dụ như:
- Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ chung mà cán bộ và công chức đều có.Đối với cán bộ do chịu sự điều chỉnh của cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệmnên cán bộ còn phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đượcgiao Điểm này thể hiện trách nhiệm chính trị của cán bộ Đối với viên chức,pháp luật cũng đã có những quy định riêng về quyền và nghĩa vụ khác với cán
bộ và công chức Đồng thời, theo cơ chế hợp đồng làm việc, viên chức đượcquản lý theo cơ chế linh hoạt, mềm hơn so với cán bộ, công chức và căn cứ vàocác nội dung hợp đồng đã thoả thuận với đơn vị sự nghiệp công lập
Đối với công chức, do chịu sự điều chỉnh của cơ chế tuyển dụng, bổnhiệm nên công chức còn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Điểm này thểhiện trách nhiệm hành chính của công chức
Trang 21- Việc quy định đánh giá cán bộ đã có những nội dung khác với đánh giácông chức Theo Luật quy định, đánh giá cán bộ thực hiện theo 5 nội dung,trong đó có những nội dung khác với đánh giá công chức là: cán bộ phải đánhgiá năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tinh thần tráchnhiệm trong công tác; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Còn đánh giá côngchức gồm 6 nội dung đánh giá Điểm khác với đánh giá cán bộ là việc đánh giácông chức gắn với năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tiến độ và kết quảthực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệmvụ; thái độ phục vụ nhân dân Tương tự, việc đánh giá viên chức cũng được quyđịnh phù hợp với đặc điểm và tính chất hoạt động chuyên môn nghiệp nghiệpcủa viên chức.
- Việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với cán bộ cũng khác với công chức
và viên chức Cán bộ có 4 hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, cách chức,bãi nhiệm), còn công chức có 6 hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậclương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc) Viên chức có 4 hình thức kỷluật là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, buộc thôi việc Viên chức bị kỷ luậtbằng một trong 4 hình thức kỷ luật này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạtđộng nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan
Như vậy, theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và theo Luật viên chức năm
2010, những người làm việc trong các tổ chức kinh tế của nhà nước không phải
là cán bộ và cũng không phải là công chức, viên chức Đó là những người làmviệc trong những thực thể hoạt động dựa trên nguyên tắc lợi nhuận Đối vớinhóm lực lượng vũ trang, công an nhân dân, những người là sỹ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, hạ sỹ quan chuyên nghiệp cũng khôngthuộc vào phạm vi công chức, viên chức
Công chức và viên chức có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tuỳthuộc vào mục đích phân loại Ở Việt Nam có một số cách phân loại cơ bản sau:
a) Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành loại A,loại B, loại C và loại D, cụ thể như sau:
- Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấphoặc tương đương;
- Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chínhhoặc tương đương;
- Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặctương đương;
- Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương
Trang 22Đối với viên chức, Luật viên chức đã quy định việc sử dụng “chức danhnghề nghiệp” áp dụng đối với người được tuyển vào viên chức để phân biệt vớiviệc sử dụng “ngạch” áp dụng đối với người được tuyển vào công chức Việcphân loại theo “chức danh nghề nghiệp” của viên chức có sự khác biệt với
“ngạch” của công chức, theo đó việc phân “hạng chức danh nghề nghiệp” đượcchia theo từng cấp độ từ cao xuống thấp, bao gồm 4 cấp độ: viên chức giữ chứcdanh nghề nghiệp hạng I, hạng II, hạng III và hạng IV
b) Căn cứ vào vị trí công tác, công chức, viên chức được phân loạinhư sau:
- Công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
2 Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và viên chức
2.1 Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức
Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức là những vấn đề cơ bản của chế
độ công vụ, được quy định trong pháp luật về công vụ, công chức Nghĩa vụ vàquyền của cán bộ, công chức thể hiện mối quan hệ giữa cán bộ, công chức vớiNhà nước, nhân dân trong quá trình thực thi công vụ Đây là những chế địnhquan trọng để điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trong hoạt động công
vụ Mặt khác, nó còn là căn cứ để Nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình đốivới cán bộ, công chức, nhằm bảo đảm các điều kiện cần thiết của một chủ thểcông quyền đối với đối tượng quản lý của mình là cán bộ, công chức (phươngtiện làm việc; đời sống vật chất, tinh thần; an toàn, an ninh cho cán bộ, côngchức trong công vụ) Các văn bản luật, pháp lệnh hoặc quy chế của các quốc giatrên thế giới quy định về công chức, công vụ đều ghi nhận các nghĩa vụ vàquyền của công chức như một tiền đề thiết yếu để nâng cao hiệu quả của hoạtđộng công vụ Nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức thường gắn liền vớinhau Nghĩa vụ là những việc mà cán bộ, công chức có trách nhiệm và bổn phậnphải thực hiện Quyền của cán bộ, công chức là các điều kiện để bảo đảm thựchiện tốt các nghĩa vụ Các quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền của cán
bộ, công chức thường được quy về hai nhóm Trước hết, bản thân cán bộ, côngchức là công dân nên họ có các nghĩa vụ và quyền như mọi công dân Thứ hai,đặc điểm và lao động của cán bộ, công chức có những điểm khác với các dạnglao động khác trong xã hội nên họ có các nghĩa vụ và quyền mang tính đặc thùcủa hoạt động công vụ Trong quá trình thực hiện công vụ, cán bộ, công chức
được giao một số quyền lực công nhất định (không phải là quyền theo nghĩa
thông thường) Đó là giới hạn về khả năng thực hiện các hành vi được pháp luật
quy định, mặt khác, đó cũng là nghĩa vụ mà cán bộ, công chức phải thực hiện
Trang 23các quyền hạn đó Quyền hạn được coi là phương tiện pháp lý để cán bộ, côngchức thực thi công vụ, không phải là những đặc quyền, đặc lợi Nghĩa vụ vàquyền là hai mặt của một vấn đề, tạo nên địa vị pháp lý của cán bộ, công chức.Thực hiện quyền cũng chính là thực hiện nghĩa vụ và ngược lại Chẳng hạn,quyền được hưởng lương của cán bộ, công chức cũng chính là nghĩa vụ phảithực hiện có hiệu quả hoạt động công vụ tương ứng với tiền lương được hưởng.Luật cán bộ, công chức vừa qua được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 đãhoàn thiện và bổ sung thêm một số nội dung mới về nghĩa vụ và quyền của cán
bộ, công chức, thể hiện rõ và đầy đủ mối quan hệ giữa cán bộ, công chức vớiNhà nước trong hoạt động công vụ
a) Về nghĩa vụ của cán bộ, công chức:
Dưới góc độ pháp lý, nghĩa vụ của cán bộ, công chức được hiểu là bổnphận phải thực hiện hoặc không được thực hiện những việc hay một hành vi nào
đó do pháp luật quy định Bổn phận đó, vừa để công chức rèn luyện, phấn đấu,vừa là cơ sở để cơ quan quản lý kiểm tra, giám sát, đánh giá trong quá trình sửdụng, quản lý cán bộ, công chức Chúng ta đều biết, cán bộ, công chức là nhữngngười tự nguyện gia nhập vào hoạt động công vụ, được tuyển dụng theo chế độthuận nhận, làm việc trong các cơ quan nhà nước để phục vụ nhân dân, phụng sự
Tổ quốc, được nhận tiền lương từ ngân sách Nhà nước- thực tế là từ tiền đóngthuế của người dân Vì vậy, công chức phải có nghĩa vụ phục vụ nhân dân Khácvới các hoạt động lao động khác trong xã hội, lao động của cán bộ, công chứcmang tính đặc thù, đòi hỏi phải có trí tuệ, sức sáng tạo cao, phải tận tuỵ và côngtâm; sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ Các hoạt động công vụđược thực hiện bởi cán bộ, công chức có ảnh hưởng rất lớn đối với mọi lĩnh vựccủa đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, góp phầnquan trọng tạo nên sự hùng mạnh của quốc gia Nghĩa vụ của cán bộ, công chứcthường được xác định theo hai nhóm chính: trước hết, đó là nhóm nghĩa vụ liênquan đến sự trung thành với thể chế, với quốc gia; thứ hai đó là nhóm nghĩa vụliên quan đến thực thi công vụ, thể hiện ở sự tận tuỵ, công tâm, trách nhiệm vàtuân thủ luật pháp Bên cạnh đó, pháp luật các nước còn quy định thêm cácnhóm nghĩa vụ khác nhằm làm rõ và cụ thể hoá hai nhóm nghĩa vụ nêu trên.Luật công chức của Pháp, Đức, Áchentina, Trung quốc, dù quy định nghĩa vụcông chức ở một hoặc nhiều điều khoản thì cuối cùng vẫn tập trung vào hainhóm chính là nghĩa vụ trung thành với chế độ, với thể chế và nghĩa vụ thực thicông vụ Trước đây, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịchnước Việt Nam dân chủ cộng hoà về Quy chế công chức quy định công chứcViệt Nam “phải trung thành với Chính phủ”; bên cạnh đó, trong thực thi công vụ
“phải phục vụ nhân dân, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm”; “phải cần,
Trang 24quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong 3 điều ( 6, 7, 8) Theo đó, cán bộ,công chức phải có trách nhiệm thực hiện 5 nhóm nghĩa vụ cụ thể:
- Nhóm nghĩa vụ liên quan đến thể chế: Trung thành với Nhà nước, bảo
vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia; chấp hành đường lối chủ trương củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Nhóm nghĩa vụ liên quan đến đạo đức công vụ: tận tuỵ phục vụ nhân
dân, tôn trọng nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân; có nếp sống lành mạnh,trung thực, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; tham gia sinh hoạt nơi cư trú
- Nhóm nghĩa vụ liên quan đến trách nhiệm công vụ và trật tự thứ bậc
như nghĩa vụ phải chấp hành sự điều động, phân công công tác của cơ quan, tổchức có thẩm quyền; nghĩa vụ phải chấp hành quyết định của cấp trên và cáchứng xử khi quyết định được cho là trái pháp luật
- Nhóm nghĩa vụ liên quan đến kỷ cương, tác phong và ý thức công dân
như các nghĩa vụ có ý thức kỷ luật, thực hiện nội quy cơ quan, bảo vệ công sản
- Nhóm nghĩa vụ liên quan đến trách nhiệm rèn luyện, học tập trau dồi chuyên môn như thường xuyên học tập nâng cao trình độ, chủ động sáng tạo,
phối hợp công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ
Bên cạnh đó, pháp lệnh cán bộ, công chức còn quy định những việc cán
bộ, công chức không được làm (có 6 điều) Các quy định này nhằm nâng cao kỷluật, kỷ cương trong công vụ; hạn chế cán bộ, công chức không được làm khithực hiện một số việc, hay khi giữ một số chức vụ; bảo đảm an ninh, quốcphòng, bí mật quốc gia Việc thực hiện các quy định này cũng chính là thực hiệnnghĩa vụ của cán bộ, công chức
Sau thời gian hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức, năm
2008, Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật cán bộ,công chức, theo đó nghĩa vụ của cán bộ, công chức đã được bổ sung và hoànthiện Bên cạnh các nghĩa vụ được kế thừa từ Pháp lệnh, nghĩa vụ của cán bộ,công chức còn được bổ sung quy định về nghĩa vụ đối với Đảng, Nhà nước vànhân dân; nghĩa vụ trong thi hành công vụ- trong đó cán bộ, công chức là ngườiđứng đầu còn phải thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến chức trách ở vị tríđứng đầu của mình Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đã được hoàn thiện trongcác quy định của Luật cán bộ, công chức Đó là, ngoài các nhóm nghĩa vụ liênquan đến sự trung thành với thể chế, với trách nhiệm thực thi công vụ và cácnhóm nghĩa vụ khác, Luật cán bộ, công chức quy định những việc cán bộ, côngchức không được làm như là nội dung tất yếu mà cán bộ, công chức có bổn phậnphải thực hiện khi tham gia công vụ Đây là điểm mới, thể hiện tính pháp quyền
Trang 25cao của hoạt động công vụ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Theo đó,luật đã bổ sung thêm một số quy định sau:
- Những việc không được làm liên quan đến đạo đức công vụ:
+ Không được tham gia đình công Quy định này xuất phát từ yêu cầu xâydựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, yêu cầu xâydựng một nền công vụ liên tục, thống nhất, thông suốt và ổn định Nghĩa vụ củacông chức là phục vụ nhân dân, là trung thành với chế độ XHCN Vì vậy, cán
bộ, công chức chỉ có thể có quyền khiếu nại, kiến nghị nhưng không thể vàkhông được phép tham gia đình công
+ Không được sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái phápluật; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đếncông vụ để vụ lợi Quy định như vậy để bảo đảm thực hiện sự minh bạch, côngkhai trong công vụ và xây dựng đạo đức của công chức theo nguyên tắc cần,kiệm, liêm chính, chí công vô tư Góp phần thực hiện tốt việc phòng, chốngtham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong hoạt động công vụ
+ Không phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng,tôn giáo dưới mọi hình thức Nghĩa vụ này xuất phát từ chủ trương, đường lốicủa Đảng về một nhà nước kiểu mới, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân Xuất phát từ nguyên tắc, pháp luật là tối thượng và mọi người đềubình đẳng trước pháp luật Do đó, hoạt động công vụ phải tuân thủ Hiến pháp vàpháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,công dân Vì vậy, liên quan đến vấn đề dân tộc, giới tính, thành phần xã hội vàtín ngưỡng tôn giáo, luật quy định công chức không được phép phân biệt đối xửtrong hoạt động công vụ
- Những việc không được làm liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự: Trước đây, Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định nội dung
này ở các điều 17, 19 và điều 20, nhưng các quy định này qua thực tiễn áp dụngchưa tạo ra hiệu quả đủ mạnh Bên cạnh đó, một số văn bản luật như Luậtphòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đã
có một số điều khoản quy định về vấn đề này Vì vậy, để bảo đảm tính thốngnhất giữa các văn bản luật đã ban hành với Luật cán bộ, công chức, tránh trùnglặp và chồng chéo, Luật cán bộ, công chức có 1 điều quy định những việc cán
bộ, công chức không được làm liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tácnhân sự- theo đó cán bộ, công chức phải thực hiện theo quy định của Luậtphòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và nhữngviệc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền
Trang 26Gắn với việc quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức, nhóm nghĩa vụliên quan đến đạo đức công vụ (bao hàm cả văn hoá giao tiếp) được quy địnhthành một mục riêng của Chương nghĩa vụ và quyền của cán bộ, công chức.Quy định này nhằm nhấn mạnh nghĩa vụ tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán
bộ, công chức là một yêu cầu tất yếu để thực hiện việc tiếp tục đổi mới hoạtđộng công vụ Gắn với việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức, cán bộ, công chức phải
có bổn phận và nghĩa vụ xây dựng văn hoá nơi công sở Nội dung chính của quyđịnh này đòi hỏi cán bộ, công chức phải có các hành vi, ứng xử và tác phongvăn hoá khi giao tiếp giữa đồng nghiệp với nhau, giao tiếp với cấp trên và cấpdưới, ngôn ngữ giao tiếp, trang phục phải chuẩn mực Khi giao tiếp với nhândân không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn phiền hà cho nhân dân
b) Về quyền của cán bộ, công chức
Quyền của cán bộ, công chức phải đi đôi với nghĩa vụ, là điều kiện bảođảm cho việc thực hiện tốt các nghĩa vụ Quyền của cán bộ, công chức bao gồmquyền hạn, quyền lợi và các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ Quyền của cán
bộ, công chức là các quy định liên quan đến chính trị, tinh thần và vật chất khithi hành công vụ, cụ thể như các quy định về việc tham gia hoạt động chính trịtheo quy định của pháp luật; được khen thưởng, tôn vinh khi hoàn thành xuấtsắc công vụ; được hưởng chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và các chính sách
ưu đãi Bên cạnh các quyền về vật chất và tinh thần, trong thi hành công vụ,cán bộ, công chức còn được giao quyền hạn tương xứng với nhiệm vụ, đượcpháp luật bảo vệ, được cung cấp các điều kiện làm việc theo quy định để thực thicông vụ Ở các quốc gia, quyền lợi của công chức được bảo đảm và cung cấpvới chế độ cao Việc quy định quyền của công chức là sự thể hiện thái độ, sựquan tâm của Nhà nước và nhân dân đối với đội ngũ công chức trong nền hànhchính nhà nước Đồng thời, nhấn mạnh “quyền” của cán bộ, công chức tronghoạt động công vụ không phải là “vô hạn” mà gắn liền với bổn phận phục vụnhân dân Trong khi mọi người dân được làm những việc mà pháp luật khôngcấm thì cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Chấpnhận sự hạn chế về “quyền” (quyền hạn) là yêu cầu chủ yếu của cán bộ, côngchức trong hoạt động công vụ- theo quan điểm “chấp nhận sự thiệt thòi về phíaNhà nước (công chức) để đem lại lợi ích cho xã hội” (Herman Wlfgang- Công
vụ và nhà nước- NXB Pháp lý- Bonn-1998 trang 37) Quyền của công chức là
cơ sở bảo đảm, là điều kiện và phương tiện để công chức thực thi có hiệu quảchức phận được giao, tận tâm tận lực với công vụ mà không bị chi phối bởinhững lo toan về cuộc sống thường ngày; là cơ sở bảo đảm cho công chức về sựthăng tiến, yên tâm trong công vụ và là động lực thúc đẩy công chức phấn đấuvươn lên
Trang 27Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 với các quy định về quyền của cán
bộ, công chức đã thể hiện được sự chăm lo, quan tâm của Đảng và Nhà nước đốivới đội ngũ cán bộ, công chức thông qua các nội dung:
- Hưởng lương tương xứng với nhiệm vụ, công vụ được giao, từng bướcđược hưởng các chính sách về nhà ở, điều kiện làm việc, đi lại Cán bộ, côngchức làm việc ở vùng sâu, miền núi, vùng cao, vùng xa, biên giới hải đảo hoặclàm những việc có hại cho sức khoẻ đều được hưởng phụ cấp và chính sách ưuđãi do Chính phủ quy định
- Các quyền lợi về nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng; các chế độ trợcấp bảo hiểm xã hội, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưutrí, chế độ tử tuất; quyền lợi đối với cán bộ, công chức nữ theo quy định củaLuật lao động
- Được quyền tham gia hoạt động chính trị, xã hội theo quy định của phápluật; được tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ, được quyền nghiên cứukhoa học, sáng tác; được khen thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đượcgiao
- Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ;
- Được xét công nhận là liệt sĩ nếu hy sinh khi làm nhiệm vụ, công vụ;
- Được hưởng các quyền lợi khác do pháp luật quy định
Có thể khẳng định rằng, thực tế hầu hết các quyền lợi của cán bộ, côngchức nước ta đã được bảo đảm về cơ bản như các quốc gia khác, tuy nhiên dođiều kiện nền kinh tế và khả năng của Ngân sách nhà nước nên mức độ đãi ngộcòn chưa cao, điều này cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng vànâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức của nước ta
Kế thừa những quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức về quyền củacán bộ, công chức, Luật Cán bộ, công chức vừa qua đã bổ sung và hoàn thiệnthêm một số nội dung mới liên quan đến quyền của cán bộ, công chức, bao gồm:
- Về quyền được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ:
+ Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ, công vụ
+ Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quyđịnh;
+ Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao Đây là những vấn đề cần được khẳng định, luật pháp hoá để cán bộ, công
Trang 28- Về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương đã được bổ sung
thêm quy định về việc thanh toán lương làm thêm giờ, lương làm đêm, công tácphí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật
- Về quyền liên quan đến nghỉ ngơi: Bổ sung thêm quy định trường hợp
do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết
số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài lương còn được thanh toán thêm một khoảntiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ
Bên cạnh các quyền của cán bộ, công chức được bổ sung và hoàn thiện,Luật cán bộ, công chức đã quy định thêm một chương riêng (Chương VII) quyđịnh các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ gồm công sở, nhà ở công vụ, trangthiết bị làm việc trong công sở, phương tiện đi lại để thi hành công vụ Quy địnhnày để nhằm nhấn mạnh rằng: việc hoàn thành tốt công vụ của cán bộ, côngchức không thể thiếu trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các điềukiện làm việc liên quan Đặc biệt, liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước bố tríphương tiện đi lại để thi hành công vụ cho cán bộ, công chức, Luật đã quy địnhtrường hợp cơ quan không bố trí được phương tiện đi lại thì cán bộ, công chứcđược thanh toán chi phí đi lại theo quy định của Chính phủ
2.1 Nghĩa vụ và quyền của viên chức
Viên chức là người làm việc trong các đơn vị, tổ chức sự nghiệp của Nhànước Do đó, các quyền và nghĩa vụ của viên chức cũng có những nội dung quyđịnh chung, giống như cán bộ, công chức Bên cạnh đó, do tính chất, đặc điểmhoạt động lao động của viên chức là hoạt động thuần túy mang tính chuyên mônnghiệp vụ không nhân danh quyền lực của Nhà nước nên Luật Viên chức đã quyđịnh các quyền của viên chức theo hướng mở hơn so với cán bộ, công chức, tạođiều kiện để viên chức có thể phát huy tài năng, sức sáng tạo, khả năng cốnghiến trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Đó là quyền góp vốn,tham gia thành lập (nhưng không được tham gia quản lý, điều hành) các loạihình doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp tư theo quy định của Chính phủ (trừtrường hợp luật chuyên ngành có quy định khác); quyền làm việc ngoài thờigian quy định; quyền được ký hợp đồng vụ, việc với các cơ quan, tổ chức khác
mà pháp luật không cấm
Trang 29PHẦN II
LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC
1 Mục tiêu, quan điểm của Luật cán bộ, công chức
1.1 Mục tiêu:
a) Luật Cán bộ, công chức phải trở thành công cụ hữu hiệu nhằm nângcao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần vào thựchiện quá trình đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
b) Luật Cán bộ, công chức phải tạo cơ sở pháp lý có giá trị cao nhằm xâydựng và quản lý đội ngũ công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới; phát huy tính năng động, sáng tạocủa công chức và thể hiện được chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài củaĐảng và Nhà nước ta trong giai đoạn mới
c) Luật Cán bộ, công chức phải góp phần đổi mới hoạt động quản lý nhànước về cán bộ, công chức, quy định và thực hiện có hiệu quả việc kết hợp giữa
hệ thống chức danh tiêu chuẩn công chức với hệ thống vị trí việc làm đang là xuhướng tích cực của các nền hành chính hiện đại trên thế giới hiện nay
c) Bảo đảm tính minh bạch, công khai và tính tự chịu trách nhiệm tronghoạt động công vụ;
d) Bảo đảm tính kế thừa và phát triển của các quy định hiện hành về cán
bộ, công chức;
đ) Các quy định của Luật Cán bộ, công chức phải phù hợp với tình hìnhđặc điểm cụ thể của Việt Nam trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm, thành tựukhoa học của các nền công vụ tiên tiến trên thế giới
Trang 302 Những đổi mới trong công tác quản lý cán bộ, công chức
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X của Đảng vũ tiếp tục cải cáchhành chính nhà nước, trong đó có tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức,Luật Cán bộ, công chức năm 2008 gồm có 10 chương và 87 điều đã quy địnhnhiều nội dung nhằm hoàn thiện, đổi mới công tác quản lý công chức Từ hệthống các thuật ngữ thường sử dụng trong quản lý công chức cho đến các vấn đề
cụ thể của quản lý công chức Các nội dung đó là:
2.1 Chuẩn hoá các thuật ngữ hay được sử dụng trong quản lý công chức
Trong một thời gian dài, nhiều thuật ngữ hay được sử dụng trong quản lýcông chức chưa được thống nhất cách hiểu hoặc nếu được đưa ra để thống nhấtthì mới dừng lại ở các văn bản do Chính phủ quy định, do đó giá trị pháp lýchưa cao Trong thực tiễn quản lý, giảng dạy, nghiên cứu cũng như giữa các cơquan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội việc sử dụng các thuật ngữliên quan đến quản lý công chức cũng không được thống nhất Vì vậy, trongquản lý công chức hiện nay, pháp luật đã quy định thống nhất một số thuật ngữhay sử dụng Đó là một số thuật ngữ sau: cơ quan sử dụng cán bộ, công chức; cơquan quản lý cán bộ, công chức; vị trí việc làm; ngạch; bổ nhiệm; miễn nhiệm;bãi nhiệm; giáng chức; cách chức; điều động; luân chuyển; biệt phái; từ chức
2.2 Đổi mới về quản lý biên chế trên cơ sở xác định vị trí việc làm
Biên chế là số lượng người làm việc trong mỗi cơ quan, tổ chức Thờigian trước đây, việc quản lý biên chế vẫn còn mang những dấu ấn của cơ chế kếhoạch hoá tập trung Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, từ nay trở đi, việcquản lý công chức dựa trên cơ sở kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh với vị tríviệc làm và từ đó mới xác định biên chế - số lượng người làm việc trong từng cơquan, tổ chức Trong đó, quy định rất rõ ràng biên chế công chức luôn phải dựatrên cơ sở xác định vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơquan, tổ chức
Việc quản lý biên chế công chức phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Tuân thủ các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy địnhcủa cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa quản lý biên chế công chức với tuyểndụng, sử dụng và quản lý công chức
- Kết hợp giữa quản lý biên chế công chức với tiêu chuẩn chức danh, vị tríviệc làm của công chức
Trang 31- Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, bảo đảm biên chế công chức phùhợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị
- Công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý biên chế công chức
Với các nguyên tắc trên, việc xác định biên chế công chức trong từng cơquan, đơn vị phải dựa đầu tiên và trước hết vào vị trí việc làm phù hợp với chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức, đơn vịđược cấp có thẩm quyền quy định Để xác định vị trí việc làm, Chính phủ quyđịnh và hướng dẫn các phương pháp được thực hiện để xác định vị trí việc làmtrong các cơ quan, tổ chức
Ngoài ra, việc xác định biên chế công chức còn phải căn cứ vào các yếu
tố khác như tính chất, đặc điểm, mức độ phức tạp và quy mô, phạm vi, đối tượngquản lý của ngành, lĩnh vực; Quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quyđịnh của luật chuyên ngành; Mức độ hiện đại hoá công sở, trang thiết bị, phươngtiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; Thực tế tình hình quản lý biênchế công chức được giao của cơ quan, tổ chức, đơn vị Đối với cơ quan, tổ chức
ở địa phương, việc xác định biên chế công chức còn phải căn cứ vào quy mô dân
số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Sốlượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; Đặc điểm an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội
2.3 Tuyển dụng công chức
Tuyển dụng là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiệnvào đội ngũ công chức Đây là một quá trình thường xuyên và cần thiết để xâydựng và phát triển đội ngũ công chức Theo tinh thần đổi mới, từ nay trở đi việctuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biênchế Những người có đủ các điều kiện, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thànhphần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo đều được đăng ký dự tuyển công chức Đó làcác điều kiện sau:
a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
b) Đủ 18 tuổi trở lên;
c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;
d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;
đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;
Mặc dù Luật Quốc tịch Việt Nam có quy định Nhà nước Việt Nam chophép công dân Việt Nam được phép mang quốc tịch của nước khác Nhưng để
Trang 32tuyển dụng vào công chức thì người đăng ký dự tuyển đều chỉ được mang mộtquốc tịch là quốc tịch Việt Nam Bên cạnh đó, khác với trước đây, độ tuổi tuyểndụng được quy định có cả "sàn" và "trần": từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi Nhưng đếnnay, tuổi dự tuyển công chức chỉ quy định từ đủ 18 tuổi trở lên mà không khốngchế tuổi "trần" Đó là vì pháp luật về bảo hiểm xã hội của Việt Nam đã quy định
cả loại hình bảo hiểm tự nguyện Như thế sẽ tạo điều kiện cho những người khiđến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
Ngoài các điều kiện nêu trên, theo yêu cầu của vị trí dự tuyển, cơ quan cóthẩm quyền tuyển dụng còn có thể quy định thêm một số điều kiện khác, nhưngkhông được trái với các quy định của pháp luật Ngoài ra những người sau đâykhông được đăng ký dự tuyển công chức:
a) Không cư trú tại Việt Nam;
b) Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấphành xong bản án, quyết định về hình sự của Toà án mà chưa được xoá án tích;đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáodục
Để thực hiện các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15-3-2010 về tuyểndụng, sử dụng và quản lý công chức Trong đó, không còn quy định phải bắtbuộc thành lập tổ chức Hội đồng tuyển dụng khi tuyển dụng công chức Qua đó,phát huy và đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan được giao thẩm quyềntuyển dụng công chức Bên cạnh đó, để thu hút người có tài năng, có trình độtham gia vào trong hoạt động công vụ, Chính phủ cũng đã quy định cho phépngười đứng đầu cơ quan quản lý công chức được xem xét, tiếp nhận không quathi tuyển đối với các trường hợp đặc biệt sau:
a) Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước; b) Người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi, xuất sắc ở nước ngoài; c) Người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh nghiệm công táctrong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 5 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêucầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng
Về chế độ tập sự, người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiệnchế độ tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của
vị trí việc làm được tuyển dụng Thời gian tập sự được quy định như sau:
a) 12 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức loại C;
b) 6 tháng đối với trường hợp tuyển dụng vào công chức loại D;
Trang 33Vì Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không quy định chế độ công chức
dự bị, do đó để bảo đảm quyền lợi cho những người đang là công chức dự bị,Chính phủ cũng cho phép người được tuyển dụng vào công chức dự bị trướcngày 1-1-2010 theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 thì đượcchuyển sang thực hiện chế độ tập sự Thời gian đã thực hiện chế độ công chức
dự bị được tính vào thời gian tập sự Ngoài ra để bảo đảm được mục đích và ýnghĩa của chế độ độ tập sự, thời gian nghỉ sinh con theo chế độ bảo hiểm xã hội
và thời gian nghỉ ốm đau, bị tạm giam, tạm giữ, tạm đình chỉ công tác theo quyđịnh của pháp luật không được tính vào thời gian tập sự
Khoản 2 Điều 62 Luật Cán bộ, công chức đã quy định cán bộ, công chứccấp xã khi giữ chức vụ được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ chức
vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật được xem xétchuyển thành công chức và được miễn chế độ tập sự, được hưởng chế độ, chínhsách liên tục; nếu không được chuyển thành công chức mà chưa đủ điều kiệnnghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quyđịnh của pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được điều động, luânchuyển, biệt phái thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giảiquyết chế độ theo quy định của pháp luật Vì vậy, Chính phủ cũng đã quy định
cụ thể việc chuyển thành công chức từ cấp huyện trở lên, nếu cán bộ, công chứccấp xã có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn sau:
1 Cơ quan sử dụng công chức có nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu ngạchcông chức phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển dụng
2 Có đủ các tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch công chức tương ứng với vịtrí việc làm
3 Có thời gian làm cán bộ, công chức cấp xã từ đủ 60 tháng trở lên.Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã có thời gian công tác không liên tục màchưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội bắt buộc một lần thì được cộng dồn
4 Có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, hoàn thành chức trách,nhiệm vụ được giao
5 Không trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc đang bị thi hành quyết định
kỷ luật của cơ quan có thẩm quyền, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đangchấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Toà án màchưa được xoá án tích, đang bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
Trang 342.4 Về nâng ngạch công chức
Nâng ngạch là sự thăng tiến của công chức về mặt chuyên môn nghiệp vụ.Qua đó, tạo cơ hội cho công chức có thể khẳng định năng lực và tài năng cánhân, có thể đảm đương các vị trí việc làm đòi hỏi trình độ, năng lực cao hơntrong nền công vụ Điểm mới của việc nâng ngạch công chức qua kỳ thi là thựchiện nguyên tắc cạnh tranh Trước mắt, Chính phủ quy định việc nguyên tắccạnh tranh chỉ thực hiện giữa các công chức trong cùng cơ quan quản lý côngchức Theo nguyên tắc này, việc quy định thâm niên giữ ngạch và hệ số lươngđang hưởng không còn là điều kiện hoặc tiêu chuẩn để đăng ký xét dự thi nângngạch Trong kỳ thi, ai có tài năng, đạt được kết quả cao nhất sẽ được lựa chọn
và bổ nhiệm vào ngạch chức danh công chức cao hơn
2.5 Về đánh giá công chức
Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X đã xác định: "Việc đánh giá, phân loạicán bộ, công chức phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao" Vìvậy, việc tiếp tục đổi mới công tác đánh giá công chức phải gắn với kết quảnhiệm vụ, công vụ Đánh giá công chức là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạođức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ đượcgiao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khenthưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức Do đặc điểm, phạm
vi và tính chất hoạt động công vụ của công chức là khác với cán bộ, do đó nộidung đánh giá cán bộ và công chức là có những điểm khác nhau Nếu như cán
bộ được đánh giá gắn với các nội dung như năng lực lãnh đạo, điều hành, tổchức thực hiện nhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm trong công tác; Kết quả thựchiện nhiệm vụ được giao thì đối với công chức, nội dung đánh giá tập trungvào năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tiến độ và kết quả thực hiệnnhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; Thái độphục vụ nhân dân
Ngoài ra, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nộidung sau đây:
- Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,quản lý;
- Năng lực lãnh đạo, quản lý;
- Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức
Thẩm quyền đánh giá công chức: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn
vị sử dụng công chức có trách nhiệm đánh giá công chức thuộc quyền Tuynhiên, khi tiến hành đánh giá công chức thì tập thể công chức của cơ quan sử
Trang 35dụng công chức họp tham gia góp ý ý kiến góp ý được lập thành biên bản vàthông qua tại cuộc họp.
Kết quả đánh giá công chức được chia ra thành 4 mức: Hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạnchế về năng lực; Không hoàn thành nhiệm vụ Kết quả phân loại đánh giá côngchức được lưu vào hồ sơ công chức và thông báo đến công chức được đánh giá.Công chức 2 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lựchoặc có 2 năm liên tiếp, trong đó 1 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế
về năng lực và 1 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị
có thẩm quyền bố trí công tác khác Công chức 2 năm liên tiếp không hoànthành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc.Việc giải quyết cho thôi việc đối với công chức có 2 năm liên tiếp không hoànthành nhiệm vụ là một giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ côngchức, đồng thời thực hiện phương châm "có vào, có ra" trong nền công vụ
2.6 Về chế độ khen thưởng - kỷ luật công chức
Công chức có thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quyđịnh của pháp luật về thi đua khen thưởng Bên cạnh đó, công chức được khenthưởng do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thờihạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức,đơn vị có nhu cầu Bên cạnh đó, công chức vi phạm kỷ luật thì bị xử lý kỷ luật ở
1 trong các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cáchchức, buộc thôi việc
Trong các hình thức kỷ luật nêu trên, công chức nếu vi phạm kỷ luật thìphải bị xử lý kỷ luật ở 1 trong 4 hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậclương, buộc thôi việc Công chức lãnh đạo, quản lý nếu vi phạm kỷ luật thì phải
bị xử lý kỷ luật ở 1 trong 6 hình thức kỷ luật (bao gồm cả hình thức giáng chức,cách chức) Đối với cán bộ chỉ có 4 hình thức kỷ luật là: Khiển trách, cảnh cáo,cách chức, bãi nhiệm Đây là một đổi mới về chế độ kỷ luật đối với cán bộ và
công chức (Trước đây, Pháp lệnh Cán bộ, công chức quy định chung cả 6 hình
thức kỷ luật đối với cả cán bộ và công chức, do chưa phân biệt cán bộ với công chức)
2.7 Về thôi việc, nghỉ hưu
Thôi việc và nghỉ hưu là những trường hợp công chức được giải quyếtcho rời khỏi công vụ theo quy định của pháp luật
a) Thôi việc: công chức được giải quyết chế độ thôi việc trong các
trường hợp thôi việc theo nguyện vọng và thôi việc do được cơ quan, tổ chức,
Trang 36với công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định tạikhoản 3 Điều 58 Luật Cán bộ, công chức Trường hợp chưa được cơ quan, tổchức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý mà công chức tự ý bỏ việc thì không đượchưởng chế độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quyđịnh của pháp luật Công chức đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truycứu trách nhiệm hình sự thì không giải quyết thôi việc Công chức nữ đangmang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì không giải quyết thôi việc, trừtrường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng
Công chức thôi việc được hưởng trợ cấp thôi việc như sau: cứ mỗi nămlàm việc được tính bằng 1/2 (một phần hai) tháng lương hiện hưởng, gồm: mứclương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượtkhung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có).Mức trợ cấp thấp nhất bằng 1 (một) tháng lương hiện hưởng
b) Về nghỉ hưu: khác với quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm
1998 cho phép công chức được kéo dài thời gian làm việc khi đến tuổi đượchưởng chế độ hưu trí Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không quy định việckéo dài thời gian làm việc đối với công chức Công chức được nghỉ hưu theoquy định của Bộ luật Lao động Thời điểm nghỉ hưu là ngày 1 của tháng liền kềsau tháng công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định Trường hợp trong hồ sơcủa công chức không ghi rõ ngày, tháng sinh trong năm thì thời điểm nghỉ hưu
là ngày 1 tháng 1 của năm liền kề sau năm công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quyđịnh Thời điểm nghỉ hưu được lùi theo một trong các trường hợp sau:
- Không quá 1 tháng đối với một trong các trường hợp: thời điểm nghỉ hưutrùng với ngày nghỉ Tết Nguyên đán; công chức có vợ hoặc chồng, bố, mẹ (vợhoặc chồng), con bị từ trần, bị Toà án tuyên bố mất tích; bản thân và gia đìnhcông chức bị thiệt hại do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn;
- Không quá 03 tháng đối với một trong các trường hợp: bị bệnh nặnghoặc bị tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện;
- Không quá 6 tháng đối với trường hợp đang điều trị bệnh thuộc danh mụcbệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, có giấy xác nhận của bệnh viện
Công chức được lùi thời điểm nghỉ hưu thuộc nhiều trường hợp quy địnhnêu trên thì chỉ được thực hiện theo quy định đối với một trường hợp có thờigian lùi thời điểm nghỉ hưu nhiều nhất Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý côngchức quyết định việc lùi thời điểm nghỉ hưu theo quy định tại Khoản 2 Điều này,trừ trường hợp công chức không có nguyện vọng lùi thời điểm nghỉ hưu
Trang 372.8 Về quản lý cán bộ, quản lý công chức
Để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý công chức, Luật Cán bộ, côngchức quy định rất rõ ràng và mạch lạc vấn đề này Đối với cán bộ, việc quản lýthực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và của Uỷ banThường vụ Quốc hội Đối với công chức, việc quản lý nhà nước về công chức
do Chính phủ quản lý thống nhất - nghĩa là các quy định cụ thể về tuyển dụng,
sử dụng, nâng ngạch, bổ nhiệm, từ chức, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, đãingộ, thôi việc, nghỉ hưu đối với những người được xác định là công chức, cho
dù họ làm việc trong cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xãhội hoặc bộ máy quản lý của đơn vị sự nghiệp, đều được thống nhất quản lý vàthực hiện theo các quy định của Chính phủ Cơ quan có thẩm quyền của Đảng,các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hộithực hiện quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp
Để nắm vững các vấn đề về chế độ công vụ và quản lý cán bộ, công chứctrong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, cần thiết phải nghiên cứu các văn bảnpháp luật hiện hành liên quan, đó là Luật Cán bộ, công chức và các văn bản củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện
Trang 38PHẦN III
LUẬT VIÊN CHỨC VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC
1 Mục tiêu, quan điểm của Luật viên chức
1.1 Mục tiêu: Để nâng cao chất lượng phục vụ người dân và cộng đồng,
tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và xây dựng đội ngũ viên chức có phẩm chất,trình độ, năng lực, khắc phục những tồn tại và hạn chế của thể chế quản lý viênchức hiện nay, Luật Viên chức hướng tới các mục tiêu sau:
a) Góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và cộng đồng củacác đơn vị sự nghiệp công lập, góp phần vào việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển xã hội, bảo đảm các phúclợi cơ bản cho người dân, đặc biệt là đối với người nghèo và các đối tượng chínhsách, thu hẹp khoảng cách giữa miền núi, vùng cao với đồng bằng, giữa đô thị
và nông thôn
b) Tạo cơ sở pháp lý có giá trị cao nhằm xây dựng và quản lý đội ngũ viênchức có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng được yêu cầu ngày càng caotrong quá trình phục vụ người dân và cộng đồng; phát huy được tính sáng tạo,tính năng động và tài năng của viên chức đồng thời thể chế hóa chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển đội ngũ viên chức
c) Đổi mới hoạt động quản lý nhà nước về viên chức, góp phần thúc đẩyphát triển hoạt động của khu vực sự nghiệp công lập; chuyển cơ chế quản lýviên chức theo chỉ tiêu biên chế sang quản lý viên chức theo vị trí việc làm vàxác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp cônglập trong quản lý và phát triển đội ngũ viên chức
1.2 Quan điểm: Xuất phát từ mục tiêu nêu trên, để thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội, tăng trưởng, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển xã hội, bảođảm các nhu cầu cơ bản thiết yếu của người dân và cộng đồng, xây dựng độingũ viên chức của thời kỳ mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quan điểm chỉđạo thể hiện trong Luật Viên chức là:
a) Thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới cơ chế quản
lý các đơn vị sự nghiệp công lập, xóa bỏ cơ chế quản lý mang nặng tính hànhchính bao cấp, chuyển hẳn sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn
vị sự nghiệp công lập; khuyến khích đầu tư phát triển các hoạt động sự nghiệp
b) Bảo đảm tính kế thừa và phát triển đối với các quy định hiện hành vềquản lý viên chức Do đó, phạm vi điều chỉnh chỉ áp dụng đối với viên chức
Trang 39làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chứcchính trị- xã hội
c) Tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ của viên chức phùhợp với đặc điểm, tính chất hoạt động nghề nghiệp của họ Bảo đảm tính minhbạch, công khai và tính tự chịu trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp củaviên chức
d) Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức bảo đảm phát huy tối đa cáctiềm năng tri thức và tài năng của đội ngũ viên chức, phù hợp với quá trình cảicách khu vực dịch vụ công, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế Thực hiệntuyển dụng theo vị trí việc làm và quản lý viên chức theo chế độ hợp đồng làmviệc Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp
đ) Luật viên chức chỉ quy định những vấn đề chung nhất và mang tínhnguyên tắc Trên cơ sở quy định của Luật, Chính phủ sẽ quy định cụ thể phù hợpvới từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của viên chức
2 Những nội dung mới của Luật viên chức
Tuân thủ các mục tiêu và quan điểm chỉ đạo nêu trên, Luật viên chức năm
2010 đã thể hiện nhiều nội dung mới, tiến bộ, có tính kế thừa và mang tính cảicách mạnh mẽ so với thể chế quản lý viên chức hiện nay Với 6 chương và 62điều, Luật viên chức quy định những vấn đề chung về viên chức; quyền và nghĩa
vụ của viên chức; tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; khen thưởng, kỷluật và xử lý vi phạm đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Cụ thể,Luật viên chức bao gồm các nội dung mới sau:
2.1 Định hình rõ khái niệm “viên chức” và “hoạt động nghề nghiệp”
Luật Viên chức đã xác định được khái niệm viên chức trên cơ sở các đặctrưng nhất Mặt khác, Luật Viên chức cũng đã quy định khái niệm “hoạt độngnghề nghiệp” của viên chức để phân biệt với khái niệm “hoạt động công vụ” củacán bộ, công chức đã được quy định trong Luật cán bộ, công chức Đặc thù laođộng của viên chức không mang tính quyền lực công như của cán bộ, công chức
mà chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ
Do đó, hoạt động nghề nghiệp của viên chức được hiểu là việc thực hiện côngviệc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn,nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Trang 40thu kinh nghiệm của các quốc gia điển hình trên thế giới Đó là các nguyên tắc
cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; các nguyên tắc quản lý viênchức Đồng thời, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý viên chức, Luật đãquy định rõ các khái niệm cơ bản như: vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng làmviệc, viên chức quản lý, đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xử của viên chức…Đặc biệt, Luật đã quy định một trong các nguyên tắc quản lý viên chức là phảicăn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợpđồng làm việc Tạo cơ sở pháp lý để đổi mới mạnh mẽ cơ chế tuyển dụng, sửdụng và quản lý viên chức theo vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp Theo
đó, cùng với “vị trí việc làm”, khái niệm “chức danh nghề nghiệp” được sử dụng
để thay thế khái niệm “ngạch” quy định trong thể chế quản lý viên chức hiệnnay Những tồn tại trong quản lý viên chức hiện cho thấy, các cụm từ “bác sĩ”,
“y tá”, “giáo viên”, “giảng viên”, “nghiên cứu viên”, “đạo diễn”, “diễn viên” thực chất là được sử dụng để chỉ các chức danh ứng với nghề nghiệp của viênchức, nhưng lại được dùng để quy định thành các “ngạch” cho viên chức giốngnhư áp dụng đối với công chức Các quy định này đã tạo nên nhiều hạn chếtrong sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức Vìvậy, việc sử dụng “chức danh nghề nghiệp” sẽ khắc phục những tồn tại, hạn chếtrong quản lý đội ngũ viên chức hiện nay
2.3 Thống nhất cách hiểu về đơn vị sự nghiệp công lập
đồng thời quy định mang tính định hướng cho việc tổ chức, sắp xếp, quản
lý đối với toàn bộ hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập Các quy định nàynhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tổ chức, sắpxếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập; xóa bỏ cơ chế chủ quản, phân cấp quản lý,tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập, đồngthời thiết lập các cơ chế kiểm tra, kiểm soát hữu hiệu, tạo cơ sở pháp lý cho việcxây dựng cũng như phát triển đội ngũ viên chức Các quy định này thể hiện trongLuật viên chức cũng chính là sự tiếp tục nâng cao giá trị pháp lý của các quy định
về cải cách được thể hiện tại nhiều văn bản lập quy của Chính phủ, đặc biệt là sựtiếp nối từ các nội dung trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhànước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ Bên cạnh đó, Luật viên chức cũng đãtính đến yêu cầu xã hội hóa trong việc cung ứng các dịch vụ công ở nước ta hiệnnay Để tránh phân tán nguồn lực, bảo đảm hiệu quả, Luật đã xác định rõ vai tròcủa Nhà nước trong việc tham gia cung ứng các dịch vụ công cho xã hội, nhữnglĩnh vực nào Nhà nước phải đảm nhận, những lĩnh vực nào Nhà nước chỉ thamgia hoặc để các chủ thể khác trong xã hội thực hiện Nhà nước không thành lậpcác đơn vị sự nghiệp thực hiện các dịch vụ kinh doanh, thu lợi nhuận