WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới. Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết.WTO được thành lập ngày 111995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân, GATT Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại. GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay.
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
I Lịch sử hình thành và phát triển 2
1 Lịch sử hình thành và phát triển 2
2 Thành viên của WTO 5
II Hoạt động của WTO 9
1 Mục tiêu hoạt động 9
2 Chức năng của WTO 10
3 Đặc điểm hoạt động của WTO 10
4 Cơ cấu tổ chức WTO 12
5 Cơ chế vận hành 15
6 Cơ chế ra quyết định 16
7 Nguyên tắc hoạt động 28
8 Quá trình đàm phán, gia nhập WTO 33
9 Hệ thống các hiệp định của WTO 37
III Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO 41
1 Những cơ hội chung trong đổi mới đối với Việt Nam 41
2 Những thách thức chung trong đổi mới đối với Việt Nam 42
Trang 2I L ch s hình thành và phát tri n ịch sử hình thành và phát triển ử hình thành và phát triển ển
1 L ch s hình thành và phát tri n ịch sử hình thành và phát triển ử hình thành và phát triển ển
WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World TradeOrganization) - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mạigiữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã vàđang được các nước đàm phán và ký kết
WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiếtthương mại quốc tế của tổ chức tiền thân, GATT - Hiệp định chung về Thuếquan Thương mại GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà tràolưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tếquốc tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Pháttriển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹtiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay
Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thươngmại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hànghóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thươngmại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chứcThương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc.Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuếquan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trongthương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóamậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm,nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đãđược thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ởHavana từ 11/1947 đến 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn
Trang 3trong phê chuẩn, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đãkhông thực hiện được.
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạtđược ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữacác bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại(GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948
Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuếquan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay(1986-1994) dothương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạtđộng, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệpđịnh hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế,
về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quantới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giảiquyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mởrộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một
sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra không thíchhợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệpđịnh thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển
sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống LiênHợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995
Khoảng năm 1995-1996, một số nước thành viên WTO đề nghị tiến hànhvòng đàm phán mới trước năm 2000 về hàng loạt vấn đề mà các nhóm nướckhác nhau trong WTO quan tâm Các cuộc đàm phán được bắt đầu vào năm
1996 Một chương trình đàm phán mới đã được đưa ra gồm hơn 30 đề mục,trong đó có một số vấn đề đáng chú ý: Dịch vụ vận tải hàng hải (kết thúc đàmphán về mở cửa thị trường (tiến hành vào ngày 30-6-1996, hoãn lại tới năm
2000, sau chuyển sang Chương trình Doha); Dịch vụ và môi trường (xác địnhthời hạn báo cáo kết quả của nhóm công tác tháng 12-1996); Dịch vụ mua sắm
Trang 4chính phủ (tiến hành đàm phán đầu năm 1997); Dịch vụ viễn thông cơ bản (kếtthúc đàm phán tháng 2/ 1997); Dịch vụ tài chính ( kết thúc đàm phán tháng 12/1997); trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: thiết lập hệ thống đa phương về thông báo
và đăng chỉ dẫn địa lý đối với rượu vang (tiến hành đàm phán, trở thành một bộphận trong Chương trình Doha ); Hàng dệt may (một giai đoạn mới bắt đầu vàotháng 1/1998); các biện pháp phòng vệ khẩn cấp trong lĩnh vực dịch vụ (áp dụngkết quả đàm phán trước 01-01-1998, hoãn lại đến tháng 3-2004); Quy tắc xuất
xứ sản phẩm (đi đến sự thống nhất tương đối giữa các quy tắc về xuất xứ sảnphẩm của các quốc gia tháng7/1998); các vấn đề về mua sắm chính phủ (mởnhững cuộc đàm phán mới để cải thiện các quy tắc và thủ tục bắt đầu vào cuốinăm 1998); xem xét lai toàn bộ các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp(trước năm 1998); Bắt đầu xem xét một số ngoại lệ đối với việc cấp bằng sángchế và bảo vệ đa dạng thực vật (năm 1999); năm 2000 sẽ xem xét các vấn đềnông nghiệp, dịch vụ thuộc Chương trình Doha, các cam kết trần về thuế quan(xem xét lại khái niệm “nhà cung cấp chính” tại Điều 28 Hiệp định GATT 1994
về quyền của người tham gia đàm phán đối với việc sửa đổi mức trần), thốngnhất kiểm tra định kỳ (hai năm một lần) việc thực thi Hiệp định TRIPS ; trongnăm 2002 xem xét các vấn đề dệt may và năm 2005 chấm dứt thời gian hiệu lựccủa hiệp định dệt may và áp dụng hoàn toàn Hiệp định GATT 1994 trong lĩnhvực này
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư tổ chức tại Doha (Qatar) vào tháng11-2001, các nước thành viên WTO đã nhất trí tiến hành Vòng đàm phán mới
Họ cũng thống nhất sẽ thảo luận nhiều vấn đề khác, đặc biệt là việc thực thi cáchiệp định hiện nay Tất cả các hoạt động này nằm trong một chương trình chungđược gọi là Chương trình Doha Phát triển (DDA)
Các cuộc đàm phán diễn ra trong khuôn khổ của Uỷ ban đàm phánthương mại và các cơ quan hỗ trợ cho uỷ ban này Đó thường là những hội đồnghoặc uỷ ban được triệu tập trong các “phiên họp bất thường”, hoặc những nhómđàm phán được lập ra chuyên trách về một nội dung đàm phán Các hoạt độngkhác của Chương trình sẽ do các hội đồng hoặc các uỷ ban khác của WTO tiến
Trang 5hành Tuyên bố Doha nêu ra 19 – 21 nhóm nội dung, tuỳ theo “quy tắc” mà cấuthành một hoặc ba nhóm nội dung để thảo luận Phần lớn các nội dung này đòihỏi phải tiến hành đàm phán; số còn lại thì đòi hỏi các biện pháp “thực hiện”,phân tích và theo dõi đánh giá.
Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý,
và mở rộng Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO làmột tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể
- Trụ sở chính: Geneva, Thụy Sĩ
- Thành viên: 154 nước ( tính đến ngày 29 tháng 04 năm 2012) Gia nhậpvào ngày 7-11-2006, Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO
- Ngân sách: : 194 triệu francs Thụy Sỹ (theo số liệu 2010)
- Nhân viên: 635 người
- Tổng giám đốc: Pascal Lamy
2 Thành viên c a WTO ủa WTO
Danh sách thành viên và ngày gia nhập:
Trang 9II Ho t đ ng c a WTO ạt động của WTO ộng của WTO ủa WTO
1 M c tiêu ho t đ ng ục tiêu hoạt động ạt động của WTO ộng của WTO
WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thếgiới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp địnhGATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảoviệc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quảnhất các nguồn lực của thế giới Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau:
+ Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giớiphục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường;
Trang 10+ Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng vàtranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thốngthương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc
tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triểnnhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mạiquốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyếnkhích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới;
+ Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nướcthành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
3 Ch c năng c a WTO ức năng của WTO ủa WTO
Theo ghi nhận tại Ðiều III, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới,
WTO có 5 chức năng sau:
+ WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành vànhững mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp định đa biên củaWTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việcthực hiện các hiệp định nhiều bên;
+ WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên
về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định củaWTO WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các thànhviên về những quan hệ thương mại đa biên; đồng thời WTO là một thiết chế đểthực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết định do Hộinghị Bộ trưởng đưa ra;
+ WTO sẽ thi hành Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnhviệc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (''Thoả thuận'' này được quy địnhtrong Phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO);
+ WTO sẽ thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của các nướcthành viên), ''Cơ chế'' này được quy định tại Phụ lục 3 của Hiệp định thành lậpWTO;
Ðể đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập cácchính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF), Ngân hàng thế giới và các cơ quan trực thuộc của nó
Trang 114 Đ c đi m ho t đ ng c a WTO ặc điểm hoạt động của WTO ển ạt động của WTO ộng của WTO ủa WTO
- WTO là nơi đề ra những quy định:
Ðể điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thếgiới hoặc gần như toàn thế giới Tính đến thời điểm 31/12/2005, WTO có 148thành viên (Xem thêm Phụ lục Danh sách các thành viên Tổ chức thương mạithế giới (WTO) )
- WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán:
Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộcđàm phán Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mới
"Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán" Cóthể nói, WTO chính là một diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hànhthoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ,đầu tư, sở hữu trí tuệ , để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thươngmại giữa các bên
- WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế:
Ra đời với kết quả được ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý,WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạchđịnh và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêm việc làm, tăngthu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên Các văn bản pháp
lý này bản chất là các "hợp đồng", theo đó các chính phủ các nước tham gia kýkết, công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành viên của WTO) camkết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận.Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của những thoả thuậnnày là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá, cungcấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh, buôn báncủa mình
- WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp:
Trang 12Nếu "mục tiêu kinh tế" của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoáthương mại hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh (gọichung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm giảiquyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên theocác quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của công phápquốc tế và luật lệ của WTO chính là mục tiêu chính trị của WTO Mục tiêu cuốicùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm tới "mục tiêu xã hội"của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập chongười dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.
5 C c u t ch c WTO ơ cấu tổ chức WTO ấu tổ chức WTO ổ chức WTO ức năng của WTO
WTO có một cơ cấu gồm 3 cấp: 1 Các cơ quan lãnh đạo chính trị và cóquyền ra quyết định (decision-making power) bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Ðạihội đồng WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sáchthương mại; 2 Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các hiệp địnhthương mại đa phương, bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồngTRIPS; 3 Cuối cùng là các cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký làTổng giám đốc và Ban Thư ký WTO
Hội nghị Bộ trưởng, Ðại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại
Hội nghị Bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất củaWTO, họp ít nhất hai năm một lần, thành viên là đại diện cấp Bộ trưởng của tất
cả các thành viên Ðiều IV.1 Hiệp định thành lập WTO quy định Hội nghị Bộtrưởng WTO thực hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết địnhmọi hành động cần thiết để thực hiện những chức năng đó Hội nghị Bộ trưởngWTO cũng có quyền quyết định về tất cả các vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ mộthiệp định đa phương nào của WTO
Ðại hội đồng WTO: trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộtrưởng WTO, các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng WTO do Ðại hội đồng(General Council) đảm nhiệm Ðại hội đồng WTO hoạt động trên cơ sở thường
Trang 13trực tại trụ sở của WTO ở Geneva, Thụy Sĩ Thành viên của Ðại hội đồng WTO
là đại diện ở cấp Ðại sứ của chính phủ tất cả các thành viên Ða số các nướcđang phát triển thường cử luôn Ðại sứ, Trưởng đại diện bên cạnh Liên hợp quốctại Geneva làm đại sứ tại WTO; các nước phát triển, đặc biệt là các cường quốcthương mại hàng đầu như Mỹ, EU đều cử Ðại sứ riêng về WTO tại Geneva Các
ủy ban báo cáo lên Ðại hội đồng WTO
Ðại hội đồng có quyền thành lập các ủy ban giúp việc và báo cáo trực tiếplên Ðại hội đồng là: ủy ban về thương mại và phát triển; ủy ban về các hạn chếcán cân thanh toán; ủy ban về ngân sách, tài chính và quản trị; ủy ban về cáchiệp định thương mại khu vực Ba ủy ban đầu được thành lập theo hiệp định vềthành lập WTO, ủy ban cuối cùng được thành lập vào tháng 2-1996 theo quyếtđịnh của Ðại hội đồng WTO
Ngoài ra còn có hai ủy ban là ''Ủy ban về hàng không dân dụng” và “Ủyban về mua sắm chính phủ” được thành lập theo quyết định của Vòng Tokyo và
có số thành viên hạn chế (chỉ những nước ký kết các ''bộ luật'' có liên quan củavòng Tokyo mới được tham gia), vẫn tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ củaWTO Nhưng những ủy ban này không phải báo cáo (report) mà chỉ có nghĩa vụthông báo (notify) thường xuyên về hoạt động của họ lên Ðại hội đồng WTO
Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thươngmại: Ðiều IV.2 Hiệp định WTO quy định, ngoài các việc thực hiện các chứcnăng của Hội nghị Bộ trưởng WTO trong thời gian giữa hai khoá họp, Ðại hộiđồng -WTO còn thực hiện những chức năng khác được trao trực tiếp theo cácHiệp định thương mại đa phương, trong đó quan trọng nhất là chức năng giảiquyết tranh chấp và chức năng kiểm điểm chính sách thương mại Chính vì vậy
mà Ðại hội đồng WTO đồng thời là “cơ quan giải quyết tranh chấp” (DSB Dispute Settlement Body) khi thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp và là''Cơ quan kiểm điểm chính sách mại''(TPRB - Trade Policy Review Body) khithực hiện chức năng kiểm điểm chính sách thương mại
Trang 14- Các Cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương
WTO có 3 hội đồng (Council) được thành lập để giám sát việc thực thi 3hiệp đinh thương mại đa phương là: Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hộiđồng TRIPS Tất cả nước thành viên đều có quyền tham gia vào hoạt động của 3hội đồng này Ba hội đồng nói trên báo cáo trực tiếp các công việc của mình lênÐại hội đồng WTO
Ngoài ra còn có các cơ quan được các hội đồng của WTO thành lập với tưcách là cơ cấu trực thuộc (subsidiary bodies) để giúp các hội đồng này trongviệc thực hiện các chức năng kỹ thuật, ví dụ như ''ủy ban về thâm nhập thịtrường'', ủy ban về trợ giá nông nghiệp” và các ''Nhóm công tác (working group)được thành lập trên cơ sở tạm thời để giải quyết những vấn đề cụ thể, ví dụ nhưcác “nhóm Công tác về việc gia nhập WTO" của một số nước
Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO
Khác với GATT 1947, WTO có một Ban Thư ký rất quy mô, bao gồmkhoảng 500 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO Ðứngđầu Ban Thư ký WTO là Tổng giám đốc WTO Tổng giám đốc WTO do Hộinghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm Ngoài vai trò điều hành, Tổnggiám đốc cửa WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thốngthương mại đa phương Chính vì vậy mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào chức
vụ này luôn là một cuộc chạy đua ác liệt giữa các nhân vật chính trị quan trọng,cấp Bộ trưởng, Phó Thủ tướng hoặc Tổng thống (Trong số các ứng cử viên vàochức vụ Tổng giám đốc đầu tiên của WTO có ông Salinas, cựu Tổng thốngMêhicô)
Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc do Hội nghị Bộ trưởngquyết định Biên chế Ban Thư ký WTO do Tổng giám đốc quyết định Tổnggiám đốc và thành viên Ban Thư ký WTO có quy chế tương tự như của viênchức các tổ chức quốc tế, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo các quyết định vàtôn chỉ của WTO Họ được hưởng các quyền ưu đãi miễn trừ tương tự như viên
Trang 15chức của các tổ chức chuyên môn cua Liên hợp quốc Cũng như những ngườitiền nhiệm trước kia trong GATT, Tổng giám đốc WTO có vai trò hết sức quantrọng, dẫn dắt các vòng đàm phán thương mại đa biên và giải quyết tranh chấp(Ông Rugiero, Tổng giám đốc sắp mãn nhiệm cửa WTO đã đóng vai trò trunggian hoà giải rất tích cực và có hiệu quả trong vụ tranh chấp giữa Mỹ và EU liênquan đến việc áp dụng các đạo luật Helms-Burton và D’Amato-Kennedy năm1997) Vị trí đặc biệt của Tổng giám đốc WTO thể hiện một trong những nét đặctrưng trong ngoại giao đa phương ngày nay khi trên thực tế các quan chức lãnhđạo cao cấp của các tổ chức quốc tế ngày càng đóng vai trò “điều hành’’(managing) nhiều hơn là “chấp hành’’ (executive).
6 C ch v n hành ơ cấu tổ chức WTO ế vận hành ận hành
Tổ chức thương mại thế giới họp 2 năm một lần dưới hình thức Hội nghị
Bộ trưởng các nước thành viên Ngoài các cuộc họp của Hội nghị bộ trưởng, còn
có các cuộc họp của Ðại hội đồng
Trong các cuộc họp của WTO, việc ra quyết định được tiến hành trên cơ
sở đồng thuận Ðây là một thông lệ của GATT 1947 (tổ chức tiền thân củaWTO) trước kia và được WTO tiếp tục sử dụng
Cơ chế “đồng thuận” khác với cơ chế “biểu quyết” ở cơ chế biểu quyết(có thể biểu quyết bằng bỏ phiếu, bằng giơ tay, bằng ấn nút điện tử ) quyết địnhđược thông qua kể cả khi không có được 100% số phiếu tán thành, mà tuỳ theoquy định của mỗi tổ chức, mỗi cuộc họp, khi đạt được một tỷ lệ phiếu thuận (tánthành) nhất định thì quyết định đã được thông qua
“Ðồng thuận” là cơ chế ra quyết định mà tại thời điểm thông qua quyếtđịnh đó không có thành viên nào (có mặt tại phiên họp) chính thức phản đốiquyết định được dự kiến Ví dụ, tại thời điểm 12/2005, WTO có 148 thành viên,nếu Hội nghị bộ trưởng họp và ra một quyết định nào đó, quyết định được thôngqua nếu tất cả 148 nước thành viên đều không phản đối về quyết định đó thì gọi
là đồng thuận
Trang 16“Ðồng thuận” cũng khác với “nhất trí” Nhất trí là biểu quyết với 100%tán thành, tức là đạt được 100% số phiếu thuận
Nếu không thể đạt được một quyết định trên cơ sở đồng thuận thì vấn đềcần giải quyết sẽ được quyết định bằng hình thức bỏ phiếu Tại các cuộc họp củaHội nghị bộ trưởng và Ðại hội đồng, mỗi thành viên của WTO có một phiếu.Cộng đồng châu Âu thực hiện quyền bỏ phiếu thì họ sẽ có số phiếu tương đươngvới số lượng thành viên của cộng đồng là thành viên của WTO
Các quyết định của Hội nghị bộ trưởng và Ðại hội đồng được thông quatrên cơ sở đa số phiếu
7 C ch ra quy t đ nh ơ cấu tổ chức WTO ế vận hành ế vận hành ịch sử hình thành và phát triển
Về phương diện ra quyết định, WTO là một tổ chức kinh tế quốc tế liênchính phủ khác với một số tổ chức khác Về nguyên tắc, các quyết định lớn vàquan trọng nhất của WTO do chính phủ tất cả các nước thành viên thông qua,hoặc ở cấp bộ trưởng tại Hội nghị Bộ trưởng hoặc ở cấp Đại sứ tại Đại hội đồngWTO Tất cả các quyết định này thông thường được thông qua trên cơ sở đồngthuận Khác với IMF hoặc WB, Ban Thư kư hoặc Tổng giám đốc WTO khôngđược các nước thành viên chuyển giao thực hiện những quyền lực quan trọng vàquan điểm của WTO không ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách thươngmại của các nước thành viên (đây là sự khác nhau cơ bản giữa WTO và IMFhoặc WB) Những nghĩa vụ trong WTO là kết quả của các cuộc đàm phánthương mại đa phương trên cơ sở nhân nhượng và thỏa hiệp giữa tất cácnước.Việc không thực hiện một nghĩa vụ trong WTO, trong trường hợp xấu nhấtchỉ có thể dẫn đến việc nước bị thiệt hại có quyền yêu cầu WTO cho phép ápdụng các biện pháp trả đũa nhưng phải tương ứng với mức độ thiệt hại mà nướcnày đă phải chịu Nếu so sánh với các biện pháp chế tài của IMF hoặc WB th́ cóthể nói là “kỷ luật tập thể” ở WTO,nói chung vẫn c ̣n ''mềm'' và “nhẹ'' hơn
Theo điều XVI, khoản 1 của Hiệp định về WTO, cơ chế ra quyết định củaWTO sẽ tiếp tục cách làm hơn 40 năm qua của GATT 1947, có nghĩa là WTO
Trang 17sẽ tiếp tục áp dụng nguyên tắc đồng thuận (consensus) trong việc ra quyết định,mặc dù Hiệp định về WTO có một số điều khoản về việc bỏ phiếu.
Để tránh trường hợp việc thông qua quyết định có thể bị phong toả hoặc tŕhoăn, Hiệp định về WTO quy định một số trường hợp bỏ phiếu như sau:
- Quyết định sửa đổi một số nguyên tắc nền tảng như “tối huệ quốc”,nguyên tắc “đãi ngộ quốc gia” (phải được sự nhất trí của tất các nước thànhviên)
- Các quyết định về việc giải thích các điều khoản của hiệp định WTO, vàcác hiệp định đa biên và cho phép một nước miễn thực hiện một nghĩa vụ nào đócần được ba phần tư phiếu thuận
- Các quyết định sửa đổi các điều khoản khác trong các hiệp định thươngmại đa phương cần được hai phần ba số phiếu thuận Những nước không đồng ývới quyết định của đa số có thể bị Hội nghị Bộ trưởng WTO yêu cầu rút khỏiWTO
Là một tổ chức quốc tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lư (rule-based) GATTtrước kia cũng như WTO hiện nay đều cần có một cơ chế giải quyết tranh chấphiệu quả và công bằng, nhằm bảo đảm để tất cả các nước thành viên dù lớn haynhỏ, dù là nước phát triển hay đang phát triển cũng đều phải tuân thủ “luật chơichung” của thương mại quốc tế Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947
đă được hầu hết các chuyên gia về thương mại quốc tế đánh giá rất cao và đượccông nhận như là một trong những thành công quan trọng nhất của GATT saugần 50 năm tồn tại Giáo sư Luật Kinh tế quốc tế Ernst-Ulrich Petersmann, mộttrong những chuyên gia hàng đầu thế giới về GATT/WTO đă có nhận xét nhưsau “Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT có tầm quan trọng sống c ̣n đối vớiviệc duy tŕ một hệ thống thương mại quốc tế mở cửa , bởi vì cơ chế đó khôngchỉ đơn thuần giải quyết êm thấm các tranh chấp mà nó c ̣n là công cụ bảo đảm
sự tin cậy về mặt pháp lư đối với các cam kết của các chính phủ và quan trọnghơn cả là đó là một vũ khí dùng để răn đe những nước chủ trương chính sáchngoại giao thương mại dựa trên sức mạnh Những nguyên tắc và thủ tục giải
Trang 18quyết tranh chấp của GATT đă được WTO kế thừa và phát triển Sau gần 5 nămhoạt động, Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đă thực sự trở thành mộttrong những định chế có quyền lực nhất trên thế giới Ngay cả các siêu cườngnhư EU, Mỹ cũng phải chấp nhận đưa các tranh chấp của họ ra giải quyết trướcWTO và chấp nhận thực hiện các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp,mặc dù đôi lúc những nước này đă công khai phản đối lại các quyết định này,một điều khó có thể tưởng tượng tại các tổ chức quốc tế khác, ví dụ như Liênhợp quốc.
6.1.Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 được xây dựng trên cơ sởcủa Điều XXII và Điều XXIII Hiệp định GATT Điều XXII quy định về thủ tục
tư vấn (consultation) giữa các bên kư kết liên quan đến việc áp dụng và thựchiện GATT Điều XXIII quy định về thủ tục hoà giải (conciliation) giữa các bêntranh chấp trong trường hợp quyền lợi thương mại của một nước bị vô hiệu hoá(nullification) hoặc bị suy giảm (impairment) do hành vi của một bên ký kếtkhác Hiệp định GATT 1947 quy định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranhchấp là Đại hội đồng GATT Trên thực tế phần lớn công việc giải quyết tranhchấp được Đại hội đồng GATT giao phó vào thời kỳ đầu cho các nhóm công tác
và từ năm 1952 cho các nhóm chuyên gia
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT mang tính chất “hoà giải” nhiềuhơn là “tranh tụng”, có mục đích làm cho các bên tranh chấp hiểu nhau hơnnhằm đi đến một giải pháp mà hai bên đều chấp nhận được
Nhiệm vụ hoà giải được giao cho nhóm chuyên gia bao gồm 3 hoặc 5thành viên thường được chọn trong số những nhà ngoại giao làm việc tại pháiđoàn đại diện ở Geneva hoặc quan chức chính phủ của những nước thứ ba, cókinh nghiệm nhiều năm về những vấn đề của GATT Nhóm chuyên gia cónhiêm vụ xem xét một cách khách quan thực chất nội dung tranh chấp, việc viphạm Hiệp định nếu có và những thiệt hại có thể có đối với một bên tranh chấp
và sẽ soạn thảo một báo cáo để tŕnh lên Đại hội đồng GATT xem xét Việc
Trang 19thông qua báo cáo được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận Tuy nhiên,nguyên tắc này cũng đă gây nhiều khó khăn cho cơ chế giải quyết tranh chấpcủa GATT vì, về lý thuyết bất kỳ bên ký kết nào cũng có thể phản đối hoặc trìhoãn việc thành lập Nhóm chuyên gia và phong toả việc thông qua báo cáo Sựchậm trễ trong việc giải quyết tranh chấp trong nhiều trường hợp đã không đemlại tác dụng trên thực tế cho bên thắng kiện do sản phẩm hoặc ngành sản xuất bịthiệt hại đă mất khả năng cạnh tranh sau một thời gian giải quyết tranh chấp kéodài.
Ngoài ra, việc thông qua một số ''bộ luật'' của Vòng Tokyo 1979 vớinhững cơ chế giải quyết tranh chấp riêng rẽ (mua sắm chính phủ, hàng khôngdân dụng ) đã làm ảnh hưởng đến tính thống nhất và làm suy yếu cơ chế giảiquyết tranh chấp chung của GATT Một số tranh chấp mới nảy sinh như tranhchấp về những biện pháp thương mại liên quan đến đầu tư, về vấn đề bảo hộquyền sở hữu trí tuệ, về thương mại dịch vụ… lại không thuộc thẩm quyền củaGATT 1947 và việc giải quyết những tranh chấp đó bên ngoài hệ thống thươngmại đa phương nhiều khi đã dẫn đến các biện pháp trừng phạt đơn phương đốivới các nước đang phát triển
6.2.Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc:công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranhchấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa vụ, phù hợp với cáchiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tậpquán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế
Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp củaGATT 1947 như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ giải quyết tích cựccác tranh chấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa đượcphép của WTO Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt
có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu Tuynhiên, nguyên tắc này không bao hàm rõ rang ý có cấm các nước thành viên
Trang 20không được đơn phương xác định các hành vi của nước thành viên khác có viphạm các hiệp định của WTO hay không Lợi dụng sự không rõ ràng này nênmột số nước thành viên phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp tục đơn phương ápdụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong Luật Thươngmại Mỹ hoặc Quy định 384/96 của Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạtcác nước thành viên WTO khác.
6.2.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, quy chế “nhóm chuyên gia" và Cơ quan phúc thẩm thường trực
- Cơ quan giải quyết tranh chấp: Viết tắt theo tiếng Anh là DSB (DisputSettlement Body) có quyền quyết định thành lập và thông qua báo cáo của nhómchuyên gia và nhóm phúc thẩm, giám sát việc thực hiện các quyết định về giảiquyết tranh chấp, cho phép tạm đình chỉ việc áp dụng các hiệp định thương mạivới một nước thành viên, cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt
- Nhóm chuyên gia: công việc chính về giải quyết tranh chấp do các nhómchuyên gia thực hiện: Các nhóm chuyên gia này do DSB thành lập để giải quyếtmột vụ tranh chấp cụ thể và giải thể sau khi kết thúc nhiệm vụ Khác với cơ cấunhóm chuyên gia thời kỳ GATT 1947 chủ yếu được ưu tiên lựa chọn trong cácquan chức chính phủ các nước thành viên, nhóm chuyên gia thời WTO được ưutiên lựa chọn trong số những chuyên gia (expert) độc lập, không làm việc chochính phủ, có uy tín quốc tế về chính sách hoặc luật thương mại quốc tế Thànhphần của mỗi nhóm chuyên gia từ 3-5 người Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia làgiúp Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, làm sáng tỏ nội dung tranh chấp
và khuyến nghị một giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họphù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan Trong quá trình xem xét sựviệc, nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trưng cầu ýkiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ thuật Toàn bộquá trình giải quyết tranh chấp từ thời điểm các bên tranh chấp tự thương lượngvới nhau cho đến khi nhóm chuyên gia đệ trình báo cáo lên DSB tối đa khôngquá một năm, trong đó thời gian kể từ thời điểm thành lập nhóm chuyên gia cho
Trang 21đến khi đệ trình báo cáo tối đa không quá 6 tháng Báo cáo của nhóm chuyên gia
sẽ được gửi đến cho các bên tranh chấp trong vòng 6 tháng, trong trường hợptranh chấp liên quan đến những hàng hoá dễ hư hỏng trong ṿng 3 tháng và gửiđến tất cả các thành viên của WTO sau đó 3 tuần Sau 60 ngày, báo cáo củanhóm chuyên gia sẽ tự động trở thành quyết định của DSB nếu không có sựđồng thuận của tất cả các nước thành viên WTO, kể cả hai bên tranh chấp bác bỏnội dung của báo cáo
Cơ quan phúc thẩm thường trực: một trong những nét mới của bộ máygiải quyết tranh chấp của WTO là việc thành lập Cơ quan phúc thẩm thườngtrực Cơ quan này có 7 thành viên, do Cơ quan giải quyết tranh chấp bổ nhiệmvới nhiệm kỳ 4 năm, là những Chuyên gia pháp lý và thương mại quốc tế cókinh nghiệm lâu năm Cơ quan này có chức năng xem xét theo thủ tục phúcthẩm báo cáo của nhóm chuyên gia, theo đề nghị của một trong các bên tranhchấp Tuy nhiên, phạm vi “phúc thẩm'' chỉ áp dụng đối với những kết luận vàgiải thích pháp lý được đưa ra trong báo cáo của nhóm chuyên gia Khi có đềnghị xem xét phúc thẩm, Cơ quan phúc thẩm thường trực sẽ lập ra một nhómphúc thẩm riêng biệt cho mỗi một vụ tranh chấp, bao gồm 3 thành viên Nhómphúc thẩm có thẩm quyền hoặc giữ nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ những giảithích và kết luận pháp lý nêu trong báo cáo của nhóm chuyên gia Báo cáo củanhóm phúc thẩm sẽ được đệ trình lên DSB để thông qua Việc thông qua báocáo phúc thẩm được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận tiêu cực và gần nhưmang tính chất tự động Các bên tranh chấp có nghĩa vụ thực hiện vô điều kiệnquyết định cuối cùng của DSB trên cơ sở báo cáo phúc thẩm Thời hạn xem xétphúc thẩm là 60 ngày, có thể được gia hạn nhưng không quá 90 ngày
6.2.2 Thực hiện quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp và áp dụng biện pháp trả đũa
Quyết định về giải quyết tranh chấp được DSB thông qua theo nguyên tắcđồng thuận tiêu cực có giá trị pháp lý và có tính cưỡng chế thi hành đối với cácbên tranh chấp
Trang 22Thông thường thì bên thua kiện có nghĩa vụ bãi bỏ các quy định hoặcchấm dứt áp dụng các biện pháp mà nhóm chuyên gia kết luận là vi phạm điềukhoản trong các hiệp định có liên quan của WTO Để bảo đảm là bên thua kiện
sẽ thực hiện nghiêm túc quyết định của DSB và để tránh tình trạng ''rơi vào imlặng'', WTO đề ra một cơ chế theo dơi và giám sát việc thực hiện quyết định.Trong vòng 30 này kể từ ngày thông qua báo cáo của nhóm chuyên gia, bên thuakiện phải thông báo cho DSB biết về những biện pháp mà nước này dự định ápdụng để thực hiện khuyến nghị của nhóm chuyên gia Nếu nước này vì lý do nào
đó không thể thực hiện ngay khuyến nghị của nhóm chuyên gia th́ DSB có thểcho phép nước này được thực hiện trong một thời hạn ''hợp lý'' Và nếu trongthời hạn hợp lý đó bên thua kiện vẫn không thể thực hiện được khuyến nghị củanhóm chuyên gia thì nước này có nghĩa vụ thương lượng với bên thắng kiện vềmức độ bồi thường thiệt hại, ví dụ như giảm thuế quan đối với một sản phẩmnào đó có lợi cho bên thắng kiện Nếu trong vòng 20 ngày kể từ ngày chấm dứtthời hạn hợp lý, các bên tranh chấp không đạt được thỏa thuận về mức độ bồithường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép áp dụng các biệnpháp trả đũa, cụ thể là tạm ngưng việc cho bên thua kiện hưởng những nhânnhượng thuế quan hoặc tạm ngưng thực hiện những nghĩa vụ đối với bên thuakiện theo hiệp định có liên quan
Biện pháp trả đũa phải tương ứng với mức độ thiệt hại và phải được thựchiện trong lĩnh vực (sector) thương mại mà bên thua kiện bị thiệt hại Để bảođảm tính hiệu quả của các biện pháp trả đũa và rút kinh nghiệm, WTO quy địnhtrong trường hợp việc áp dụng các biện pháp trả đũa mà lĩnh vực bị thiệt hại làkhông thực tế hoặc không có hiệu quả thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu DSBcho phép trả đũa trong một lĩnh vực khác (trả đũa chéo) Chẳng hạn một nướcđang phát triển sẽ khó có thể áp dụng một cách hiệu quả biện pháp trả đũa tronglĩnh vực thương mại hàng hoá đối với một nước phát triển nhưng nếu trả đũatrong lĩnh vực thương mại dịch vụ hoặc sở hữu trí tuệ thì có thể sẽ hiệu quả hơn.Hơn thế nữa, trong một trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bên thắng kiện còn cóthể yêu cầu DSB cho phép trả đũa trong những lĩnh vực thuộc các hiệp định