LỜI MỞ ĐẦUCông cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều thành tựu cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong quá trình ấy việc huy động và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước (đầu tư công) có một ý nghĩa quan trọng. Đầu tư công đóng vai trò tạo nên những nền tảng vật chất – kĩ thuật quan trọng cho đất nước, thúc đẩy phát triển không những về kinh tế mà cả trong lĩnh vực văn hóa xã hội. Đồng thời đầu tư công cũng là động lực quan trọng đối với một số ngành và vùng trọng điểm, thúc đẩy thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, an ninh quốc phòng. Đầu tư công sẽ phát huy hết vai trò quan trọng của mình nếu định hướng đầu tư của nhà nước là đúng đắn, hợp lí. Còn nếu nhà nước đầu tư dàn trải, không mang lại hiệu quả thiết thực thì sẽ gây tổn thất lớn cho cả nhà nước và toàn xã hội, tăng áp lực nặng nề cho nền tài chính công. Như vậy, nhiệm vụ của Chính phủ mỗi nước là đầu tư làm sao cho đồng vốn của mình thực sự hiệu quả, chất lượng, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng về mọi mặt của đất nước. Ngày 24022011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11NQ – CP về những giải pháp ổn định nền kinh tế vĩ mô, trong đó có một giải pháp quan trọng được nhắc đến đó là cắt giảm đầu tư công. Một vài câu hỏi đặt ra là: Vậy, thực trạng đầu tư công hiện nay ở Việt Nam trong những năm trở lại đây như thế nào? có thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn hay không? còn những tồn tại gì cần phải khắc phục và Chính phủ nên khắc phục nó như thế nào? chúng tôi xin được trình bày, làm rõ cũng như đưa ra những khuyến nghị trong bài tiểu luận này.A. NỘI DUNGI.TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY1. Khái niệm về đầu tư cônga. Khái niệm đầu tưTheo cách hiểu thông thường nhất trong xã hội, đầu tư là việc bỏ vốn ra bằng các tài sản hữu hình (tiền, nhà xưởng, máy móc,...) hoặc vô hình (phát minh, sáng chế, thương hiệu,...) để kinh doanh nhằm đạt được lợi ích nào đó. Còn theo kinh tế học vĩ mô thì đầu tư được hiểu là tăng vốn tư bản nhằm tăng cường sức sản xuất trong tương lai. Có nghĩa là đầu tư là việc bỏ tư bản, bỏ 12vốn động nào đó để đạt được mục đích kinh tế, là hoạt động mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư. Đầu tư còn được gọi là hình thành tu bản hoặc tích lũy tư bản. Chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính là đầu tư, cong tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được coi là đầu tư. b. Khái niệm đầu tư công Việc gia tăng tư bản tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân, còn gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công. Việc làm gia tăng tư bản xã hội thuộc chức năng của Chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà Chính phủ thực hiện. Ở Việt Nam, thuật ngữ “đầu tư công” được sử dụng từ sau khi nhà nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Theo thống kê hiện nay, đầu tư công ở nước ta bao gồm: Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành trung ương và các địa phương) Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và ngắn hạn) được thông qua trong kế hoạch ngân sách hằng năm Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định Đầu tư của các DNNN mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại nhiều thành tựu cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Trong quá trình ấy việc huy động và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước (đầu tư công) có một ý nghĩa quan trọng Đầu tư công đóng vai trò tạo nên những nền tảng vật chất – kĩ thuật quan trọng cho đất nước, thúc đẩy phát triển không những về kinh tế mà cả trong lĩnh vực văn hóa xã hội Đồng thời đầu tư công cũng là động lực quan trọng đối với một số ngành và vùng trọng điểm, thúc đẩy thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội, an ninh quốc phòng Đầu tư công sẽ phát huy hết vai trò quan trọng của mình nếu định hướng đầu tư của nhà nước là đúng đắn, hợp lí Còn nếu nhà nước đầu tư dàn trải, không mang lại hiệu quả thiết thực thì sẽ gây tổn thất lớn cho cả nhà nước và toàn xã hội, tăng
áp lực nặng nề cho nền tài chính công Như vậy, nhiệm vụ của Chính phủ mỗi nước là đầu tư làm sao cho đồng vốn của mình thực sự hiệu quả, chất lượng, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự tăng trưởng về mọi mặt của đất nước Ngày 24/02/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ – CP về những giải pháp ổn định nền kinh tế vĩ mô, trong đó có một giải pháp quan trọng được nhắc đến đó là cắt giảm đầu tư công Một vài câu hỏi đặt ra là: Vậy, thực trạng đầu tư công hiện nay ở Việt Nam trong những năm trở lại đây như thế nào? có thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn hay không? còn những tồn tại gì cần phải khắc phục và Chính phủ nên khắc phục nó như thế nào? chúng tôi xin được trình bày, làm rõ cũng như đưa ra những khuyến nghị trong bài tiểu luận này
A NỘI DUNG
I.TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Khái niệm về đầu tư công
a Khái niệm đầu tư
Theo cách hiểu thông thường nhất trong xã hội, đầu tư là việc bỏ vốn ra bằng các tài sản hữu hình (tiền, nhà xưởng, máy móc, ) hoặc vô hình (phát minh, sáng chế, thương hiệu, ) để kinh doanh nhằm đạt được lợi ích nào đó Còn theo kinh tế học vĩ mô thì đầu tư được hiểu là tăng vốn tư bản nhằm tăng
cường sức sản xuất trong tương lai Có nghĩa là đầu tư là việc bỏ tư bản, bỏ 1
2vốn động nào đó để đạt được mục đích kinh tế, là hoạt động mang lại lợi
nhuận cho chủ đầu tư Đầu tư còn được gọi là hình thành tu bản hoặc tích lũy
tư bản Chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính
là đầu tư, cong tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được coi là đầu tư
b Khái niệm đầu tư công
Việc gia tăng tư bản tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân, còn gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công Việc làm gia tăng tư bản xã hội thuộc chức năng của Chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà
Chính phủ thực hiện Ở Việt Nam, thuật ngữ “đầu tư công” được sử dụng từ sau khi nhà nước chuyển sang nền kinh tế thị trường Theo thống kê hiện nay, đầu tư công ở nước ta bao gồm:
Trang 2- Đầu tư từ ngân sách (phân cho các Bộ ngành trung ương và các địa phương)
- Đầu tư theo các chương trình hỗ trợ có mục tiêu (thường là các chương trình mục tiêu trung và ngắn hạn) được thông qua trong kế hoạch ngân sách hằng năm
- Tín dụng đầu tư (vốn cho vay) của nhà nước có mức độ ưu đãi nhất định
- Đầu tư của các DNNN mà phần vốn quan trọng của doanh nghiệp có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
Để có một khái niệm thống nhất về đầu tư công, Dự thảo Luật đầu tư công của Việt Nam đang đề nghị áp dụng khái niệm sau: Đầu tư công là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh Theo cách hiểu này thì lĩnh vực đầu tư công sẽ bao gồm:
- Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng - kĩ thuật, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác
2
3- Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sữa chữa các tài sản cố định của các tổ chức này
- Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội được hỗ trợ tư vốn nhà nước theo qui định của pháp luật
- Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ Tuy nhiên, theo quan niệm này thì đầu tư nhằm mục đích kinh doanh của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước không nằm trong đầu tư công, như vậy
là không hoàn toàn chính xác vì DNNN có nguồn vốn chủ yếu và quan trọng
từ ngân sách nhà nước, do đó không thể coi đó là đầu tư tư nhân được Hiện nay, khái niệm “đầu tư công” trước khi được luật hóa thì vẫn được quan niệm một cách đơn giản như sau: Đầu tư công bao gồm các khoản đầu tư do Chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước thực hiện Trong quan niệm này, đầu tư công được xét từ góc độ sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư Như vậy đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo qui định của pháp luật hiện hành, bao gồm:
- Vốn ngân sách nhà nước
- Vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
- Vốn đầu tư sản xuất của các DNNN và các vốn khác do nhà nước quản lý Cách hiểu này là phổ biến, dể hiểu và đã phản ánh được đúng bản chất của đầu tư công và thể hiện được đầu tư công là đối tượng của chính sách đầu tư
Trang 3của nhà nước hiện nay
2 Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế - xã hội
Như đã nói ở trên, đầu tư công có nghĩa là nhà nước sử dụng nguồn vốn thuộc sở hữu của mình để tiến hành đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu nhất định Vậy một
câu hỏi được đặt ra là tại sao nhà nước lại phải dùng đến nguồn vốn của mình
mà
không để cho khu vực tư nhân thực hiện các chương trình, dự án đó, có khả năng
sẽ đạt hiệu quả cao hơn trong đầu tư Bởi trong thực tiễn đời sống kinh tế xã hội,
có nhiều lĩnh vực, nhiều dự án mà tư nhân không đủ khả năng hoặc đủ khả năng 3
4mà không muốn thực hiện Ví dụ như các dự án xây dựng công trình cầu, đường, các công trình công cộng; đầu tư phát triển cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số,
Bởi đó đều là những dự án phải bỏ nhiều vốn đầu tư ban đầu, thời gian thu hồi vốn lâu, hoặc khả năng thu hồi được vốn là không cao Do đó, việc đầu tư của nhà nước để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cộng đồng được đáp ứng, giữ vững ổn định xã hội, tránh tình trạng bất công bằng, bất bình đẳng trong xã hội Vai trò của đầu tư công được thể hiện trên ba khía cạnh quan trọng sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng,
cơ
sở vật chất – kĩ thuật tối thiểu chung cho xã hội
Đây cũng đồng thời tạo những điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển Ngoài ra, đầu tư công giúp cho có cơ hội được tập trung nguồn lực cao, hoặc Trung ương có thể điều tiết được một cách hợp lý các nguồn đầu tư, tránh tình trạng cục bộ, địa phương, nơi thừa nơi thiếu
- Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng
sâu vùng xa, các dân tộc thiểu số (chương trình 134, 135 của Chính phủ, các chương trình xóa đói giảm nghèo, ), nâng cao và ổn định đời sống người dân
- Đảm bảo ổn định và không ngừng tăng cường quốc phòng, an ninh Các công trình, dự án về an ninh quốc phòng đều không mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt nên khu vực tư nhân không thể và cũng không muốn đầu tư vào lĩnh vực này
Nhưng đó lại là cơ sở quan trọng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CÔNG CỦA VIỆT NAM
1 Thực trạng đầu tư công
Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong những quốc
Trang 4gia đầu tư cao nhất thế giới, chiếm trên 40% GDP Trong đó, đầu tư công chiếm
tỷ lệ khá lớn (hơn 10% GDP đầu tư cơ sở hạ tầng) Mỗi năm, Việt Nam phải bỏ ra lượng tiền đầu tư công bằng khoảng 17 – 20% GDP, trong khi đó thì tại các nước trong khu vực con số này chỉ dưới 5%, như Trung Quốc là 3,5%, Indonesia 1,6%
… Đó là một xu thế ngược với yêu cầu giảm đầu tư công vào nền kinh tế, tăng đầu
tư phát triển từ các nguồn vốn xã hội khác
4
5Cắt giảm đầu tư công- không hề dễ chút nào
2 Tăng cao, nhưng không cân đối
Trong những năm gần đây tổng vốn đầu tư trong xã hội cũng đã liên tục tăng cao Tính theo giá so sánh năm 1994, tổng số vốn đầu tư đã tăng từ 115 nghìn tỷ đồng năm 2000 lên 371 nghìn tỷ đồng năm 2009, gấp 3,2 lần, bình quân mỗi năm tăng 13,9% ( Theo TS Vũ Tuấn Anh – Viện Kinh tế Việt Nam)
Xét về cơ cấu, khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng đầu
tư xã hội, mặc dù tỷ trọng của khu vực này đã giảm từ 59,1% vào năm 2000 xuống còn 33,9% năm 2008, thấp hơn tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhưng năm 2009 lại tăng trở lại mức 40,6% và trở về vị trí số một trong cơ cấu vốn đầu tư xã hội
Tốc độ tăng vốn đầu tư ở cả nước và trong tất cả các khu vực đều cao hơn (gấp khoảng hai lần) so với tốc độ tăng GDP; Khu vực có vốn FDI có tốc độ tăng đầu tư cao nhất, bình quân mỗi năm 19,8%, khu vực kinh tế ngoài nhà nước 15%, còn khu vực Nhà nước 11%
Do đầu tư công tăng nhanh nên vốn sản xuất và tài sản cố định có nguồn công tăng lên nhanh chóng trong nền kinh tế, với tốc độ tăng bình quân hàng năm vào khoảng 15%, mặc dù tỷ trọng tương đối đang có xu hướng giảm đi (từ mức 2/3 năm 2000, giảm xuống còn khoảng 50% năm 2006) và tiếp tục giảm thấp hơn trong các năm gần đây
Trong khi lao động trong khu vực nhà nước không thay đổi bao nhiêu, thì trình
độ trang bị vốn của lao động khu vực nhà nước đang tăng lên nhanh chóng Tài sản
cố định và vốn đầu tư dài hạn của một lao động khu vực DNNN năm 2004 có 160 triệu đồng; năm 2005 là 239 triệu đồng, năm 2006 tăng lên đến 418 triệu đồng và năm 2007 đạt 511 triệu
đồng (trung ương 613 triệu đồng và địa phương 225 triệu đồng), tức là trong 4 năm mà trang bị vốn đã tăng hơn 3 lần cho lao động của khu vực kinh tế Nhà nước
Về cơ cấu, trong 10 năm vừa qua, khoảng trên dưới 40% tổng số vốn đầu tư công dành cho các ngành kết cấu hạ tầng: điện, nước, vận tải, thông tin Công nghiệp khai thác mỏ chiếm ổn định khoảng 7-9% Công nghiệp chế biến tăng giảm thất thường trong khoảng 8-15% Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù là lĩnh vực hoạt động của đại đa
Trang 5số dân cư, nhưng không được Nhà nước chú trọng đầu tư; biểu hiện là tỷ trọng của lĩnh vực này trong đầu tư công đã giảm từ 12,2% năm 2000 xuống còn 7-8% những năm 2003-2008 và chỉ còn 6,7% vào năm 2009
6Công trình tiền tỷ thành hoang phế thế này…
Các ngành liên quan trực tiếp tới phát triển con người – khoa học, giáo dục và đào tạo, y tế và cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao, phục vụ cá nhân và cộng đồng – không có sự thay đổi đáng kể tỷ trọng trong đầu tư công: chiếm 17,6% năm 2000, khoảng trên dưới 19%
những năm 2003-2006 và từ năm 2007 giảm xuống 16,1%, chỉ còn 15,2% năm 2009; trong đó khoa học, giáo dục và đào tạo giảm tỷ trọng từ 8,5% năm 2000 xuống 4-5% những năm 2002-2003, tăng lên 6-7% vào những năm 2004-2008, rồi lại sụt giảm xuống còn 5,1% năm 2009; còn y tế và cứu trợ xã hội tăng từ 2,4% những năm 2000-2003 lên 3,2-3,9% những năm 2004-2008, và giảm còn 2,8% năm 2009
Như vậy, xét cả về tốc độ tăng và tỷ trọng trong tổng đầu tư nhà nước, thì những ngành có thế mạnh trong sự phát triển dài hạn của đất nước là nông, lâm nghiệp, thủy sản và khoa học, giáo dục, đào tạo lại là những ngành chiếm vị thế yếu nhất trong chính sách đầu tư của nhà nước Việc không chú ý tới nông nghiệp trong chính sách phát triển trong thời gian 10 năm qua đã gây nên nhiều vấn đề bất ổn trong nông nghiệp
Bên cạnh đó, nền giáo dục chậm được cải cách và chưa được đầu tư thích đáng cũng đang là điểm yếu trên con đường phát triển đất nước Ngân sách giáo dục hiện được phân bổ và quản lý một cách phân tán: các địa phương quản lý 74% NSNN chi cho giáo dục hàng năm, các bộ, ngành khác 21%, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý 5% Cùng với đó, việc sử dụng đầu tư công như là một công cụ thúc đẩy các ngành trọng điểm, then chốt trong nền kinh tế đã được thực hiện ở một phạm vi và mức độ nhất định, song tác động đối với hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu của toàn nền kinh tế còn hạn chế
Những kết quả của việc nhà nước đầu tư cho các ngành công nghiệp tiên tiến, có công nghệ cao và có tác dụng thúc đẩy, lan tỏa mạnh đối với sự phát triển chưa thấy rõ
3 Hiệu quả kinh tế của đầu tư công
Điều dễ thấy là đầu tư công trong những năm qua đã làm thay đổi đáng kể kết cấu
hạ tầng kỹ thuật, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả của đầu tư công đòi hỏi không chỉ đo đếm số lượng những kết quả đạt được mà còn phải xem xét mối tương quan về lượng giữa số vốn đã bỏ ra và kết quả đạt được (theo TS Vũ Tuấn Anh)
6
7Tính chung trong 20 năm qua, vốn là nhân tố chủ đạo của sự tăng trưởng, đóng góp tới 46% mức độ tăng trưởng, nhân tố lao động khá ổn định, chỉ chiếm tỷ lệ
Trang 620%, nhân tố tiến bộ công nghệ và quản lý chiếm 34%, nhưng đã ngày càng đi xuống, mặc dù khi phân tích sâu thì việc ứng dụng tiến bộ công nghệ, như công nghệ thông tin, viễn thông, năng lượng, xây dựng, sinh học đã được nâng lên Trong 10 năm gần đây, tác động của nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu chỉ còn 20%, gần giống như nhân tố lao động 21%,
trong khi nhân tố vốn đã tăng lên 59%
Thước đo hiệu quả vốn đầu tư thường được dùng phổ biến hiện nay là hệ số suất đầu tư (Incremental Capital Output Ratio – ICOR), hay còn gọi là hệ số sử dụng vốn, hệ số đầu tư tăng trưởng, hay tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm Hệ số này phản ảnh cần bao
nhiêu đồng vốn tăng thêm để tạo ra một đơn vị tăng lên của GDP
Bảng so sánh tốc độ tăng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 5 tháng đầu năm
2011 so với cùng kỳ năm 2010(nguồn: Báo cáo ước tính hàng tháng của Tổng cục Thống kê) Bảng tổng chi cân đối NSNN (nguồn: dự toán chi NSNN, chi NSTW, chi NSĐP theo cơ cấu chi năm 2012 của Bộ Tài Chính)
Nếu xét hiệu quả đầu tư từ tổng vốn đầu tư, để tăng một đồng GDP cần bỏ ra 5,2 đồng vốn, có thể thấy hiệu quả đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2007 thấp hơn nhiều so với giai đoạn trước đây (chỉ vào khoảng 2-3 trong thời gian 1970-1984) Khi ở trình độ phát triển thấp tương đương với Việt Nam hiện nay vào những năm 1950-1975, hệ số ICOR của Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ dao động trong khoảng 1-2
8Như vậy có thể nhận xét, vốn đầu tư của toàn nền kinh tế kém hiệu quả là do suất đầu tư của khu vực của nhà nước quá cao và của khu vực đầu tư nước ngoài thuộc loại cao,
trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại có hiệu quả đồng vốn hợp lý Nếu
so sánh xét hiệu quả đầu tư theo tổng tích luỹ tài sản, thì ICOR của toàn nền kinh
tế Việt Nam
thuộc loại cao, song không vượt quá nhiều so với một số nước Đông Nam Á Hàng trăm ngôi chợ xây mới trên cả nước được đầu tư từ nguồn ngân sách gần như bị bỏ
hoang Hàng loạt những công trình giao thông, trường học cũng từ nguồn ngân sách nhà
nước đều sử dụng không hiệu quả hoặc bị kéo dài nhiều năm dẫn đến tính trạng đội giá
lên gấp nhiều lần Đây chính là một mảng chưa sáng của việc đầu tư công trong thời
gian vừa qua
“Theo Nghị quyết của Chính phủ, sẽ tiếp tục đảm bảo vốn cho các công trình có khả
Trang 7năng hoàn thành ngay và có hiệu quả Đối với những dự án khác, có thể giảm hoặc cắt
ngay, như thế mới đảm bảo việc cung cầu tiền tệ”.( theo ông Vũ Văn Ninh, Bộ trưởng Bộ
Tài chính)
4 Phải kiên quyết cắt giảm
Chưa bao giờ Chính phủ quyết tâm cắt giảm đầu tư công như năm nay Theo Nghị quyết
11/NQ-CP, việc cắt giảm đầu tư công có nhiều điểm mới Chính phủ không coi đây là
giải pháp tình thế, mà đặt trong lộ trình dài hạn và cùng với thắt chặt, điều chỉnh
cơ cấu
hoạt động tín dụng và tiền tệ để giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư
xã
hội… Tuy để các địa phương và ngành, doanh nghiệp tự thẩm định, cắt, giảm hoặc điều
chỉnh vốn đầu tư trong phạm vi phân cấp quản lý của mình để dồn vốn cho những dự án
hiệu quả… nhưng về nguyên tắc, sau khi thanh kiểm tra, Bộ KH-ĐT sẽ tổng hợp, báo
cáo và kiến nghị Thủ tướng thu hồi các khoản bố trí sai mục tiêu nguồn NSNN
và trái
phiếu Chính phủ, để điều chuyển cho các bộ, ngành, địa phương khác Lần cắt giảm đầu
tư công năm nay sẽ làm quyết liệt hơn năm 2008
Thực tế cho thấy việc cắt giảm đầu tư công là không dễ do các tiêu chí hướng dẫn chưa
rõ ràng và cụ thể, nhất là tiêu chí về hiệu quả của dự án đầu tư- nguyên tắc lựa chọn các
lợi ích kinh tế – chính trị – xã hội, môi trường và ngắn hạn – dài hạn Hơn nữa, việc
đánh giá hiệu quả lại giao cho chính chủ đầu tư, là các bộ, địa phương, tập đoàn
và Tổng
công ty nhà nước, thực hiện Cách làm này sẽ không có được sự khách quan Bên cạnh
đó, nhu cầu thực tế về đầu tư phát triển ở nhiều địa phương và đơn vị là có thực
do xuất
phát từ nhu cầu bức xúc trong đột phá về phát triển cơ sở hạ tầng trong khi nguồn vốn
8
9
Trang 8NSNN cho đầu tư phát triển còn hạn chế Về cơ chế quản lý, NSNN đã phân cấp mạnh
cho các địa phương và việc cắt giảm lại do chính các địa phương thực hiện theo hướng
dẫn chung của cơ quan chức năng Ngoài ra, do không ít dự án đầu tư từ nguồn NSNN
có những quan hệ “ẩn”, khá chặt chẽ, nhiều chiều và nhạy cảm cả về lợi ích kinh
tế – xã
hội ( Theo TS Nguyễn Minh Phong – Viện nghiên cứu phát triển kinh tế – xã hội Hà
Nội)
Theo số liệu mới công bố của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư phát triển từ ngân sách
nhà nước thực hiện trong tháng 5/2011 ước tính 17,8 nghìn tỷ đồng Và tính chung 5
tháng đầu năm nay, vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước thực hiện 73,3 nghìn tỷ
đồng, bằng 39% kế hoạch năm và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2010
Đi vào chi tiết, Tổng cục Thống kê cho biết trong số vốn nói trên, vốn trung ương quản
lý đạt 15.123 tỷ đồng, bằng 36,1% kế hoạch năm và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm
trước Trong khi đó, vốn địa phương quản lý đạt 58.236 tỷ đồng, bằng 39,8% kế hoạch
năm và tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2010
Các con số thống kê cho thấy, việc cắt giảm đầu tư công không dễ dàng như mong đợi
Nếu vẫn tiếp tục mức giải ngân như hiện nay, thì mục tiêu cắt giảm đầu tư công trong
năm nay, có lẽ, sẽ trở nên hết sức khó khăn trong những tháng cuối năm
Ngày 30-6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã xem xét các báo cáo của Chính
phủ và báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và ngân sách
nhà nước (NSNN) 6 tháng đầu năm, các giải pháp thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH
và NSNN 6 tháng cuối năm
Báo cáo do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết, về cắt giảm chi
Trang 9phí, đầu tư công, tổng số vốn cắt giảm trong năm 2011 là 80.550 tỷ đồng, bằng khoảng
9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2011 Số vốn NSNN, trái phiếu chính phủ
kế hoạch
năm 2011 cắt giảm để điều chuyển cho các dự án hoàn thành, các dự án cấp bách cần
đẩy nhanh tiến độ là 8.333 tỷ đồng
Đánh giá về công tác này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền nhận định, chủ
trương cắt giảm đầu tư công là phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát nhưng khâu
thực hiện còn không ít hạn chế Theo nghị quyết, thời hạn để xác định các công trình cần
ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện, thu hồi, điều chuyển phải báo cáo, đề xuất
phương án xử lý với Thủ tướng Chính phủ trước tháng 3-2011 Tuy nhiên, đến tháng 5,
nhiều địa phương vẫn còn lúng túng, chưa có số liệu bổ sung Cơ quan chức năng cũng
chỉ mới có tổng hợp báo cáo của 23 đơn vị so với hơn 100 tập đoàn, tổng công
ty nhà
nước
9
10
Ở khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lượng tiền đầu tư đi vào được trong quá
trình sản xuất nhiều nhất (bỏ ra một đồng thì xấp xỉ 83% đi vào được quá trình sản xuất),
tiếp đến là khu vực kinh tế tư nhân (bỏ ra 1 đồng có 68% đi vào sản xuất) trong khi đó
khu vực kinh tế Nhà nước bỏ ra 1 đồng nhằm mục đích đầu tư chỉ có 63% là đến được
với quá trình sản xuất
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền cho rằng con số cắt giảm thực tế, theo quan
điểm của Ủy ban, không lớn đến vậy
Cụ thể, theo số liệu của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, trong số hơn 80.500 tỷ đồng cắt giảm,
có 30.000 tỷ đồng đóng góp từ việc lập và điều hành kế hoạch của Chính phủ Trong số
Trang 10này, đáng chú ý có 15.000 tỷ đồng do giảm vốn trái phiếu Chính phủ so với mức thực
hiện năm 2010 (60.000 tỷ đồng) và 10.000 tỷ đồng tiết kiệm được do không ứng trước
tiền cho các dự án năm 2012…
Tuy nhiên, theo Ủy ban Kinh tế, cả 2 con số nói trên đều không phải là vốn cắt giảm
“Nếu anh đưa ra kế hoạch 10, rồi cắt đi 2, còn 8 thì đó mới gọi là cắt giảm Còn
ở đây
chúng ta không làm như vậy”, đại diện Ủy ban kinh tế giải thích
Con số giảm 15.000 tỷ đồng giảm vốn trái phiếu Chính phủ là giảm so với mức thực
hiện của năm 2010 chứ không phải là giảm so với kế hoạch cho năm 2011 “Vốn trái
phiếu Chính phủ được Quốc hội phê duyệt cho năm nay là 45.000 tỷ chứ không phải là
60.000 tỷ Như vậy, không thể tính khoản 15.000 tỷ chênh lệch nói trên là cắt giảm”, đại
diện Ủy ban Kinh tế nói thêm (theo ông Hà Văn Hiền)
Tương tự, đối với 10.000 tỷ đồng do không ứng trước vốn năm 2012, Ủy ban Kinh tế
cũng cho rằng nên loại khỏi số vốn cắt giảm đầu tư công bởi ngay từ đầu năm, Quốc hội
đã không có chủ trương ứng trước vốn như năm 2010
Ngoài ra, trong số hơn 80.500 tỷ đồng nêu trên, có 8.333 tỷ không phải là vốn giảm mà
được điều chuyển giữa các công trình, dự án để đẩy nhanh tiến độ Theo đại biểu Phùng
Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách, sau khi điều chuyển, vốn vẫn
chưa được tập trung nhiều cho những công trình trọng điểm, cấp bách… Số tiền này,
theo một số thành viên của Thường vụ Quốc hội, cũng không nên tính vào tổng lượng
vốn được cắt giảm, điều chuyển
Bên lề Hội nghị thường niên ADB hồi đầu tháng 5, Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu
Á tại Việt Nam Ayumi Konishi cũng đánh giá cao chủ trương cắt giảm đầu tư công, qua
10