TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN NĂNG LỰC CHO THẾ HỆ TRẺ: MỘT SỐ KIẾN GIẢI Đặng Quốc Bảo Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã xác định cương lĩnh cho giáo dục dân tộc là pháttriển năng lực
Trang 1TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN NĂNG LỰC
CHO THẾ HỆ TRẺ: MỘT SỐ KIẾN GIẢI
Đặng Quốc Bảo
Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã xác định cương lĩnh cho giáo dục dân tộc là pháttriển năng lực cho thế hệ trẻ Sau Tuyên ngôn Độc lập do Bác Hồ đọc long trọng ởQuảng trường Ba đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, Đồng chí Võ Nguyên Giáp đãtrình bày vấn đề nội chính của Chính phủ lâm thời Diễn văn này nhấn mạnh:
“Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức Chắc chắn là bậc tiểu học sẽ cưỡng bách, bậc trung học không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng Việc giảng dạy hết sức thiết thực sẽ đặc biệt chú trọng đến sự rèn luyện đức tính cần thiết trong cuộc đời đoàn thể rộng rãi và năng lực về kỹ thuật cần lai của con người”
Không lâu sau đó trong bức thư gửi ngày khai trường năm học đầu tiên của nền
giáo dục mới, Bác Hồ thể hiện lý tưởng của chế độ: “Ngày nay, các em được cái may măn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” (Toàn tập 2010, t4, tr 34).
Gần bảy thập kỷ phát triển, giáo dục Việt Nam có những giai đoạn thực hiện có kếtquả cương lĩnh nêu trên
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950), rồi cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai(1956) đã đào tạo lớp người Việt Nam có năng lực thực hiện nhiệm vụ đấu tranhbảo vệ tổ quốc và tái thống nhất đất nước
Tuy nhiên khi đi vào thời kỳ đổi mới phải chấp nhận kinh tế thị trường, thì nhiềunhà trường có những lung túng trong tổ chức dạy học, quán triệt lời dạy của Bác.Nghị Quyết 29/TW được Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng CSVN Khóa
XI ban hành đã có sự uốn nắn với việc xác định: “Chuyển mạnh quá trình giáo
Trang 2dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất người học”.
Xin đề cập trong bài này một số ý tưởng về chủ đề nêu ra:
1 Tiếp cận về phạm trù năng lực
1.1 Thuộc tính đặc biệt của nhân cách
Nói đến nhân cách thì điều đầu tiên là nói tới năng lực (Tài) và phẩm chất (Đức)
Ở những hoạt động thông thường thì hai mặt trên còn khu biệt nhau, song ở các
hoạt động quan trọng thì Đức là một bộ phận của năng lực tổng thể.
Trong bối cảnh ngày nay khi nói một người có năng lực đáp ứng nhiệm vụ của
cuộc sống là xét đoán người đó trong sự kết hợp được Tài và Đức.
Năng lực là thuộc tính để con người đáp ứng yêu cầu của một nhiệm vụ về Trí lực,
về Thể lực hay một thoạt động thực tiễn nào đó
Nó được tổng hợp từ ba nhân tố:
+ Cái sinh học của con người (còn gọi là cái tạng)
+ Cái tâm tính của con người
+ Cái hoàn cảnh xã hội của con người (còn gọi là cái phận)
Hai nhân tố đầu (Cái tạng, Cái tâm) mang tính chủ quan Nhân tố thứ ba (Cái phận)mang tính khách quan
Một cái Phận thuận lợi làm cho cái bẩm sinh phát triển tốt
Một cái Phận hẩm hiu làm cho cái bẩm sinh phát triển khó khăn
Nền giáo dục dân chủ nhân văn sẽ tác động tích cực vào cả ba nhân tố nêu trên Nócải biến được cái bẩm sinh theo hướng tính cực, đặc biệt nó làm cho cái phận có cơhội được bình đẳng trong phát triển
Trang 3Bác Hồ có luận điểm rất đặc sắc về giáo dục
“Thiện ác nguyên lai vô định tính
Đã do giáo dục đích yên nhân”
(Hiền dữ phải đâu là tính sẵnPhần nhiều do giáo dục mà nên)Bác không coi giáo dục là vạn năng, song giáo dục có vai trò to lớn đến phát triểnnhân cách, phát triển năng lực
Khi Bác cam kết xây dựng “Nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lựcsẵn có ” cho thế hệ trẻ là Bác thể hiện quyết tâm của chế độ mới làm cho mọingười, trước hết là thế hệ trẻ:
“Được đi học Học được Được bình đẳng về cơ hội phát triển tài năng”
Trang 41.2 Phát triển hoàn toàn năng lực
Khi sinh ra con người đã có những tố chất ban đầu của cái Tâm, cái Trí, cái Thểđược biểu hiện trên ba bộ phận của cơ thể: Con tim, Cái đầu, Đôi tay
Bắt đầu từ bầu vú của bà mẹ (ngôi trường đầu tiên của con người) rồi giáo dục giađình, giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội, con người trưởng thành qua hai kênh:Kênh 1: Cảm giác -> Tri giác ->Tri thức (Hình thành trí năng – IntelligenceQuotient)
Kênh 2: Cảm xúc -> Tình cảm –> Tình nghĩa (Hình thành cảm năng – EmotionQuotient)
Hội tụ “Tri thức” và “Tình nghĩa”, con người hành động theo nhiệm vụ đặt ra chonghĩa vụ bản thân Để hành động đứng đắn và không ngừng có kết quả (+), conngười cần được huấn luyện (Huấn: dạy, Luyện: Rèn):
Giáo dục thường xuyên (Tác động thường xuyên tốt vào con tim)
Đào tạo liên tục (Tác động liên tục tốt vào đôi tay)
Học tập suốt đời (Tác động đều đặn tốt vào cái Đầu)
Phạm trù mà ngày nay được gọi là “Xã hội học tập” là xã hội mà ở đó mỗi côngdân bắt đầu từ tuổi ấu thơ, tuổi niên thiếu, đến tuổi già được sống trong môi trường
có tác động sao cho tâm hồn trong sáng, trí tuệ vững vàng, thể chất cường tráng
Ao: Năng lực ban đầu, A1 Năng lực tiếp theoNền giáo dục làm cho Ao->A1, với yêu cầu A1> Ao
Trang 51.3 Năng lực thực hiện
Năng lực không tồn tại vu vơ, nó chỉ được xác định khi con người gắn vào mộtcông việc cụ thể Nếu chưa, nó gọi là khả năng Điều này trên các sách giáo dụchọc gọi là năng lực thực hiện (competency) Nó được nhắc nhiều ở giáo dục kỹthuật nghề nghiệp Ngày nay nó được phổ dụng trên nhiều lĩnh vực kinh tế vănhóa
Giáo dục đào tạo một con người là huấn luyện con người đó có năng lực thực hiện,năng lực thực tiễn trước nhiệm vụ mà cuộc sống đặt ra cho con người đó
Quá trình giáo dục một con người cần được thực hiện một cách hệ thống trên cả 4khía cạnh
+ Giáo dục kiến thức (Knowledge)
+ Giáo dục thái độ (Attitude)
+ Giáo dục kỹ năng (Skills)
Trang 62 Năng khiếu và tám loại năng khiếu thiên phú
Khác với năng lực hình thành do giáo dục, rèn luyện, Năng khiếu là cái “Thiênphú” Nhân tố này khi có hoàn cảnh thuận lợi, lại được sự giáo dục chu đáo thì sẽphát triển thành năng lực vượt trội
Howard Gardner là nhà tâm lý học kiệt xuất hiện đại người Mỹ Ông nêu ra thuyết
“Đa thông Minh” với các loại:
(I) Thông minh âm nhạc
(II) Thông minh giác động
(III) Thông minh Logic – Toán
(IV) Thông minh ngôn ngữ
(V) Thông minh không gian
(VI) Thông minh nhân cách
(VII) Thông minh nội tâm
Dựa vào thuyết của Gardner, Tổ chức Nemours (Mỹ) phân ra tám loại năng khiếu
và viễn cảnh của trẻ khi năng khiếu thiên phú này phát triển
Trang 7 Năng khiếu âm nhạc - Trẻ có thể trở thành nhà soạn nhạc, ca sĩ giỏi
Năng khiếu vận động - Trẻ có thể trở thành vũ công, vận động viên
Năng khiếu logic toán học - Trẻ có thể trở thành nhà toán học, kế toán viêntháo vát
Năng khiếu hội họa không gian- Trẻ có thể trở thành họa sĩ, nhà kiến trúc
Năng khiếu ngôn ngữ- Trẻ có thể trở thành văn sĩ, thi sĩ, luật gia
Năng khiếu quan hệ con người - Trẻ có thể trở thành chính khách, nhà lãnhđạo giỏi
Năng khiếu thấu hiểu nội tâm - Trẻ có thể trở thành nhà tâm lý, bác sĩ giỏi,thầy giáo giỏi
Năng khiếu về khoa học tự nhiên - Trẻ có thể trở thành nhà nghiên cứu, khoahọc vật lý, hóa học, sinh học, địa lý
Có những trẻ em đồng thời có vài năng khiếu trên và phát triển khá sớm Thí dụ
năng khiếu âm nhạc Gọi là “Thiên phú” song thực tế cuộc sống cho thấy những
trẻ em có năng khiếu tốt là do sự nuôi dạy của bà mẹ, của gia đình
Nhiều bà mẹ ngay từ lúc mang thai đã thấm nhuần “Thai giáo”, thấm nhuần câu
“Phúc đức tại mẫu” đã nuôi dạy con mình thành vĩ nhân cho đất nước.
Ba giai đoạn cho sự phát triển Năng khiếu – Năng lực đưa đến nguồn nhân lực chấtlượng cao, nhân tài của đất nước
Giai đoạn sinh học
Giai đoạn sinh học – xã hội
Giai đoạn xã hội
Nhà trường có vai trò quan trọng trong giai đoạn sinh học – xã hội Nhờ giáo dụcnhà trường tốt mà năng khiếu không lụi tàn, nó nảy nở thăng hoa để con người tiếpbước vững vàng vào cuộc sống xã hội
Hiện nay ở một gia đình thấy con có sự thông minh sớm nghĩ con là “thần đồng”
đã ép con học tập rất nhiều như kiểu “Nhồi gà vỗ béo”
Trang 8Hậu quả là những em này không tiến xa được Một số em còn mắc bệnh “Sao”, thểhiện sự kiêu ngạo đã làm cho nhân cách phát triển méo mó, cũng không có nănglực hoàn toàn”
Nhà giáo dục, thầy cô giáo cần có con mắt tinh tế, tư vấn giúp đỡ cho các gia đìnhphát triển các em có năng khiếu thực sự để đất nước có nguồn nhân lực có chấtlượng cao, trở thành người tài đức mà dân tộc ta gọi là hiền tài
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí mạnh thì thế nước cường Nguyên khí suy thì thế nước yếu”
(Thông điệp của Lê Thánh Tôn – Thân Nhân Trung)
3 Trí năng và tám cấp độ của trí năng
Trí năng là thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc tổng thể của năng lực
Nó tạo nên óc suy luận, khái quát, trừu tượng hóa khi con người tác động vào thực tiễn
Bloom và những môn đệ của ông phân ta tám cấp độ của trí năng như sau:
(1) Biết - Nhớ và lặp lại nguyên dạng một thông tin
(2) Hiểu - Hồi ức đa dạng về thông tin, tương đối có hệ thống, có thể tái hiện lại đứng đắn
(3) Ứng dụng - Sử dụng được quy tắc, nguyên lý, thuật toán để giải quyết vấn đề đặt ra
Đây là quá trình biến cải được thông tin, kiến thức thu nhận qua sách vở, áp dụng vào thực tiễn
(4) Phân tích – Xác định được các thành phần, mối liên hệ của các thành phần, làmnên sự kiện, sự việc
(5) Tổng hợp – Lập được cấu trúc của sự vật
Trang 9(6) Đánh giá – Công thức hóa các phán xét định tính, định lượng, so sánh, phê phán, chọn lọc nhân tố đề xuất được quyết định.
(7) Chuyển giao - Diễn giải, truyền thông được kết quả tới đối tác
(8) Sáng tạo – Hình thành, kiến tạo các giá trị mới, các tri thức mới
Ông Raja Roy Singh Chuyên gia cao cấp UNESCO trong tác phẩm “ Nền giáo dục cho thế kỷ 21, Những triển vọng của vùng Châu Á – Thái Bình Dương”(Viện
Khoa học Giáo dục xuất bản H 1999) có nhận xét sâu sắc sau: Bất cứ trẻ em nào cóthể trạng bình thường đều có thể giáo dục bồi dưỡng tới năng lực sáng tạo nếu ở đó
có người thầy tận tâm và niềm vui
Xin nêu thêm một số ý kiến của các nhà sư phạm khả kính về vai trò người thầy trong việc dạy học để người học có trí năng sáng tạo
Nhà sư phạm tâm lý Carl Rogers
- Hãy quan tâm thường xuyên đến tình cảm người học
- Thường xuyên tận dụng được mục đích của người học vào nội dung truyền đạt
- Đối thoại nhiều hơn với người học
- Khen ngợi người học thường xuyên
- Giao tiếp thích hợp
- Thực hiện sự truyền đạt làm thỏa mái các nhu cầu của người học
- Hãy cười nhiều hơn với người học
Ennest Melby
Một trong những điều quan trọng nhất đối với người thầy là mang đến cho học sinh sự an ủi vỗ về và lấy đi nỗi lo âu buồn bã.
Einstein (1879 - 1955)
Trang 10Nghệ thuật tối thượng của người thầy là đánh thức niềm vui trong sự diễn đạt
và lĩnh hội tri thức sáng tạo
Khơi dậy ở trẻ niêm tin, niềm vui trong học tập là những điều kiện quan trọng để trẻ có trí năng sáng tạo Ở nước ta có nhiều nhà trường đã thực hiện được minh triết đào tạo:
“Tất cả vì học sinh thân yêu Mỗi ngày đi học là một ngày vui”
4 Bồi dưỡng sự hài hòa trong cấu trúc năng lực
4.1 Bốn chỉ số đặc trưng sự hài hòa năng lực
Tâm lý học nêu lên bốn chỉ số đặc trưng sự hài hòa trong cấu trúc năng lực của conngười trước cuộc sống hiện đại:
IQ: Intelligence Quotient - Chỉ số đo năng lực thông minh trí tuệ
EQ: Emotion Quotient - Chỉ số đo năng lực thông minh xúc cảm
AQ: Adversity Quotient - Chỉ số đo năng lực vượt khó, vượt qua nghịch cảnh
CQ: Creative Quotient - Chỉ số đo năng lực làm việc sáng tạo
Bác Hồ trong Thư gửi Ông Nguyễn Sơn (1948) khi Ông được phòng hàm Thiếutướng đã có ý tưởng 4 chỉ số này:
“Đảm dục dại (AQ) Tân dục tế (EQ) Trí dục viên (IQ) Hành dục phương (CQ)”
IQ & EQ có tính hướng nội
AQ & CQ có tính hướng ngoại
Trang 11Chỉ có năng lực hướng nội mà không có năng lực hướng ngoại nhân cách chưa hài hòa Tuy nhiên có năng lực hướng ngoại tốt mà năng lực hướng nội kém thì nhân cách cũng chưa bền vững.
4.2 Tứ giác biểu thị nhân cách
Có thể hình tượng hóa sự biểu thị nhân cách qua Tứ giác ABCD với giao điểm O của hai đường chéo AB và CD
OA đặc trưng cho giá trí “IQ”
OB đặc trưng cho giá trí “EQ”
OC đặc trưng cho giá trí “AQ”
OD đặc trưng cho giá trí “CQ”
Ai đó mà một giá trị trên “bằng không” thì chưa là con người hoàn toàn Trên thực tế lúc đó không tồn tại tứ giác mà đã trở thành Tam giác Sự hài hòa về bốn chỉ
số IQ, EQ, AQ, CQ là điều kiện cần thiết cho nhân cách phát triển bền vững
Điều lý tưởng khi “ABCD” là tứ giác đều Tùy cương vị của con người trong cuộc sống mà độ lớn của Tứ giác phải phát triển tương ứng
5 Ba hoạt động cơ bản của Nhà trường để hình thành ba năng lực căn cốt cho học sinh.
5.1 Nhà trường: Nơi đưa thế hệ trẻ từ thế giới tình cảm vào thế giới công việc
Nhà trường là cầu nối đưa thế hệ trẻ từ gia đình vào xã hội làm cho thế hệ trẻ không có hụt hẫng từ thế giới tình cảm sang thế giới công việc
Quá trình giáo dục ở nhà trường đặt những cơ sở quan trọng để thế hệ trẻ được phát triển hài hòan toàn năng lực và có sự hài hòa về cấu trúc năng lực
Trang 125.2 Ba năng lực căn cốt nhà trường phải định hình cho học sinh
Có thể liệt kê rất nhiều năng lực mà nhà trường hình thành và phát triển cho học sinh:
Năng lực tự học, học cách học
Năng lực tự chủ, tự quản lý bản thân
Năng lực giáo tiếp, hợp tác
Năng lực nhận thức
Năng lực công nghệ thông tin
Nhóm gộp lại, nhà giáo dục (từng cá nhân và cả tập thể) phải định hình từ cấp học thấp đến cấp học cao ba loại năng lực căn cốt sau cho Thế hệ trẻ
Năng lực tư duy
Năng lực quan hệ với con người
Năng lực công việc
Thực tế thì sau này khi vào đời, bất cứ ai cũng phải có sự đồng bộ ba loại năng lực trên để sinh tồn
Sự chuẩn bị từ những bước đi đầu tiên trên ghế nhà trường cho học sinh tích lũy đồng bộ ba loại năng lực trên là rất cần thiết
5.3 Ba hoạt động cơ bản trong nhà trường
Nhà trường diễn ra nhiều hoạt động Song có ba loại hoạt động được gọi là cơ bản
có tác động mạnh mẽ đến ba năng lực căn cốt đã nêu đó là:
Hoạt động nhận thức
Hoạt động giao lưu
Hoạt động cải tạo thực tiễn
- Hoạt động nhận thức lấy điểm nhấn là Hoạt động học tập
Trang 13- Hoạt động giao lưu lấy điểm nhấn là Hoạt động sinh hoạt tập thể hoạt động vui chơi
- Hoạt động cải tạo thực tiễn lấy điểm nhấn là hoạt động công tác xã hội, hoạt độngnghiên cứu khoa học, hoạt động lao động sản xuất
Đối với lứa tuổi còn nhỏ nhà trường tổ chức để học sinh chăm sóc vườn trường, các công trình văn hóa địa phương Khi các em có thể chất cứng cáp mới đưa các
em vào hoạt động lao động sản xuất: Từ lao động chân tay đơn giản tiến đến các lao động làm ra của cải vật chất, lao động nghiên cứu khoa học
Những công việc này lại giúp các em cũng cố kiến thức đã thu được trên lớp, làm phong phú cho sự trải nghiệm sáng tạo mà các em cần được rèn luyện
6 Tổ chức dạy học hiệu quả : Con đường chủ đạo phát triển năng lực cho thế
hệ trẻ
6.1 Bản chất của việc dạy học
Việc dạy học, huấn luyện thường quy về “Tam giác 3T”: Tri – Trò - Thầy
Tri thức (bao gồm kiến thức, thái độ, kỹ năng) – Ký hiệu T1 được truyền đạt vào người học (Trò) – Ký hiệu T2, qua tác nhân là người dạy (Thầy) ký hiệu T3
Người Thấy –T3 phải xử lý ba mối quan hệ
“T3->T1”: Thầy chọn lọc hệ thống tri thức cơ bản nhất, hiện đại nhất, thiết thực nhất theo nhu cầu hoàn cảnh của trò, của cộng đồng
Trang 14“T3 -> (T1-T2)”: Thầy tổ chức cho “Tri” đi vào “Trò” diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi của trò.
“T3 – T2”: Thầy duy trì được mối quan hệ với trò theo ba sứ mệnh:
Người truyền đạo Người giải hoặc Người thụ nghiệp cho trò
6.2 Bốn trào lưu dạy học và những vấn đề đặt ra trong quan hệ Thầy – Trò
Lý luận dạy học truyền thống đến hiện đại có rất nhiều môn phái, song đều xoay quanh bốn trào lưu sau:
Trào lưu sư phạm truyền thống
T1: Yêu cầu trò bắt chước hay lặp lại được tối thiểu một hoặc một vài đơn vị kiến thức, thông tin nào đó
T2: Trò chấp hành điều thầy nêu ra
T3: Thầy - người chỉ huy quá trình dạy học