1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội

171 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Xã hội loài người đã và đang trải qua ba trình độ phát triển khác nhaucủa nền kinh tế, trong đó ra đời sớm nhất là nền kinh tế nông nghiệp vớitrình độ sản xuất

Trang 1

Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Trọng Lâm, Phó Viện trưởng

Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội

Hà Nội – 2002

SLK : 4554/BC

Trang 2

Danh sách các thành viên đề tài

1 TS Vũ Trọng Lâm, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội - Chủ nhiệm đề tài

-2 GS.TS.Trần Ngọc Hiên, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuậtViệt Nam

3 GS.TS Đỗ Hoàng Toàn, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội

4 PGS TS Nguyễn Xuân Thắng, Phó Viện trưởng Viện kinh tế thế giới

5 PGS.TS Trần Đình Thiên, Trưởng ban kinh tế vĩ mô, Viện Kinh tế học

6 Nhà nghiên cứu Đặng Mộng Lân, Viện Nghiên cứu chiến lược và chínhsách khoa học và công nghệ

7 TS Nguyễn Duy Hùng, Chánh Văn phòng Ban Tổ chức Trung ương Đảng

8 TS Nguyễn Hồng Danh, Tổng cục thống kê

9 Phạm Hồng Tiến, Viện kinh tế thế giới

10 CN Nguyễn Thanh Bình, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội HàNội

Cùng với sự giúp đỡ, cộng tác của:

11 GS.TS Tô Xuân Dân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xãhội Hà Nội

12 TS Hoa Hữu Lân, Trưởng phòng Kế hoạch - Quản lý khoa học, ViệnNghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

13 CN Phạm Thị Minh Nghĩa, Trưởng phòng Tổ chức - hành chính, ViệnNghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

14 CN Lê Ngọc Châm, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

15 CN Trịnh Tiến Việt, Đại học Quốc gia Hà Nội

16 Ths Phạm Xuân Sơn, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

17 CN Nguyễn Huy Dương, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội HàNội

18 CN Trần Trung Hiếu, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

19 CN Đinh Thanh Thuỷ, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội

20 CN Nguyễn Mạnh Quân, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội HàNội

Các cơ quan giúp đỡ và phối hợp thực hiện đề tài:

1 Ban Khoa giáo Trung ương

2 Sở Khoa học công nghệ và Môi trường Hà Nội

3 Sở Tài chính - Vật giá Hà Nội

4 Cục Thống kê Hà Nội

Và một số các cơ quan quản lý nhà nước, các Trường đại học, Viện nghiên cứu trên địa bàn Thủ đô Hà Nội

Trang 3

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã hội loài người đã và đang trải qua ba trình độ phát triển khác nhaucủa nền kinh tế, trong đó ra đời sớm nhất là nền kinh tế nông nghiệp vớitrình độ sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp, tiếp theo là nền kinh tếcông nghiệp với trình độ sản xuất đã ở mức độ cao hơn, lực lượng sản xuấtchủ yếu là máy móc và đến những đầu thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đã

ra đời và hình thành nền kinh tế tiên tiến dựa chủ yếu vào tri thức và cácthành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao

động, tạo nhiều của cải mới cho xã hội được gọi là kinh tế tri thức (KTTT).Lúc mới ra đời, xuất phát từ các tiêu chí đánh giá khác nhau, KTTT cũngnhư các sự kiện lớn trong đời sống nhân loại, đều được nhận thức, đánh giá

và có thái độ, quan điểm khác nhau Hiện nay, xu hướng phát triển KTTT

đang tác động ngày càng sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại;

có thể nói KTTT vừa là mục tiêu vừa là xu thế phát triển tất yếu của xã hộiloài người trong tương lai

KTTT được xác định chính là cánh cửa mở ra cho các nền kinh tế đangphát triển tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết đónbắt và tận dụng cơ hội Ngược lại, KTTT cũng tạo ra thách thức lớn hơn baogiờ hết đối với các nước đang phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu, đó là khoảngcách ngày càng gia tăng về trình độ phát triển với các nước phát triển

Trên quan điểm hội nhập, mở rộng hợp tác với khu vực và thế giới, vớitiềm năng và vị thế là Thủ đô của cả nước, Hà Nội phải giữ vị trí hạt nhân và

đi đầu cả nước trong việc tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức như Nghịquyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã chỉ rõ

định hướng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2001 - 2010

là: "tích cực chuẩn bị tiền đề của kinh tế tri thức"1, bởi vậy, Hà Nội cần phảinhanh chóng triển khai nghiên cứu, đề xuất và đẩy nhanh việc thực hiện cácbiện pháp nhằm xây dựng và từng bước phát triển kinh tế tri thức tạo đònbẩy trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần cùng nhân dân cả nước thựchiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Hiện nay, mặc dù đã có những nghiên cứu về những khía cạnh khácnhau của kinh tế tri thức, nhưng cho đến nay chưa có một công trình nghiêncứu tổng hợp nhằm luận chứng mục tiêu định hướng, giải pháp tiếp cận vàtừng bước phát triển kinh tế tri thức trên địa bàn Thủ đô trong khi tính cấp

bách của vấn đề này đã trở nên hết sức rõ ràng Đề tài: “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội” hy vọng

góp phần nhỏ bé giải quyết các vấn đề đặt ra

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế tri thức Trình bàycác khái niệm và đặc điểm của tri thức cũng như kinh tế tri thức Mối liên hệgiữa phát triển kinh tế tri thức với thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH Thủ đô.Xác định một số nội dung chủ yếu, những điều kiện cần có để phát triểnkinh tế tri thức ở Hà Nội Đánh giá khả năng tiếp cận và từng bước triểnkhai thực hiện các yếu tố của kinh tế tri thức đối với nền kinh tế Hà Nội,phân tích những mặt mạnh, những thuận lợi cũng như khó khăn của Hà Nộikhi xây dựng và phát triển kinh tế tri thức

Các quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế tri thức Thủ đô Đề xuất cácnhóm giải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện các mục tiêu, quan điểm địnhhướng đã đề ra

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận của kinh tế tri thức; những bài học,kinh nghiệm phát triển kinh tế tri thức ở một số nước Phân tích thực trạngkinh tế - xã hội Thành phố, từ đó đánh giá những thuận lợi và khó khăn của

Hà Nội khi xây dựng và phát triển kinh tế tri thức Đi sâu vào phân tích cácquan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế tri thức Thủ đô Đề xuất các nhómgiải pháp, kiến nghị nhằm thực hiện các mục tiêu, quan điểm định hướng đã

đề ra

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,quan điểm đổi mới của Đảng, sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểnhư: phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp, phân tích và điều tra xãhội học để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra

Đề tài xuất phát từ những lý luận cơ bản thuộc đối tượng nghiên cứu,tham khảo những kinh nghiệm quốc tế có liên quan đến việc phát triển kinh

tế tri thức ở một số nước, đánh giá khả năng tiếp cận và từng bước triển khaithực hiện các yếu tố của kinh tế tri thức đối với nền kinh tế Hà Nội, từ đó

đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển kinh tế tri thức ở Thủ

đô Hà Nội

5 ý nghĩa của đề tài:

Về khoa học:

Cung cấp cho lãnh đạo Thành phố, các ngành các cấp luận cứ khoa học

và kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế tri thức tạo cơ sở cho việc tiếptục nghiên cứu triển khai xây dựng mô hình và các yếu tố cần thiết của kinh

tế tri thức Thủ đô đúng hướng, phù hợp với các nguồn lực trên địa bàn

Trang 5

Về hiệu quả kinh tế:

Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ mục tiêu pháttriển chung về kinh tế xã hội của Thủ đô, hướng tới việc xây dựng và pháttriển kinh tế tri thức ở Thủ đô

Cân đối tài chính, tập trung vào các mục tiêu phát triển quan trọng, đầutư cơ sở hạ tầng hợp lý, đầu tư vào con người

Là cơ sở để xem xét hoạch định các chính sách quản lý nhà nước củaThành phố nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội

Về hiệu quả xã hội:

Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân cùng nhà nước chăm lo pháttriển kinh tế-xã hội Trên cơ sở làm tăng các động lực phát triển kinh tế - xãhội, nâng cao chất lượng sống, củng cố sự đoàn kết, ủng hộ và lòng tin củanhân dân và quốc tế vào tương lai tốt đẹp của Thủ đô, từ đó góp phần ổn

định đời sống xã hội Thủ đô, cũng như cả nước

6 Kết cấu của đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tàigồm có 4 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về kinh tế tri thức.

- Chương 2: Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế tri thức ở một

số nước trên thế giới

- Chương 3: Đánh giá khả năng tiếp cận và triển khai các yếu tố

kinh tế tri thức trên địa bàn thủ đô Hà Nội

- Chương 4: Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế tri thức ở Thủ

đô Hà Nội

- Chương 5: Những giải pháp, kiến nghị chủ yếu phát triển kinh tế

tri thức ở Thủ đô Hà Nội

Trang 6

Chương 1:

Cơ sở lý luận về kinh tế tri thức

I tri thức

Để hiểu kinh tế tri thức là gì, vấn đề đầu tiên phải làm rõ là tri thức phải

được quan niệm như thế nào?

1.1 Khái niệm về tri thức

Như đã biết, định nghĩa một cái gì là cách mô tả về cái đó, là làmnghèo (làm mờ) cái đó đi cùng một cái mà ta định nghĩa, do quan điểm (sứchiểu biết) của mỗi người (ở tại thời điểm định nghĩa) khác nhau nên cókhông ít cách hiểu khác nhau Điều này cũng đang xảy ra với việc làm rõkhái niệm tri thức, hiện nay trên thế giới còn tồn tại nhiều khái niệm về trithức, tập trung ở nột số ý kiến sau:

Theo K.Marx, tri thức là sản phẩm của lao động (tức chỉ xét đối vớicon người - sinh vật cao cấp có tư duy, có hoạt động lao động), là kết quảcủa mức độ tích cực của con người với tự nhiên2

Tri thức được hiểu là kết quả của nhận thức, là phản ánh trung thực củathực tiễn vào tư duy của con người, nó còn được gọi là sự hiểu biết Nhưvậy, tri thức như là sự hiểu biết của con người về thế giới vật chất xungquanh Theo tiến trình của sự nhận thức, quá trình nhận thức của con người

bắt đầu từ các giác quan tiếp nhận các tín hiệu của đối tượng nhận thức, nhờ

đó con người có các dữ liệu (data), sau đó các dữ liệu này được xử lý bởi hệ não thần kinh và quá trình tư duy nhận thức để biến thành thông tin (information), quy luật (law), tri thức (knowledge), trí tuệ (intellect) và ở mức cao nhất là trí khôn (minh triết - wisdom) 3

Hình 1: Quá trình nhận thức

Dữ liệu (data) là các tín hiệu, con số, chữ viết, hình ảnh, âm thanh riêng biệt, là nguồn gốc, là vật mang thông tin, là vật liệu sản xuất ra thôngtin Còn thông tin (information) là những dữ liệu được sắp xếp lại thành

Dữ

liệu

Thông tin

Tri thức

Trí tuệ

Minh triết

Trang 7

những tổ hợp có ý nghĩa, có nội dung Thông tin là sự phản ánh về một vật,một hiện tượng, một sự kiện hay quá trình nào đó của thế giới tự nhiên, xãhội và con người thông qua khảo sát trực tiếp hoặc lý giải gián tiếp.

Thông tin sau khi được thu thập, xử lý để nhận thức sẽ trở thành trithức, thông tin là “cái của người”, tri thức là “cái của mình”, tri thức baogồm tất cả những hiểu biết của con người, nó tồn tại dưới nhiều hình thứcnhư: “biết”, “biết cái gì?”, “biết như thế nào?”, “biết làm thế nào?”4

Peter Howit quan niệm: tri thức là khả năng của một cá nhân hay mộtnhóm thực hiện, hoặc chỉ dẫn, xui khiến những người khác thực hiện cácquy trình nhằm tạo ra các sự chuyển hóa có thể dự báo được của các vậtliệu5 Theo tác giả, tri thức công nghệ được định nghĩa là sự hiểu biết về tác

động của các biến đầu vào đối với đầu ra

Ngoài ra, có thể sử dụng tháp thông tin để giải nghĩa thuật ngữ tri thứcvới 4 tầng tháp từ dưới lên trên: dữ liệu, thông tin (nghĩa hẹp), tri thức (kiếnthức), khôn ngoan/thông minh

Hình 2: Tháp thông tin

- Dữ liệu: là các sự kiện không cấu trúc hóa, không mang theo ý nghĩa,

ngoài ngữ cảnh, những quan sát đơn giản, một tập hợp các số từ đó có thểrút ra thông tin

- Thông tin: các dữ liệu đã được tổ chức, xử lý, có mục đích (nhưng

chưa được đồng hóa)

- Tri thức (kiến thức): một khối lượng thông tin đã được xử lý, đồng

Tri thức(Kiến thức)

Thông tin(nghĩa hẹp)

Dữ liệu

Khôn ngoan /Thông minhMức độ tinh

vi của xử lýthông tin(nghĩarộng)

Trang 8

hóa, đưa vào sự nhận thức của cá nhân; là thông tin + phán đoán.

- Khôn ngoan: kết quả của sự kết hợp kiến thức với các kinh nghiệm và

giá trị (chỉ một cái gì đó tốt hay xấu, hoặc là lao động xã hội đã vật hóatrong hàng hóa)

Sự phân biệt các mức xử lý thông tin chỉ là tương đối Dữ liệu đối vớingười này có thể là thông tin đối với người khác; tương tự, thông tin đối vớingười này có thể là tri thức đối với người khác Ngoài ra, khi chỉ cần phânbiệt với tri thức, dữ liệu và thông tin thường được gộp chung và gọi là thôngtin6

Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (Organization forEconomic Cooperation and Development) thì: tri thức là toàn bộ kết quả vềtrí lực của loài người sáng tạo ra từ trước đến nay, trong đó tri thức về khoahọc, về kỹ thuật, về quản lý là các bộ phận quan trọng nhất

Đối với Khổng giáo, tri thức là biết được những gì cần nói và làm thếnào để nói đúng7

Từ những quan điểm hội tụ của các khái niệm không giống hẳn nhau

đã nêu, có thể đưa ra khái niệm sau:

Tri thức là sự hiểu biết của con người thông qua kinh nghiệm hoặc sự học hỏi.

1.2 Phân loại tri thức

Tri thức có nhiều cách phân loại khác nhau, tùy thuộc ý đồ, năng lựcnhận biết của người nghiên cứu

Theo B Lundvall, B Johnson, D.Foray8, tri thức có 4 loại:

+ Tri thức về sự vật (Know - what) trả lời câu hỏi "biết cái gì"

+ Tri thức về nguyên nhân (Know - why) trả lời câu hỏi "biết tại sao".+ Tri thức về cách làm (Know - how) trả lời câu hỏi "biết làm thế nào".+ Tri thức về người biết (Know - who) trả lời câu hỏi "biết ai"

Trong 4 loại tri thức trên, hai loại đầu là những tri thức có thể thu nhận

được bằng cách đọc tài liệu, tham dự hội nghị hay truy nhập cơ sở dữ liệu;hai loại sau có được thông qua kinh nghiệm thực tế

Trong một công trình của R R Nelson và P Romer năm 19969, chorằng tri thức là tất cả những gì không vật chất, vô hình và có tính chất con

người; bao gồm: (a) phần mềm của tri thức (software) là các tri thức có thể

Trang 9

được diễn đạt trong các giá đựng tin lưu giữ bên ngoài não người để có thểphổ biến rộng rãi dưới dạng thương mại hóa (sách, báo, đĩa CD, ổ cứng, báo

cáo, tài liệu hướng dẫn kỹ thuật v.v ) và (b) phần ướt của tri thức (wetware) là các tri thức chỉ có thể được lưu giữ trong não người, bao gồm

niềm tin, kỹ năng, kỹ xảo, thủ thuật làm việc v.v )

Khi nghiên cứu tài sản tri thức ở doanh nghiệp, R Bohn10 cho rằng trithức được chia thành ba loại:

+ Tri thức về môi trường (thông tin thị trường, công nghệ, v.v )

+ Tri thức về doanh nghiệp (danh tiếng, nhãn mác, v.v )

+ Tri thức nội bộ (văn hóa doanh nghiệp, đạo đức, cơ sở dữ liệu củadoanh nghiệp, bí quyết của người lao động, bí quyết của doanh nghiệp,v.v )

Như vậy có không ít cách phân loại tri thức, nhưng cách phân loại đáng

quan tâm là chia thành tri thức ngầm (tiềm ẩn - phần ướt của tri thức, tacit knowledge) và tri thức hiện (tri thức được hệ thống hóa - phần mềm của tri thức, explicit knowledge).

Tri thức hiện (theo M Polanyi) là tri thức được biểu hiện qua ngônngữ, còn tri thức ngầm là tri thức không bộc lộ, chứa trong đầu con người

Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng khi xét khả năng chuyển giao trithức từ người có kiến thức đến người cần kiến thức Để thực hiện sự chuyển

giao (biến đổi) này, tri thức ngầm cần được điển chế hóa, nghĩa là chuyển

nó thành tri thức hiện (khi đó được gọi là thông tin) Trong quá trình điểnchế hóa tri thức, một phần tri thức ngầm vẫn còn lại

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tri thức điểnchế hóa (thông tin) đã trở nên dễ có hơn và cũng rẻ hơn rất nhiều Trongviệc lựa chọn và khai thác tri thức này để phát triển kinh tế, tăng khả năngcạnh tranh quốc tế của quốc gia, tri thức ngầm có một vai trò đặc biệt quantrọng Nó là công cụ để biến đổi tri thức điển chế hóa - nguyên liệu và vậtliệu xuất phát trong các hoạt động của kinh tế tri thức

Như vậy, tri thức ngầm là loại tri thức quan trọng nhất, nó là vật sởhữu của người có tri thức, là sức mạnh tiềm ẩn của con người Nó chỉ trởthành hiện thực trong các điều kiện nhất định, đó là phải có các vật truyềndẫn thông tin (kênh truyền) thích hợp: công cụ sản xuất (máy móc, thiết bị,công nghệ v.v ) và lao động của chủ sở hữu tri thức

Trong một tổ chức, quá trình sáng tạo tri thức có thể diễn ra theo chutrình biến đổi như sau: ngầm → ngầm → hiện → hiện → và cứ như thếmãi (hình 3):

Trang 10

Hình 3: Quá trình sáng tạo tri thức trong tổ chức11

• Xã hội hóa: Thu nhận tri thức ngầm qua chia sẻ kinh nghiệm;

• Ngoại ứng hóa: Biến đổi tri thức ngầm thành tri thức hiện qua sử dụng các

ẩn dụ, tương tự hay mô hình;

• Tổ hợp: Tạo ra tri thức hiện bằng cách phối hợp tri thức hiện từ một số

nguồn;

• Nội ứng hóa: Kinh nghiệm thu được qua các kiểu sáng tạo tri thức khác

được biến đổi thành tri thức ngầm của các cá nhân dưới dạng các mô hình tinh thần cùng chia sẻ hay việc thực hành các công việc.

1.3 Đặc điểm của tri thức

Từ việc phân tích khái niệm về tri thức ở trên, có thể rút ra một số đặc

điểm cơ bản của tri thức như sau:

a Tri thức là sản phẩm của lao động (kinh nghiệm, sự học hỏi), nó là

biểu hiện của thái độ tích cực của con người trước tự nhiên Điều này đã

được K Marx đề cập rất chi tiết

b Tri thức không phải là vật chất, nhưng luôn tồn tại dưới cái vỏ vật

chất (giá đựng); chính nhờ điều này của tri thức mà có thể nhân rộng tácdụng của nó Giá đựng tri thức cho tương ứng với hai loại tri thức (tri thức

Trang 11

ngầm và tri thức hiện); để có tri thức hiện thì dễ, nhưng để có tri thức ngầmthì khó (liên quan đến việc đào tạo, sử dụng, thu hút chất xám của các nhàquản lý, các quốc gia) Đối với tri thức hiện, người mua tri thức chỉ có đượccái giá đựng nó (đây cũng đã là một điều rất quí); nhưng để khai thác nó lạicần có con người biết sử dụng nó (trình độ của người mua, hoặc lao độngcủa chính người bán tri thức đó) Đối với tri thức ngầm người mua bắt buộcphải có người bán (chủ sở hữu tri thức) Điều này giải thích cho cái gọi là lợithế của người đi sau muốn phát huy tác dụng thì vấn đề cốt lõi là ở chỗ phải

có con người có khả năng tư duy

c Tri thức (dưới dạng sản phẩm) khi đem sử dụng đòi hỏi phải có cả

một quá trình học hỏi và nghiên cứu Đối với tri thức hiện (máy móc, thiết

bị v.v ) trước khi vận hành thì người sử dụng phải được học hỏi, hướng dẫn

để nắm vững kỹ thuật sử dụng Quá trình này với người sáng tạo còn có thểsuy nghĩ tìm tòi để tiếp tục hoàn thiện tri thức (cho dưới dạng các sản phẩmvật chất hóa) Đôi khi người tiêu dùng còn phát hiện ra những tính năng màchính tác giả của nó cũng không ngờ tới

d. Tri thức (dưới dạng sản phẩm) khi đem tiêu dùng trong nền kinh tếthị trường thường trở thành một loại hàng hóa có tính phổ cập hóa, tính toàncầu hóa trong sử dụng với nghĩa là ai cũng có thể có nếu bỏ tiền ra mua nó

Điều này lệ thuộc chủ yếu vào mức độ qui định của cơ chế thị trường sựràng buộc quản lý vĩ mô của Nhà nước (về sở hữu trí tuệ, qui chế nhập cư,

định cư, mức độ bảo hộ sản xuất, mức độ hội nhập và mở cửa giao lưu quốc

tế, tri thức bản lĩnh của các nhà lãnh đạo v.v )

e. Tri thức là một trong các yếu tố quan trọng nhất của sản xuất và đờisống xã hội, nó sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng

đầu nếu nó gắn liền với cuộc sống thực tế của xã hội, tức là khi nó được đem

sử dụng vào thực tế nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích cho con người, khi đó trithức (cả hiện và ngầm) trở thành hiện thực Như vậy việc sử dụng tri thứcgắn liền với thể chế, mục đích, ý đồ của con người (cá nhân, doanh nghiệp,nhà nước) Tri thức sẽ đem lại những điều tốt đẹp cho con người nếu nó

đúng đạo lý và vì con người, còn ngược lại nó chỉ đem tai họa đến cho conngười (vũ khí giết người, sản phẩm độc hại, lối sống suy đồi v.v ) Tri thức

lệ thuộc khá nhiều vào thể chế của mỗi xã hội, tuy nó mang tính toàn cầunhưng tính quốc gia của mỗi nước còn chiếm vị trí khống chế rất lớn

f Tri thức trong thời đại ngày nay có tốc độ gia tăng nhanh chóng, đổi

mới liên tục

II Kinh tế tri thức

2.1 Khái quát về sự xuất hiện của kinh tế tri thức và những nghiên cứu ban đầu về kinh tế tri thức

Sự phát triển của kinh tế trong lịch sử của nhân loại đã trải qua những

giai đoạn khác nhau Trước hết là kinh tế săn bắn và hái lượm tồn tại trong

Trang 12

nghìn năm Rồi đến kinh tế công nghiệp xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào

đầu nửa sau thế kỷ XVIII Sau đó là kinh tế tri thức12, lúc đầu thường gọi là

kinh tế thông tin, đã ra đời lúc đầu ở Mỹ vào đầu những năm 1970 và rồi ở

nhiều nước công nghiệp phát triển và ngày nay cả các nước công nghiệp mới(Nics) Kinh tế tri thức này, theo một số dự báo13, đối với nước Mỹ, có thể sẽkết thúc vào khoảng năm 2020 để nhường chỗ cho một nền kinh tế mới khác

- kinh tế sinh học.

ý tưởng về tầm quan trọng của tri thức trong kinh tế không phải là mới

Từ thế kỷ XVIII, Adam Smith đã nói đến những thế hệ chuyên gia mới đãgóp phần quan trọng vào việc sản sinh ra tri thức có ích cho kinh tế Và thế

kỷ XIX, Karl Marx đã nhiều lần nhấn mạnh rằng sản xuất ngày càng phụthuộc nhiều hơn vào khoa học và công nghệ Hiện nay, trong sự phát triển

của nhiều nước công nghiệp, tri thức đã trở thành nhân tố hàng đầu trong

tăng trưởng kinh tế, vượt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền vốn và lao

động; và chính đây là đặc điểm cơ bản của những nền kinh tế được gọi là

kinh tế tri thức hay kinh tế dựa trên tri thức

Những nghiên cứu về kinh tế tri thức đã có một lịch sử hơn bốn chục

năm bắt đầu từ công trình của Fritz Machlup "The production and distribution of knowledge in the United States" (Sản xuất và phân phối tri

thức ở Mỹ) xuất bản năm 1962 Công trình này lần đầu tiên đã đưa ra khái

niệm "công nghiệp tri thức" (knowledge industry) và lưu ý mọi người về tầm

quan trọng và đặc biệt là sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực kinh tếnày Fritz Machlup lần đầu tiên đã nhận ra một sự thay đổi quan trọng trongnền kinh tế của nước Mỹ: các hoạt động sản xuất, phân phối và sử dụng trithức trong một số lĩnh vực rộng lớn đang phát triển nhanh hơn rất nhiều sựtăng trưởng chung của nền kinh tế Phát hiện của Machlup đã được các tácgiả khác xác nhận và không lâu sau đó các nhà nghiên cứu còn chứng minhrằng hiện tượng tương tự cũng xảy ra ở một số nước khác như Anh, Đức,Pháp, v.v Như vậy là, theo ý kiến hiện nay đã được chấp nhận rộng rãi, bắt

đầu từ đầu những năm 1970, trước hết ở Mỹ rồi sau đó ở một số nước khác,nền kinh tế quốc gia đã chuyển từ giai đoạn công nghiệp sang một giai đoạnmới - kinh tế tri thức, tương tự như trước đây, vào đầu nửa sau thế kỷ XVIII,bắt đầu từ nước Anh, đã có sự chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tếcông nghiệp

và Agence de Coopération Culturelle et Technique xuất bản, lần thứ hai, 1988) Trong quyển "Anh - Việt",

"scientific knowledge" được dịch là "kiến thức khoa học"; trong quyển "Pháp - Việt", "connaissance scientifique" là "tri thức khoa học".

Trang 13

Công nghiệp tri thức được nghiên cứu trong công trình của Machlupbao gồm mọi hoạt động có liên quan đến sản xuất, phân phối và tiêu thụ trithức trong ba lĩnh vực:

- Nghiên cứu khoa học (cơ bản và ứng dụng) và triển khai;

- Giáo dục và đào tạo, kể cả đào tạo tiếp tục và đào tạo lại;

- Thông tin đại chúng: xuất bản, báo chí, truyền thanh, truyền hình,v.v

Năm 1958, ở Mỹ, ngành công nghiệp này đã chiếm 29% GNP (tức 136

tỉ đôla) và sử dụng 31% tổng lực lượng lao động (tức 24 triệu người) Điểm

đáng chú ý nhất là tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp này trong thờigian 1947 - 1958 đạt 10,6% hàng năm, bằng hai lần tốc độ tăng của GNP,chứng tỏ các nguồn lực quốc gia đã được thu hút một cách đáng kể vào cáchoạt động về tri thức

Năm năm sau, năm 1963, tri thức đã tạo ra ở Mỹ một giá trị gia tăngchừng 159 tỉ đôla, chiếm 33% GNP Năm năm sau nữa, năm 1968, phầncông nghiệp tri thức của nước Mỹ đã lên tới gần 40% GNP14

Một cái mốc lớn trong nghiên cứu về kinh tế tri thức là lý thuyết "xã hội hậu công nghiệp" do nhà tương lai học người Mỹ Daniel Bell đưa ra từ năm 1967 và được trình bày đầy đủ trong tác phẩm nổi tiếng "The coming of post - industrial society" (Sự xuất hiện của xã hội hậu công nghiệp) năm

1973 Trong tác phẩm này, Bell đã chỉ ra vai trò trung tâm của các hoạt

động biến đổi tri thức ở Mỹ và sự kiện nước Mỹ đã chuyển từ xã hội côngnghiệp của những công nhân "cổ áo xanh" sang một xã hội mới với vai tròquan trọng thuộc về những người lao động "cổ áo trắng" - xã hội hậu côngnghiệp

Nhìn chung, người ta thừa nhận rằng Bell đã sớm thấy một cách đúng

đắn thông tin và tri thức là những nguồn lực quan trọng nhất làm biến đổinền kinh tế Song người ta không thể đồng ý với sự giải thích của ông vềnhững biến đổi xã hội kèm theo Những biến đổi này không phải là sự vượtlên trên những cấu trúc kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa cơ bản của thời đạicông nghiệp như ông đã khẳng định, mà chỉ thể hiện những cố gắng nhằmkhắc phục cuộc khủng hoảng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lúcbấy giờ

Một công trình khác đã gây được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu làluận án tiến sĩ của Marc Porat năm 1974 được trình bày đầy đủ trong cuốn

sách "The information economy: Definition and measurement" (Nền kinh tế

thông tin: Định nghĩa và đo lường) xuất bản năm 1977 Trong công trình,

tác giả đã đưa ra khái niệm "khu vực thông tin" và nghiên cứu sự phát triển

Trang 14

của khu vực này của nước Mỹ từ giữa thế kỷ XIX cho đến năm 1970 Lựclượng lao động tham gia chủ yếu vào xử lý thông tin (lao động thông tin) từ

ba khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) theo cách phân chia

cổ truyền nền kinh tế được tách ra để tạo thành một khu vực thứ tư - khu vựcthông tin Khu vực này của nền kinh tế Mỹ đã trở thành lớn nhất vào khoảngnăm 1970 và chiếm hơn 50% lực lượng lao động của cả nước15 Chính với ý

nghĩa như vậy, nền kinh tế của nước Mỹ đã trở thành nền "kinh tế thông tin", tương tự như trước đây, vào đầu thế kỷ XX, kinh tế của Mỹ đã trở thành

kinh tế công nghiệp khi khu vực công nghiệp trở nên lớn hơn khu vực nôngnghiệp Xã hội hậu công nghiệp của Bell do đó có thể hiểu là xã hội mà nềnkinh tế của nó đã trở thành kinh tế thông tin

Mặc dù còn một số hạn chế 16, nhưng với đặc điểm rất đơn giản (chỉcần sử dụng một chỉ tiêu duy nhất là đầu vào - lao động thông tin, hay đầu

ra - sản phẩm của lao động thông tin), cách tiếp cận của Porat có thể giúpchúng ta thấy được một xu hướng lớn trong sự phát triển kinh tế ở các nước

Đó là sự gia tăng liên tục của các hoạt động có liên quan nhiều đến thôngtin và tri thức và các hoạt động này đã trở thành quan trọng nhất trong cácnền kinh tế phát triển

Cách tiếp cận đơn giản này có thể áp dụng ngay để bước đầu nhìn rabóng dáng của kinh tế tri thức và chiều hướng phát triển của nó ở nhữngnước mới bắt đầu được nghiên cứu về kinh tế tri thức, thí dụ như nước ta.Cách tiếp cận này có thể thực hiện khá nhanh chóng bằng cách sắp xếp lạicác loại nghề nghiệp trong các thống kê lao động quốc gia, các kết quả thu

được sẽ có ý nghĩa nhất định như chúng ta đã thấy từ công trình của Porat vềnước Mỹ và sau đó của nhiều tác giả khác về một số nước khác

Sự nhận thức về vai trò quan trọng hàng đầu của sản xuất, phân phối và

sử dụng tri thức trong tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước công nghiệp đượctrình bày trong rất nhiều công trình nghiên cứu trong khoảng mười năm gần

đây đã dẫn đến sự ra đời và được sử dụng ngày càng rộng rãi của khái niệm

kinh tế tri thức (knowledge economy) hay kinh tế dựa trên tri thức (knowledge-based economy) Ngày nay, nhiều nước công nghiệp phát triển

khác và cả một số nước công nghiệp mới ở châu Mỹ La tinh và châu á cũng

đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế tri thức Các nghiên cứu về vấn đềnày đã xuất hiện mỗi ngày một nhiều hơn Đặc biệt, một báo cáo của Tổchức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm 1996 [8] đã vạch ra khungcác vấn đề của kinh tế tri thức có thể sử dụng làm cơ sở ban đầu cho việctiếp tục nghiên cứu về sự phát triển của nền kinh tế này Báo cáo viết:

"Từ "kinh tế tri thức" đã xuất hiện từ sự nhận thức về vai trò của trithức và công nghệ trong tăng trưởng kinh tế Đành rằng tri thức luôn luôn

15

5 E.B Parker, M Porat, trong: Confrence sur les politiques en matire d' information et de communications, OCDE, Paris, 1976, 95.

Trang 15

là một yếu tố trung tâm của phát triển kinh tế, song vấn đề là sự phụ thuộccủa kinh tế một cách chặt chẽ vào sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thứcngày nay đã được đặt lên trên hết Điều này đã đưa một số nhà kinh tế đếnchỗ cho rằng hàm sản xuất như đã được sử dụng trong lý thuyết tân cổ

điển cần phải được sửa đổi và nhân tố "tri thức" cần phải được đưa vào nó

một cách trực tiếp hơn - một sự phát biểu lại về kinh tế trong "lý thuyết

mới về tăng trưởng" 17 Theo quan niệm cổ điển, sản xuất phụ thuộc vào

lượng các nhân tố sản xuất được sử dụng, đặc biệt là lao động, vốn, vật tư

và năng lượng Công nghệ hay tri thức được xem là các yếu tố bên ngoài,

không phải là một phần liên kết của hàm sản xuất Theo quan niệm mới

về tăng trưởng kinh tế, hàm này phụ thuộc trực tiếp hơn vào đầu tư cho tri thức, nhân tố này có thể làm tăng khả năng sản xuất của các đầu

vào cổ điển Tri thức cũng cung cấp bí quyết là cái giúp người ta kết hợpcác đầu vào đó để tạo ra các sản phẩm đổi mới và cải tiến các quy trình".Song việc nghiên cứu về kinh tế tri thức hiện nay còn có khó khăn lớn

là các thống kê kinh tế toàn quốc gia cũng như của các hãng về chủ yếu đều

được thực hiện theo phương pháp truyền thống, thiếu hoặc không có các số

liệu về các nguồn lực vô hình18 có vai trò đặc biệt quan trọng trong kinh tếtri thức Sự đánh giá các nền kinh tế tri thức đang nổi lên ở các quốc gia do

đó thường là không trực tiếp và phụ thuộc vào sự lựa chọn của các nhà

nghiên cứu khi sử dụng các số liệu chỉ có thể phản ánh một cách gián tiếp

các quá trình của kinh tế tri thức

2.2 Khái niệm về kinh tế tri thức

a/ Về tên gọi:

Những năm gần đây trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội nghị,hội thảo quốc tế và trong nhiều văn bản chiến lược phát triển của các quốcgia, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho giai đoạn phát triển mớicủa nền kinh tế như:

"Kinh tế thông tin - infomation economy", "kinh tế mạng - network economy", "kinh tế số - digital economy" (nói lên vai trò quyết định của

công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế)

"Kinh tế học hỏi - learning economy" (nói lên động lực chủ yếu của

nền kinh tế là sự học tập suốt đời của mọi người)

"Kinh tế dựa vào tri thức - knowledge based economy", 'kinh tế dẫn dắt bởi tri thức - knowledge driven economy", "kinh tế tri thức - knowledge economy" (nói lên vai trò quyết định của tri thức và công nghệ đối với phát

triển kinh tế)

"Kinh tế mới - new economy" (là tên gọi chung, không xác định nội

dung)

Trang 16

Trong số các tên gọi trên, kinh tế tri thức là tên gọi thường dùng nhất.

Tổ chức OECD chính thức dùng từ năm 1995 Tên gọi này nói lên được nộidung cốt lõi của nền kinh tế mới, còn kinh tế thông tin, kinh tế số chỉ mớinói về công nghệ thông tin, mặc dù công nghệ thông tin là nội dung chủ yếunhất nhưng không bao gồm được các yếu tố tri thức và công nghệ khác19

Nền kinh tế học hỏi (learning) Học hỏi suốt đời để đổi mới không ngừng

b/ Về nội dung, cách hiểu:

Bộ Thương mại và công nghiệp nước Anh (năm 1998) cho rằng một nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức là một nền kinh tế mà việc sản sinh và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải20

Theo GS.VS Đặng Hữu21, kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Trong nền kinh tế tri thức vẫn còn nông nghiệp và công nghiệp nhưng haingành này chiếm tỷ lệ thấp Cũng như trong nền kinh tế công nghiệp vẫn cònnông nghiệp nhưng nông nghiệp nhỏ bé Trong nền kinh tế tri thức chiếm đa số

là các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoahọc và công nghệ

Bảng 2: So sánh khái quát các thời đại kinh tế Kinh tế nông nghiệp Kinh tế công nghiệp Kinh tế tri thức

Đầu vào của sản

Các quá trình chủ

yếu

Trồng trọt, chăn nuôi Chế tạo, gia công Thao tác, điều khiển,

kiểm soát, xử lý thông tin

Đầu ra của sản xuất Lương thực Của cải, hàng hóa

tiêu dùng, các xí nghiệp, nền công nghiệp

Sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống, công nghiệp tri thức, vốn tri thức

Trang 17

Đầu tư cho R & D < 0,3% GDP 1-2% GDP > 3% GDP

Tỷ lệ mù chữa cao Trung học Sau trung học

Vai trò của truyền

thông

Như vậy, có thể nói kinh tế tri thức là một giai đoạn phát triển mới của các nền kinh tế sau kinh tế công nghiệp với vai trò của sản xuất, phân phối và sử dụng kiến thức trong tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng; đặc biệt tri thức đã trở thành nhân tố hàng đầu của sản xuất, vượt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền vốn và lao động.

Kinh tế tri thức khác với loại hình kinh tế trước đây lấy công nghiệptruyền thống làm nền tảng, lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên thiếu thốn và ít

ỏi làm chỗ dựa để phát triển sản xuất, ở chỗ lấy công nghệ cao làm lựclượng sản xuất, lấy trí lực - nguồn tài nguyên vô tận làm chỗ dựa chủ yếu,lấy công nghệ thông tin làm nền tảng để phát triển (hình 4)22

Hình 4: Cơ sở của kinh tế tri thức

Cũng có thể định nghĩa đơn giản hơn: kinh tế tri thức là nền kinh tế,trong đó khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tốquyết định hàng đầu việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh và triển vọngphát triển Vắn tắt hơn: khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất thứ nhất

Kinh tế trithức

Công nghệ cao (lực lượng sản xuất)

Tài nguyên trí lực

Công nghệ thông tin (nền tảng)

Trang 18

Kinh tế tri thức có thể được hiểu đơn giản23 như sau:

+ Giá trị sản phẩm:

Giá trị (GT) của mỗi sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ), được đo ví dụbằng tiền, bao gồm giá trị của hai thành tố:

• Giá trị của vật liệu tạo ra sản phẩm (GTvl)

• Giá trị của công sức của con người tạo ra sản phẩm (GTcs), phần nàylại gồm hai phần:

* Giá trị của công lao động chân tay (GTct)

* Giá trị của công lao động trí tuệ (GTtt)

Nói cách khác, GT = GTvl + GTcs = GTvl + GTct + GTtt Nếu GTttchiếm phần lớn của GT, ví dụ GTtt > 50% GT, ta nói sản phẩm có hàmlượng trí tuệ cao Hiển nhiên điều này chỉ có nghĩa khi sản phẩm được địnhgiá, nói nôm na là qua quá trình trao đổi

+ Kinh tế tri thức:

Trong một nền kinh tế có vô vàn sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) đượctrao đổi Khi tổng hợp giá trị của tất cả các sản phẩm được trao đổi trongmột khoảng thời gian nào đó, ví dụ trong một năm, của một nền (hay mộtngành) kinh tế ta có, tương tự như với sản phẩm nói ở mục trên:

Tổng GT = Tổng GTvl + Tổng GTct + Tổng GTtt

Khi Tổng GTtt chiếm phần lớn của Tổng GT, ví dụ quá 50%, ta nóinền (hay ngành) kinh tế đó là nền (ngành) kinh tế tri thức

Các định nghĩa trên hàm ý:

Thứ nhất, trong nền kinh tế tri thức, vấn đề không chỉ tạo ra tri thức

mà cả thu nhận, sử dụng và truyền bá tri thức

Thứ hai, kinh tế tri thức không chỉ bao hàm duy nhất các lĩnh vực

hoạt động với công nghệ cao, sử dụng lao động tri thức và lao động có kỹnăng cao là chính mà còn là quá trình tri thức xâm nhập vào và chi phối tấtcả mọi hoạt động kinh tế ẩn của nhận định này là nền kinh tế tri thứckhông nhất thiết có cấu trúc ngành thuần nhất về trình độ phát triển, nghĩa làkhông phải là tất cả các ngành đều phải dựa trên nền tảng công nghiệp - kỹthuật cao Song điều chắc chắn là tất cả các ngành, dù ở trình độ nào, cũng

đều hoạt động dưới sự chi phối của tri thức

Tóm lại, hiện nay có không ít cách hiểu khác nhau về kinh tế tri thức

Để làm rõ khái niệm này cần có thêm thời gian kiểm chứng Nhưng cách

23

Xem TS Nguyễn Quang A, Kỷ yếu hội thảo, tr 197

Trang 19

hiểu tốt hơn có lẽ là phải xuất phát từ sự cấu trúc của bản thân thuật ngữkinh tế tri thức.

- Kinh tế: Theo cách hiểu thông thường là: tổng thể (hoặc một bộ phận)

các yếu tố sản xuất, các điều kiện vật chất và đời sống con người, và cácmối quan hệ vật chất giữa con người với con người trong quá trình sản xuất

và tái sản xuất xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định mà mấu chốt là vấn

đề lợi ích

Kinh tế được hình thành chủ yếu từ các hoạt động sản xuất (bao gồm:các yếu tố của sản xuất và quan hệ sản xuất) và một phần từ các quan hệ đốingoại cũng như các yếu tố văn hóa (Hình 5)

Trang 20

Quá trình phát triển kinh tế tùy thuộc vào mức độ tiến bộ của khoa họccông nghệ cao bởi tỷ trọng chiếm giữ của các yếu tố thành phần tạo nên cơ sởcủa kinh tế Dựa vào mức độ này, theo các phân loại thường xét, quá trình pháttriển kinh tế của nhân loại đến nay đã lần lượt chuyển qua 3 giai đoạn24:

+ Kinh tế sức người (kinh tế lao động), việc phát triển kinh tế chủ yếudựa vào yếu tố thể lực (số 1) là chính (trong ngành nông nghiệp) với một phầnnhỏ của các yếu tố khác, năng suất lao động rất thấp

+ Kinh tế tài nguyên: Việc phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào yếu tố chiếmhữu và sử dụng tài nguyên (số 4 và 5) và một phần của yếu tố năng suất lao động(số 2) đã tăng nhanh Kinh tế tài nguyên thường thấy ở hình thái kinh tế côngnghiệp quen biết

Kinh tế tri thức là kinh tế phát triển dựa trên cơ sở lấy trí lực làm nguồntài nguyên chủ yếu

Bảng 3: Những đặc trưng chủ yếu của 3 giai đoạn kinh tế

sức người

Kinh tế tài nguyên Kinh tế tri thức

1 Tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học Nhỏ lớn rất lớn

2 Tỷ lệ kinh phí dành cho nghiên cứu khoa

học trên GDP dưới 0,3% 1 - 2% trên 3%

3 Tỷ lệ đóng góp của KH&CN cho tăng trưởng

4 Tầm quan trọng của giáo dục nhỏ lớn rất lớn

5 Tỷ lệ kinh phí dành cho giáo dục trên GDP dưới 1% 2 - 3% 6 - 8%

6 Bình quân trình độ văn hóa Tỷ lệ mù

chữ cao Trung học

Trung học chuyên nghiệp

Trang 21

12 Vai trò của truyền thông không lớn lớn rất lớn

13 Trình độ tổ chức xã hội đơn giản phức tạp rất phức tạp

14 Mức độ toàn cầu hóa kinh tế thế giới thấp khá cao rất cao

Nguồn: Ngô Quý Tùng, Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ 21, NXB KHKT Bắc Kinh, 1998 tr.33

Ba giai đoạn phát triển kinh tế nói trên tương ứng với 3 hình thái kinh tếcủa K.Marx25:

Bảng 4: Lược đồ ba hình thái kinh tế của K.Marx

Hình thái thứ nhất Hình thái thứ hai Hình thái thứ ba

Định vị

trong sơ đồ

Kinh tế tự nhiên, tương đương với nền kinh tế nông nghiệp và xã hội nông dân cổ truyền

Hình thái thị trường, tương đương với nền kinh tế thị trường của thời đại công nghiệp cơ

khí và xã hội công nghiệp.

Hình thái cộng sản chủ nghĩa, tương đương với nền kinh tế có trình độ phát triển rất cao (kinh tế tri thức có thể là một cách diễn đạt) và xã hội tự do chân chính.

Phương

thức tồn tại

Tự cấp tự túc, khép kín trong từng cộng

đồng nhỏ tách biệt.

Phân công và trao đổi bị giới hạn bởi các biên giới

địa phương, quốc gia

Phân công và trao đổi phổ biến thông qua mạng liên kết toàn cầu không có biên giới Lợi thế phát

sở hữu ruộng đất

Sự lệ thuộc vào vật thông qua tư bản (lao động vật hóa)

Tự do cá nhân dựa trên sự phát triển toàn diện và không hạn chế của họ.

Từ lược đồ trên, có thể rút ra nhận xét:

Thứ nhất, logic kinh tế được hình thành trên nền tảng logic phát triển lực

lượng sản xuất Nói đúng hơn, đó chính là logic phát triển lực lượng sản xuấttrong sự biểu hiện xã hội của nó

Trang 22

Thứ hai, có sự tương đồng cơ bản của nền kinh tế tri thức với hình thái

kinh tế thứ ba trong sơ đồ của K.Marx Dè dặt nhất cũng có thể nói rằng trongtất cả các nền kinh tế tồn tại hiện thực thì kinh tế tri thức gần hơn cả với hìnhthái kinh tế thứ ba (K.Marx coi đây là hình thái cộng sản chủ nghĩa), mangnhiều đặc trưng cơ bản của hình thái này Ba yếu tố chính của hình thái nêutrong lược đồ đều chứng tỏ điều đó Riêng về cơ sở quyền lực của hình tháithứ ba, trong điều kiện hiện nay, có thể diễn dịch ra thành "tri thức và kỹ nănglao động của con người" mà không gặp một mâu thuẫn logic nào

Thông thường sự phát triển kinh tế là một quá trình chuyển đổi tiên tiến,tức là trong hình thái kinh tế bậc cao không phải không còn chứa đựng cácyếu tố của các hình thái kinh tế bậc thấp trước đó, đây chính là cơ sở của cácchiến lược đuổi, vượt của phát triển kinh tế ở trình độ thấp lên trình độ cao vớithời hạn ngắn nhất Nhiều tác giả đều cho rằng khi kinh tế (một nước, mộtngành) có trên 70% giá trị sản lượng được tạo ra do nguồn lực trí lực (tri thức,công nghệ cao) thì kinh tế đó được gọi là kinh tế tri thức

Như vậy, kinh tế tri thức26 là một khái niệm mới, không chỉ đối với ViệtNam hay với các nước đang phát triển mà đối với toàn thế giới Khái niệm này

là nhân lõi của một hệ phạm trù đang hình thành nhưng phát triển rất nhanhchóng trong đời sống thực tế và cả trong lý luận Về nội hàm, kinh tế tri thứcphản ánh một trình độ rất cao trong các nấc thang phát triển kinh tế của thếgiới Đây là trạng thái mới về chất so với các trạng thái đã từng có trong lịch

sử Trong nhiều công trình nghiên cứu, nó được coi là tương ứng với và là cơ

sở nền tảng của nền văn minh mới của nhân loại

2.3 Một số đặc điểm cơ bản của kinh tế tri thức.

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện đại đang tạo nên

bộ mặt mới của nền kinh tế, tạo tiền đề hình thành nền kinh tế tri thức Từ sựphân tích về những khái niệm, nội dung của KTTT, có thể rút ra 5 đặc điểmnổi bật là:

a Vai trò quan trọng của công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin

Công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin đang cung cấp cho chúng

ta những phương pháp mới để phối hợp các tri thức có liên quan nhằm tạo ratri thức mới và hỗ trợ sự hợp tác trong phân phối kiến thức Khả năng này củacông nghệ thông tin trong sản xuất và phân phối tri thức gần đây đã có nhữngthay đổi rất quan trọng, do đã có sự thay đổi công nghệ rất mạnh mẽ và do sựsẵn sàng thay đổi cũng như khả năng thực hiện của các tổ chức nhằm khaithác cơ hội mới đó Các tiến bộ mới này không chỉ làm tăng khả năng củacông nghệ thông tin về thu nhận, lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin, mà còn

26

Có một sự phân biệt nhất định về sắc thái nghĩa giữa "kinh tế tri thức" và "nền kinh tế tri thức" Về xuất xứ trực tiếp, cả hai từ nói trên đều được dịch từ một thuật ngữ tiếng Anh duy nhất là "knowledge economy".

Trang 23

ảnh hưởng đến phạm vi tác động của công nghệ thông tin như là những công

cụ sáng tạo, bổ sung và phân phối tri thức27

Một thí dụ nổi bật là sự phát triển của công tác xuất bản điện tử Năm

1994, trên thế giới có tất cả 25 tạp chí điện tử tổ chức theo cách xét duyệtngang hàng (peer-reviewed electronic journal) Năm 1997, chỉ riêng ở Anh,các nhà xuất bản đã cho ra đời khoảng 1300 tên tạp chí điện tử, năm1998/1999 có khoảng 3200 tạp chí (kể cả các tạp chí in giấy có thêm bản điệntử)

Trong lĩnh vực giảng dạy, tác động của công nghệ thông tin cho tới naycòn mang tính chất "bên lề", cụ thể là công nghệ thông tin được sử dụng chỉ là

để có thể giảng dạy cho nhiều sinh viên hơn với chi phí ít hơn, hoặc để tự

động hóa các nhiệm vụ như chữa bài kiểm tra Gần đây, nhờ sự phát triển củacác kỹ thuật nối mạng, mô phỏng và hoạt hình, đã xuất hiện một cách giảngdạy mới gọi là "học tập ảo", thí dụ như với một phần mềm thích hợp, ngườisinh viên có thể mổ một con ếch ảo chứ không phải ếch thực Cũng như trongtrường hợp xuất bản điện tử, thách thức hiện nay của học tập ảo là chuyểncách truyền đạt nội dung của các bài giảng sang một cách giảng dạy mới vớinội dung mới Do những thay đổi như vậy đổi với sản xuất, phân phối và sử

dụng kiến thức, công nghệ thông tin không chỉ là điều kiện để kinh tế tri thức phát triển mà bản thân nó đã trở thành một phương thức phát triển của kinh tế tri thức Công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển nhanh

chóng, có giá trị gia tăng nhanh và được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt

truyền thống (tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động rẻ và vốn) - đã từng

đóng vai trò là những lợi thế phát triển quyết định trước đây, trong nền kinh tế

tri thức, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, tri thức, trí tuệ con người và kỹ năng lao động trở thành lợi thế phát triển lớn nhất, quyết định nhất 28 Khoa

học công nghệ được nhất trí thừa nhận là lực lượng sản xuất thứ nhất theonghĩa là yếu tố quan trọng và quyết định tiến trình phát triển kinh tế29

Điểm nhấn này chứa đựng những hàm ý rất có ý nghĩa thực tiễn:

Việc thừa nhận khoa học công nghệ là lực lượng sản xuất thứ nhất càng khẳng định tính đúng đắn của luận

điểm mà K Marx đã nêu cách đây hơn 100 năm khi ông nói rằng đến một trình độ phát triển nào đó thì khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Niềm tin vào sức mạnh vô biên của con người - động vật biết tư duy - ở Marx thậm chí còn được nhân lên với sự xác nhận vị thế quyết định phát triển của trí tuệ con người

Trang 24

Thứ nhất, ngày nay, thay vì các yếu tố vật chất - kỹ thuật truyền thống

(máy móc cơ khí, đường sắt, ruộng đất, hầm mỏ), con người trí tuệ và có kỹnăng cao đang trở thành lực lượng sản xuất quan trọng nhất, quyết định thànhcông của nỗ lực phát triển Tương ứng với sự thay đổi này là sự thay đổi trong

trật tự ưu tiên của các nỗ lực phát triển: để giành thắng lợi trong cuộc đua tranh phát triển toàn cầu, chiến lược khôn ngoan nhất, có triển vọng nhất trong dài hạn chính là giành ưu tiên cao nhất cho nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực theo hướng mà nền kinh tế tri thức quy định Đó là nguồn nhân lực

trí tuệ (nhân lực khoa học công nghệ, trí thức), là lực lượng lao động kỹ năngcao

Thứ hai, vì tri thức và công nghệ cao đóng vai trò là lực lượng sản xuất

quan trọng nhất, do tri thức, kỹ năng, nguồn phát minh và công nghệ hiện đại

đã trở thành lợi thế cạnh tranh quyết định nên một cách hiển nhiên, việc nângcao năng lực sáng tạo và sử dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học côngnghệ trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhất của các nỗ lực phát triển Công thức

"ưu tiên phát triển tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sản xuất" mà V.I

Lê nin đề ra trước đây và được các nước XHCN (cũ) vận dụng trong suốt mấychục năm tồn tại của mình trong thời đại hiện nay đã mang những nội dung rất

mới: sản xuất và sử dụng tri thức khoa học và công nghệ cao là loại hình sản xuất quan trọng nhất, quyết định nhất Diễn đạt một cách khác, điều đó có

nghĩa là để giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh, đua tranh phát triển, trướchết, phải tạo ra lợi thế cạnh tranh quyết định Đó là lợi thế về tri thức và kỹnăng lao động, là lợi thế về nguồn nhân lực chất lượng cao (trí tuệ) Các lĩnhvực đã từng là quan trọng nhất ở các giai đoạn trước (ví dụ như luyện kim, cơkhí, hoá chất, v.v.), đặt trong logic của nền kinh tế tri thức, chỉ còn đóng vaitrò là những nhiệm vụ quan trọng thứ cấp và tương đối ngắn hạn so với nhiệm

vụ phát triển khoa học công nghệ30

Giờ đây, việc thực hiện đa số các nhiệm vụ phát triển, bao gồm cả nhữngnhiệm vụ được coi là quan trọng nhất trong thời đại công nghiệp cơ khí (ví dụnhư luyện kim, chế tạo cơ khí, hoá chất, v.v.), đều phải dựa chủ yếu vào nguồnlực khoa học công nghệ và chịu sự chi phối của định hướng thực hiện nhiệm

vụ phát triển khoa học công nghệ với tư cách là hướng phát triển chủ đạo

30

Điều này không mâu thuẫn với việc xác định một số lĩnh vực thuộc loại này vẫn tiếp tục chiếm vị trí ưu tiên phát triển trong giai đoạn nền kinh tế tri thức đang được xây dựng và chưa định hình Sự ưu tiên này về thực chất vẫn nằm trong nguyên lý của hệ thống kinh tế trước kinh tế tri thức Nhưng nếu theo logic phát triển nền kinh tế tri thức, tư duy như vậy

về lợi thế phát triển buộc phải thay đổi căn bản Xin dẫn ra ý kiến của P Drucker, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế tri thức, về vấn đề này:

“Các nước đang phát triển không còn có thể trông chờ sự phát triển của mình dựa trên lợi thế về lao động, tức lao

động công nghiệp rẻ được nữa Lợi thế so sánh có hiệu qủa bây giờ phải là ứng dụng tri thức” (P Drucker, 1994 tr 62).

Trang 25

Sự biến mất của lợi thế so sánh cổ điển

"Học thuyết cổ điển về lợi thế so sánh được phát triển để giải thích sự phân bổ theo địa lý các ngành trong thế kỷ XIX và XX Theo học thuyết này, sản xuất được phân bổ dựa trên hai nhân tố - các nguồn tài nguyên và tỷ phần các yếu tố sản xuất (sự phong phú tương đối của vốn và lao

Khả năng về vốn cũng bị gạt ra ngoài phương trình cạnh tranh Với sự phát triển của một thị trường vốn toàn cầu, tất cả mọi người đều có thể vay được vốn ở Luân đôn, New York hoặc Tokyo.

Trong thời đại ngày nay, chỉ duy nhất có tri thức và kỹ năng là các nguồn tạo ra lợi thế so sánh Chúng là thành phần chủ yếu quyết định việc phân bổ các hoạt động kinh tế vào cuối thế kỷ XX".

L Thurow "An Era of Man-Made Brainpower Industries" (CIEM, 2000)

c Cấu trúc mạng toàn cầu:

Nền kinh tế thế giới hiện đại đang được cấu trúc thành một mạng lướitoàn cầu "Mạng" là thuộc tính phân biệt chủ yếu hệ thống này với các hệthống trước Về bản chất, hệ thống mạng được cấu trúc "ngang", khác căn bảnvới các nền kinh tế trước đây vận động trong cấu trúc chủ đạo là hình tháp(cấu trúc "dọc") Đây là cơ sở để nói đến tính cách mạng hay bước ngoặt lịch

sử của quá trình chuyển sang kinh tế tri thức đang diễn ra

Mạng lưới toàn cầu của nền kinh tế tri thức được kiến tạo bởi:

- Các "chất liệu" phát triển cơ bản khác trước (những công cụ mới, ví dụmáy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, các loại vật liệu mới, công nghệ

"gen", thương mại điện tử, v.v), những nhân vật mới (tầng lớp các nhà kỹ trị

đóng vai trò quyết định, người lao động trí thức, các "siêu" công ty xuyênquốc gia, v.v ) vận động theo nguyên lý mới;

- Hệ thống phân công quốc tế-toàn cầu thay cho hệ thống phân công lao

động quốc tế, quốc gia Đây là một cấu trúc mới về nguyên tắc Nó vận độngtheo những quy tắc sản xuất thương mại và tài chính mới trong không gian

Trang 26

toàn cầu hoá31 Đặc trưng của không gian toàn cầu hoá là thời gian ngắn lại, không gian thu hẹp và các đường biên giới mất dần;

- Quá trình phi tập trung hoá cấu trúc kinh tế-xã hội Cấu trúc mạng gắnvới quá trình phi tập trung hoá cấu trúc Quá trình đô thị hoá diễn ra theonhững xu hướng và quy tắc mới Các đô thị khổng lồ không còn là sự lựa chọnduy nhất và dường như ngày càng không phải là sự lựa chọn chủ yếu Kháiniệm văn phòng, chỗ làm việc tập trung hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàngnghìn người kiểu công xưởng đã thay đổi mạnh mẽ khi công việc chủ yếu củaxã hội là sản xuất tri thức, được tiến hành trong môi trường tự động hoá caotrên cơ sở mạng thông tin, với các công cụ chính là máy vi tính nối mạng;

- Sự thay đổi cơ cấu quyền lực trong nền kinh tế Hình thái phát triểndựa trên quan hệ lệ thuộc-cai trị của các nền kinh tế trước đây được thay thếbằng quan hệ tham dự-bình đẳng về chức năng trong cơ cấu của các thành tố;

- Sự không thuần nhất cấu trúc của nền kinh tế tri thức trên phạm vitoàn cầu Trong mạng lưới kinh tế toàn cầu, vẫn tồn tại những mảng, vùng cấutrúc (khu vực, quốc gia, ngành) có trình độ phát triển thấp xa các mảng, vùngkhác Do đó, sự bình đẳng về nguyền tắc của các bộ phận cấu trúc mạngkhông có nghĩa là sự bình đẳng trên thực tế giữa chúng tại từng thời điểm xác

định và trong những quan hệ xác định

Những điều phân tích nêu trên có hàm ý:

+ Thứ nhất, khả năng vượt bỏ hay tụt hậu phát triển của mỗi quốc gia(hay của bất cứ yếu tố cấu trúc nào) tuỳ thuộc vào vị trí-vị thế của nó trongmạng kinh tế toàn cầu, tức là tuỳ thuộc vào khả năng xác lập quan hệ với cácnhân vật mới, công cụ mới để có được các điều kiện phát triển (các lợi thếphát triển do thời đại tạo ra)

+ Thứ hai, nhận xét trên có nghĩa rằng muốn phát triển thì phải gia nhậpmạng toàn cầu, phải trở thành thành viên (yếu tố cấu trúc) của mạng

+ Thứ ba, gia nhập mạng hàm chứa khả năng phải chịu "rủi ro" toàncầu Sự rủi ro này có nguồn gốc từ tính không thuần nhất của cấu trúc mạng(vị thế không tương đương của các yếu tố) - nguyên nhân gây ra sự bất bình

đẳng thực tế giữa các yếu tố khi tham gia mạng Trình độ phát triển càng cách

xa trình độ chung của mạng thì độ rủi ro càng lớn Song kinh nghiệm thực tếcho thấy rằng trong khi những rủi ro do tham gia mạng gây ra là mang tínhtiềm thế thì rủi ro do không tham gia mạng là chắc chắn và lớn hơn bất kỳ rủi

ro nào do tham gia mạng

Điểm nhấn vào đặc điểm cấu trúc mạng toàn cầu của nền kinh tế tri

thức là việc i) xác lập vị thế trong mạng và ii) nâng cao năng lực "nhập" mạng

31

các thể chế và "luật chơi" toàn cầu mới như WTO thay GATT, WB và IMF,… hoạt động với các chức năng

và sứ mệnh đòi hỏi các thành viên của mình phải có sự thay đổi phù hợp, thực hiện tự do hoá thông tin và tri thức v.v….

Trang 27

phải được coi là những điểm trọng yếu nhất của nỗ lực phát triển trong cấutrúc kinh tế tri thức - mạng toàn cầu.

d Tốc độ biến đổi cực kỳ cao

Kinh tế tri thức có đặc điểm quan trọng là tốc độ biến đổi cực kỳ cao Córất nhiều bằng chứng chứng minh điều đó

- Tốc độ sản sinh tri thức tăng theo cấp số nhân Theo một số tính toánhiện nay, lượng tri thức của loài người được nhân đôi sau mỗi 15 năm và vớicấp độ chất lượng khác hẳn32 Cách đây 100 năm, để làm việc đó, loài ngườicần gấp hơn 3 lần thời gian đó Càng lùi vào quá khứ thì quãng thời gian nhân

đôi tri thức càng lớn, đo bằng thề kỷ và thiên niên kỷ

- Tốc độ thay đổi giá cả cũng diễn ra rất nhanh, được thể hiện bằng ví

hành khách)

Cuộc điện thoại (3 phút từ New York tới Luân đôn)

Máy tính (chỉ số 1990=100)

Giảm hơn 1/2 Giảm 6 lần Giảm 82 lần Giảm 125 lần

Nguồn: UNDP, Báo cáo phát triển con người 1999

- Tốc độ ứng dụng của phát minh khoa học vào thực tiễn:

Trang 28

Hình 6: Số năm cần để công nghệ đạt được 50 triệu người sử dụng

Nguồn: Keith Benzanson, Dự thảo báo cáo về chiến lược khoa học côngnghệ và công nghiệp cho Việt Nam VIE/99/002

Thuộc tính tốc độ biến đổi cao hàm ý:

+ Thứ nhất, sự phát triển diễn ra với độ bất định cao và việc dự đoánkhả năng ra các biến cố trong xu hướng chúng trở nên cực kỳ khó khăn

+ Thứ hai, khả năng bắt kịp các nước đi trước cũng lớn như khả năng bịtụt hậu xa hơn Mức độ hiện thực hoá mỗi một khả năng tuỳ thuộc vào nhiềuyếu tố chủ quan, trong đó, trước hết phải kể đến tính hợp lý của mô hình vàchiến lược "đi tắt" được lựa chọn cũng như quyết tâm theo đuổi nó

+ Thứ ba, mô hình "đi tắt" để chuyển sang kinh tế tri thức là rất cao

Điều này thể hiện trong bản thân logic của quá trình hiện thực hoá tri thứcgồm 5 công đoạn nêu trên và khả năng "nhảy vọt cơ cấu" theo nguyên lý chu

kỳ sản phẩm của kinh tế học

Đặc điểm quan trọng của thuộc tính biến đổi cao của kinh tế tri thứcchính là ở chỗ tốc độ cao đã làm thay đổi tính chất của sự vật, của các quátrình phát triển (A Toffler 1971) Những biểu hiện của sự thay đổi này làtrong đời sống hiện đại, thời gian ngắn lại, không gian hẹp lại và các đườngbiên giới hạ thấp dần Hệ quả là các quá trình kinh tế và đời sống diễn ra với

độ bất định tăng lên và trở nên khó dự đoán hơn

Để tồn tại trong một thế giới như vậy, rõ ràng cần có bản lĩnh và năng lựcphản ứng nhanh nhạy Phẩm chất này, đến lượt nó, tuỳ thuộc quyết định vàokhả năng nắm bắt và xử lý dòng thông tin có dung lượng ngày càng lớn, tốc

độ chuyển tải cao và với cấu trúc ngày càng phức tạp Đây quả là một tháchthức lớn đối với những chủ thể phát triển yếu kém, lạc hậu và thiếu quyết tâm

"nhập" mạng hiện đại33

e Học hỏi của tổ chức - phương thức phát triển cơ bản của kinh tế tri thức.

Trong kinh tế tri thức, mỗi người có được bao nhiêu tri thức là do việchọc tập tri thức và năng lực chuyển hoá tri thức của cá nhân Để không ngừng

74

38

4

Trang 29

trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, mọi người đều phải học tập, họcthường xuyên, học ở trường và học trên mạng, cả xã hội học tập.

Với sự bùng nổ thông tin và liên tục đổi mới công nghệ, đổi mới tri thức,mô hình giáo dục truyền thống (đào tạo xong rồi ra làm việc) không còn phùhợp nữa, mà phải đào tạo cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạovừa làm việc Con người phải học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc Hệ thốnggiáo dục phải bảo đảm cho mọi người bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng có thểhọc tập được Mạng thông tin có ý nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt

đời34 Để tồn tại và phát triển trong một môi trường đang thay đổi, các tổ chức

(doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ quan nàh nước) phải trở thành một tổ chức học hỏi (learning organisation) hay nói cách khác, thực hiện việc học hỏi của

tổ chức (organisational learning) 35 Việc biến đổi các tổ chức dưới dạng đang

tồn tại (thông thường) thành những tổ chức học hỏi có một vai trò đặc biệt

quan trọng và là phương thức phát triển cơ bản của kinh tế tri thức

Vấn đề "học hỏi của tổ chức" và tầm quan trọng của nó đã được nêu lên

từ những năm 1940, nhưng chỉ đến những năm 1980 thì sức mạnh tiềm tàngcủa việc này mới bắt đầu được một vài công ty (thí dụ như Shell) nhận ra vàthử nghiệm để nâng cao kết quả thực hiện các nhiệm vụ, khả năng cạnh tranh

và sự thành công của tổ chức Vào đầu những năm 1990, số lượng các tổ chức

có quyết tâm trở thành các tổ chức học hỏi đã tăng lên, thí dụ như General

Electric ở Mỹ, ABB ở châu Âu, Honda ở châu á Cuốn sách "The fifth discipline" (Môn học thứ năm) của Peter Senge năm 1990 được xem là kinh

điển và một loạt bài báo quan trọng trên các tạp chí như "Harvard BusinessReview", "The Economist", "Business Week", "Fortune", "Asiaweek" đã cótác động mạnh mẽ đến nhiều công ty khác và người ta bắt đầu xem xét quátrình tự biến đổi bản thân để trở thành các tổ chức học hỏi36

Có thể kể ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “tổ chức học hỏi”

Thí dụ như M Marquardt (1996), đó là tổ chức "học hỏi một cách mạnh mẽ và tập thể, và liên tục biến đổi bản thân để có thể làm tốt hơn việc thu thập, quản

lý và sử dụng kiến thức vì sự thành công của tập thể Nó làm cho những người trong và ngoài công ty có khả năng học hỏi khi họ lao động Công nghệ được

sử dụng để tối ưu hóa cả học hỏi cũng như năng suất".

Một tác giả khác, Djamilo El Idriss, trong một bài gần đây bàn về vai trò

và các hình thức của tổ chức (2001) [13], khi nói đến các xí nghiệp học hỏi,

34

Xem GS.VS Đặng Hữu (chủ biên), Phát triển kinh tế tri thức - Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá, tr 150 NXB CTQG, Hà Nội, 2001.

35

Trong cuốn Cưỡi cọp: Làm ăn trong một thế giới đang biến đổi, 1991 (Riding the Tiger: Doing Business in

a Transforming Word, Abbott, Potomac, 1991), Harrison Owen đã viết: “Có một thời mà công việc hàng đầu trong kinh doanh là làm ra lợi nhuận và sản phẩm Hiện nay, công việc ưu tiên hàng đầu của kinh doanh là trở thành một tổ chức học hỏi Nói như vậy không có nghĩa là lợi nhuận và sản phẩm không còn quan trọng nữa, nhưng nếu như không có học hỏi liên tục, thì chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng thể có lợi nhuận và sản phẩm Do

đó, đã có tư duy mới: công việc làm ăn trong kinh doanh chính là sự học hỏi - và mọi thứ sẽ từ đó mà ra”.

Trang 30

cũng viết tương tự: "tổ chức học hỏi không chỉ nâng cao kiến thức và năng lực của các thành viên, mà còn xây dựng mình thành một hệ thống học hỏi tập thể, thường xuyên học tập và tự biến đổi nhằm đạt tới các mục tiêu của tổ chức".

Như vậy, khi nói đến "tổ chức học hỏi", trước hết phải là sự học hỏi tập thể, của toàn tổ chức, chứ không phải của từng cá nhân trong tập thể đó, mặc dầu sẽ không có học hỏi tập thể nếu như không có học hỏi cá nhân; thứ hai,

sự học hỏi đó phải là nhằm liên tục biến đổi bản thân để có thể đạt tới các mục tiêu của tổ chức Sự biến đổi cần thiết này là để thích nghi với những thay đổi trong môi trường xung quanh của tổ chức.

Vấn đề quan trọng là làm thế nào để biến đổi một tổ chức "thông thường"

thành một tổ chức học hỏi 37

Bản thân mỗi tổ chức không thể đáp ứng được tất cả các nhu cầu về trithức cần thiết cho đổi mới Do vậy, vấn đề quan trọng là sự chia sẻ tri thứcgiữa các tổ chức, đặc biệt là tri thức ngầm - công cụ để lựa chọn và khai tháctri thức điển chế hóa (tri thức ngầm đã chuyển thành tri thức hiện) Để thựchiện sự chia sẻ này, các tổ chức cần tập họp lại thành những mạng lưới với sựhọc hỏi được tiến hành trong toàn mạng Những mạng lưới như vậy được gọi

là mạng lưới tri thức và sự học hỏi được gọi là sự học hỏi tương tác Nền

kinh tế khi đó trở thành một tập hợp các mạng lưới trong đó việc thu nhận tri

37

Peter Senge, trong cuốn "The fifth discipline" đã nhắc đến ở trên, đã chỉ ra năm môn học hay năm kỹ năng

học hỏi có thể giúp một công ty chuyển thành một tổ chức học hỏi: làm chủ cá nhân, học hỏi nhóm, các mô

hình tinh thần, cái nhìn (quan điểm) chung và tư duy hệ thống; trong đó, tư duy hệ thống (môn học thứ năm)

là môn nối kết các môn khác với nhau, là cái khung chung cho cả bốn môn ấy.

Làm chủ cá nhân, là kỹ năng trau dồi khả năng của cá nhân về cái nhìn, nghị lực và sự kiên trì Làm

chủ cá nhân là hòn đá tảng của tổ chức học hỏi vì sự quyết tâm học hỏi và khả năng học hỏi của tổ chức không thể lớn hơn sự quyết tâm và khả năng của mỗi cá nhân thành viên.

Mô hình tinh thần, là một kỹ năng cơ bản hơn làm chủ cá nhân Nó là hình ảnh của một biến cố, hoàn

cảnh, hoạt động hay khái niệm trong bản thân con người Nó là một giả thiết đã ăn sâu bén rễ trong trí não từ lâu và ảnh hưởng đến cái cách người ta hiểu biết về thế giới và phản ứng với thế giới Việc xây dựng kỹ năng mô hình tinh thần cho cá nhân và tổ chức được bắt đầu bằng việc học cách phát hiện ra các hình ảnh bên trong của thế giới, làm cho chúng nổi rõ lên rồi giữ chúng lại để xem xét; nói một cách hình ảnh, đó là cách

"quay tấm gương phản chiếu thế giới vào phía trong bản thân" Việc này bao gồm khả năng tiến hành các cuộc đàm thoại có ý nghĩa học hỏi giữ được sự cân bằng giữa tìm hiểu và biện hộ trong đó người ta nói lên sự suy nghĩ của mình và để cho nó chịu sự ảnh hưởng của những người khác.

Cái nhìn chung, là kỹ năng làm cho mọi người gắn bó với nhau, có nghị lực và cam kết xung quanh

một bản sắc chung và hiểu biết về số phận Nó làm cho con người có quyết tâm phấn đấu vươn lên trong học hỏi không phải vì bị buộc phải làm như thế mà là vì họ thành thực muốn làm như thế.

Tư duy hệ thống, là sự xem xét cái toàn bộ, là một cái khung để xem xét các mối quan hệ qua lại chứ

không chỉ các chuỗi nhân - quả tuyến tính (như là nằm trên một đường thẳng và nối tiếp nhau), các cấu trúc cơ sở chứ không chỉ là các biến cố, các mẫu hình thay đổi chứ không chỉ một ảnh chụp tức thời Một tổ chức tư duy hệ thống là tổ chức mài dũa kỹ năng của mình trong sự phát triển của hệ thống, xem tổ chức như một mạng lưới khổng lồ với các nút nối với nhau, các thay đổi (có kế hoạch hay không có kế hoạch) trong một bộ phận của tổ chức có thể ảnh hưởng đến các bộ phận khác với các hậu quả bất ngờ, thường là tiêu cực.

Trang 31

thức diễn ra với nhịp độ mỗi ngày một nhanh hơn Cuối cùng, chúng ta sẽ đi

đến một xã hội mạng lưới trong đó khả năng tiếp cận và tham gia vào các

quan hệ có cường độ cao về tri thức và học hỏi là yếu tố quyết định địa vị kinh

tế - xã hội của các cá nhân cũng như của các tổ chức38

Những đặc điểm nêu trên là những thuộc tính chủ yếu của kinh tế trithức Chúng cũng là nguồn gốc của mọi cơ may và rủi ro phát triển, nhất là

đối với các nền kinh tế lạc hậu

38

Để làm thí dụ, ta điểm qua một vài nét về học hỏi của tổ chức ở bốn con rồng châu á, cụ thể là ở các

hãng điện tử của Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông trong ba thập kỷ vừa qua.

Theo M Hobday (Innovation in East Asia The Challenge to Japan, 1995), các hãng ở các "nước đến

sau" này đã áp dụng một loạt chiến lược học hỏi nhằm vượt qua hai bất lợi lớn là nằm xa các nguồn công nghệ chính trên thế giới và tách biệt với các thị trường cao cấp Nhờ học hỏi, các hãng này đã tiến lên trên cả

ba mặt trận: marketing, công nghệ quá trình và công nghệ sản phẩm, từ lắp ráp đơn giản, thích nghi quá trình, v.v cho đến tiến hành R&D.

Trong lĩnh vực công nghệ quá trình, sự tiến triển đã diễn ra như sau:

Lắp ráp đơn giản → Thích nghi quá trình → Cải tiến nhỏ dần dần → Phát triển quá trình → Nghiên cứu ứng dụng → R&D (về công nghệ quá trình).

Trong những năm 1980, các hãng đã cố gắng đáp ứng các đòi hỏi phức tạp hơn của xuất khẩu qua học hỏi kỹ năng thiết kế Việc học hỏi phần lớn vẫn còn là bắt chước và thích nghi, trừ một vài ngoại lệ như ACER đã đi vào giai đoạn làm nhiều về thiết kế kỹ thuật và bắt đầu phát triển những năng lực cao cấp Những hãng đầu tiên như Anam ở Hàn Quốc đã mất chừng hai thập kỷ để từ học hỏi đơn giản tiến lên học hỏi cao cấp Một số hãng như MTI ở Đài Loan đã bắt đầu sự học hỏi của họ từ những giai đoạn cao cấp hơn, bỏ qua các giai đoạn đầu Việc học hỏi bắt chước đã được thực hiện khi các công ty đa quốc gia nước ngoài đã chứng minh được các ưu thế của việc sản xuất ở địa phương Các hãng địa phương đã học hỏi qua thực hiện các hợp

đồng sản xuất rồi dần dần tiến lên trình độ tự thiết kế.

Trong nửa sau những năm 1980, các hãng "đến sau" đã chuyển từ điện tử sinh hoạt và các công việc lắp ráp đơn giản sang các hệ thống công nghiệp phức tạp như máy tính, bán dẫn, điều khiển ổ đĩa và thiết bị ngoại vi Vào đầu những năm 1990, nhiều hãng đã thiết kế các sản phẩm riêng của mình, cải tiến khâu giữa thiết kế và sản phẩm và dựa nhiều hơn vào R&D trong nước ở một số hãng cao cấp, đã có sự gia tăng về học hỏi thứ phát - tiên liệu - vòng kép cũng như về học hỏi hành động.

Nhìn chung, các hãng điện tử của bốn con rồng châu á đã phát triển được những năng lực sản xuất, đầu tư và thiết kế kỹ thuật thích nghi rất vững chắc nhờ hội nhập được vào mạng lưới sản xuất quốc tế phức tạp của các hãng điện tử ở Mỹ, Nhật và một số nước châu Âu Bằng cách xây dựng năng lực công nghệ thông qua các hợp đồng sản xuất, các hãng "đến sau" đã tránh được những chi phí khổng lồ cho R&D và những rủi ro trong R&D và đã thiết lập được những mạng lưới phân phối và marketing quốc tế và như vậy đã đẩy nhanh rất nhiều việc phát triển năng lực và mở rộng thị phần quốc tế của mình.

Tuy nhiên, trong chiến lược này, trong khi tạo điều kiện thuận lợi cho "đuổi kịp", lại thiếu chiều sâu công nghiệp và công nghệ, thí dụ như chưa có sự tương tác mạnh mẽ giữa hệ thống đổi mới quốc gia và sản xuất công nghiệp Trên quan điểm học hỏi thì việc học hỏi công nghệ của các hãng "đến sau" phần nhiều vẫn thuộc loại sao chép, ít có tính đổi mới Để có thể tiếp tục phát triển, rõ ràng là các hãng này cần phải phát triển hơn nữa việc học hỏi của mình, chuyển từ trình độ đơn giản sang trình độ cao cấp Để thực hiện được đòi hỏi này, vai trò của chính phủ trong giáo dục và mọi khía cạnh có liên quan về quản lý nguồn lực con người là cực kỳ quan trọng ở mức rất cơ sở, đó là việc cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục sao cho có thể sản sinh ra

một thế hệ mới những "con người học hỏi" có tính sáng tạo Chính phủ cần phải là một "người khuyến khích học hỏi" bảo đảm một môi trường học hỏi có ích toàn quốc gia sao cho việc học hỏi được tiến hành một cách

mạnh mẽ và có hiệu quả Bản thân chính phủ cũng phải trở thành một tổ chức học hỏi, cùng học hỏi với các hãng tư nhân qua các viện nghiên cứu và trường đại học của mình và qua việc phát triển một hệ thống mạng

Trang 32

Mối quan hệ này biểu hiện ra thành hai loại thách thức Thứ nhất làthách thức gia nhập và sinh tồn trong mạng (hay hội nhập và cạnh tranh trongnền kinh tế toàn cầu) Thứ hai là thách thức đua tranh tốc độ để thoát khỏinguy cơ tụt hậu phát triển Vấn đề thời cơ phát triển được hiểu là tổ hợp củahai thách thức đó.

2.4 Các cách thức đo lường kinh tế tri thức

Đo lường trình độ phát triển kinh tế tri thức của một quốc gia là mộttrong những khó khăn lớn nhất của kinh tế học tri thức Những chỉ số kinh tếtruyền thống không nắm bắt và phản ánh đầy đủ tầm quan trọng ngày càngtăng của tri thức trong những hoạt động kinh tế ở nhiều nước Trong nhữngnăm gần đây, đã có nhiều nỗ lực để phát triển và hoàn thiện khả năng đolường và thống kê kinh tế tri thức Tuy vậy, cho đến nay kết quả vẫn cònkhiêm tốn

Để đo lường trình độ kinh tế tri thức, người ta thường sử dụng một hệthống bao gồm rất nhiều chỉ tiêu phân tích Hiện nay, có sự khác nhau trong

các nghiên cứu về kinh tế tri thức là ở sự lựa chọn các chỉ tiêu đặc trưng cho kinh tế tri thức hay các thành phần cơ bản của kinh tế tri thức.

Dưới đây xin trình bày khái quát một số cách thức đo lường trình độphát triển của kinh tế tri thức

1 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của Ngân hàng thế giới: Chương

trình “tri thức vì phát triển” của ngân hàng thế giới (WB) sử dụng phươngpháp Ma trận đánh giá tri thức KAM (Knowledge Assessment Matrix) baogồm một bộ 59 chỉ tiêu đánh giá cơ cấu và tính chất kinh tế - xã hội của mộtquốc gia về trình độ kinh tế tri thức Tất cả các chỉ tiêu được quy về thang

điểm 10 Mục tiêu của KAM là xác định các vấn đề và cơ hội mà một nướcphải đối mặt trong bối cảnh kinh tế tri thức, cũng như những trọng tâm chínhsách và đầu tư trong tương lai Hiện nay, WB đã tính KAM cho 75 nước, liêntục cập nhật những số liệu mới nhất và công bố trên Internet

Theo Ngân hàng thế giới, bộ 59 chỉ tiêu này nhằm đo lường bốn mảngthiết yếu trong sự phát triển kinh tế dựa trên tri thức, đó là:

• Một môi trường kinh tế và thể chế cung cấp nhiều sự khuyến khích đốivới việc sử dụng có hiệu qủa những tri thức hiện có và tri thức mới, vàthúc đẩy sự nẩy nở tinh thần kinh doanh

• Một lực lượng lao động có giáo dục và có kỹ năng để sản xuất, chia sẻ

Trang 33

tri thức toàn cầu, cập nhật và đồng hoá chúng nhằm phục vụ chonhững nhu cầu địa phương.

Thêm vào đó, KAM còn bao gồm một số chỉ số theo dõi thành tíchchung của nền kinh tế Những chỉ số này cho thấy một nền kinh tế đã thực sự

sử dụng tốt tri thức như thế nào vì sự phát triển kinh tế và xã hội chung

Hệ thống các chỉ tiêu của KAM bao gồm 7 chỉ tiêu đo lường thành tựukinh tế, 8 chỉ tiêu đo lường chế độ kinh tế, 7 chỉ tiêu đo lường chế độ thể chế,

14 chỉ tiêu đo lường nguồn lực con người, 12 chỉ tiêu đo lường hệ thống đổi

mới và 11 chỉ tiêu đo lường kết cấu hạ tầng thông tin (Về những chỉ tiêu cụ thể của KAM, xem phụ lục 4).

2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của APEC: APEC đã xây dựng

một hệ thống gồm 25 chỉ tiêu chính để đo lường và so sánh các nước khácnhau về phương diện trình độ phát triển kinh tế tri thức Các nhóm chỉ tiêu nay

được chia thành bốn nhóm :

- Môi trường kinh doanh (8 chỉ tiêu)

- Kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin liên lạc (5 chỉ tiêu)

- Phát triển nguồn nhân lực (6 chỉ tiêu)

- Hệ thống đổi mới (6 chỉ tiêu)

(Về các chỉ tiêu cụ thể, xem phụ lục 5) 39

3 Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của các nước OECD: Trong một

báo cáo của OECD năm 199940, để đo lường sự phát triển kinh tế tri thức ở cácnước OECD mở rộng, các tác giả đã sử dụng một loạt các chỉ tiêu đặc trưng,

có thể xếp vào bốn nhóm: những chỉ tiêu đo lường các đầu vào và đầu ra trithức; những chỉ tiêu đo lường sự truyền bá tri thức; những chỉ tiêu đo lường trithức và những chỉ tiêu về vốn con người

Theo báo cáo, ở các nước OECD, các ngành dựa trên tri thức (thí dụ như

các ngành chế tạo dùng công nghệ cao và các dịch vụ nhiều tri thức như tàichính, bảo hiểm, truyền thông, v.v ), phần của các ngành này hiện chiếmkhoảng 50% GDP và tăng nhanh hơn GDP Đầu tư cho sản xuất tri thức(R&D, phần mềm, chi tiêu công cộng cho giáo dục), hiện chiếm 8% GDP

Đầu tư trong nước cho R&D, tổng cộng toàn OECD năm 1997 là gần 500

tỉ đôla, chiếm khoảng 2,2% GDP Cứ 100 dân có 4 máy tính

Trung bình toàn OECD, trong độ tuổi 25-64, 60% dân số đã học hết trunghọc, 13% có trình độ đại học

39

Xem TS Đinh Văn Ân, Các quan niệm và cách tiếp cận về kinh tế tri thức, tham luận tại Hội thảo T h c trạ g và n ữ g giải p á ch y u p át riển kin ế ri h c ở Hà Nộitại Viện n hiên cứ phát riển kin ế - xã h i Hà Nội n ày 2 /7/2 0

Trang 34

4 Theo các tác giả trong chuyên đề "Nền kinh tế phi vật chất" của tạp chí "Le Courrier de l' UNESCO" tháng 12/1998 41 , có thể đánh giá trình độ phát triển của kinh tế tri thức thông qua 4 thành phần chính của kinh tế tri thức như sau:

- Công nghệ thông tin42, kể cả Internet;

- Sở hữu trí tuệ theo nghĩa rộng, bao gồm bằng sáng chế, quyền tác giả,tên gọi đã đăng ký, nhãn hiệu, quảng cáo, dịch vụ tài chính, cố vấn xí nghiệp,thị trường tài chính, y tế và giáo dục

- Các thư viện và ngân hàng dữ liệu điện tử, các sản phẩm nghe-nhìn

- Công nghệ sinh học, các thư viện và ngân hàng dữ liệu truyền thống,công nghiệp dược phẩm

5 Theo một công trình của các nhà nghiên cứu Mỹ và Bồ Đào Nha vừa công

bố 43 , có thể đánh giá sự phát triển của kinh tế tri thức thông qua việc xem xét các đặc trưng sau:

- Sự gia tăng của khu vực dịch vụ nhiều tri thức hay, nói cách khác, sự dịch chuyển của lực lượng lao động sang khu vực dịch vụ nhiều tri thức (kế

toán, kiến trúc, ngân hàng và tài chính, máy tính, bảo hiểm, cung cấp nhânviên kỹ thuật, tư vấn quản lý, pháp luật, thông tấn và báo chí, thiết kế kỹ thuật,v.v ) Các hãng dịch vụ nhiều tri thức thường cần sử dụng công nghệ mới, từ

đó đã có sự tương tác thúc đẩy lẫn nhau giữa các hãng này và công nghệ mới.Ngoài ra, sản phẩm của các hãng này thường chứa tri thức ngầm ở mức độ caohơn nhiều so với sản phẩm của các hãng chế tạo Chính sự khác biệt này đãxác định vai trò quan trọng của khu vực dịch vụ (nhiều tri thức) trong kinh tếtri thức Thí dụ như đối với Mỹ năm 1993, sự gia tăng của khu vực dịch vụtrong 30 năm trước đó chủ yếu là do sự gia tăng của các phân khu tư vấn, giáodục và y tế - những khu vực kinh tế dựa nhiều vào tri thức So sánh các nướcphát triển với các nước đang phát triển, cho thấy lực lượng lao động trong khuvực dịch vụ của nhóm các nước đầu cao hơn nhiều so với nhóm các nước sau:64% so với 42% (các nước thu nhập trung bình) và 23% (các nước thu nhậpthấp), năm 199544

- Sự gia tăng kho tài sản vô hình (tri thức, bằng sáng chế, bí mật thương

mại, quyền tác giả, nhãn hàng hóa, tên thương mại, v.v ; xem Phụ lục 2) Vấn

đề đặc biệt quan trọng hiện đang được nghiên cứu là xây dựng những khunghạch toán mới thay thế các khung hạch toán hiện nay trong đó còn thiếu cáctài sản vô hình Theo một tính toán (gián tiếp) của J.W Kendrick năm 1994thì tỉ số các tài sản vô hình (giáo dục, đào tạo, R&D) trên tổng giá trị tài sản

Trang 35

của nước Mỹ (phần hữu hình gồm tài nguyên thiên nhiên, hàng tồn kho, kếtcấu hạ tầng vật chất và thiết bị) đã tăng từ 0,29 năm 1929 lên 0,42 năm 1973

và 0,45 năm 1990

- Sự gia tăng của tổng năng suất các nhân tố (TFP)45 là phần dôi thêm (sốdư) ngoài phần do vốn và lao động trong tốc độ tăng GDP hàng năm của quốcgia Sự gia tăng của phần dôi thêm phản ánh sự tích lũy tri thức và đổi mới,các yếu tố này giúp kết hợp các nhân tố sản xuất (vốn, lao động, nguyên liệu,năng lượng) theo một cách có hiệu quả hơn; nói cách khác, đó là sự tiến bộ vềsản xuất, phân phối và sử dụng tri thức Các tính toán cụ thể đã cho thấy đónggóp của TFP vào tăng trưởng kinh tế ở các nước OECD từ 0,41 trong nhữngnăm 1970 đã tăng lên 0,55 trong những năm 1980 (tính trung bình đối với 9nước: Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Anh Canađa, úc, Hà Lan, Đan Mạch) - một bằngchứng quan trọng về sự đang nổi lên của nền kinh tế tri thức ở các nước này

- Sự gia tăng khả năng có việc làm và tiền công cao của lao động có trình

độ chuyên môn cao hơn, nói cách khác, sự gia tăng thất nghiệp đối với lao

động trình độ thấp Thí dụ dụ như đối với đa số nước OECD năm 1995, tỉ lệ

thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học chỉ bằng một nửa so với tỉ lệthất nghiệp chung của cả nước

6 Hiện nay, bảng chỉ số Gifford 1999 (chỉ số xã hội thông tin) cũng được nhiều nước đang sử dụng 46 Ví dụ, năm 2000 các chuyên gia New

Trang 36

Tóm lại, tuy các cách thức đo lường kinh tế tri thức không hoàn toàn

đồng nhất, song hầu hết đều dựa trên cách tiếp cận bao trùm về kinh tế trithức Các cách thức này đều tập trung vào việc phản ánh môi trường học hỏi,

đổi mới và sáng tạo của một nền kinh tế, chứ không chỉ nhằm đo lường trình

độ phát triển của riêng một khu vực kinh tế công nghệ cao nào đó Các chỉtiêu đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của con người, hệ thống thông tin, sựsáng tạo và đổi mới trong việc xây dựng một nền kinh tế tri thức

Cho đến nay, Việt nam vẫn chưa được xếp vào danh mục để đo lường kinh

tế tri thức, vì vậy chưa thể có được thông tin đáng tin cậy để so sánh mức độ

phát triển kinh tế tri thức của nước ta so với các nước Tuy nhiên, dựa vàonhững các cách thức đo lường sự phát triển kinh tế tri thức được trình bày ởtrên, các nhà nghiên cứu về kinh tế tri thức của Việt Nam có thể có những

đánh giá bước đầu về trình độ phát triển kinh tế tri thức, trên cơ sở đó đưa racác giải pháp, kiến nghị cụ thể để nâng cao trình độ phát triển kinh tế tri thứccủa đất nước

Trang 37

Năm 1996, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lần đầu tiên

đưa ra định nghĩa về “Kinh tế tri thức”47 Kể từ đó đến nay, khi nói đến thuậtngữ “Kinh tế tri thức”, hầu hết giới học thuật đều nhấn mạnh đến việc tạodựng môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho việc hình thành, phổ biến và sửdụng tri thức Trong môi trường đó, tri thức đã trở thành yếu tố sản xuất quantrọng nhất và là nguồn lực hàng đầu tạo nên sự tăng trưởng kinh tế

Còn trên thực tế, diện mạo của kinh tế tri thức đã sớm được định hìnhthành từ trong lòng của các nền kinh tế công nghiệp phát triển như Mỹ, EU,Nhật Bản Những tiến bộ vượt bậc của công nghệ, nhất là công nghệ thông tin

đã kết nối nền kinh tế theo mô hình mạng, trí lực và thông tin quyết định hiệuquả sản xuất kinh doanh Bốn trụ cột lớn của nền kinh tế tri thức là: công nghệsinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng và công nghệ thông tin,

đã tạo nên những bước đột phá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội loài người.Những trụ cột này, được khởi xướng trước hết ở các nước công nghiệp pháttriển, mà Mỹ là nước đi tiên phong

1.1 Mỹ - nước đi đầu trong phát triển kinh tế tri thức

Tháng 2/1997, trong thông điệp về tình hình đất nước, tổng thống B.Clinton đã sử dụng khái niệm của OECD về nền kinh tế tri thức để mô tả xuhướng phát triển mới của nền kinh tế Mỹ Trong cuộc Hội thảo về công nghệ

và kinh tế tổ chức tại thành phố Seatle vào tháng 5/1997, Phó tổng thống Mỹ

A Go đã sử dụng khái niệm “Nền kinh tế mới” của nhà tương lai học A.Tofler để nói về nền kinh tế Mỹ hiện nay khi mà việc sản xuất hàng hoá vàdịch vụ dựa chủ yếu vào khoa học và công nghệ cao Tuy nhiên, theo nhận

định của giới nghiên cứu Mỹ, “Nền kinh tế tri thức” hay “Nền kinh tế mới” đãsớm xuất hiện tại đất nước này vào những năm 80 của thế kỷ XX do Mỹ lànước đi đầu trong công cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, đặc biệt đãthu được nhiều thành tựu trong lĩnh vực công nghệ thông tin (IT)

Tháng 1/1991, Mỹ đã cho phép công chúng truy cập mạng internetmột cách rộng rãi, đồng thời nhanh chóng thúc đẩy cuộc cách mạng tin học,triển khai hệ thống thương mại điện tử và điều chỉnh cơ cấu ngành nghề Kể từ

47

Theo OECD: “Kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dựng tri

thức”, hay “Kinh tế tri thức là kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế xã hội của loài người”.

Trang 38

-đó, nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng liên tục trong 117 tháng - chu kỳ tăngtrưởng dài nhất trong lịch sử phát triển kinh tế Mỹ trong 147 năm qua Trongnhững năm đó, năng suất lao động của Mỹ đã tăng gấp đôi so với thập kỷ 80.

Và trong suốt 10 năm (1991 2001) GDP của Mỹ liên tục tăng ở mức 4% mức tăng trưởng vượt xa so với các đối thủ cạnh tranh chính là EU và NhậtBản

-Theo thống kê năm 1997, chi phí cho các sản phẩm truyền thống như ôtô,thực phẩm, đồ điện gia dụng, ở Mỹ chỉ tăng bình quân là 0,9%/năm kém xa

so với mức chi 12,5%/năm cho các sản phẩm đại diện của nền kinh tế mới như

điện thoại di động, máy tính, các dịch vụ tài chính - ngân hàng và thương mại

điện tử, Theo đánh giá của Bộ Thương mại Mỹ, ngày 5/6/2000 (đăng trênbản tin Kinh tế công nghệ số năm 2000), công nghệ tin học và mạng internet

đã nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động, kiềm chế lạmphát, trở thành động lực thúc đẩy kinh tế Mỹ phát triển Vì tuy chỉ chiếm 8%GDP, nhưng các ngành công nghệ cao đã đóng góp hơn 1/3 mức tăng trưởngkinh tế hàng năm của Mỹ, và nếu tính cả những ngành có liên quan gián tiếp

đến IT, thì đóng góp này có thể lên đến 80% GDP Các chuyên gia kinh tế của

tờ Business Week nhận định: kinh tế Mỹ sở dĩ đạt được những thành tựu kinh

tế trên là nhờ tăng nhanh các khoản vốn đầu tư mạo hiểm, nhất là vào IT Tấtnhiên, cũng cần phải ghi nhận những cố gắng của chính phủ Mỹ trong việcluôn đưa ra được các biện pháp can thiệp hết sức linh hoạt và hiệu quả, kiểmsoát và tạo dựng môi trường cho sự chuyển hướng kinh doanh một cách hữuhiệu của các tập đoàn, và đã tạo dựng một thị trường tài chính mạnh có đủnăng lực cung cấp vốn cho các dự án đầu tư lớn trong việc phát triển các côngnghệ mới

Sự chuyển hướng mạnh mẽ của Mỹ sang nền kinh tế tri thức còn được thểhiện qua các chỉ số sau:

- Các ngành công nghệ cao, dịch vụ truyền tải, xử lý và cung cấp thông tin

- động lực tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ - năm 1990 thu hút tới 93 triệungười, chiếm 80% lực lượng lao động Mỹ Chính lực lượng lao động có trithức thường xuyên được đào tạo và tự đào tạo, đã tạo ra ưu thế vượt trội củanền kinh tế Mỹ so với các nền kinh tế khác của các nước OECD Năm 1999,các nghề nghiệp tri thức ở Mỹ đòi hỏi phải tốt nghiệp từ trung học trở lên đãchiếm tới 32% so với con số 27% của năm 1983

- Mặc dù còn một số ít ngành được nhà nước bảo hộ (ví dụ: trong lĩnh vựcnông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản), song có thể nói nền kinh tế Mỹ là mộtnền kinh tế có khả năng hội nhập mạnh vào nền kinh tế thế giới Với lợi thế vềcông nghệ và kỹ thuật cao so với các đối thủ cạnh tranh thương mại, Mỹ có xuhướng ngừng sản xuất các loại hàng hoá tiêu dùng có giá trị gia tăng thấp, cầnnhiều lao động, tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hoá,dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao

- Nền kinh tế Mỹ là một nền kinh tế được quản lý và vận hành theo một cơchế năng động, tại đó luôn có chỗ cho mọi loại hình doanh nghiệp tham gia

Trang 39

hoạt động, từ những tập đoàn xuyên quốc gia thu hút hàng trăm nghìn lao

động, có doanh thu hàng năm lên tới hàng chục tỷ USD tới các doanh nghiệpsiêu nhỏ chỉ có duy nhất một người

- Do phí truy cập internet rất thấp nên việc sử dụng loại hình dịch vụ này ở

Mỹ cũng cao hơn hẳn so với các nước khác trong nhóm G7 Tính đến đầunăm 2000, cứ 1 triệu dân Mỹ có 170 máy chủ an toàn48, so với 55 ở Anh, 34,5

ở Đức và 15 ở Nhật Bản Nếu như năm 1997, mới chỉ có 27% số gia đình Mỹ

được nối mạng, thì năm 1999 con số này đã tăng lên 38% và dự kiến sẽ đạt50% vào năm 2003 Theo Hội đồng internet Mỹ (USIC) đến tháng 9/2000 tại

Mỹ có 136 triệu người sử dụng internet, chiếm khoảng 45% tổng số người sửdụng internet tại thời điểm thống kê Năm 1999, ngành công nghiệp internetcủa Mỹ đã thu được 507 tỷ USD gấp 4 lần mức 132 tỷ USD của 6 nước: Pháp,

Đức, Italia, Ailen, Anh, Tây Ban Nha gộp lại Dự kiến đến hết năm 2002, con

Như vậy có thể nói trong thời đại ngày nay, tri thức đã và đang trở thànhyếu tố quan trọng nhất, sống động nhất trong các yếu tố sản xuất, là hạt nhâncủa việc thúc đẩy, lôi kéo các yếu tố khác Cũng có nghĩa là trong điều kiệnhiện nay, tài nguyên lao động và tư bản hữu hình ở thời đại kinh tế côngnghiệp đang bị nguồn tài nguyên tri thức thay thế dần vai trò chủ đạo

Thông qua sự phát triển nền kinh tế Mỹ thời gian qua, chúng ta có thểnhận thấy để kinh tế tri thức có thể hình thành với đầy đủ đường nét của nó,thì phải chú trọng đặc biệt tới các yếu tố sau:

- Tăng chi tiêu cho giáo dục và đào tạo để phát triển nhân tài kiểu trithức (tại Mỹ con số này chiếm 7% GDP);

Trang 40

- Tăng đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R & D), đồng thời khuyếnkhích hướng vào việc sáng tạo cái mới (khoản đầu tư này ở Mỹ chiếm 2,8%GDP);

- Thương mại hoá số lượng lớn các thành quả khoa học kỹ thuật cao đểthúc đẩy tăng trưởng, trong đó ngành sản xuất phần mềm có hàm lượng trithức cao được coi là nhân tố chính của các nguồn tăng trưởng Ví dụ, trong 3năm gần đây, tỷ lệ đóng góp của ngành điện tử - tin học cho sự tăng trưởngkinh tế ở Mỹ lên đến 45%, so với 14% trong ngành xây dựng và 4% của xehơi

- Tin học hoá trong các lĩnh vực truyền thông, dịch vụ tài chính, bảohiểm, thương mại, khám chữa bệnh, giáo dục, hành chính, Tại Mỹ, thươngmại điện tử đã trở thành một sức mạnh không thể cản bước Tuy mới chỉ bắt

đầu được triển khai từ năm 1991, nhưng theo dự báo đến hết năm 2002, doanhthu từ các dịch vụ thương mại điện tử tại Mỹ có thể đạt tới 327 tỷ USD, tương

đương 2,3% GDP và có khả năng sẽ chiếm tới 6% GDP vào năm 2005

- Thay đổi kết cấu việc làm theo hướng tăng dần hàm lượng chất xámtrong các sản phẩm truyền thống, loại bỏ các ngành nghề cũ lạc hậu thường

đòi hỏi nhiều lao động nhưng có giá trị gia tăng thấp Trong 15 năm qua, Mỹ

đã loại bỏ hơn 8000 nghề cũ, đồng thời tạo thêm hơn 6000 ngành nghề mớinhờ phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn Tính riêng năm 1997, chỉ vớicác ngành khoa học kỹ thuật cao, Mỹ đã tạo ra 240 nghìn cơ hội việc làm cótiền lương cao Như vậy, nhờ phát triển kinh tế tri thức, xu hướng phát triểnvượt trước nghĩa là hình thành những dịch vụ chưa hề có trước đó, đã đượcthúc đẩy mạnh mẽ

1.2 EU - công nghệ cao là mũi đột phá để hình thành kinh tế tri thức

Tại Hội nghị thượng đỉnh Lisbon (3/2000), với mục tiêu đưa Liên minhchâu Âu (EU) trở thành khu vực phát triển năng động và có sức cạnh tranh caonhất trên thế giới vào năm 2010, chính phủ các nước thành viên của Liên minh

đã đồng thuận hướng EU tiến tới nền kinh tế tri thức Tháng 5/2000, ủy banchâu Âu đã đề xuất kế hoạch hành động “châu Âu điện tử” kêu gọi các nướcthành viên nhanh chóng xây dựng hệ thống mạng, để đến cuối năm 2002, đưa

EU trở thành khu vực đứng đầu thế giới về kỹ thuật số và mạng internet

Với ưu thế của một khu vực liên kết kinh tế - tiền tệ, có trình độ phát triểntương đối đồng đều ở trình độ cao, EU đã tạo ra một thị trường thống nhất trêntoàn lãnh thổ Châu Âu trong việc phát triển điện thoại di động Vì thế tuy tốc

độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong những năm gần đầy chỉ đạt từ 2,5 2,7%/năm, nhưng chi tiêu cho dịch vụ viễn thông lại tăng tới 9%/năm Đầu tưvào công nghệ thông tin tăng với tốc độ nhanh hơn, khoảng 11%/năm, tương

-đương 196 tỷ USD (Mỹ: tăng 12,4%/năm, khoảng 320 tỷ USD) Nếu so sánh

về cả quy mô nền kinh tế lẫn ưu thế về công nghệ, EU vẫn chậm chân hơn Mỹtrong nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ đòi hỏi trình độ cao, đặc biệt là trongviệc ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh Tại Liên

Ngày đăng: 25/09/2014, 07:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Tr−ơng Tiểu Đế: “Những suy nghĩ về phát triển nền kinh tế tri thức”.Tạp chí Kinh tế thế giới (Trung Quốc), số 1/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những suy nghĩ về phát triển nền kinh tế tri thức
16. Hứa Tác Cầu: “Chủ nghĩa Mác và nền kinh tế tri thức”. Tạp chí Thế trào đương đại (Trung Quốc), số 1/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và nền kinh tế tri thức
17. Ngô Quý Tùng. Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI.NXB. Chính trị Quốc gia. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia. 2000
18. Toffler A. Future Shock 1971. Cú sốc t−ơng lai. NXB Thông tin Lý luËn. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú sốc t−ơng lai
Nhà XB: NXB Thông tin LýluËn. 1992
19. Toffler A. The Third Wave. 1980. Làn sóng thứ ba. NXB Thông tin Lý luËn. 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ ba
Nhà XB: NXB Thông tin LýluËn. 1992
21. Ngân hàng Thế giới (WB). Trung quốc và nền kinh tế tri thức: Vững vàng trong Thế kỷ XXI. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung quốc và nền kinh tế tri thức: Vữngvàng trong Thế kỷ XXI
22. Ngân hàng Thế giới (WB). Báo cáo phát triển 1998/99. Tri thức cho phát triển. NXB. Chính trị Quốc gia 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức chophát triển
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia 1998
23. Ch−ơng trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP). Báo cáo phát triển con ng−ời 1999. NXB. Chính trị Quốc gia 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Báo cáo phát triểncon ng−ời 1999
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia 2000
24. Ch−ơng trình phát triển của Liên hợp quốc(UNDP). Báo cáo phát triển con ng−ời 2001. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triểncon ng−ời 2001
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
25. Ch−ơng trình phát triển của Liên hợp quốc, Bộ Kế hoạch và Đầu t−, Viện Chiến l−ợc Phát triển (UNDP&amp; MPI, DSI), Việt Nam h−ớng tới 2010. NXB Chính trị Quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam h−ớng tới2010
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
26. Cục Thống kê Hà Nội, Niên giám Thống kê 2001, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê 2001, Hà Nội
27. Thurow. L. Sáng tạo của cải (Creating Wealth). 2000. Bản dịch của Viện Kinh tế học Sách, tạp chí
Tiêu đề: áng tạo của cải (Creating Wealth)
28. Norihiko Yamada: “IT Movement in Southeast Asia: Case of Singapore, Malaysia and Thailand.” IDE &amp; JETRO, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IT Movement in Southeast Asia: Case of Singapore,Malaysia and Thailand
29. OECD: The Knowledge-based Economy: A Set of Facts and Figures.Paris 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Knowledge-based Economy
30. OECD: Sience, Technology and Industry Outlook. Paris 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Science, Technology and Industry Outlook
Tác giả: OECD
Nhà XB: OECD
Năm: 2000
31. B. L. Inozemcev: “Kinh tế công nghiệp và xã hội “hậu công nghiệp””.Tài liệu phục vụ nghiên cứu, Viện Thông tin KHXH, số TN 2002 - 26 &amp;27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế công nghiệp và xã hội "“"hậu công nghiệp"”
32. Thương mại điện tử cho doanh nghiệp nhỏ ở APEC - thách đố và biện pháp chính sách. Tạp chí FEER, số 13/6/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th−ơng mại điện tử cho doanh nghiệp nhỏ ở APEC - thách đố và biệnpháp chính sách
33. Drucker P., (1994). “The Age of Social Transformation”. The Atlantic Monthly, November Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Age of Social Transformation
Tác giả: Drucker P
Năm: 1994
36. C. Avgerou, Information Technology for Development, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Technology for Development
37. E.B. Parker, M. Porat, trong: Conf  rence sur les politiques en mati  re d' information et de communications, OCDE, Paris, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Conf""rence sur les politiques en mati""re d'information et de communications

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Tháp thông tin - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Hình 2 Tháp thông tin (Trang 7)
Bảng 1: Đặc tr−ng của các nền kinh tế - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 1 Đặc tr−ng của các nền kinh tế (Trang 16)
Bảng 3: Những đặc tr−ng chủ yếu của 3 giai đoạn kinh tế - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 3 Những đặc tr−ng chủ yếu của 3 giai đoạn kinh tế (Trang 20)
Bảng 4: L−ợc đồ ba hình thái kinh tế của K.Marx - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 4 L−ợc đồ ba hình thái kinh tế của K.Marx (Trang 21)
Hình thái thị tr−ờng, t−ơng đ−ơng với nền kinh tế thị tr−ờng của thời đại công nghiệp cơ - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Hình th ái thị tr−ờng, t−ơng đ−ơng với nền kinh tế thị tr−ờng của thời đại công nghiệp cơ (Trang 21)
Hình 6: Số năm cần để công nghệ đạt được 50 triệu người sử dụng - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Hình 6 Số năm cần để công nghệ đạt được 50 triệu người sử dụng (Trang 28)
Bảng 7: Chiến l−ợc phát triển kinh tế tri thức của một số n−ớc trên - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 7 Chiến l−ợc phát triển kinh tế tri thức của một số n−ớc trên (Trang 46)
Bảng 8: Khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực IT của một số quốc gia - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 8 Khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực IT của một số quốc gia (Trang 53)
Bảng 9: Chính sách công nghệ thông tin quốc gia nền tảng - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 9 Chính sách công nghệ thông tin quốc gia nền tảng (Trang 55)
Bảng 10: Cơ cấu GDP của Hà Nội - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 10 Cơ cấu GDP của Hà Nội (Trang 69)
Bảng 13: Tỷ lệ % của Giáo dục đào tạo trong GDP của Hà Nội - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 13 Tỷ lệ % của Giáo dục đào tạo trong GDP của Hà Nội (Trang 87)
Bảng 12: Tỷ lệ % của KHCN trong GDP của Hà Nội - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Bảng 12 Tỷ lệ % của KHCN trong GDP của Hà Nội (Trang 87)
Hình sau mô tả tóm tắt ba ph−ơng thức tích lũy và sản sinh kiến thức - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
Hình sau mô tả tóm tắt ba ph−ơng thức tích lũy và sản sinh kiến thức (Trang 158)
Phụ lục 6: Bảng các chỉ số của phát triển kinh tế tri thức Gifford 1999 - Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tri thức ở Hà Nội
h ụ lục 6: Bảng các chỉ số của phát triển kinh tế tri thức Gifford 1999 (Trang 165)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w