Phân tích tình hình doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2003 – 2007
Trang 1Lời Mở Đầu
Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và là xuthế tất yếu của các quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại Vì vậy thị trường bảo hiểmViệt Nam cần phải có những bước chuyển mình nhằm đáp ứng những nhu cầucủa thách thức và hội nhập nếu không muốn gạt ra khỏi lề của sự phát triển Đặcbiệt Việt Nam hiện nay đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thươngmại thế giới WTO, do đó lĩnh vực dịch vụ tài chính, trong đó bảo hiểm là mộttrong những lĩnh vực nhạy cảm được quan tâm nhiều Những biến động trên thịtrường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian gần đây, nhất là sau khi gia nhập WTO
đã chứng minh tính sôi động của nó với hàng loạt các công ty, tập đoàn bảo hiểmnước ngoài ở Châu Âu, Châu Mỹ và cả trong khu vực cũng như những nước lánggiềng đã đang và sẽ ra nhập vào thị trường Việt Nam
Trước bối cảnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng đã và đang
nỗ lực không ngừng để giữ vững và nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trướcnhững đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex được thành lập từ năm 1995, là mộttrong những công ty cổ phần đầu tiên được thành lập trong lĩnh vực bảo hiểm Chỉvới hơn 10 năm sau khi ra nhập thị trường công ty đã thổi một luồng gió mới vàothị trường bảo hiểm Việt Nam với những thành tựu kinh doanh đáng kể, chiếmđược cảm tình và niềm tin của đông đảo khách hàng trong đó có rất nhiều kháchhàng lớn Có thể nói vị thế của PJICO ngày càng được khẳng định và nâng caotrên thị trường, là một địa chỉ đáng tin cậy cho nhiều tổ chức cá nhân tìm đến đểđảm bảo an toàn, bình yên cho việc kinh doanh và cuộc sống của họ Tuy nhiêntrong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, đặc biệt là năm
2008 này theo cam kết gia nhập WTO thì không còn rào cản phân biệt giữa doanh
Trang 2nghiệp bảo hiểm Việt Nam và doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài.
Để có thể giữ vững và nâng cao hơn nữa vị thế của mình đòi hỏi công ty phải có
sự chuẩn bị về mọi mặt để chủ động cạnh tranh trên thị trường Vì thế mà phântích hoạt động kinh doanh giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thịtrường, nó có tác dụng giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu
để củng cố, phát huy hoặc khắc phục, cải tiến quản lý Phát huy mọi tiềm năngcủa thị trường, khai thác tối đa nguồn lực của doanh nghiệp, nhằm đạt đến hiệuquả cao nhất trong kinh doanh Xuất phát từ đòi hỏi thiết thực khách quan đó em
đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2003 – 2007” để nghiên cứu tìm hiểu.
Bài viết của em được chia thành ba chương, ngoài mở đầu và kết luận nộidung có:
Chương I: Lý thuyết cơ bản về phân tích doanh thu và chi phí củadoanh nghiệp bảo hiểm
Chương II: Phân tích tình hình doanh thu và chi phí hoạt động kinhdoanh bảo hiểm của công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Chương I: Lý thuyết cơ bản về phân tích doanh thu
và chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
1 Khái quát chung về doanh nghiệp bảo hiểm
1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
a Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập cơ bản của nền kinh tế, có
tư cách pháp nhân, hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường vì mục đích tối
đa hóa lợi nhuận và sự phát triển của xã hội “Doanh nghiệp bảo hiểm là doanhnghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanhbảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh bảohiểm”
Doanh nghiệp bảo hiểm là một loại doanh nghiệp dịch vụ, hoạt động của nócũng nhằm mục đích sinh lời Điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp bảohiểm với các doanh nghiệp khác là ở chỗ: Doanh nghiệp bảo hiểm là doanhnghiệp chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm; nó có trách nhiệm trả tiền bảohiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra
sự kiện bảo hiểm nếu người mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp.Như vậy, muốn phân biệt phải dựa vào đặc điểm hoạt động kinh doanh củaDNBH
b Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế đa dạng, phong phú các hoạt độngkinh tế - xã hội Trong nền kinh tế đó có nhiều thành phần kinh tế tham gia Vìvậy, các tổ chức kinh tế cũng phù hợp với thành phần kinh tế đó Cụ thể trong thịtrường bảo hiểm thường bao gồm các hình thức tổ chức như sau:
b.1 Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước
Trang 4Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước là doanh nghiệp do Nhà Nước thànhlập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu Doanh nghiệp bảohiểm Nhà Nước là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳngtrước pháp luật.
b.2 Công ty cổ phần bảo hiểm
Công ty cổ phần bảo hiểm là loại doanh nghiệp do các cổ đông tham giađóng góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu trái phiếu và có tráchnhiệm hữu hạn Đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi nhuận,cùng chịu lỗ tương ứng với số vốn góp
b.3 Công ty bảo hiểm tư nhân
Công ty bảo hiểm tư nhân là công ty bảo hiểm do cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của công ty trước pháp luật Công tyđược thành lập theo luật công ty
b.4 Tổ chức bảo hiểm tương hỗ
Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập
để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên.Thành viên tổ chức tương hỗ vừa là bên mua bảo hiểm Về mặt pháp lý, họ vừa làhội viên, vừa là những người được bảo hiểm
b.5 Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh được thành lập trên cơ sở góp vốn củacác doanh nghiệp (trong nước và nước ngoài) Vị trí các bên trong doanh nghiệpphụ thuộc vào mức vốn góp Các thành viên trong doanh nghiệp hưởng lợi nhuậncũng như chịu thua lỗ tương ứng mức vốn góp
b.6 Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài
Đây là doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư vốn, hoạt động tại nước sở tại,theo pháp luật của nước sở tại, đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ ở chínhquốc
Trang 5b.7 Tổ chức Lloyd’s
Lúc đầu Lloyd’s là một tổ chức bảo hiểm tương hỗ của các nhà bảo hiểmhàng hải London, được thành lập năm 1720 Theo thời gian, Lloyd’s càng pháttriển và trở nên nổi tiếng nhờ bảo hiểm những rủi ro đặc biệt
Trong thị trường bảo hiểm còn có các doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao gồm nhiều doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế như:
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Nhà Nước
- Công ty cổ phần môi giới bảo hiểm
- Công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm
- Công ty hợp doanh môi giới bảo hiểm
- Doanh nghiệp tư nhân môi giới bảo hiểm
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài
Các tổ chức như đại lý bảo hiểm, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảohiểm là các tổ chức phụ thuộc, không đủ tư cách để gọi là doanh nghiệp bảo hiểm
1.2 Nội dung và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm 1.2.1 Nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
a Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lời Ởđây DNBH chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở người mua bảohiểm đóng phí bảo hiểm cho người bảo hiểm (DNBH), DNBH bồi thường (hoặctrả tiền bảo hiểm) cho những tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người thụhưởng
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, ngoài việc đáp ứngcho các nhu cầu an toàn của con người thì lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động
Trang 6kinh doanh bảo hiểm Bởi vậy, có một số nguyên tắc phải tuân thủ khi tiến hànhhoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Nguyên tắc 1: “Số đông bù số ít” Đây là nguyên tắc xuyên suốt,
không thể thiếu được trong bất kỳ nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào Theo đóhậu quả của rủi ro xảy ra đối với một hoặc một số ít người sẽ được bù đắp bằng sốtiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng cùng gặp phải rủi ro như vậy
Nguyên tắc 2: “Rủi ro có thể được bảo hiểm” Mặc dù công ty
BH cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầunhưng không phải trong mọi trường hợp công ty BH đều chấp nhận các yêu cầubảo hiểm Theo nguyên tắc này, rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi robất ngờ, không lường trước được, nhằm tránh cho công ty BH phải bồi thườngcho những tổn thất thấy trước mà với nhiều trường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫntới phá sản Đồng thời nó cũng giúp các công ty BH có thể tính được các mức phíchính xác, lập nên được một quỹ BH đầy đủ để đảm bảo cho công tác bồi thường.Không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các công ty BH mà ngay chính những ngườitham gia bảo hiểm cũng thấy công bằng hơn khi nguyên tắc này được áp dụng
Nguyên tắc 3: “ Phân tán rủi ro” Mặc dù quỹ BH là một quỹ tài
chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp của nhiều người theo nguyên tắc số đông
và như vậy với tư cách là người huy động và quản lý quỹ, các công ty BH có khảnăng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Nhưng trên thực tế, không phải lúc nàocông ty BH cũng luôn đảm bảo được khả năng này Điều này có thể thấy rất rõvới những quỹ BH huy động được còn chưa nhiều trong khi đó giá trị bảo hiểmlại rất lớn hoặc với những trường hợp có rủi ro liên tiếp xảy ra gây tổn thất lớn
Một kinh nghiệm trong hoạt động của các DNBH là không nhận những rủi
ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty Tuy nhiên để tránh được điềutối kỵ là phải từ chối bảo hiểm đông thời vẫn đảm bảo được hoạt động kinhdoanh, các DNBH áp dụng nguyên tắc phân tán rủi ro Có hai phương thức phân
Trang 7tán rủi ro được sử dụng: Đồng bảo hiểm và Tái bảo hiểm Đồng bảo hiểm là nhiềunhà bảo hiểm cùng nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn Còn kinh doanh tái bảohiểm là hoạt động của DNBH chuyển một phần (hoặc toàn bộ) rủi ro đã chấpnhận cho DNBH khác, ngược lại, nhận bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ rủi ro màdoanh nghiệp khác đã chấp nhận Thông qua hoạt động chuyển tái và nhận tái,DNBH vừa ổn định kinh doanh vừa thu lợi nhuận, vừa phát triển mối quan hệkinh tế với các nước.
Nguyên tắc 4: “Trung thực tuyệt đối” Theo nguyên tắc này đòi
hỏi DNBH phải có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảohợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên, từ đó góp phần tăng thêm tínhhữu hình của sản phẩm bảo hiểm – một sản phẩm dịch vụ Chất lượng sản phẩmbảo hiểm có đảm bảo hay không, giá cả có hợp lý hay không, quyền lợi của ngườiđược bảo hiểm có đảm bảo đầy đủ công bằng hay không… đều chủ yếu dựa vào
sự trung thực của phía DNBH
Ngược lại, nguyên tắc này cũng đặt ra yêu cầu đối với người tham gia bảohiểm, là phải trung thực trong việc khai báo rủi ro khi tham gia bảo hiểm, để giúpDNBH xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận Thêm vào đó cáchành vi gian lận nhằm trục lợi bảo hiểm khi thông báo, khai báo các thiệt hại đểđòi bồi thường sẽ được sử lý theo pháp luật
Nguyên tắc 5: “Quyền lợi có thể được bảo hiểm” Nguyên tắc
này yêu cầu người tham gia BH phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tượngđược bảo hiểm gặp rủi ro Nói cách khác, người tham gia BH phải có một số quan
hệ với đối tượng được BH và được pháp luật công nhận Mối quan hệ có thể biểuhiện qua quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền vànghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm Nguyên tắcnày nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác hoặc cố tình gây thiệthại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn bảo hiểm
Trang 8Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểm sẽ cóthêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại: nguyên tắc bồithường, nguyên tắc khoán
b Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất
DNBH không chỉ có trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảohiểm do rủi ro tai nạn bất ngờ gây ra nhằm giúp người được BH ổn định kinh tế,khôi phục sản suất và đời sống, mà còn tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro
và tổn thất trước khi tai nạn xảy ra
Thông qua phân tích nguyên nhân của những rủi ro tai nạn bất ngờ, DNBHrút ra được những biện pháp cần thiết để cùng khách hàng thực hiện nhằm đềphòng tổn thất xảy ra
c Giám định tổn thất
Giám định tổn thất là nhiệm vụ, là một khâu quan trọng trong chu trìnhhoạt động kinh doanh BH Sau khi nhận được thông báo của người được bảohiểm về tai nạn rủi ro xảy ra, giấy yêu cầu giám định và các giấy tờ khác liênquan, DNBH phải cử giám định viên đến hiện trường cùng các thành viên liênquan để xác định tính chất, nguyên nhân mức độ thiệt hại… Điều quan trọng củacông tác giám định là xác định nguyên nhân rủi ro có thuộc phạm vi bảo hiểm haykhông? Tổn thất thực tế là bao nhiêu để làm căn cứ bồi thường
d Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn…
DNBH không chỉ phải giám định tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm củamình mà còn có thể làm đại lý giám định tổn thất cho doanh nghiệp khác
Căn cứ biên bản giám định, đối chiếu với hợp đồng BH, doanh nghiệp xemxét giải quyết bồi thường theo các nguyên tắc quy định Giải quyết bồi thườngphải nhanh chóng, kịp thời, đúng thủ tục nhằm giúp người bị hại nhanh chóngkhắc phục được hậu quả của rủi ro tai nạn bất ngờ Nếu có sự tranh chấp giữa
Trang 9người bảo hiểm và người được bảo hiểm về số tiền bảo hiểm, việc giải quyết sẽđược chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền theo luật định.
e Quản lý quỹ và đầu tư vốn
Mục đích kinh doanh bảo hiểm hay tái bảo hiểm là lợi nhuận Do đó quản
lý quỹ bảo hiểm và đầu tư vốn (tức nguồn quỹ bảo hiểm thu được do người thamgia đóng phí) là hết sức quan trọng Quản lý quỹ tức quản lý thu chi đúng chế độ.Thu phải thu đúng, thu đủ, triệt để khai thác các nguồn thu, chi đúng chế độ kịpthời, tiết kiệm nhất là chi bồi thường, chi quản lý… Nguồn quỹ thu được chưa chiđến phải đem đầu tư sinh lời Là hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp bảo hiểmtìm thị trường đầu tư vừa sinh lời cao, vừa đảm bảo không mất vốn
Trên đây là năm nội dung hoạt động quan trọng, chủ yếu của DNBH Ngoài
ra doanh nghiệp có thể tham gia vào các hoạt động khác mà pháp luật cho phép
Thông thường, các DNBH hoặc kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, hoặc kinhdoanh bảo hiểm phi nhân thọ chứ không cùng một lúc kinh doanh cả hai loại hìnhbảo hiểm Bởi vì, hai loại hình bảo hiểm đó có đặc trưng khác nhau, cần tập trungtrí tuệ chuyên sâu để đạt hiệu quả cao Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam cũngkhông cho phép một doanh nghiệp kinh doanh cả hai loại hình bảo hiểm
1.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH vì mục đích lợi nhuận Vìvậy mọi hoạt động đều mang đặc trưng kinh doanh, lấy lợi nhuận làm mục tiêuphấn đấu Chiến lược kinh doanh của DNBH đều đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàngđầu Để đạt mục tiêu đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tính đến những đặcđiểm sau:
a) Đối tượng kinh doanh đa dạng
Bảo hiểm thương mại có đối tượng bảo hiểm là tài sản, trách nhiệm dân sự
và con người
Trang 10Mỗi đối tượng BH bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể Mỗi nghiệp vụ làmột hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm bảo hiểm
ra thị trường và thu về phí bảo hiểm (giá bảo hiểm) Phí đó được tính toán trên cơ
sở khoa học đảm bảo thu bù chi, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và có lãi chodoanh nghiệp Với đối tượng bảo hiểm đa dạng như vậy, quy luật số lớn trongkinh doanh bảo hiểm càng phát huy tác dụng; do đó mục đích lợi nhuận sẽ đạtđược
b) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn
Ngoài nguồn vốn của DNBH bao gồm vốn điều lệ, phí bảo hiểm thu được,lãi đầu tư,… Trong đó, vốn điều lệ phải đảm bảo như mức vốn pháp định do phápluật quy định Vốn pháp định lớn là do đặc thù của kinh doanh bảo hiểm – kinhdoanh rủi ro Để nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm khi DNBHlàm ăn không hiệu quả, không có đủ tiền để trả cho khách hàng, Nhà Nước sẽ lấy
từ vốn điều lệ của doanh nghiệp để giải quyết cho họ
c) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
Do kinh doanh bảo hiểm có sự tích lũy rủi ro nên tất cả các khoản tiền đượctrích ra từ phí bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thường hay chi trả bảo hiểmthực hiện các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm chính là các quỹ dự phòng nghiệp
vụ Dự phòng nghiệp vụ là khoản dự trữ liên quan đến từng nghiệp vụ bảo hiểm,được trích lập và hạch toán vào chi phí kinh doanh nhằm mục đích thanh toán cáctrách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm đã được
ký kết Việc thành lập các quỹ dự phòng nghiệp vụ không chỉ là yêu cầu có tínhchất kỹ thuật bảo hiểm, mà còn là sự bắt buộc mang tính pháp lý đối với DNBH
Sự bắt buộc này góp phần bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, nângcao ý thức trách nhiệm của DNBH, đồng thời tạo điều kiện để tập trung nguồnvốn để đầu tư
Trang 11d) Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo
hiểm, nó góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng quy mô doanh
nghiệp, tăng quỹ phúc lợi đồng thời tăng thu nhập cho người lao động và góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn vốn đầu tư phát triển gồm có: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc và tự
nguyện, các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng, vốn nhàn rỗi từ dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm
e) Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh phải tuân thủ quy định
của luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định khác của pháp luật có liên quan
và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
2 Doanh thu và chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
2.1 Doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm
2.1.1 Khái niệm
DNBH trong khuôn khổ những quy định pháp lý được phép thực hiệnnhiều hoạt động khác nhau: kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, đại lý
giám định xét giải quyết bồi thường, đầu tư vốn…
Như vậy, phạm vi hoạt động kinh doanh của DNBH không chỉ bó hẹp
trong khuôn khổ của hoạt động kinh doanh bảo hiểm mà nó có thể được xếp thành
ba loại:
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Hoạt động đầu tư tài chính
- Hoạt động khác
Theo đó, doanh thu bảo hiểm của DNBH là: doanh thu từ hoạt động bán
sản phẩm bảo hiểm và cung cấp dịch vụ, tiền lãi từ hoạt động đầu tư và các khoản
thu nhập khác ngoài các hoạt động bán sản phẩm bảo hiểm và đầu tư
2.1.2 Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Trang 12Đây là nguồn thu cơ bản và đóng vai trò quyết định đối với hoạt động củaDNBH Doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm được tính bằng số tiền phảithu sau khi đã trừ đi các khoản chi để giảm thu phát sinh trong kỳ từ các hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm Doanh thu kinh doanh bảo hiểm bao gồm các khoảnthu sau đây:
Tiền thu phí bảo hiểm gốc: là toàn bộ phí BH thu từ các hoạt động BH đã
Hoàn phí bảo hiểm: khi hoạt động bảo hiểm bị giải ước, khách hàng cóthể được hoàn lại một phần phí bảo hiểm đã đóng với mức hoàn lại đã được quyđịnh trước trong hợp đồng
Giảm phí bảo hiểm đối với những khách hàng lớn, hoặc khách hàng ít bịtổn thất nhằm cạnh tranh lôi kéo và giữ khách hàng
Tương tự như vậy, đối với hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm cũng cóhoàn phí và giảm phí nhận tái bảo hiểm, hoàn và giảm hoa hồng nhượng tái bảohiểm
Trang 13Kinh doanh bảo hiểm phải dựa trên nguyên tắc số lớn và phân tán rủi ro.
Vì vậy để bảo vệ chính mình, các DNBH thực hiện tái bảo hiểm Khi đó, DNBHphải chuyển một phần phí bảo hiểm đã thu từ hoạt động bảo hiểm gốc cho công tynhận tái bảo hiểm gọi là phí nhượng tái bảo hiểm Phí nhượng tái bảo hiểm cũngđược coi là một khoản chi làm giảm thu phát sinh trong kỳ (không phải là chiphí)
2.1.3 Doanh thu hoạt động tài chính
DNBH không chỉ có nhiệm vụ quản lý thu chi quỹ tài chính bảo hiểm, màcòn phải phát triển quỹ tài chính này Do các DNBH luôn có trong tay một lượngtiền nhàn rỗi tương đối lớn phải đem đầu tư cho nên nguồn thu từ hoạt động tàichính là rất đáng kể Đối với nhiều DNBH thì gần như toàn bộ chi phí hoạt động
và lợi nhuận là từ nguồn thu này Các khoản thu từ hoạt động tài chính bao gồm:
Thu từ lãi đầu tư chứng khoán, cho vay thế chấp, đầu tư bất động sản,góp vốn liên doanh hoặc gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng
Thu lãi trên số tiền ký quỹ Để đảm bảo quyền lợi người tham gia bảohiểm trong trường hợp công ty bảo hiểm bị phá sản Nhà Nước yêu cầu các doanhnghiệp phải sử dụng một phần vốn điều lệ của mình để ký quỹ tại một ngân hàng
và DNBH được hưởng lãi trên số tiền ký quỹ đó
Hoàn nhập số dư dự phòng giảm giá chứng khoán Do DNBH thườngđầu tư tiền nhàn rỗi vào chứng khoán với giá trị đầu tư lớn, để tránh sự mất giácủa chứng khoán dẫn đến giảm giá trị khoản đầu tư, ảnh hưởng đến khả năngthanh toán bảo hiểm, các DNBH phải lập dự phòng giảm giá chứng khoán Vàtrong trường hợp không cần sử dụng đến hoặc sử dụng không hết thì sẽ đượchoàn nhập vào doanh thu
Cổ tức được chia, lãi được chia từ vốn góp liên doanh liên kết Đây làkhoản thu nhập không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, nên khi nhận được các
Trang 14khoản thu này DNBH không phải tính vào doanh thu hoạt động tài chính để tínhthuế thu nhập trong kỳ.
Thu nhập khác là các khoản thu về cho thuê bất động sản, thuê vănphòng, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, chênh lệch ngoại tệ và các khoản thunhập khác
2.1.4 Thu từ các hoạt động khác
Thu nhập khác trong DNBH là các khoản thu từ những hoạt động xảy rakhông thường xuyên ngoài các hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động tàichính, bao gồm: Thu về thanh lý tài sản cố định, nhượng bán tài sản cố định; Thu
về tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; Tiền bảo hiểm được bồi thường;Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí của kỳ trước; Khoản
nợ phải trả nay mất chủ được tính tăng thu nhập; Thu về các khoản thuế được ghigiảm, được hoàn lại
2.2 Chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
2.2.1 Khái niệm
Với đặc thù của kinh doanh bảo hiểm một ngành dịch vụ kinh doanh rủi rothì chi phí của DNBH được định nghĩa là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải chi,phải trích trong kỳ (thường là một năm) bao gồm: chí phí hoạt động kinh doanhbảo hiểm, chi phí hoạt động tài chính và chi phí cho các hoạt động khác
2.2.2 Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Chi phí kinh doanh bảo hiểm là toàn bộ các khoản chi tiền, khoản trích nảysinh trong quy trình hoạt động kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm và tái bảohiểm của DNBH trong kỳ Chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là khoản chi
cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm, bao gồm:
a Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm
Trang 15Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm là các khoản chi bằng tiền và cáckhoản trích để trực tiếp thực hiện sản xuất dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm trong
kỳ kinh doanh của DNBH
Theo mục đích và công dụng của chi phí, chi phí trực tiếp kinh doanh bảohiểm bao gồm:
Chi bồi thường: là khoản tiền mà DNBH trả trực tiếp theo cam kếttrên hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi tráchnhiệm của các hợp đồng bảo hiểm gốc và tái bảo hiểm Đây là khoản chi phí luônchiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất trong tổng chi Chi bồi thường baogồm:
Chi bồi thường bảo hiểm gốc: là những khoản tiền mà DNBH chi trảtrực tiếp cho người được bảo hiểm, người thụ hưởng bảo hiểm khi xảy ra những
sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi trách nhiệm của các hợp đồng bảo hiểm gốc
Chi bồi thường nhận tái bảo hiểm: là khoản chi mà DNBH phải trảcho công ty nhượng tái bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm khi xảy ra tổn thấtrơi vào trách nhiệm nhận tái bảo hiểm
Chi hoa hồng: là khoản chi mà DNBH trả cho các trung gian bảohiểm hoặc công ty nhượng tái bảo hiểm khi nhận được các dịch vụ bảo hiểm, táibảo hiểm Chi hoa hồng bao gồm:
Chi hoa hồng bảo hiểm gốc: là khoản tiền DNBH trả cho các đại lý,môi giới hoặc cộng tác viên khi các trung gian này mang lại các hợp đồng bảohiểm cho DNBH Hoa hồng bảo hiểm gốc phụ thuộc vào tổng phí bảo hiểm và tỷ
lệ hoa hồng được ấn định bởi các quy định pháp luật hoặc của DNBH
Hoa hồng nhận tái bảo hiểm: là khoản tiền DNBH trả cho công tynhượng tái bảo hiểm khi công ty này chuyển nhượng dịch vụ cho doanh nghiệp.Hoa hồng nhận tái bảo hiểm được xác định trên cơ sở phí nhận tái và tỷ lệ hoahồng được thỏa thuận giữa DNBH và công ty nhượng tái bảo hiểm
Trang 16Do hoạt động kinh doanh bảo hiểm có “sự đảo ngược chu kỳ kinhdoanh” nên trong cơ cấu chi phí của DNBH có một khoản chi đặc thù đó là chitrích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
Chi trích lập dự phòng nghiệp vụ: là khoản chi theo quy định của chế
độ pháp lý tài chính, DNBH phải trích vào cuối niên độ nhằm để đảm bảo thanhtoán cho người được bảo hiểm về những rủi ro và tổn thất trong tương lai Mặc dùtiền này vẫn nằm trong tay DNBH nhưng không thuộc về doanh nghiệp, đây làkhoản nợ DNBH sẽ phải trả trong tương lai
Trong kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, các khoản chi dựphòng nghiệp vụ chủ yếu gồm: Dự phòng phí bảo hiểm, Dự phòng bồi thường,
Dự phòng dao động lớn Còn trong các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ các khoản
dự phòng kỹ thuật chủ yếu mà doanh nghiệp phải trích là: Dự phòng toán học,
Dự phòng phí bảo hiểm chưa được hưởng, Dự phòng đảm bảo cân đối, Dự phòngcam kết chia lãi
Chi giám định tổn thất: là khoản tiền DNBH phải chi ra để thực hiệnviệc giám định các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm
Chi đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm bảo hiểm: là các khoảnchi cho công việc thu thập thông tin, điều tra, và thẩm định về đồi tượng bảo hiểmtrước khi doanh nghiệp ký kết hợp đồng bảo hiểm hoặc trong quá trình thực hiệnhợp đồng bảo hiểm với khách hàng
Chi đề phòng hạn chế tổn thất: là khoản chi cho việc tổ chức các biệnpháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất đối với những đối tượng bảo hiểmđược DNBH bảo đảm theo các hợp đồng
Chi đòi người thứ ba: là khoản tiền DNBH bỏ ra để khiếu nại nhữngngười gây ra thiệt hại cho người được bảo hiểm mà theo luật, DNBH được thếquyền người được bảo hiểm để đòi bồi thường
Trang 17 Chi xử lý bồi thường 100%: là khoản chi DNBH bỏ ra để bán thanh
lý những đối tượng bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ (chủ yếu là tổn thất toàn bộ ướctính) đã được bồi thường và DNBH được quyền thu hồi
Chi quản lý đại lý: là khoản chi cho công việc tìm kiếm, tuyển dụnglựa chọn, đào tạo, huấn luyện và giám sát quá trình hành nghề của đại lý bảohiểm
e Chi phí bán hàng trong bảo hiểm.
Chi phí bán hàng là khoản chi ra trong quá trình bán các sản phẩm bảohiểm
Trong thực tế, các DNBH thường gộp khoản chi phí này vào khoản chi phíquản lý doanh nghiệp Tuy nhiên về bản chất đây là khoản chi chỉ nảy sinh trongkhâu bán hàng trực tiếp của DNBH, do vậy đối với những doanh nghiệp bảo hiểm
mà thực hiện trực tiếp việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm với quy mô lớn thìđây là khoản chi quan trọng và cần thiết phải có sự quản lý theo dõi riêng Chi phíbán hàng trong bảo hiểm bao gồm:
Chi phí nhân viên: là khoản chi phí tiền lương và các khoản tríchtheo lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp khác cho các nhân viên trực tiếpbán sản phẩm bảo hiểm
Chi phí dụng cụ, đồ dùng: là trị giá của các công cụ, dụng cụ đồdùng, phục vụ cho quá trình bán sản phẩm bảo hiểm
Chi phí ấn chỉ: là chi phí cho việc mua và quản lý các ấn chỉ trongkhai thác quản lý các hoạt động bảo hiểm
Chi khấu hao tài sản cố định : là các khoản tiền để trả cho các đơn
vị cá nhân bên ngoài do cung cấp dịch vụ, lao vụ cho quá trình bán sản phẩm bảohiểm
Trang 18 Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi khác trong quá trình bánsản phẩm bảo hiểm, bao gồm: chi quảng cáo thương mại hóa sản phẩm bảo hiểm,chi tiếp khách, tổ chức hội nghị, tuyên truyền…
e Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí cho việc quản lý điềuhành, quản lý kinh doanh chung, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liênquan hoạt động của DNBH
Cũng như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm cáckhoản chủ yếu là: Chi phí nhân viên quản lý; Chi phí vật tư quản lý; Chi phí đồdùng văn phòng, Chi phí khấu hao tài sản cố định dùng trong quản lý, Chi trích
dự phòng giảm giá hàng hóa tồn kho, nợ phải thu khó đòi; Chi phí dịch vụ muangoài; Chi phí bằng tiền khác; Thuế và các khoản phí, lệ phí, lãi vay
Do đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, DNBH có các khoản phảithu nhưng lại không được coi là doanh thu mà là khoản để giảm chi phát sinhtrong kỳ, bao gồm:
Thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm: khi có tổn thất xảy ra thuộcphạm vi bảo hiểm, DNBH phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất cho bên thamgia bảo hiểm Nhưng nếu hợp đồng bảo hiểm này đã được tái bảo hiểm, DNBH sẽđược công ty nhận tái bảo hiểm trả cho một phần số tiền đã bồi thường theo camkết trong hợp đồng tái bảo hiểm Đây được coi là thu bồi thường nhượng tái bảohiểm, làm giảm chi bồi thường bảo hiểm gốc
Thu đòi người thứ ba bồi hoàn: theo nguyên tắc “ thế quyền” trongbảo hiểm, nếu tổn thất xảy ra có liên quan đến trách nhiệm của bên thứ ba, bảohiểm vẫn bồi thường tổn thất đó nhưng sẽ thế quyền người được bảo hiểm đòi bênthứ ba
Thu hàng đã xử lý, bồi thường 100% : trong kinh doanh bảo hiểm,nếu có tổn thất toàn bộ (bao gồm tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất toàn bộ ước
Trang 19tính) thuộc phạm vi bảo hiểm, DNBH bồi thường 100% giá trị thiệt hại Tuynhiên giá trị còn lại của đối tượng bảo hiểm hay giá trị của hàng đã xử lý bồithường 100% là thuộc về DNBH và đây cũng được coi là khoản thu làm giảm chibồi thường bảo hiểm gốc của DNBH.
2.2.3 Chi phí hoạt động tài chính
Chi phí hoạt động tài chính là toàn bộ các khoản chi phí cho các hoạt động
về tài chính của DNBH trong kỳ Chi phí hoạt động tài chính bao gồm:
Chi phí hoạt động đầu tư vốn
Khoản chi này bao gồm các khoản: chi phí mua giới, chi thủ tục phí ngânhàng, chi thù lao cho các tổ chức đầu tư tín thác, chi giao dịch khác, trích dựphòng giảm giá tài sản đầu tư
Những hoạt động đầu tư chủ yếu mà DNBH tiến hành là: Hoạt động mua,bán và nắm giữ chứng khoán các loại; Hoạt động tham gia góp vốn liên doanhliên kết; Hoạt động kinh doanh bất động sản; Hoạt động cho vay, gửi tiền tại các
tổ chức tín dụng; Các hoạt động tài chính khác
Lãi trả cho các chủ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: là khoản tiền doanhnghiệp bảo hiểm cam kết chắc chắn trả cho chủ hợp đồng theo hợp đồng bảo hiểmnhân thọ đã ký kết
Cần phân biệt lãi trả theo cam kết với khoản lãi chia thêm cho chủ hợpđồng Lãi chia thêm là khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chia thêm chokhác hàng từ lợi nhuận của doanh nghiệp, đây là khoản lãi được chia không có sựđảm bảo chắc chắn của doanh nghiệp
Chi phí cho thuê tài sản: là các khoản chi bằng tiền phát sinh trongviệc DNBH cho thuê tài sản các tổ chức cá nhân bên ngoài
2.2 4 Chi phí khác
Chi phí hoạt động khác là những khoản chi cho những hoạt động xảy rakhông thường xuyên của DNBH trong kỳ Chi phí hoạt động khác gồm: chi về
Trang 20nhượng bán thanh lý tài sản cố định, chi phí cho việc thu hồi khoản nợ thu khóđòi đã xóa nay thu hồi được, chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng, chi phí do kếtoán ghi nhầm hoặc bỏ xót khi ghi sổ kế toán, giá trị còn lại của tài sản cố địnhkhi mang đi thanh lý nhượng bán…
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp bảo hiểm
3.1 Các nhân tố ảnh hưởng doanh thu
Doanh thu là một chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Chỉ tiêu này đặc biệt có ý nghĩa đối với hoạt động của các DNBH vì cơ sởhoạt động kinh doanh bảo hiểm là quy luật số lớn, lấy “số đông bù số ít” Doanhthu của DNBH chịu tác động của nhiều nhân tố trong đó có các nhân tố cơ bảnsau:
a Mức phí bảo hiểm: Đây là nguồn thu đầu tiên và có vai trò quyết định
đối với hoạt động của DNBH Việc định phí của các DNBH được dựa trên cácnhân tố:
+ Xác suất rủi ro: Đây là cơ sở khoa học không thể thiếu khi DNBH
định phí bảo hiểm Xác suất rủi ro cao thì mức phí cũng phải cao và ngược lại
+ Điều kiện bảo hiểm: Điều kiện bảo hiểm thể hiện phạm vi trách
nhiệm đối với các rủi ro được DNBH nhận bảo hiểm Điều kiện bảo hiểm càngnhiều, phạm vi bảo hiểm càng mở rộng, phí bảo hiểm càng cao do khả năng chitrả bồi thường của DNBH càng lớn
+ Thời hạn bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm luôn được giới hạn về mặt
thời gian Khi thời hạn bảo hiểm dài có nghĩa là khả năng gặp rủi ro lớn hơn vàtất nhiên mức phí cũng phải tăng lên Trong bảo hiểm nhân thọ, việc tính phí bảohiểm chịu ảnh hưởng lớn của thời hạn bảo hiểm Bảo hiểm nhân thọ không chỉmang tính rủi ro mà còn mang tính tiết kiệm, khi định phí còn phải tính đến giátrị thời gian của đồng tiền
Trang 21+ Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và hạn mức trách nhiệm của
DNBH Đây cũng là nhân tố rất cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến mức phí bảohiểm Đối với phần lớn các nghiệp vụ, các sản phẩm bảo hiểm, mức phí bảohiểm được tính toán trên cơ sở những nhân tố này và tỷ lệ phí bảo hiểm
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: vì chi phí quản lý, điều hành doanh
nghiệp là một bộ phần cấu thành phí bảo hiểm toàn phần
+ Ngoài ra, khi định phí bảo hiểm, DNBH không thể bỏ qua một số
nhân tố quan trọng khác như tình hình cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường,lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, quy định của pháp luật về mứcphí sàn, phí trần…
b Số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm: đối với DNBH đây là nhân
tố rất quan trọng ảnh hưởng tới doanh thu Để cạnh tranh, DNBH có thể giảm phíbảo hiểm nhưng tổng doanh thu của doanh nghiệp vẫn không bị giảm và thậm chícòn tăng vì lượng khách hàng mua bảo hiểm tại doanh nghiệp cũng tăng lên khiphí giảm Khi số lượng khách hàng tham gia bảo hiểm lớn còn làm cho việc địnhphí của DNBH đảm bảo được quy luật số đông
c Quy định của pháp luật: hoạt động của DNBH không nằm ngoài
khuôn khổ pháp luật và chịu sự tác động của pháp luật Doanh thu của DNBH sẽ
bị ảnh hưởng khi Nhà Nước quy định mức phí trần, mức phí sàn Thị phần củaDNBH có thể tăng, giảm dẫn tới doanh thu bị ảnh hưởng khi Nhà Nước thực hiệnchính sách đóng cửa hay mở cửa thị trường bảo hiểm Một số quy định của phápluật làm tăng lượng khách hàng tham gia bảo hiểm, ví dụ: quy định bắt buộc muabảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm tráchnhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động, bảo hiểm cháy… điều đórất có lợi cho các DNBH vì khách hàng tham gia tăng sẽ làm cho doanh thu phítăng
d Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 22Bên cạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bản thân hoạt động đầu tư cũngtạo ra doanh thu cho DNBH Ngoài ra, hoạt động đầu tư còn ảnh hưởng đến việcđịnh phí sản phẩm bảo hiểm Những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ được thiết kế
có tỷ lệ lãi kỹ thuật cao mà hoạt động đầu tư không đáp ứng được sẽ rất khó chocác DNBH nhân thọ tung những sản phẩm đó ra thị trường
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí
Đối với DNBH, chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là khoản chi phí cơbản và luôn chiếm tỷ trọng lớn, do đó khi nói đến các nhân tố ảnh hưởng đến chiphí của DNBH, trước hết phải kể đến một số nhân tố cơ bản sau:
Giá trị thiệt hại thực tế thuộc phạm vi bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm: giá trị thiệt hại thực tế này sẽ quyết định số tiền bồi thường của
DNBH, là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi của doanh nghiệp Nóđược xác định dựa trên:
- Mức độ thiệt hại thực tế: khi định phí bảo hiểm, phải dựa vào xácsuất rủi ro tính theo số liệu thống kê quá khứ, còn số tiền bồi thường phát sinh lạiphụ thuộc vào mức độ thiệt hại thực tế xảy ra trong năm nghiệp vụ Mức độ thiệthại thực tế có thể cao hơn mức dự đoán do có nhiều yếu tố khách quan khônglường trước được tác động, làm cho mức độ rủi ro tăng lên xét cả về số vụ và mức
độ thiệt hại bình quân một vụ, dẫn đến số tiền bồi thường cũng tăng cao hơn sovới dự kiến Ngược lại, mức độ thiệt hại thực tế cũng có thể thấp hơn mức dựđoán của DNBH, từ đó làm giảm chi phí bồi thường Khi quản lý chi phí, DNBHphải đặc biệt chú ý tới nhân tố này
- Phạm vi bảo hiểm: phạm vi bảo hiểm thể hiện giới hạn tráchnhiệm của DNBH về phạm vi rủi ro bảo hiểm, phạm vi không gian và thời gian,phạm vi số tiền bảo hiểm Chính vì vậy phạm vi bảo hiểm ảnh hưởng trực tiếpđến số tiền bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm Phạm vi bảo hiểm càng rộng,
Trang 23mức độ thiệt hại thực tế của đối tượng bảo hiểm thuộc phạm vi trách nhiệm củabảo hiểm càng lớn và ngược lại.
Công tác quản lý rủi ro: đây là nhân tố có tính chủ quan, ảnh
hưởng lớn đến số tiền chi trả, bồi thường của DNBH Nếu DNBH làm tốt côngtác này, mức độ thiệt hại thực tế thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ giảm, kéo theo số tiềnbồi thường hay chi trả bảo hiểm cũng giảm Số tiền bồi thường hay chi trả bảohiểm giảm có thể lớn hơn nhiều so với chi phí DNBH bỏ ra để thực hiện công tácquản lý rủi ro Nếu công tác quản lý rủi ro làm không tốt thì hậu quả là ngược lại
Tình hình trục lợi bảo hiểm: trục lợi bảo hiểm là hành vi của
người tham gia bảo hiểm cố tình gian dối, lừa đảo, có ý định ngay từ khi tham giabảo hiểm hoặc sau khi rủi ro xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm nhằm chiếm đoạt
số tiền bồi thường của bảo hiểm mà lẽ ra họ không được hưởng Có nhiều hìnhthức trục lợi bảo hiểm như: hợp lý hóa ngày và hiệu lực bảo hiểm khi rủi ro xảy ravào thời điểm đã hết hiệu lực hợp đồng; lập hồ sơ đòi bồi thường nhiều lần khôngtuân theo nguyên tắc “ đóng góp” trong bảo hiểm tài sản; khai tăng mức độ thiệthại… ngoài ra, các hành vi trục lợi của khách hàng bảo hiểm còn có sự tiếp taycủa nhân viên bảo hiểm, của các cơ quan chức năng có liên quan Các hành vi nàyảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, làm tăng chi phí của DNBH Đồngthời, hành vi trục lợi bảo hiểm còn ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội, kỷ cươngpháp luật, làm nhiễu thông tin và mất uy tín của DNBH
Trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ: Các quỹ dự phòng nghiệp vụ
được tính là một khoản chi và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong các DNBH.DNBH phải trích lập dự phòng nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, đây là mộtkhoản chi rất đặc thù và nhạy cảm đối với DNBH Mặc dù dự phòng nghiệp vụ làmột khoản chi, nhưng thực chất DNBH vẫn nắm giữ lượng tiền này Và chỉ cầnmột thay đổi nhỏ trong việc trích lập dự phòng nghiệp vụ cũng làm ảnh hưởngđến tổng chi từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của DNBH
Trang 24 Quy định của pháp luật: quy định của pháp luật không chỉ ảnh
hưởng đến doanh thu mà còn ảnh hưởng đến chi phí của DNBH Ví dụ: NhàNước quy định về lập dự phòng nghiệp vụ, hay Nhà Nước khống chế mức trả hoahồng của DNBH cho các đại lý và môi giới bảo hiểm
Tổ chức bộ máy hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm: đây là
nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí quản lý của doanh nghiệp Để đảm bảonguyên tắc dàn trải và phân chia rủi ro, để phân phối sản phẩm đến tận tay kháchhàng, các DNBH thường phải hoạt động trên phạm vi địa lý rộng Điều đó yêucầu doanh nghiệp phải có một bộ máy tổ chức vừa tập trung, vừa phân tán, vớinhững trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho công tác quản
lý Vì vậy, một mô hình tổ chức bộ máy hoạt động hợp lý, bao gồm cả tổ chứcmạng lưới đại lý, môi giới hay cộng tác viên bảo hiểm, sẽ giúp DNBH tiết kiệmđược các chi phí quản lý của mình
4 Phương pháp và các chỉ tiêu phân tích tình hình doanh thu, chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
4.1 Sự cần thiết khách quan của phân tích doanh thu và chi phí
Doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một trong những chỉtiêu được sử dụng để phân tích hoạt động kinh doanh bảo hiểm Phân tích hoạtđộng kinh doanh đi vào các kết quả đạt được, những hoạt động hiện hành và dựatrên kết quả phân tích đó để ra các quyết định quản trị kịp thời trước mắt – ngắnhạn hoặc xây dựng kế hoạch chiến lược – dài hạn
Phân tích hoạt động kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong quá trìnhhoạt động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường vấn đề đặt lên hàng đầuđối với mọi doanh nghiệp là hiệu quả kinh doanh, từ đó mới có thể đứng vữngtrên thị trường, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác lại vừa có điều kiệntích lũy và mở rộng sản xuất kinh doanh Hoạt động phân tích vì vậy mang tính ýthức, nó có tác dụng giúp doanh nghiệp tự đánh giá mình về thế mạnh, thế yếu để
Trang 25củng cố, phát huy hoặc khắc phục, cải tiến quản lý Phát huy mọi tiềm năng củathị trường, khai thác tối đa nguồn lực của doanh nghiệp, nhằm đạt đến hiệu quảcao nhất trong kinh doanh Phân tích kinh doanh giúp dự báo, đề phòng nhữnghạn chế rủi ro bất định trong kinh doanh.
4.2 Các phương pháp phân tích
Khi phân tích tình hình doanh thu và chi phí DNBH có thể sử dụng kết hợpcác phương pháp thống kê và toán kinh tế, trong đó có cả các phương pháp truyềnthống và các phương pháp hiện đại Việc lựa chọn phương pháp phân tích phụthuộc chủ yếu vào mục đích, yêu cầu; vào hệ thống chỉ tiêu và mối liên hệ giữacác hiện tượng, các yếu tố phân tích; vào thời gian, không gian và nguồn tài liệuphân tích…
Các phương pháp phân tích cụ thể bao gồm rất nhiều loại, song có thể tổnghợp lại thành 4 loại sau đây:
Mọi kết quả kinh doanh trong DNBH đều cần thiết và có thể chi tiết theonhững hướng khác nhau Thông thường trong phân tích, phương pháp phân tíchđược thực hiện theo các hướng:
- Chi tiết theo bộ phận cấu thành chỉ tiêu để biểu hiện về mặt lượng
và xác định cơ cấu của từng bộ phận trong tổng thể Qua đó đánh giá mức độ đạtđược và vai trò của từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích Ví dụ, doanh thuphí bảo hiểm có thể chi tiết theo nghiệp vụ, theo đối tượng, theo loại hình kinhdoanh và tínhchất của rủi ro được bảo hiểm…
- Chi tiết theo thời gian để kiểm tra, đánh giá mức độ đạt được vềmột chỉ tiêu nào đó theo tiến độ thời gian đã đặt ra, từ đó giúp DNBH tìm ra cácbiện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo hoạt động kinh doanh của mình nhằm hoànthành kế hoạch đặt ra
Trang 26- Chi tiết theo không gian nhằm đánh giá kết quả thực hiện của từng
bộ phận, từng đơn vị, qua đó phát hiện các bộ phận, các đơn vị tiên tiến hay yếukém trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh Phương pháp này không chỉgiúp đánh giá thực trạng ở từng đơn vị, từng bộ phận mà còn phát hiện được khảnăng tiềm tàng để mở rộng thị trường, triển khai sản phẩm mới, tuyển dụng đại lýbảohiểm…chẳng hạn số đơn bảo hiểm hỏa hoạn đã cấp có thể chi tiết theo đơn vịhành chính, vùng, thành thị và nông thôn, các đơn vị trong cổ đông và ngoài cổđông tham gia bảo hiểm…
b Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt độngkinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Khivận dụng phương pháp này phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
- Xác định gốc so sánh: Gốc so sánh phụ thuộc vào mục đích và yêucầu của quá trình phân tích Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởngcủa các chỉ tiêu thì gốc so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (tháng trước, quýtrước và năm trước…) Khi nghiên cứu tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh doanhtrong các khoảng thời gian của một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước(tháng hoặc quý) Khi đánh giá mức độ biến động so với các mục tiêu đặt ra, thìtrị số thực tế sẽ được so sánh với mục tiêu đề ra…Các trị số của chỉ tiêu của kỳtrước, kế hoạch, mục tiêu hoặc cùng kỳ năm trước gọi chung là trị số kỳ gốc Thời
kỳ chọn để phân tích gọi là kỳ phân tích Ngoài việc so sánh theo thời gian, phântích hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn tiến hành so sánh giữa các đơn vị, bộphận về một chỉ tiêu nào đó Khi ấy, gốc so sánh có thể là mức độ đạt được củamột đơn vị tiên tiến nào đó hoặc là mức độ đạt được bình quân của cả DNBH Ví
dụ, so sánh mức thu nhập bình quân của một cán bộ nhân viên chi nhánh bảohiểm A so với mức thu nhập bình quân của cả doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 27- Điều kiện so sánh: khi so sánh theo thời gian cần đảm bảo cácđiều kiện về nội dung kinh tế của chỉ tiêu, phương pháp và đơn vị tính toán… nộidung kinh tế của chỉ tiêu thường có tính ổn định, nó chỉ thay đổi khi phân chia lạicác đơn vị, bộ phận quản lý hoặc thay đổi chính sách quản lý Nếu có sự thay đổiphải tính toán lại trị số gốc theo nội dung mới để so sánh Khi so sánh mức độ đạtđược về một chỉ tiêu nào đó, các đơn vị, các bộ phận khác nhau cần đảm bảo tínhchất “so sánh được” giữa chúng Tính “so sánh được” hay còn gọi là “tổng thểđồng chất” thể hiện tính thống nhất ở phương hướng và điều kiện kinh doanh,thời gian và đơn vị tính toán
- Mục tiêu so sánh: là xác định mức biến động tuyệt đối, tương đối
và xu hướng biến động của mỗi chỉ tiêu phân tích Mức biến động tuyệt đối đượcxác định trên cơ sở so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ, còn mức biến độngtương đối là kết quả so sánh giữa trị số kỳ phân tích với trị số kỳ gốc Hoặc giữatrị số kỳ phân tích và trị số kỳ gốc nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số củachỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô và chỉ tiêuphân tích Nếu sử dụng một chuỗi các so sánh liên tục về một chỉ tiêu nào đó theothời gian, có thể thấy rõ xu hướng của sự biến động
e Phương pháp loại trừ
Có nhiều trường hợp khi phân tích hoạt động kinh doanh trong doanhnghiệp, cần nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh nhờphương pháp loại trừ Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh, bằng cách khi xác định ảnhhưởng của nhân tố này, thì loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác Chẳng hạn, khiphân tích doanh thu phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới, có thể quy về sự ảnh hưởngcủa 3 nhân tố sau: số xe tham gia bảo hiểm, phí bảo hiểm bình quân mỗi loại xe,
cơ cấu các loại xe tham gia bảo hiểm Rõ ràng, cả 3 nhân tố đó cùng đồng thờiảnh hưởng đến doanh thu phí bảo hiểm vật chất thân xe cơ giới; nhưng để xác
Trang 28định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố nào đó phải loại trừ ảnh hưởng của hainhân tố kia.
Phương pháp loại trừ thể hiện rõ nhất khi phân tích “chỉ số tổng hợp” hoặc
“chỉ số bình quân” về một chỉ tiêu nào đó Hoặc cũng có thể dựa vào phươngpháp “số chênh lệch” hay phương pháp “thay thế liên hoàn” để loại trừ Tuynhiên, khi sử dụng phương pháp loại trừ phải chú ý đến điều kiện vận dụng,chẳng hạn các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích phải được biểu hiện dướidạng tích số (hay thương số) và việc sắp xếp trình tự các nhân tố ảnh hưởng đếnchỉ tiêu phân tích cần tuân theo quy luật “lượng biến dẫn đến chất biến”
e Phương pháp liên hệ
Mọi kết quả kinh doanh của DNBH đều có mối liên hệ mật thiết với các bộphận, các mặt, các yếu tố trong quá trình hoạt động kinh doanh Để lượng hóa cácmối quan hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, có thể sử dụng phổ biến các mốiliên hệ sau đây để phân tích
- Liên hệ cân đối (như: cân đối thu chi, cân đối giữa tài sản cố địnhvới tài sản lưu động, cân đối giữa vốn chủ sở hữu với tổng ngồn vốn…)
- Liên hệ cùng chiều và ngược chiều (như: chi phí tuyên truyềnquảng cáo với doanh thu phí bảo hiểm, chi phí đề phòng hạn chế tổn thất vớichi bồi thường…)
- Liên hệ trực tiếp với liên hệ gián tiếp;
- Liên hệ tuyến tính và phi tuyến tính;
- Liên hệ một chiều và liên hệ nhiều chiều;
- Liên hệ thực (liên hệ tương quan hay liên hệ hàm số)
4.3 Các chỉ tiêu phân tích
Trong hoạt động kinh doanh người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chi phí
để đánh giá việc sử dụng quản lý các chi phí cũng như hạch toán chi phí chothuận lợi Đặc biệt trong phân tích choạt động kinh doanh sử dụng nhiều chỉ tiêu
Trang 29chi phí khác nhau nhằm đánh giá đầy đủ và chính xác chi phí hoạt động củadoanh nghiệp.
Tổng chi phí: là chỉ tiêu tuyệt đối nói lên quy mô của chi phí Chỉ
tiêu này phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh có liên quan đến sự tồn tại và hoạtđộng của doanh nghiệp (hoặc một bộ phận, một loại sản phẩm của doanhnghiệp)
Tỷ suất chi phí: đây là chỉ tiêu tương đối nói lên trình độ tổ chức
hoạt động kinh doanh, chất lượng quản lý chi phí Nhìn chung doanh nghiệp nào
có tỷ suất chi phí thấp có thể sơ bộ kết luận doanh nghiệp đó kinh doanh có hiệuquả Tỷ suất chi phí thấp đưa đến lợi nhuận cao và từ đó tạo điều kiện để lợinhuận càng nhiều
P = M
T
* 100Trong đó: P : Tỷ suất chi phí
T : Tổng chi phí
Tỷ suất chi phí được coi là một chỉ tiêu chất lượng, tỷ suất chi phí của sảnphẩm nào thấp, của bộ phận nào thấp thì doanh nghiệp cần đẩy mạnh chất lượngsản xuất kinh doanh ở những sản phẩm, bộ phận đó thì lợi nhuận của doanhnghiệp sẽ được nâng cao
Tỷ trọng chi phí: là chỉ tiêu tương đối phản ánh chi phí đó chiếm
bao nhiêu phần trăm trong tổng phí
P i =
Ti
t
*100
Trong đó Pi : Tỷ trọng chi phí của khoản mục i
ti :Chi phí của khoản mục i
Trang 30Tỷ trọng chi phí của từng sản phẩm giúp chúng ta so sánh với tỷ trọngdoanh thu, tỷ trọng lợi nhuận của từng mặt hàng trong tổng số chung để tìm ranhững mặt hàng thuận lợi mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao lợi nhuận chodoanh nghiệp.
ΔP
* 100
Dođặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là thu phí trước, bồi thường
và chi trả bảo hiểm sau nên số phí thu được thực chất là tiền của khách hàng chứkhông phải của DNBH, bởi vậy DNBH phải sử dụng thế nào cho có hiệu quả.Mục tiêu của ngành kinh doanh bảo hiểm nói chung và mỗi DNBH nói riêng làkhắc phục rủi ro, ổn định cuộc sống và sản xuất cho khách hàng từ đó góp phần
ổn định xã hội Bởi vậy số tiền bảo hiểm thu được sử dụng hiệu quả thì DNBHcũng như ngành bảo hiểm cũng sẽ không thực hiện được mục tiêu này Căn cứvào mục đích sử dụng phí của các doanh nghiệp có thể xây dựng một hệ thốngcác chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng phí như sau:
Hiệu quả bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm
=
Chỉ tiêu này nói lên một đồng phí bảo hiểm trong kỳ nhà bảo hiểm đã tiếnhành bồi thường bao nhiêu đồng cho khách hàng từ đó ổn định cuộc sống cho họ
Hiệu quả đầu tư trở lại nền kinh tế
Tổng số tiền bồi thường (chi trả) trong kỳDoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế trong kỳDoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Trang 31 Hiệu quả sử dụng phí để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm
=
Tổng số tiền thu nộp ngân sách trong kỳDoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Tổng chi phí bán hàngDoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Chi phí giám định, đề phòng hạn chế tổn thấtDoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Lợi nhuận trong kỳDoanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Trang 32Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng phí bảo hiểm thu được trong kỳ thì nhàbảo hiểm tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Hiệu quả xã hội
Tỷ lệ phí giữ lại
Tỷ lệ này càng lớn thể hiện khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểmcàng cao Ngoài ra, phần giữ lại mức trách nhiệm của các doanh nghiệp bảo hiểmcao còn góp phần tăng nguồn dự trữ ngoại tệ cho đất nước
Tỷ lệ chi quản lý
* 100
Tổng số khách hàng được chi trả bồi thường trong kỳ
Doanh thu phí bảo hiểm trong kỳ
Tổng phí bảo hiểm – phí nhượng tái bảo hiểm
Tổng phí bảo hiểm
Tỷ lệ phí giữ lại =
Chi phí quản lýTổng phí bảo hiểm
Tỷ lệ chi quản lý =
Trang 33Tỷ lệ này cho biết để khai thác một đồng doanh thu phí, thì doanh nghiệpbảo hiểm phải mất bao nhiêu đồng chi phí, từ đó để có biện pháp tiết kiệm chiphí.
Tỷ lệ hoa hồng =
Tổng số tiền bồi thường (chi trả)
Tổng chi phí
Tỷ lệ chi bồi thường =
Tổng số tiền bồi thường (chi trả) trong kỳTổng phí bảo hiểm thu được trong kỳ
Tỷ lệ bồi thường =
Số HĐBH
có hiệu lực + đầu năm
Số HĐBH khai thác mới - trong năm
Số HĐBH hủy bỏ - trong năm
Số HĐBH đáo hạn
Số HĐBH có hiệu lực + đầu năm
Số HĐBH khai thác mới - trong năm
Số HĐBH đáo hạn
Tỷ lệ
duy trì =
hợp đồng
Trang 34 Tỷ lệ hủy bỏ hợp đồng của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
* 100
4.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là thước đo sự phát triển của bảnthân doanh nghiệp và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra nhữngkết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh chỉ có thể xác định bằng tỷ lệ so sánhgiữa kết quả với chi phí Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so vớimột chỉ tiêu phản ánh chi phí, ta được một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
Xét trên phương diện thống kê, để biểu hiện và đo lường hiệu quả kinhdoanh của DNBH không thể dùng một chỉ tiêu mà phải có một hệ thống chỉ tiêu.Bởi vì, nội dung của phạm trù hiệu quả kinh doanh rất rộng và rất phức tạp Tínhchất phức tạp thể hiện ngay ở bản chất mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Chiphí với tư cách là những yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh rất đa dạng vàbao gồm nhiều loại Ở góc độ kinh tế vi mô, nếu hiểu theo nghĩa rộng, chi phí baogồm toàn bộ nguồn nhân tài, vật lực huy động vào hoạt động kinh doanh Còn đạilượng kết quả lại được thể hiện ở nhiều chỉ tiêu khác nhau Việc tính toán và xácđịnh mỗi chỉ tiêu, việc lựa chọn chỉ tiêu nào để phản ánh hiệu quả là những vấn
đề phức tạp Vì thế, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNBH phải sử dụngmột hề thống các chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu phản ánh một mặt, một quá trình kinh tếnào đó
Nếu ký hiệu một chỉ tiêu chi phí nào đó là C và một chỉ tiêu kết quả kinhdoanh nào đó là K, thì chỉ tiêu hiệu quả H được tính từ hai chỉ tiêu trên sẽ là:
Tỷ lệ hủy bỏ =
hợp đồng
Số hợp đồng bảo hiểm hủy bỏ trong năm
Số HĐBH có hiệu lực + đầu năm
Số HĐBH khai thác mới - trong năm
Số HĐBH đáo hạn
Trang 35H = K
C hoặc H =
KC
Như vậy về nguyên tắc cứ mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh sosánh với một chỉ tiêu chi phí nào đó sẽ tạo thành một chỉ tiêu phản ánh hiệu quảkinh doanh tính theo chiều thuận K/C hoặc chiều ngược lại C/K Nếu có n chỉ tiêukết quả và m chỉ tiêu chi phí thì số lượng chỉ tiêu hiệu quả sẽ là 2m.n
+ Nếu xét trên góc độ kinh tế: hiệu quả kinh doanh của DNBH được
đo bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc lợi nhuận với tổng chi phí chi ra trong kỳ:
Hd =
CD
He =
CL
Trong đó:
Hd, He - Hiệu quả kinh doanh của DNBH;
D - Doanh thu trong kỳ;
L - Lợi nhuận thu được trong kỳ;
C - Tổng chi phí chi ra trong kỳ;
Chỉ tiêu Hd nói lên cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ, tạo ra bao nhiêuđồng doanh thu, còn chỉ tiêu He phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra trong kỳ tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận cho DNBH Các chỉ tiêu trên càng lớn càng tốt, vìvới chi phí nhất định, doanh nghiệp sẽ có mức doanh thu và lợi nhuận ngày càngtăng
+ Nếu xét trên góc độ xã hội: hiệu quả kinh doanh của DNBH được thểhiện ở hai chỉ tiêu sau:
Hx =
BH
TG
CK
Hx =
BH
BT
CK
Trang 36Trong đó:
Hx - Hiệu quả xã hội của công ty bảo hiểm;
CBH - Tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm trongkỳ;
KTG - Số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kỳ;
KBT - Số khách hàng được bồi thường trong kỳ;
cả các chỉ tiêu trên phản ánh tổng hợp nhất mọi mặt hoạt động kinh doanh củaDNBH
Nếu xem xét ở từng mặt, từng khâu và từng nghiệp vụ bảo hiểm có thể tínhđược các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau để phục vụ cho quá trình đánh giá và phântích hoạt động kinh doanh Tuy vậy, tất cả các chỉ tiêu hiệu quả đều phải đảm bảonguyên tắc khi xây dựng, điều đó có nghĩa là mỗi chỉ tiêu phải phản ánh đượctrình độ sử dụng loại chi phí nào đó trong việc tạo ra những kết quả nhất định
Trang 37Chương II: Phân tích tình hình doanh thu và chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm của công ty cổ phần
bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2003 – 2007.
I Giới thiệu về Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO).
1 Lịch sử hình thành và phát triển của PJICO
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (gọi tắt là PJICO) là doanh nghiệp cổphần được thành lập theo Giấy phép số 1873/GP-UB ngày 8 tháng 6 năm 1995 doChủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp với thời gian hoạt động 25 năm.PJICO là doanh nghiệp cổ phần đầu tiên được thành lập trong lĩnh vực bảo hiểm
do các cổ đông lớn là các Tổng công ty lớn của Nhà Nước sáng lập đó là: Tổngcông ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tổng công ty thép Việt Nam (VSC),Ngân Hàng ngoại thương Việt Nam(Vietcombank), Công ty vật tư và thiết bị toànbộ(Matexim), Công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam(VINARE), CĐ Liên hiệpđường sắt Việt Nam, Công ty điện tử Hà Nội(Hanel)
Với số vốn điều lệ ban đầu của công ty là 55 tỷ đồng Công ty được cấpgiấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm số06/TC/GCN ngày 27/5/1995 của Bộ Tài Chính Ngày 15/4/2004 PJICO nhận giấyphép điều chỉnh số 06/GPĐC 12/KDBH của Bộ Tài Chính cho phép công ty bổsung vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng Ngày 26/4/2007, PJICO nhận Giấy phép điềuchỉnh số 06/GPĐC 19/KDBH của Bộ Tài Chính cho phép công ty bổ sung vốnđiều lệ lên 140 tỷ đồng
PJICO hoạt động theo Lật kinh doanh bảo hiểm và Điều lệ hoạt động đãđược Đại Hội Đồng cổ đông thông qua Doanh nghiệp được Sở Kế Hoạch và Đầu
Trang 38Tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 15/06/1995
và Đăng ký kinh doanh thay đổi lần 4 số 060256 ngày 21/12/2006 Lĩnh vực hoạtđộng kinh doanh chính của PJICO gồm kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảohiểm và đầu tư tài chính
Tên giao dịch quốc tế: PETROLIMEX JOINT STOCK COMPANY
Trong những năm gần đây, năm 2004 thực sự đã là một năm đột phá ấntượng nhất đối với công ty PJICO, doanh thu tăng gần 80% so với năm 2003.Năm 2005 là một năm đầy khó khăn, tuy nhiên với sự đồng lòng của toàn thể cán
bộ nhân viên PJICO đã vượt qua được khó khăn đó và đạt được kết quả doanh thu
Trang 39phí bảo hiểm gốc là 729 tỷ đồng tăng 22% so với năm 2004 cao hơn mức tăngtrưởng chung của toàn thị trường là 15%
Năm 2006 mặc dù doanh thu bảo hiểm gốc có giảm so với 2005 nhưng lợinhuận lại tăng 2.5 lần so với 2005 Điều này khẳng định PJICO đang trên conđường phát triển ổn định, an toàn hiệu quả
Trong năm 2007 vừa qua, PJICO đã đạt được những thành công lớn trênnhiều phương diện Tổng doanh thu kinh doanh của công ty đạt 1100 tỷ đồng,tăng trưởng trên 30% so với năm 2006 Lợi nhuận của công ty tăng trưởng 62%
so với năm 2006 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ đạt 40%, là một trong nhữngcông ty có tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ cao nhất thị trường bảo hiểm ViệtNam Năm 2007 PJICO đã thực hiện việc tăng vốn điều lệ lên 336 tỷ đồng, nângcao năng lực tài chính của công ty và tiếp tục thực hiện các công tác chuẩn bị choviệc tăng vốn lên tối thiểu 500 tỷ đồng vào năm 2008
2 Mô hình tổ chức cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động
Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của công ty PJICO gồm có:
- Đại Hội Đồng Cổ Đông: là cơ quan quyết định cao nhất của PJICO ĐạiHôi Cổ Đông có nhiệm vụ thông qua các báo cáo của Hội Đồng Quản Trị; Thôngqua, bổ sung, sửa đổi điều lệ; Quyết định tăng giảm vốn điều lệ; Thông qua địnhhướng phát triển trung và dài hạn; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội Đồng QuảnTrị, Ban Kiểm Soát và quyết định bộ máy tổ chức của công ty
- Hội Đồng Quản Trị: là cơ quan quản lý cao nhất của công ty, có toànquyền nhân danh PJICO để quyết đinh mọi vấn đề quan trọng liên quan đến mụcđích, quyền lợi của PJICO, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại Hội CổĐông Hội Đồng Quản Trị PJICO gồm 9 thành viên: 3 thành viên đại diện Cổ
Trang 40Đông Petrolimex, 5 thành viên đại diện cho 5 Cổ Đông lớn (Vietcombank,Vinare, VSC, Matexim, Hanel), 1 thành viên đại diện cho các Cổ Đông thể nhân
- Ban Kiểm Soát: Ban Kiểm Soát của PJICO do Đại Hội Cổ Đông bầu ra cóchức năng kiểm tra tính hợp lý trong hoạt động quản lý của Hội Đồng Quản Trị,hoạt động điều hành kinh doanh của Tổng Giám Đốc, kiểm soát, giám sát việcchấp hành điều lệ và Nghị quyết Đại Hội Cổ Đông Ban Kiểm Soát của PJICOgồm 5 thành viên
Biểu 1: Sơ đồ tổ chức cơ cấu bộ máy hoạt động
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
- Phòng tài sản hỏa hoạn
- Phòng thị trường & quản lý
nghiệp vụ
- Phòng tái bảo hiểm
- Phòng giám định bồi thường
- Phòng bảo hiểm khu vực 1
- Phòng bảo hiểm khu vực 2
- Phòng bảo hiểm khu vực 3
- Phòng bảo hiểm khu vực 4
- Phòng bảo hiểm khu vực 5
- Phòng bảo hiểm khu vực 6
- Phòng bảo hiểm khu vực 7
- Phòng bảo hiểm khu vực 8
- Phòng bảo hiểm khu vực 9
- Phòng bảo hiểm khu vực 10
- Phòng bảo hiểm khu vực 11
51 CHI NHÁNH GẦN 4000 ĐẠI LÝ
- Chi nhánh Hải Phòng
- Chi nhánh TP HCM
- Chi nhánh Đà Nẵng
- Chi nhánh Quảng Ninh
- Chi nhánh Thái Nguyên