quá trình tinh chế khí là không thể bỏ qua và cần được thực hiện một cách nghiêm ngặt bởi nguồn nguyên liệu đầu vào của nhà máy chứa nhiều các hợp chất dị nguyên tố độc hại ảnh hưởng rất
Trang 1
ĐỒ ÁN
Tìm hiểu quá trình tinh chế khí
của nhà máy đạm Phú Mỹ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã tạo điều
kiện cho tôi được thực tập tại Nhà máy
Tôi xin cảm ơn các kỹ sư công tác tại phòng Công Nghệ -
Nghiên cứu và Phát triển, các cán bộ công nhân viên Xưởng
amonia Phòng Phân tích, phòng tổ chức và kỹ sư Trần Hữu Việt đã
trực tiếp hướng dẫn, cung cấp tài liệu và nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ
tôi trong quá trình thực tập
Và với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cảm
ơn tới các thầy cô trường Đại học mỏ địa chất, các thầy cô trong bộ
môn lọc hoá dấu khoa dầu khí đặc biệt là thầy Nguyễn Anh Dũng đã
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đồ án này
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Dầu khí là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá
Các sản phẩm của dầu được ứng dụng trên tất cả các lĩnh vực từ
cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu cho các ngành công nghiệp (công
nghiệp hoá dầu, công nghiệp điện …) cho đến phục vụ các nhu cầu
dân dụng Đây là một nguồn năng lượng quan trọng, có thể đánh giá
kinh tế của một quốc gia thông qua hoạt động của ngành công
nghiệp năng lượng này
ở Việt Nam, dầu khí tuy còn là một ngành công nghiệp non
trẻ nhưng đầy triển vọng và đã sớm khẳng định được vị trí quan
trọng khi đóng góp một phần lớn vào GDP của đất nước Đảng và
nhà nước khẳng định:Công nghiệp dầu khí là nhành công nghiệp
mũi nhọn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta trong công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
Tiềm năng dầu khí của nước ta đã được khẳng định, tuy nhiên
việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này chưa được hợp lí
Trong gần 10 năm khai thác dầu, ta buộc phải đốt bỏ 92% lượng khí
đồng hành, không chỉ làm lãng phí một lượng lớn tài nguyên của đất
nước mà còn gây ô nhiễm môi trường Năm 2004 nhà máy đạm Phú
Mỹ được đưa vào hoạt động đã đánh dấu một giai đoạn mới trong
việc tận dụng nguồn tài nguyên này
Nhà máy đạm Phú Mỹ sử dụng cộng nghệ hiện đại của
Haldor Topsoe A/S , Đa Mạch và Snamaprogetti S.p.A, Italy, sản
phẩm thu được là NH3 thương phẩm, urê và điện quá trình tinh chế
khí là không thể bỏ qua và cần được thực hiện một cách nghiêm
ngặt bởi nguồn nguyên liệu đầu vào của nhà máy chứa nhiều các
hợp chất dị nguyên tố độc hại ảnh hưởng rất lón đến qua trình Ure
tuy la nguồn sản phẩm chính của nhà máy nhưng NH3 cũng không
thể thiếu trong nhà máy bởi nó không chỉ la nguồn nguyên liệu
Trang 4chính để sản suất Ure mà nó còn đóng góp một phần không nhỏ về
kinh tế cho nhà máy Để đảm bảo nguồn NH3 cung cấp đủ năng
suất và chất lượng thì quá trình tinh chế là không thể bỏ qua bởi các
tạp chất bị lẫn trong khí sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của sản
phẩm, thậm chí làm cho qua trình tổng hợp không thể thực hiện
được do đó ta cần tìm cách loại bỏ hoặc hạn chế những ảnh hưởng
xấu đó của chúng
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã chọn đề tài: Tìm hiểu quá trình
tinh chế khí của nhà máy đạm Phú Mỹ bao gồm các công đoạn :
Quá trình hydro hoá và loại các hợp chất lưu huỳnh
Quá trình reforming
Quá trình chuyển hoá CO
Qúa trình hấp thụ CO2bằng MDEA
Qúa trình mêtan hoá
cho đồ án tốt nghiệp của mình
Tuy nhiên do thời gian và trình độ còn hạn chế cho nên trong
đồ án không tránh khỏi những sai sót, kính mong thầy cô giáo, các
anh chi và các bạn góp ý kiến để đồ án được hoàn thiện hơn Em xin
CO2 đi tổng hợp Urê ( 1600 Không khí (để
Tháp chuyển
Tháp tách
Tháp Mêtan
Vòng tổng hợp
Amôniắc thành phẩm Hõi nýớc
SÕ ĐỒ 2: QUY TRÌNH SẢN XUẤT AMÔNIẮC
Trang 5Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hương
CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ KHÍ
1.1 Nguồn gốc hình thành dầu và khí
Hiện nay chúng ta chưa biết chính xác nguồn gốc dầu mỏ và
khí tự nhiên mà chỉ có thể giải thích bằng các thuyết khác
nhau.Trong đó thuyết nguồn gốc hữu cơ là được nhiều người chấp
nhận nhất
Theo thuyết này có lẽ xác thực vật, động vật, mà chủ yếu là
các loại tảo phù du sống trong biển đã lắng đọng, tích tụ cùng với
các lớp đất đá trầm tích vô cơ xuống đáy biển từ hàng triệu năm về
trước đã biến thành dầu mỏ, sau đó thành khí tự nhiên Có thể quá
trình lâu dài đó xảy ra theo ba giai đoạn: biến đổi sinh học bởi vi
khuẩn, biến đổi hoá học dưới tác dụng của các điều kiện địa hoá
thích hợp và sự di chuyển tích tụ các sản phẩm trong vỏ trái đất
a Giai đoạn biến đổi sinh học :
Xác động thực vật bị phân huỷ bởi các vi khuẩn ưa
khí,sau đó bởi các vi khuẩn kị khí trong quá trình trầm lắng dần
trong nước biển Các albumin bị phân huỷ nhanh nhất, các
hydrocacbon bị phân huỷ chậm hơn Các khí tạo ra như H2S, NH3,
N2, CO, CH4 hoà tan trong nước rồi thoát ra ngoài, phần chất hữu
cơ còn lại bị chôn vùi ngày càng sâu trong lớp đất đá trầm tích
Không gian ở đó xảy ra quá trình phân huỷ sinh học đó gọi là vùng
vi khuẩn
Trang 6Dầu mỏ đang được tạo thành ở dạng hỗn hợp lỏng có thể Giai
đoạn biến đổi hoá học :
b.Giai đoạn biến đổi hóa học:
Ơ giai đoạn này, vật liệu hữu cơ còn lại, chủ yếu là các chất
lipit, nhựa, terpen, axit béo, axit humic tham gia các phản ứng hoá
học dưới tác dụng xúc tác của các chất vô cơ trong đất đá ở điều
kiện lớn hàng trăm, thậm chí hàng nghìn atmotphe, ở một vài trăm
độ bách phân Các chất vô cơ khác nhau, đặc biệt là các
aluminóilicat, có thể đóng vai tò xúc tác Quá trình biến đổi hoá học
xảy ra vô cùng chậm Càng xuống sâu, thời gian càng lớn, sự biến
đổi đó càng xảy ra sâu xa theo chiều hướng:
Hợp chất phức tạp sinh vật hợp chất hữu cơ đơn giản
Hợp chất thơm phức tạp hợp chất thơm đơn giản naphten
parafin
HC phân tử lượng lớn HC phân tử lượng bé
Phản ứng chủ yếu xảy ra trong giai đoạn hoá học là phản ứng
cracking, trong đó mạch cacbon của phân tử chất hữu cơ bị đứt gãy
dần Kết quả là các chất hữu cơ đơn giản hơn, chủ yếu là các
hydrocacbon, sinh ra ngày càng nhiều
Đồng thời với việc xảy ra các phản ứng cracking phân huỷ đó
là quá trình ngưng tụ, kết hợp một số chất hữu cơ tương đối đơn
giản vừa tạo thành để tạo ra các chts hữu cơ phức tạp hơn:các chất
nhựa, asphlten Các chất nhựa, asphalten tan kém, nặng hơn nen
phần lớn bị kết tủa, sa lắng, phần ít còn lại lơ lửng phân tán trong
khối chất lỏng hydrocacbon sinh ra bởi quá trình cracking
Tập hợp các phản ứng địa hoá đó đã biến dần các vật liệu hữu
cơ thành dầu mỏ và khí tự nhiên Như vậy có thể coi khí tự nhiên là
sản phẩm của quá trình phân huỷ hoá học của dầu mỏ Dầu mỏ càng
Trang 7già càng nhẹ đi, càng chứa it chất phức tạp, càng biến nhiều thành
khí
c.Giai đoạn di chyển tích tụ tao thành mỏ :
Bị di cư từ chỗ này sang chỗ khác dưới tác dụng vận động của
vỏ trái đất Chúng thẩm thấu, chui qua các lớp đá xốp, chúng chảy
theo các khe nứt và có thể bị tập chung, bị giữ trng những tầng đá
đặc khít, tạo ra các túi dầu mà ta thường gọi là các mỏ dầu Trong
các mỏ dầu các quá trình hoá học vẫn tiếp tục xảy ra, dầu vẫn liên
tục biến thành khí, tạo ra các mỏ khí
Quá trình hình thành dầu à khí xảy ra rất chậm, kéo dài hàng
chục, thậm chí hàng trăm triệu năm rồi và vẫn đang xảy ra, do đó
tuổi của dầu mỏ, của khí tự nhiên là rất lớn
1.2.Phân loại khí:
a Phân loại theo nguồn gốc hình thành khí
Theo nguồn gốc khí khai thác, người ta chia thành khi tự
nhiên ( còn gọi là khí không đồng hành) và khí đồng hành Có thể
có những khí phi hydrocacbon như CO2, H2S, N2, He, Ar… với
lượng nhỏ và được xem là tạp chất
* Bảng 1.1 trình bày khí không khí không đồng hành là khí
khai thác từ mỏ khí, thường giàu metan, etan còn các khí khác như
propan, butan, pentan …có hàm lượng ít hơn
* Khí đòng hành là khí khai thác cùng với dầu Khi ở dưới
mỏ, các khí nhẹ như metan, etan, propan…tan hầu hết trong dầu
Nhưng khi khai thác lên được tách thành pha khí, khí này còn gọi là
Trang 8Cấu tử Mỏ Xibêri
(Nga)
Urengôi (Nga)
Lan Tây (Việt Nam)
Lan Đỏ (Việt Nam)
Rồng đôi (Việt Nam)
Nói chung, về thành phần định tính, khí tự nhiên và khí đồng
hành không có gì khác biệt nhau nhiều nhưng về định lượng thì khí
không đồng hành giàu mêtan hơn, còn khí đồng hành chứa hàm lượng
etan ít hơn nhưng các khí nặng như etan, propan, butan lại có hàm lượng
lớn hơn.Tuy vậy, thành phần trình bày ở bảng 1.1 và 1.2 có thể thay đổi
theo thời gian khai thác và tuỳ thuộc từng mỏ và nguồn gốc hình thành
Trang 9mỏ b.Phân loại theo hàm lượng hydrocacbon
Theo cách phân loại này, người ta thường phân biệt khí béo và khí
gầy (hay khí giàu, khí nghèo)
Khí béo(khí giàu) là khí có hàm lượng C3+ 50g/m3 khí ở
điều kiện 150C và 101,3Kpa
Khí gầy( khí nghèo) là khí có hàm lượng C3+ 50g/m3 khí ở
điều kiện 150C và 101,3Kpa
Nếu khí thuộc loại khí béo, người ta chọn công nghệ thích
hợp để tách C3+ thành các sản phẩm lỏng(LPG,condensate ) Ngược
lại, nếu khí thuộc loại khí gầy thì sau khi loaị bỏ các tạp chất (như
nước,CO2,H2S, N2…) người ta dùng khí làm nhiên liệu cho nhà máy
điện hoặc đun nấu
c Phân loại theo hàm lượng khí axit
Theo cách phân loại này, người ta phân biệt khí chua và khí
ngọt
Khí chua là khí tự nhiên (hoặc khí đồng hành) chưá hàm
lượng H2S >5,8g/m3 khí ở điều kiện 15C và 101,3Kpa hay chứa
hàm lượng CO2>2%V
Trong đó: khí ngọt khí có hàm lượng H2S hay CO2 nhỏ hơn
quy định trên
Nếu khí thuộc loại chua, trong dây chuyền công nghệ xử lý
khí phải có phân xưởng loại bỏ khí axit H2S và CO2 (gọi là phân
xuởng làm ngọt khí) Nếu khí thuộc loại ngọt thì không cần phân
xưởng này
1.3 Tính chất hoá lý của hydrocacbon
Các hydrocacbon trong khí là hydrocacbon no, nên tính chất
của khí là tính chất của hydrocacbon no Ơ điều kiện thường các
hydrocacbon no rất bền vững do cấu trúc có liên kết C-C và C-H
không phân cực hoặc ít phân cực, do đó cúng không phản ứng với
Trang 10axit hoặc bazơ mạnh và với nhiều hoá chất khác Các khí
hydrocacbon no có một số tính chất hoá học sau đây:
Khí hydrocacbon không màu, không mùi không vị Vì vậy để
kiểm tra độ rò rỉ của khí người ta thêm vào chất tạo mùi, tuỳ theo
yêu cầu mức độ an toàn Chất tạo mùi thường sử dụng trong các quy
trình kiểm tra độ rò rỉ của khí mecâptan
Tính tan của chúng không giống nhau, không trộn lẫn với
nước và để dàng hoà tan trong các dung môi hữu cơ
Điểm sôi của các hydrocacbon no mạch thẳnh tăng dần theo
số nguyên tử cacbon trong mạch
.Khối lượng riêng, tỷ khối
Khối lương riêng của khí là khối lương của một đơn vị thể
tích khí ở điều kiện nhiệt độ và áp suất xác định Người ta thường
xác định ở 150C và101,3kpa (hay 1atm) Khối lượng riêng của khí
thường kí hiệu là và đơn vị đo thường là kg/m3
Tỷ số giữa khối lượng riêng của a đối với khí b đo ở cùng
điều kiện nhiệt độ, áp suất gọi là tỷ khối của A so với B Người ta
thường chon B là không khí, khi đó tỷ khối của khí A so với không
Trang 11Ma-Khối lượng phân tử trung bình của khí A
Mkk- Khối lượng phân tử trung bình của không khí
Áp suất hơi bão hoà, nhiệt độ sôi
Mối quan hệ giữa nhiệt độ sôi và áp suất hơi bão hoà của một
chất lỏng được biểu diễn bằng phương trìnhclâpỷon-claucíu
Trong đó: P – Ap suất hơi bão hoà củachất lỏng ở nhiệt độ
t(ok)
R – hằng số khí
o bh
> 0 và T > 0 nên áp suất hơi bão hoà tăng khi nhiệt
độ tăng và ngược lại
1.4.Các thông số tới hạn
Nhiệt độ và áp suất tới hạn là nhiệt độ và áp suất mà tại đó
không còn sự khác biệt giữa tính chất pha lỏng và pha khí (độ nhớt,
khối lượng riêng và các tính chất lý hoá khác đều đồng nhất giữa hai
Hệ số nén tới hạn
0
/g
C1 -161,49 111,66 -82,6 190,85 4,61 6,1985 0,288
Trang 12Hỗn hợp của một khí nhiên liệu với không khí hoặc oxy
nguyên chất với một tỷ lệ nhất đinh có thể cháy khi gặp nguồn lửa
Giới hạn cháy nổ dưới là nồng độ nhỏ nhất (tính theo %v hay
% mol) của khí nhiên liệu với không khí (hoặc oxy) có thể cháy khi
gặp nguồn lửa
Giới hạn cháy nổ trên là nồng độ lớn nhất (tính theo %v hay
% mol)của nhiên liệu với không khí (hoặc oxy) có thể cháy khi gặp
nguồn lửa
Khoảng nồng độ bao hàm giữa giới hạn cháy nổ dưới và giới
hạn cháy nổ trên là vùng cháy nổ Khi nồng độ nhiên liệu nhỏ hơn
giới hạn cháy nổ dưới, khí không thể cháy vì quá loãng Ngược lại
khi nồng độ nhiện liệu lớn hơn giới hạn cháy nổ trên thì khí không
thể cháy được do thiếu oxy
Bảng 1.3: Giới hạn cháy nổ của một số nhiên liệu ở 1atm
Nhiên
liệu
Hỗn hợp với không khí Hỗn hợp với oxy
Giới hạn dưới Giới hạn trên Giới hạn dưới Giới hạn trên
Trang 13Trong thực tế, ta thường phải làm việc với hỗn hợp khí, do đó
phải tính giới hạn cháy nổ dựa theo công thức (1.3) dưới đây:
n N
(1.3)
Trong đó :n1n2 …nk là trị số % thể tích hay %mol của các
khí có trong hỗn hợp
N1 N2 …Nk là giới hạn cháy nổ
Y là giới hạn cháy nổ của hỗn hợp
1.6 Nhiệt cháy (còn gọi là nhiệt trị hay năng suất toả nhiệt)
Khi nhiên liệu phản ứng phát ra ánh sáng và toả nhiều nhiệt
Lượng nhiệt do một lượng nhiên liệu (1kg hay 1m3
khi ở điều kiện tiêu chuẩn) cháy hoàn toàn giải phóng ra gọi là nhiệt cháy (hay nhiệt
trị) Người ta thường phân biệt nhiệt trị cao hay nhiệt trị thấp (hoặc
nhiệt trị trên và nhiệt trị dưới)
Nếu nước do phản ứng cháy tạo ra tồn tại ở thể lỏng, nhiệt tảo
ra được gọi là nhiệt trị cao
Trang 14 Nếu nước do phản ứng cháy tạo ra tồn tại hoàn toàn ở thể hơi,
nhiệt toả ra được gọi là nhiệt trị thấp
Đơn vị đo của nhiệt trị có thể là btu/lb, kj/k, kcal/kg hay kj/m3
, kcal/m3
… Bảng 1.5: Nhiệt trị của một số chát ở 15o C, 1atm
-
51,586 51,920 66,032
18458
50,008 50,387 93,972
25394
49,044 49,396 121,43
27621
49,158 49,540 121,78
27621
48,579 48,931 149,61
30333
48,667 49,041 149,66 30,709
1.7.Khả năng đánh lửa
Để gây ra một đám cháy, cần thiêt phải có 3 điều kiện, đó là
vật liệu cháy, tác nhân cháy (ở đây là oxy) và nguồn nhiệt Trong
không khí, sẽ không có những rủi ro về đánh lửa nếu nhiệt độ hơi
hydrocacbon nhỏ hơn nhiệt độ đánh lửa Tuy nhiên, nếu nhiệt độ hơi
hydrocacbon sẽ tự bắt chảy trong không khí mà không cần có mồi
lửa hoặc tia lửa Hiện tượng này gọi là hiện tương tự đánh lửa
Bảng 1.6 :nhiệt độ tự đánh lửa của một số khí
Cấu tử Nhiệt độ tự đánh lửa (o
Trang 15thường nặng hơn không khí, nên bay là là trên mặt đất, nếu hít phải
hơi hydrocacbon ở nồng độ 0,1% khoảng 5 phút sẽ gây choáng
váng Nếu nồng độ này tăng lên 0,5% thì hít phải trong vòng 4 phút
sẽ có triệu trứng như người say rượu Nồng độ của các hydrocacbon
tối đa cho phép, để không gây độc hại cho con người là 0,1%, không
kể đến H2S
Đối với propane và butane: khi propane và butane cháy
trong điều kiện thiếu không khí, chúng tạo thành cacbônmnoxyt do
hiện tượng cháy không hoàn toàn, có thể gây ảnh hưởng đến sức
khoẻ con người
anh hưởng của condensate: hơi condensate rất độc ,khi con
người bắt đầu nhiễm hơi xăng thì đầu tiên mắt bị kích thích và sau
đó thì bị các triệu chứng thần kinh như chóng mặt, tiếp theo là cac
bộ phận như cơ, da Sù bị ảnh hưởng nếu trường hợp tiếp xúc nhiều
với condensate Các hợp chất thơm (nếu có) trong condensate có thể
gây bệnh ung thư Nếu uống phải condensate có thể gây triệu chứng
buồn nôn, kích thích tuyến nhờn niêm mạc ống tiêu hoá, sau đó có
một vài rối loạn hoặc nếu uống nhiều thì có thể gây mất ý thức
Trang 16CHƯƠNG II:GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ NHÀ MÁY
Vai trò phân bón đối với ngành nông nghiệp là hết sức quan
trọng và hiện nay Việt Nam có nhu cầu rất lớn về phân bón, đặc biệt
là đạm cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cho đến thời điểm
trước năm 2003, sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được 7% nhu
cầu phân đạm, chủ yếu là từ nhà máy đạm Hà Bắc sử dụng nguyên
liệu than đá Lượng còn lại hàng năm nhà nước phải nhập khẩu
trong những năm gần đây
Trang 17Như vậy, có thể thấy rằng nhu cầu sử dụng phân đạm nhập khẩu
sẽ tiếp tục tăng và như vậy sẽ dẫn đến sự phụ thuộc ngày càng lớn
vào thị trường nước ngoài và là một gánh nặng cho nền kinh tế Việt
Nam Điều này càng thấy rõ hơn nếu qua xem xét một vài nét về
tình hình thị trường cung cấp phân đạm trên thế giới trong những
năm vừa qua
Châu Á là thị trường tiêu thụ phân đạm lớn nhất thế giới do khu
vực này có nền nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế
và là một sản phẩm trọng yếu đối với nền nông nghiệp nhưng lại có
sự biến động rất phức tạp với biên độ lớn về giá cả nên hầu hết các
nước trong khu vực, bên cạnh các chính sách tích cực của nhà nước
đều xây dựng các nhà máy sản xuất phân đạm nhằm bình ổn giá,
đảm bảo tự cung cấp sản phẩm ổn định cho nhu cầu thị trường nội
địa và giảm thiểu sự bị tác động của yếu tố bên ngoài
Từ tình hình trên thấy rằngViệt Nam rất cần thiết phải xây dựng
các nhà máy sản xuất phân đạm lớn để từng bước giảm sự phụ
thuộc vào nhập khẩu, tiết kiệm lượng lớn ngoại tệ cho ngân sách
nhà nước và điều quan trọng là tạo nguồn cung cấp ổn định phân
bón từ sản xuất trong nước để đẩy mạnh sự phát triển của ngành
nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển chung của cả nền kinh tế
đất nước
Tháng 4 năm 2000 Thủ tướng Chính Phủ đã giao cho Tổng Cty
Dầu khí Việt Nam phối hợp với các Tổng Công ty Hóa chất Việt
Nam (Vinachem) và Tổng Cty vật tư Nông nghiệp (Vigecam) lập
Báo cáo nghiên cứu khả thi nhà máy sản xuất phân đạm trên cơ sở
nguồn nguyên liệu khí đồng hành
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ vể việc triển khai
công trình Khí– Điện – Đạm , Tổng Cty dầu khí Việt nam đã khẩn
trương soạn thảo và trình Chính Phủ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu
Trang 18Khả thi dự án theo phương thức Việt Nam tự đầu tư tại khu công
nghiệp Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Tháng 3 năm 2001, Dự Án Nhà máy Đạm Phú Mỹ chính thức
được khởi công Sau 3 năm tiến hành xây lắp và chạy thử , hiện nay
Nhà Máy đã chính thức đi vào sản xuất với sản lượng trung bình
khỏang 700 ngàn tấn Urê/năm đạt 95% cụng suất thiết kế kèm theo
những quy định nghiêm ngặt về An Toàn, Hiệu Quả và Sức Khỏe
Môi trường
2.1 Sơ lược về khu công nghiệp Phú Mỹ
Khu công nghiệp Phú Mỹ có tổng diện tích là 1.300 ha Khu
công nghiệp này được quy hoạch cho các ngành công nghiệp nặng
bao gồm các nhà máy điện, luyện kim, hoá dầu và các ngành công
nghiệp chế biến xuất khẩu
Hiện tại khu công nghiệp Phú Mỹ đă có hệ thống cơ sở hạ
tầng đáp ứng phù hợp như: Đường bộ, đường sông, các đường
chuyền tải điện, cấp thoát nước, thông tin, tuyến đường ống và trạm
nguồn cấp khí, các cơ sở phụ trợ cảng, nguồn nhân lực và rất gần
các trung tâm phát triển kinh thế và xã hội rất mạnh là Thành Phố
HCM và Vũng Tàu, đó là các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho
việc thực hiện đầu tư xây dựng và phát triển cho Dự án Nhà máy
Đạm tại khu vực này
2.2.Sơ lược nhà máy đạm Phú Mỹ
Nhà máy Đạm Phú Mỹ có diện tích 63 hecta bao gồm:
Đất sử dụng Diện tích yêu cầu
Trang 192.2.1 Quy Mô Công Trình
Nhà máy Đạm Phú Mỹ bao gồm 3 cụm phân xưởng công nghệ:
- Cụm phân xưởng sản xuất Amoniac có công suất 1.350
tấn Amoniac/ngày, dư 51.000 tấn Amoniac/năm
- Cụm phân xưởng sản xuất Urê từ Amoniac và tạo hạt với
công suất 2.200 tới 2.400 tấn ure/ngày (74.000 – 800.000
tấn ure/năm)
- Cụm các công trình phụ trợ cung cấp điện, nước, hơi nước
và xử lý nước thải
Nhà máy có tổng vốn đầu tư khoảng 400 triệu USD trong đó có
218 triệu USD của công ty dầu khí Việt Nam, phần còn lại được
huy động bởi các ngân hàng trong nước
2.2.2 Nguyên liệu:Nguyên liệu của nhà máy là khí của các mỏ trong
bể Cửu Long và các mỏ khác của bể Nam Côn Sơn, với hàm lượng
như được cung cấp như sau:
Thành phần hay tính chất Giá trị trung bình
Tỷ trọng ở 15,5 0
Nhiệt độ sôi đầu, 0C 41
Nhiệt độ sôi cuối, 0C 131
Khối lượng riêng, kg/mol 18,68 (GPP), 20,65 (AMF)
Nhiệt trị, (LHV), kj/Nm2
40858 (GPP), 44680 (AMF) Điểm sương (0C), 25bar -42 (GPP), -1 (AMF)
Hydrocacbon không no, % thể tích 1
Acromatic, % thể tích
Hydrocacbon no, % thể tích 95
Lưu huỳnh tổng (ppm khối lượng) 368
Các hợp chất lưu huỳnh (ppm khối lượng)
Trang 20Trường Đại học Mỏ - Địa chất 20
Khí đồng hành từ các mỏ này khi được dẫn vào bờ (tuyến
ống Bạch Hổ và tuyến ống Nam Côn Sơn) đã xử lý lưu huỳnh sẽ
được cung cấp cho nhà máy đạm một cách tương đối ổn định về
chất lượng khí trong suốt thời gian hoạt động của nhà máy Tổng
lượng khí dùng hàng ngày của nhà máy là 55000 Nm3/h, trong đó
13000 Nm3 đốt cấp nhiệt cho quá trình reforming, 61000 Nm3 đốt lò
hơi 10B8001, 58000 Nm3 đốt chạy gastuabine chạy máy phát điện
nhà máy với công suất 17 MN Ngoài ra còn có bộ phận tận thu
Trang 21Trường Đại học Mỏ - Địa chất 21
BIỂU ĐỒ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC DỰ KIẾN TỪ BỂ NAM CÔN SƠN
Trang 222.2.3 Sản phẩm của nhà máy
- Amoniac 51000 tấn/năm cung cấp cho ngành công nghiệp
khác trong nước
- Ure dạng hạt 740000-800000 tấn/năm
Trang 23MỘT GOC CỦA NHÀ MÁY
2.2.4.Công nghệ và thiết bị
Công nghệ sản suất Amoniac của hãng Haldor-Topsoe (Đan
Mạch) Công nghệ sản suất phân đạm của hãng Snamprogetty
(Italia)
Các phân xưởng công nghệ chính:
- Phân xưởng tổng hợp Amoniac bao gồm :
Thiết bị khử lưu huỳnh của khí nguyên liệu
Thiết bị reforming sơ cấp
-Phân xưởng sản xuất Ure bao gồm:
Bồn chứa Amoniac tuần hoàn và Amoniac thu hồi
Thiết bị nén CO2 và tổng hợp Ure
Tháp stripping để tách Ure
Thiết bị phân huỷ và thiết bị ngưng tụ
Thiết bị cô đặc và tách chân không
Thiết bị phun và tạo hạt Ure
-Phân xưởng phụ trợ bao gồm:
Hệ thống xử lý nước thải: Bao gồm hệ thống cống ngầm thu
gom các loại nước thải công nghệ, nước mưa, nước làm lạnh,
nước thỉa sinh hoạt, nước cứu hoả, nước nhiễm dầu thu gom từ
các xưởng công nghệ (hệ thống xử lý nước thải để xử lý các loại
nước thảI đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam trước khi thải ra
môi trường)
Trang 24Hệ thống đốt đuốc: Trong nhà máy có 2 đuốc đốt khí riêng rẽ
để đốt các loại khí thải (khí dư) trong quá trình hoạt động của
nhà máy Nột đuốc đốt các loại khí thải có chứa Amoniac, một
đước đốt các loại khí thải có chứa hydrocacbon
Ông khói: ống khói chủ yếu thải khí cháy của tuốcbin khí và
hệ thống nồi hơi với chiều cao thiết kế hợp lý nhằm đạt khả năng
khuyếch tán tốt nhất lượng khí thải ( CO2 , NOx ) sao cho phù
hợp với các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
Hệ thống nước cứu hoả: Cung cấp nước cứu hảo cho toàn bộ
nhà máy
Hệ thống sản xuất điện bao gồm:Bao gồm một nhà máy phát
điện tuabin có công suất 21MW đảm bảo cung cấp toàn bộ điện
chi nhà máy và một phần hoà mạng điện quốc gia
Hệ thống sản suất Nitơ: sản suất Nitơ để phục vụ làm kín các
máy nén khí, thổi rửa đường ôngd và trơ hoá các thiết bị
Hệ thống nước công nghệ và nước làm mát: Đảm bảo sản
suất đủ nước cấp cho các lò hơi và nước làm mát cho các thiết bị
trong nhà máy
Hệ thống lò hơi: Đảm bảo cung cấp hơi nước cho các quá
trình công nghệ với 80-90 tấn/h
Trang 25CHƯƠNG III: CÁC QUÁ TRÌNH TINH CHẾ KHÍ
3.1 QUÁ TRÌNH KHỬ LƯU HUỲNH
3.1.1 Mô tả thiết bị
SƠ ĐỒ 3: CÔNG ĐOẠN KHỬ LƯU HUỲNH
Số thứ tự Tên thiết bị Ký hiệu Số lượng
1 Bộ gia nhiệt khí 10E2004 2/1 2
Khí tự nhiên
Khí sạch tới lò Reforming
Tháp Hyđrô hóa 10-R-2001
Tháp hấp thụ Lu huỳnh 10-R-2002
Trang 263.1.2 Mô tả công nghệ tổng quát:
Khí nguyên liệu mỏ Nam Côn Sơn được xử lí ở nhà máy chế
biến khí Dinh Cố rồi dẫn qua trạm phân phối Viêtgas và đến nhà
máy đạm Phú Mỹ có áp suất 24,5bar Do điều kiện vận hành cuả
nhà máy cần áp suất cao nên khí nguyên liệu này được dẫn qua bộ
nén khí tự nhiên 10K4011 để được nâng áp suất lên 39,2 bar Đây là
máy nén khí li tâm và được kéo bằng môtơ điện Máy này chỉ hoạt
động khi khí thiên nhiên thấp hơn 38 bar
Phần lớn khí thiên nhiên nguyên liệu này có chứa một lượng
nhỏ lưu huỳnh ở dạng tạp chất mà xúc tác dùng cho công nghệ
reforming bằng hơi nước thì rất nhạy cảm với hợp chất chứa lưu
huỳnh bởi vì chúng xẽ gây mất hoạt tính hoặc là nhiễm độc xúc tác
do đó các hợp chất lưu huỳnh phải được khử bỏ trước khi đưa vào
công đoạn reforming, quá trình loại các hợp chât lưu huỳnh gồm hai
giai đoạn: khử các hợp chất lưu huỳnh và hấp thụ lưu huỳnh
3.1.2.1.Hydro hoá các hợp chất lưu huỳnh
Quá trình công nghệ:
Khí nguyên liệu sau khi tăng áp được gia nhiệt đến 3500C
thông qua bộ gia nhiệt 10E2004-2, khí sau khi ra khỏi thiết bị được
bổ sung thêm dòng hydro được lấy từ thiết bị hấp thụ CO2 có lưu
lượng khoảng 1777m3
/h.Trong trường hợp thiết bị hấp thụ CO2 và quá trình tổng hợp amoniac ngừng hoạt động làm cho nguồn hydro
cung cấp cho thiết bị hydro hoá bị không có thì nhiệt độ chất xúc tác
của thiết bị hydro hoá phải được giảm xuống tối đa là 3000C để
tránh cracking đối với hydrocacbon cao và điều này dẫn đến sự hình
Trang 27thành lớp cacbon trên bề mặt chất xúc tác
Hỗn hợp khí sau đó được gia nhiệt lên 4000C thông qua bộ
gia nhiệt 10E2004 rồi vào thiết bị hydro hoá 10R2001 Tại đây, toàn
bộ lượng lưu huỳnh hữu cơ được chuyển hoá thành H2S dưới tác
dụng của xúc tác Coban-Molipđen, có thể xảy ra các phản ứng sau:
Bên cạnh hydrohoá các hợp chất lưu huỳnh, chất xúc tác cũng
hydro hoá olefin thành hydrocacbon no, và các hợp chất có chứa
Nitỏ thành NH3 và hydrocacbon no
Ngoài ra do trong khí nguyên liệu có chứa một lượng nhỏ CO
và CO2 khi đi qua thiết bị hydro hoá nó có thể xảy ra các phản ứng
phụ :
CO2+ H2 CO + H2O (6)
CO2 + H2S COS + H2O (7)
Từ các phản ứng trên ta thấy, sự hiện diện của CO, CO2,
H2O sẽ làm ảnh hưởng đến hàm lượng lưu huỳnh dư đi ra khỏi thiết
bị hấp thụ lưu huỳnh
Trong trường hợp bất thương hàm lương CO cao sẽ xảy ra
phản ứng boudouard:
2CO CO2 + C (8)
Phản ứng boudouard không xảy ra trên bề mặt chất xúc tác
bởi vì chất xúc tác ở trạng thái sunphit, nhưng muội than vẫn hình
thành ở nhiệt độ cao và bám vào chất xúc tác do đó hàm lượng CO
Trang 28cao sẽ nhất thơi khử hoạt tính chất xúc tác Để ngăn chặn quá trình
không mong muốn này ta sẽ giới hạn nồng độ theo thể tích tạp chất
cực đại cho phép trong khí nguyên liệu đối với thiết bị hydro hoá là
: H2 : 3 – 4 %; CO : 5%; CO2 : 5%
Chất xúc tác:
Chất xúc tác trong thiết bị hydro hoá là Coban –
Molipđen, có đặc điểm sau:
Tên thương mại: TK-250
Hoạt tính cao nhất của chất xúc tác hydro hoá phụ thuộc vào nồng
độ của hydro và nhiệt độ Với chất xúc tác ban đầu, nhiệt độ thấp
hơn mức trên vẫn hiêu quả nhưng chất xúc tác ở thời kì cuối nên
nâng nhiệt độ lên cao hơn mức trên Chất xúc tác TK – 250 bị oxy
hoá trong quá trình vận chuyển và hoàn nguyên lại hoạt tính chủa nó
khi được sulphide hoá Trong trạng thái được sulphide hoá chất xúc
tác có thể tự bốc cháy do đó nó không được phép tiếp xúc với
không khí tại nhiệt độ lớn hơn 700C Trong trường hợp chất xúc tác
bị cháy hoặc trong quá trình vận hành nó bị già hoá thì cần phải
được thay thế Để thay trước hết ta cần làm nguội chất xúc tác đến
nhiệt độ môi trường trước khi tháo chúng ra đồng thời phải duy trì
dòng nitơ trao đổi đến bình phản ứng trong khi tháo xúc tác nhằm
làm giảm thiểu sự xâm nhập của không khí
Trang 293.1.2.2 Hấp thụ H2S
Quá trình công nghệ : Khí tự nhiên được hydro hoá đưa vào bình hấp thụ lưu
huỳnh 10R2002A/B Hai bình hấp thụ này là hoàn toàn giống nhau
và được đặt nối tiếp nhau 10R2002B đóng vai trò bảo vệ trong
trường hợp xảy ra sự dư lưu huỳnh khi ra khỏi bình 10R2002A hoặc
trong trường hợp 10R2002A được cô lập để thay thế chất xúc tác
Nhiệt độ vận hành bình thường là khoảng 4000C, dưới tác
dụng của chất xúc tác kẽm oxít phản ứng thuận nghịch xảy ra như
S H
P P
2
2
= 2,6 10 5
tại nhiệt độ 4000C
Khí ra khỏi thiết bị hấp thụ lưu huỳnh thứ hai có nhiệt độ
khoảng 3900C, hàm lượng lưu huỳnh dưới 0,05ppmV được đưa sang
công đoạn chuyển hoá khí tự nhiên bằng hơi nước
Chất xúc tác:
Hai bình hấp thụ 10R2002A/B, mỗi bình có một lớp chất xúc
tác kẽm oxit, có các đặc điểm sau:
Tên thương mại : HTZ-3
Kích thước : có dạng ép dài 4mm
Thể tích chất xúc tác yêu cầu : 16,8
Thể tích chất xúc tác cung cấp vào thiết bị : 17,4
Thành phần theo thể tích các chất chứa trong chất xúc tác
: 99-100% ZnO
Chất xúc tác HTZ-3 đã sử dụng không có khả năng tự bốc
Trang 30cháy và sẽ không phản ứng với không khí tại nhiệt độ dưới 500 -
6000C Tuy nhiên trong trường hợp có sự hình thành lớp cacbon trên
bề mặt chất xúc tác thì nó có thể xảy ra phản ứng với không khí tại
nhiệt đô thấp hơn
Công suất hấp thụ của chất xúc tác ZnO là tối ưu hoá tại
nhiệt độ gần với 4000C, nhưng chất xúc tác sẽ hấp thụ H2S, COS,
CS2 tại nhiệt độ vận hành bình thường Chính vì vậy, trong tửờng
hợp khí tự nhiên chỉ chứa H2S, các thiết bị hấp thụ lưu huỳnh tại igai
đoạn này đã có thể hấp thụ lưu huỳnh đến một phạm vì mà khí tự
nhiên có thể được đưa vào reforming sơ cấp mà không cần thiết lập
một dòng hydro khứ hồi đến thiết bị hydro hoá, việc cracking
amoniac chính vì vậyk cũng trở nên không cần thiết Trong trường
hợp, khí tự nhiên đầu vào chứa ít hợp chất lưu huỳnh như mecaptan,
disunphua, thiophen ,việc thiết lập một dòng hydro khứ hồi đến thiết
bị hydro hoá trước khi đưa khí tự nhiên vào reforming sơ cấp là cần
thiết, nguồn hydro sẽ là amoniac qua cracking khí tổng hợp từ chu
trình
Kẽm sunphile không có tính tự bốc cháy và không yêu cầu
đặc biệt khi dở xúc tác, tuy nhiên hơi công nghệ không nên mang
vào trong 10R2002A/B vì oxit kẽm sẽ bị hydrat hoá và nó không thể
tái sinh trở lại thành ZnO trong thiết bị phản ứng Lúc vận hành bình
thường, hàm lượng lưu huỳnh trong nguyên liệu tiếp xúc với oxit
kẽm giảm đi theo hằng số cân bằng :
S H
O H
2
2 = 1,5 10 6
ở 3600C
Khi một trong hai thiết bị loại lưu huỳnh cần thay thế chất xúc
tác ta cần phải làm nguội chất xúc tác đến nhiệt độ môi trường nhờ
đối lưu tự nhiên và trao đổi khí N2
3.1.2.3.Chỉ tiêu công nghệ
Trang 312 Thiết bị reforming sơ cấp 10H2001 1
3 Bộ gia nhiệt nước cấp nồi
hơi
cấp 10R2001
4 Bộ gia nhiệt không khí 10E2002 2/1 2
5 Bộ gia nhiệt hơi siêu cao áp 10E2003 2/1 2
6 Bộ gia nhiệt nguyên liệu
ng sõ
Khí nhiên liệu
(Khí đốt)
Chuyển hóa CO Khí công nghệ
Hơi nước
Lò Reformi
ng thứ
Không khí
SƠ ĐỒ 4: CÔNG ĐOẠN REFORMING
Trang 32Khí đã khử lưu huỳnh được trộn lẫn với hơi nước một cách từ
từ trong khoảng 10 phút nhằm giảm thiểu sự ngưng tụ trong hệ
thống đầu vào của reformer Tuy nhiên, ban đầu một ít nước vẫn
ngưng tụ ở reformet sơ cấp 10R2003 bộ trao đổi nhiệt thải 10E2008,
bộ gia nhiệt hơi nước 10E2009 và thiết bị chuyển hoá CO nhiệt độ
cao10R2004 do quá trình hâm nóng chất xúc tác và thiết bị
Nước ngưng tụ phải được thải ra tại các điểm thấp nhất phía
trước và phía sau của 10R2004 (một cách sơ bộ phía trên đỉnh của lò
đốt) nhằm đạt được nhiệt độ đầu vào của reformer khoảng 400 -
4500C và nhiệt độ đầu ra của reformer khoảng 700-7500C.Nhiệt độ
khí đốt (flue gas) thoát ra khỏi các buồng đốt không được phép tăng
với tốc độ vượt quá 30-500C/h Sau khi khí nguyên liệu và hơi nước
đã ổn định về nhiệt độ và tỷ lệ theo yêu cầu ta cho hỗn hợp này qua
thiết bị trao đổi nhiệt 10E2001
Hỗn hợp ra khỏi bộ gia nhiệt có áp suất 34,8 bar, nhiệt độ
5350C được đưa vào đỉnh 180 ông xúc tác thẳng đứng thông qua
ống góp phân phối phía trên Các ống này được lắp đặt trong hai
buồng bức xạ nhiệt Phần trên của các ống reformer được nạp chất
xúc tác loại RK-211 và RK-201 trong khi phần đáy của các ống xúc
tác được nạp bằng chất xúc tác R-67-7H Chất xúc tác đã được khử
là bền trong không khí đến nhiệt độ 800C Nếu nó tiếp xúc với
không khí tại nhiệt độ cao hơn, nó sẽ bị oxy hoá, nhưng nhiệt độ sẽ
không ảnh hưởng gi đến chất xúc tác Các ống xúc tác trong buồng
đốt được đốt bằng 480 becđốt được sắp xếp 6 hàng thẳng đứng
trong mỗi buồng nhằm để dễ dàng kiểm soát profile (hệ thống) nhiệt
độ dọc theo chiều dài ống xúc tác và phân phối nhiệt đồng đều dọc
theo chiều dài buồng đốt Bằng cách này sẽ tối ưu hoá việc sử dụng
các ống xúc tác đắt tiền Các becđốt là loại tự hút khí kiểu nút đơn
Các ống xúc tác được đặt trong buồng đốt của reforming sơ cấp
10H2001, mà ở đó bức xạ nhiệt được truyền từ các bécđốt đến thành
Trang 33ống Quá trình reforming hơi nước hydrocacbon khí nguyên liệu
được chuyển hoá thành H2 và cacbonic có thể được biểu diễn bởi
các phương trình sau:
CmHm+ H2O Cm 1Hm1 + H2O +2H2 - Q (11)
CH4 + 2 H2O H2O + 3H2 - Q (12)
CO + H2O CO2 + 2H2 + Q (13)
Phản ứng (11) miêu tả cơ chế phản ứng reforming
hydrocacbon bậc cao sẽ chuyển hoá từng bậc xuống thành những
hydrocacbon bậc thấp và cuối cùng thành phân tử mêtan và được
chuyển hoá trong phản ứng (12) Đối với hydrocacbon bậc cao phản
ứng bắt đầu xảy ra ở nhiệt độ 5000C và mêtan ở 6000C Nhiệt phát
ra từ phản ứng (13) là rất nhỏ trong khi nhiệt cần cho phản ứng (11)
và (12) là rất lớn Nhiệt cần thiết cho phản ứng trong hai thiết bị
reforming (reforming sơ cấp và reforming thứ cấp) được cấp theo
hai cách khác nhau Trong reforming sơ cấp nhiệt cần thiết cho phản
ứng được cung cấp dưới dạng gián tiếp từ lò đốt trong, reforming
thứ cập nhiệt được cung cấp trực tiếp từ quá trình đốt khí công nghệ
với không khí Sự chuyển hoá trong reforming sơ cấp sẽ được điều
chỉnh sao cho tỷ lệ H2/N2 = 3/1 Điều này còn phải khống chế
lượng mêtan như là khí trơ trong khí tổng hợp ở mức càng thấp càng
tốt Đối với cân bằng của phản ứng (12) hàm lượng mêtan giảm đi
khi tăng nhệt độ, tăng hơi nước và giảm áp suất
Khi vận hành ở trường hợp thiết bị thu hồi H2 (HRU) làm việc
và sử dụng khí thải đã được xử lý như là khí nhiên liệu cho
reforming, khí công nghệ ra khỏi reforming có nhiệt độ khoảng
7800C, và hàm lượng mêtan khoảng 15%mol tính theo khí khô Còn
khi vận hành ở trường hợp thíêt bị thu hồi H2 (HRU) không làm việc
và việc sử dụng khí thải không được xử lý như là khí nhiên liệu cho
reforming, khí công nghệ ra khỏi reforming có nhiệt độ khoảng
Trang 348000C và hàm lượng mêtan khoảng 13%mol tính theo khí khô
Khói thải của của phản ứng đi lên và ra gần với đỉnh của
buồng bức xạ nhiệt Nhiệt độ khói thải đi ra khoảng 10270C nó được
xử lý rồi cung cấp một cách riêng biệt cho becđốt nhằm tránh hình
thành amoni cacbamat, nhiệt độ khói thải được sử dụng cho nhiều
mục đích khác nhau của quá trình tổng hợp amôniac
3.2.2.2.Reforming thứ cấp
Không khí công nghệ cấp cho reforming thứ cấp 10R2003
được cung cấp bằng máy nén không khí 10K4021 Đây là máy nén
khí ly tâm với đầu hút là khí quyển thông qua bộ lọc/giảm ôn, và áp
suất đầu ra của cấp bốn là 32,4 bar Máy nén không khí công nghệ
được truyền động bằng tuabine hơi STK4021 Hơi cấp cho tuabine
là hơi cao áp và phụ trợ bằng hơi thấp áp khi mạng hơi thấp áp bị
thừa từ mạng hơi Mở tất cả các điểm xả phía sau của máy nén
không khí để thải bất cứ sự ngưng tụ nào được hình thành
Để phản ứng trong refofming thứ cấp xảy ra hoàn toàn, không
khí được cung cấp với lưu lượng dư O2 là 2% tương ứng với 10%
không khí Trong khoảng không gian trống phía trên của reformer
thứ cấp người ta lắp becđốt 10J2001, tại đây không khí cộng nghệ
và khí từ refofming thứ cấp được trộn lẫn vào nhau ở nhiệt độ
7830C, áp suất 32 bar Reforming thứ cấp được nạp bởi xúc tác
RKS-2-7H Quá trình đốt khí công nghệ và không khí được thực
hiện qua các phản ứng :
H2 + 0,5 O2 H2O + Q (14)
CH4 + 2 H2O CO2 + 4 H2 - Q (15)
Refofming thứ cấp được bảo vệ quá nhiệt khi mà tỷ lệ khí tự
nhiên/không khí quá thấp gây ra quá nhiệt cho thiết bị phản ứng
Nhiệt độ vỏ reformer thứ cấp được theo dõi bởi màu của lớp sơn
cảm ứng nhiệt Nó được giám sát để tránh quá nhiệt của vỏ trong
trường hợp lớp gạch chịu lửa làm việc không tốt Vỏ thiết bị có thể
Trang 35được làm lạnh bằng nước bảo trì, trong trường hợp này máng được
điền đầy và phun lên vỏ thiết bị
Quá trình đốt này khiến cho nhiệt độ khí lên đến 1100-12000C
trong phần trên reforming thứ cấp Từ buồng đốt khí tạo thành được
đưa tiếp xuống phía dưới thông qua tầng chất xúc tác, tại đây phần
còn lại của phản ứng reforming tiếp tục xảy ra Do phản ứng
reforming của mêtan hấp thụ nhiệt, nhiệt độ giảm xuống khi khí đi
xuống dưới qua lớp chất xúc tác và ra ở nhiệt độ khoảng 9580C, áp
suất 30,4bar, hàm lượng mêtan còn lại khoảng 0,6%mol khí khô,
13,5%mol CO, 7,5%molCO2 Chính vì vậy sẽ có nguy cơ hình
thành cacbon theo phản ứng Boudourd như sau:
2CO CO2 + C (muội than) (16)
khi hỗn hợp nguội xuống
Hàm lượng Mêtan dư tại đầu ra của reforming thứ cấp là 0,62
(0,67)%mol tính theo khí khô, tỷ lệ gas/air theo thiết kế là :
0,706Nm3/ Nm3 Lưu lượng không khí công nghệ phải đựơc điều
chỉnh sao cho tỷ lệ H2/N2 đạt yêu cầu khi đi vào máy nén khí tổng
hợp 10K4031
Nhiệt độ cao được tận dụng để sản suất hơi và tiền gia nhiệt
cho hơi siêu cao áp thông qua các bộ trao đổi nhiệt 10E2008 và
10E2009.Sau đó khí có áp suất 30,2 bar nhiệt độ khoảng 360 0C
được đưa sang cụm chuyển hoá CO
Trang 36 Lưu lượng chất xúc tác mà thiết bị yêu cầu : 4,6 m3
Lưu lượng chất xúc tác được cung cấp vào thiết bị : 4,8 m3
Thành phần theo thể tích các chất chứa trong chất xúc tác :
Thành phần Ni NiO MgO Al2O3 K2O CaO
Tên thương mại : PK-201
Lích thước : 16*11 ring
Lưu lượng chất xúc tác mà thiết bị yêu cầu : 7,6 m3
Lưu lượng chất xúc tác được cung cấp vào thiết bị : 7,8 m3
Thành phần theo thể tích các chất chứa trong chất xúc tác :
Thành phần NiO MgO Al2O3 K2O CaO
Lớp chất xúc tác thứ hai :
Tên thương mại : R-67-H7
Lích thước : 13*11 ring
Lưu lượng chất xúc tác mà thiết bị yêu cầu : 18,3 m3
Lưu lượng chất xúc tác được cung cấp vào thiết bị : 18,8 m3
Thành phần theo thể tích các chất chứa trong chất xúc tác :
Lớp xúc tác nằm trên hai lớp của các hạt nhôm với kích cỡ
khác nhau, lưới nhân được đặt trên đỉnh của lớp xúc tác để giữ chất
xúc tác khỏi rung động và bảo vệ chất xúc tác khỏi tiếp xúc trực tiếp
với ngọn lửa
Chất xúc tác bắt đầu bị phân rã ở nhiệt độ khoảng
1400-15000C Chất xúc tác đã được hoạt hoá không được phép tiếp xúc
Trang 37với không khí tại nhiệt độ 1000C vì nó có thể gây phát nhiệt Vì
nhiệt tạo ra do phản ứng oxy hoá không được giải phóng khỏi
reforming thứ cấp nó có thể dẫn đến tình trạng quá nhiệt và phá huỷ
chất xúc tác
Trong khi vận hành cacbon kết tủa trên mặt xúc tác reforming
có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như :
- Vận hành tại các điều kiện mà chất xúc tác được hoạt hoá
không đầy đủ :
Khử xúc tác không đầy đủ (quá trình hoạt hoá)
Ngộ độc (thường là do lưu huỳnh)
Chất xúc tác già
- Vận hành tại các điều kiện không bình thường như:
Tỷ lệ hơi nước/cacbon quá thấp (hoặc trong một số trường
hợp sự tiếp xúc của chất xúc tác với hydrocacbon không có mặt hơi
nước)
Nhiệt độ quá cao hoặc quá trình đốt cháy dữ dội ở phần
đỉnh của reformer, dẫn đến gradien nhiệt độ theo hướng hướng tâm
và theo hướng trục quá lớn, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
phản ứng cracking nhiệt
Tải quá lớn (tải càng lớn, áp suất riêng phần của
hydrocacbon nhẹ sẽ càng lớn, với cùng một mức nhiệt độ, và do đó
dẫn đến nguy cơ xảy ra phản ứng cracking nhiệt
Sẽ cực kỳ khó khăn để đưa ra các giới hạn đối với các thông
số nêu trên, do chúng có sự tương quan chặt chẽ với nhau Tuỳ
thuộc vào hoạt tính của chất xúc tác ta sẽ có những chế độ vận hành
khác nhau, khi chất xúc tác còn mới thì ta nên vận hành hệ thống
thiết bị tại nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ thiết kế, nhưng sau một thời
gian vận hành hoạt tính của chất xúc tác giảm thì ta nên vận hành ở
nhiệt độ cao hơn nhiệt độ thiết kế để quá trình reforming vẫn đảm
Trang 38bảo
Kết tủa cacbon thông thường được xác định nhờ sự gia tăng
nhiệt độ, chênh áp thông qua reformer sơ cấp, được chỉ rõ trên đồng
hồ10PID2052 và nhờ sự xuất hiện của các mảng nóng trên ống xúc
tác của reformer khi vận hành tại các diều kiện vận hành bình
thường và ổn định Cacbon kết tủa hay xuất hiện khi có sự thay đổi
các điều kiện vận hành, như là sự gia tăng công suất nhà máy hoặc
việc giảm tỷ lệ hơi nước/cacbon Do đó các thao tác cần làm là:
Trong bất cứ trường hợp nào xuất hiện cacbon kết tủa như
được chỉ ra bởi sự gia tăng dần độ giảm áp qua reformer, các giải
pháp cần được đưa ra càng sớm càng tốt Để ngừng sự hình thành
cacbon kết tủa hoặc bằng cách thay đổi các điều kiện vận hành về
phía làm cho khuynh hướng tạo cacbon kết tủa thấp hơn, hoặc tốt
hơn là loại bỏ lớp cacbon kết tủa bằng cách thiết lập một tỷ lệ hơi
nước/cacbon đến giá trị từ 10-15 tại áp suát thấp như có thể Việc
đối phó này sẽ trong một vài giờ, loại bỏ được lớp cacbon mới kết
tủa trong điều kiện chất xúc tác đã được khử và các điều kiện vận
hành bình thường có thể được thiết lập trong một thời gian ngắn sau
đó Phải chú ý rằng nhiệt độ khí công nghệ đi vào chuyển hoá CO
tối thiểu trên nhiệt độ điểm sương khí công nghệ 150C, nhằm chống
nước ngưng tụ trên chất xúc tác Ngược lại, phải cô lập thiết bị
huyển hoá CO bằng HV2082 ở đầu ra của 10R2005 và khí xả ra ở
đầu vào 10R2004 thông qua HV2062
Nếu lý do kết tủa cacbon là do tình cờ trong vận hành tại các
điều kiện không bình thường, không cần thực hiện bất cứ một giải
pháp nào
Nếu lý do là do giảm hoạt tính của chất xúc tác, sự khó khăn
lại dễ dàng xuất hiện khi các điều kiện vận hành liên quan đến sự
kết tủa cacbon được thiết lập trở lại
Trong trường hợp đó, cần cố gắng xác định nguyên nhân làm
Trang 39giảm hoạt tính của chất xúc tác là do chất xúc tác không được khử
đầy đủ hay do bị ngộ độc
Liều thuốc cứu chữa là hoặc là khử lại chất xúc tác hoặc là tái
sinh lưu huỳnh như được trình bày ở phần chất xúc tác trong quá
trình loại các hợp chất lưu huỳnh hoặc khử lại chất xúc tác như sau:
Khử một lượng lớn cacbon
Nếu việc hình thành cacbon được phát hiện ở một điều kiện
công nghệ không thay đổi, việc tổn thất áp suất tăng liên tục và lưu
lượng qua từng ống sẽ ở các mức độ khác nhau, cho nên vài ống sẽ
trở nên nóng hơn bình thường Trong trường hợp nghiêm trọng, các
ống có thể bị cô lập do cacbon và chất xúc tác nên có thể vỡ Tái
sinh chất xúc tác trong các ống bị cô lập là điều không thể Một số
lượng cacbon ở lại trong lớp xúc tác nhiều hơn vài ngày không thể
khử như đã nói trong phần trên, nhưng sẽ xử lý bằng oxy hoá, bằng
hơi nước với không khí Xử lý bằng hơi nước với không khí là thích
hợp hơn, vì nó có thể được thực hiện thành công ở nhiệt độ thấp,
trong khi hơi nước chỉ hiệu quả ở nhiệt độ cao và khó đạt đến đỉnh
reformer nơi mà hầu hết cacbon bị kết tủa
Quá trình như sau:
- Cắt dần lưu lượng hydocacbon đầu vào và điều chỉnh lưu
lượng hơi khoảng 10-15 tấn /h Áp suất trong hệ thống reforming
phải càng thấp càng tốt HIC2062 nên mở và ânty cô lập phía trước
của chuyển hoá CO nhiệt độ cao được đóng lại Điều chỉnh quá trình
đốt sao cho đầu vào lớp xúc tác 450 0C và đầu ra lớp xúc tác 6500C
- Đưa dần dần (hơn 4 giờ) không khí cho đến khi 4-5% thể
tích trong hơi nước (quan sát việc tăng nhiệt độ trong reformer thứ
cấp) Không khí được cấp thông qua một dụng cụ đặc biệt nối với
ống không khí công nghệ, duy trì điều kiện này đến khi CO2 trong
reformer giảm xuống dưới 0,2% Nhiệt độ rời reformer sơ cấp
không được phép quá 6500C để thúc đẩy quá trình hoàn nguyên chất
Trang 40xúc tác Kiểm tra ảnh hưởng của SO2 nếu ngộ độc lưu huỳnh được
phát hiện
- Để kiểm tra khử lưu huỳnh đã hoàn thành chưa, tăng lưu
lượng không khí dần dần đến 8-10% thể tích của lưu lựơng hơi
Hàm lượng CO2 sẽ tăng hoặc giảm rất ít
- Khi việc khử cacbon đã hoàn thành, cắt lưu lượng không khí
và duy trì lưu lượng hơi 0,5 -1 giờ để làm sạch không khí trong
reformer
- Sau khi kiểm tra sunphua trong khí tự nhiên đã được khử lưu
huỳnh đưa khí và hơi nước vào như quy trình vận hành bình thường
- Chất xúc tác reforming đã được oxy hoá, thì áp suất của
reformer sơ cấp phải được giữ càng thấp càng tốt để đảm bảo tái
hoàn nguyên hoàn toàn
- Nhiệt độ ra khỏi reformer sơ cấp được tăng lên 750-780 0C
bằng việc tăng quá trình đốt trong reformer sơ cấp, đặc biệt là ở
phần trên của reformer, trong khi đó vẫn được khống chế thấp, chú ý
không để nhiệt độ vượt quá nhiệt độ thiết kế của ống xúc tác Điều
này phải được duy trì 6-12h
- Tiến hành bình thường đến điều kiện hoạt dộng bình thường
Hoạt hoá được trợ giúp nhờ hydro
Nếu hydro có sẵn từ chu trình tổng hợp nó được đưa vào ngay
vào thiết bị hydro hoá sau khi hơi nước có lưu lượng tối đa Áp suất
được duy trì thấp Hydrocacbon nguyên liệu, tương ứng với tỷ lệ hơi
nước/cacbon vào khoảng 6-8, được đưa vào khi nhiệt độ đầu ra vào
khoảng 600- 650 0C
Nếu chỉ có một lượng giới hạn hydro có sẵn, thì hydro chỉ
được dùng khi nhiệt độ đầu vào reformer là gần với nhiệt độ vận
hành bình thường
Với hydro hoặc hỗn hợp hydro và khí, sự hoạt hoá chất xúc