1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc

74 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 745,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do nêu trên, việc xem xét “ Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam liên quan đến thương mại hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc “ là việc làm vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, v

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-*** -LỜI CAM ĐOAN

Tên em là : Mai Bảo Trâm

Lớp : Kinh tế quốc tế 50B

Khoa : Thương mại và Kinh tế quốc tế

Em xin cam đoan chuyên đề thực tập này đã được em nghiên cứu và triểnkhai một cách nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS&TS NguyễnNhư Bình, cùng với việc tham khảo các nguồn thông tin trên sách, báo, tạp chí,mạng Internet, đã được công bố Các số liệu sử dụng trong đề tài được lấy chủyếu từ dữ liệu của Viện kinh tế và chính trị thế giới Nếu phát hiện bất cứ sự saochép nào em xin chịu trách nhiệm kỷ luật theo quy định của khoa và nhà trường

Sinh viênMai Bảo Trâm

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tên em là : Mai Bảo Trâm

Lớp : Kinh tế quốc tế 50B

Khoa : Thương mại và Kinh tế quốc tế

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới sự hướng dẫn tận tình của thầy giáoPGS&TS Nguyễn Như Bình, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp emhoàn thành chuyên đề thực tập này Em cũng xin chân thành cảm ơn các bác, các

cô, các anh chị tại “Viện kinh tế và chính trị thế giới” đã giúp đỡ và tạo điềukiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập để hoàn thành chuyên đề này

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng song với điềukiện thời gian có hạn và lượng kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề khó có thểtránh khỏi sai sót và hạn chế Em rất mong có sự nhận xét và đánh giá của quýthầy cô giáo để chuyên đề được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 6

1.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG

THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC 10

1.2 THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM TỪ THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC 19

1.3 ĐÁNH GIÁ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THỜI GIAN QUA 24

1.3.1 Thành công 24

1.3.2 Hạn chế: 26

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ TRUNG QUỐC 30

2.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ 30

2.2 VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO 32 2.2.1 Quá trình Việt Nam gia nhập WTO: 32

2.2.2 Tổng quan các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam 36

2.2.2.1 Cam kết đa phương 36

2.2.2.2 Cam kết về thuế nhập khẩu 38

2.2.2.2.1.Mức cam kết chung 38

2.2.2.2.2.Mức cam kết cụ thể 38

2.2.3 Những thay đổi trong chính sách về thương mại hàng hoá của Việt Nam khi gia nhập WTO 40

2.2.3.1 Các công cụ thuế 40

2.2.3.1.1.Hàng nông sản 40

2.2.3.1.2.Hàng phi nông sản 40

2.2.3.1.3.Hạn ngạch thuế quan 41

Trang 4

2.2.3.1.4.Tác động của các cam kết cắt giảm thuế quan 42

2.2.3.2 Các công cụ phi thuế 45

2.2.3.2.1.Hạn ngạch và hạn chế xuất khẩu 45

2.2.3.2.2.Hàng rào kỹ thuật 46

2.2.3.3 Các biện pháp hỗ trợ 47

2.2.3.3.1.Trợ cấp xuất khẩu 47

2.2.3.3.2.Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi 48

2.2.3.4 Chính sách tín dụng 48

2.2.4 Ảnh hưởng của việc gia nhập WTO đến thương mại hàng hoá Việt Nam-Trung Quốc 52

2.3 Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc và thương mại hàng hoá Việt Nam-Trung Quốc: 54

2.3.1 Quá trình tham gia khu vực ACFTA của Việt Nam 54

2.3.2 Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc đến thương mại hàng hoá Việt Nam-Trung Quốc 57

2.3.2.1 Đánh giá thuận lợi và những kết quả đạt được sau khi tham gia ACFTA57 2.3.2.2 Đánh giá khó khăn thách thức và những yếu điểm đang còn tồn tại của Việt Nam trong khuôn khổ thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc: 59

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG QUAN HỆ HÀNG HOÁ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 63 3.1 Triển vọng thương mại Việt Nam - Trung Quốc 63

3.2 Kiến nghị hoàn thiện chính sách Thương mại quốc tế liên quan thương mại hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc Error! Bookmark not defined. 3.2.1 Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc 64 3.2.2 Hoàn thiện hành lang pháp lý trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc 64 3.2.3 Tăng cường cung cấp thông tin cho doanh nghiệp về thị trường Trung Quốc Nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến xuất khẩu 71 3.2.4 Nhà nước cần quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động xuất khẩu hàng

Trang 5

3.2.5 Hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính, tín dụng và đầu tư phục vụcho các doanh nghiệp xuất khẩu 69

3.2.7 Chính phủ cần tiếp tục xây dựng những đề án xuất khẩu cụ thể chotừng ngành hàng và từng địa bàn cụ thể tại thị trường Trung Quốc 72

3.2.9 Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để ngăn ngừa các mặthàng kém chất lượng từ Trung Quốc 70KẾT LUẬN 64

3.2.6 Hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho một số ngành hàng

xuất khẩu

3.2.8 Đối với hoạt động buôn bán qua biên giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết

tắt

ACFTA ASEAN – China Free Trade

ASEAN The Association of

Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông NamÁ

ASEM ASia – Europe Meeting Diễn đàn hợp tác Á – Âu

GATT General Agreement on

Tariffs and Trade

Hiệp định chung về thuế quan vàthương mại

MFN Most Favoured Nation Đãi ngộ Tối huệ quốc

TBTs Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật trong thương

mạiTRIMs Trade Related Investment

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính tất yếu của đề tài

Việt Nam đặt mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp hoá vào

năm 2020 Quá trình công nghiệp hoá của Việt Nam có bối cảnh khác với cácnước Đông Á, cụ thể là Việt Nam phải tham gia vào quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế và tham gia vào mạng lưới sản xuất khu vực và thế giới Bên cạnh

đó, các nước trong khu vực như Trung Quốc và ASEAN-4 đã đạt được

những kết quả rất đáng ngưỡng mộ trong phát triển kinh tế

Trong giai đoạn hội nhập như vậy, việc xác định thị trường mục tiêu là điềuquan trọng Việt Nam – Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông, cùng có quan

hệ gần gũi và thân thi ết Điều đáng tự hào là hai bên đã giữ gìn tình hữu nghịtruyền thống và duy trì tiếp xúc buôn bán với nhau từ lâu Vì vậy, Trung Quốchiện nay cùng với EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ được đặt lên làm các đối tác thươngmại hàng đầu của Việt Nam Trung Quốc là một thị trường đầy tiềm năng đểxuất khẩu và cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thương mạigiữa hai bên Trong hoàn cảnh đó, chính sách thương mại quốc tế có một vị tríquan trọng trong việc hỗ trợ thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc.Việt Nam đã hoàn thành đàm phán gia nh ập WTO, đã là thành viên củaASEAN, APEC, WTO, ký kết hiệp định khung với Trung Quốc trong khuônkhổ ASEAN và có nhiều các văn bản song phương Chính phủ Việt Nam đãthực hiện nhiều cải cách về thương mại liên quan thương mại hàng hoá TrungQuốc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, nhiều vấn đề còn bấtcập và cần được tiếp tục xem xét trong việc hoàn thiện chính sách thương mạiquốc tế và cách thức vận dụng các công cụ của chính sách thương mại quốc tếtrong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Chính sách thương mại quốc tế phảiđược hoàn thiện để vừa phù hợp với các chuẩn mực thương mại quốc tế hiệnhành của thế giới, vừa phát huy được lợi thế so sánh của Việt Nam

Với những lý do nêu trên, việc xem xét “ Chính sách thương mại quốc tế của

Việt Nam liên quan đến thương mại hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc “ là

việc làm vừa có ý nghĩa về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn, gópphần thúc đẩy thương mại Việt – Trung, tăng kim ngạch thương mại của quốcgia, đưa Việt Nam hội nhập thành công và đạt được mục tiêu về cơ bản trởthành quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020 Vì vậy em đã chọn đề tài trên đểnghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 8

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ sở, quá trình hìnhthành, những chính sách thương mại quốc tế liên quan thương mại hàng hoáViệt Nam – Trung Quốc Mặt tích cực và tiêu cực, những cái chưa hoàn thiện

và tác động của nó đến thương mại giữa hai bên Từ đó kiến nghị một số giảipháp để hoàn thiện chính sách

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng là các chính sách thương mại quốc tế liên quan đến thươngmại hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong bài là phương phápchủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Cụ thể là phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp, nghiên cứu dữ liệu và phương phápthống kê

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mụccác bảng, biểu, sơ đồ, biểu đồ, chuyên đề được trình bày trong ba chương:Chương 1: Thực trạng thương mại hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc

Chương 2: Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam liên quan đếnthương mại hàng hoá Trung Quốc

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế trong quan

hệ hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc

Trang 10

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

Ngày 7/11/1991 tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài ở Bắc Kinh đãdiễn ra cuộc hội đàm quan trọng giữa các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của ViệtNam và Trung Quốc Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu quá trình bìnhthường hoá quan hệ giữa hai bên Việt Nam-Trung Quốc sau thời gian xung đột

Kể từ khi bình thường hoá quan hệ đến nay, quan hệ hữu nghị hợp tác Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực và đem lạinhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên Cho đến nay, hai nước đã ký kết đượcnhiều hiệp định và các văn kiện khác ở cấp nhà nước Như: “các quy định chung

Việt-về thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO”; “Hiệp định khung vè hợp táckinh tế toàn diện giữa 4 nước Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ vớiASEAN”; “Hiệp định hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc”; “Hiệp định khuvực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc”; “Chương trình thu hoạch sớm EHPtrong khuôn khổ hiệp định thương mại tự do ACFTA”… Đây là nền móng chomột mối quan hệ lâu dài và vững chắc giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc.Đặc biệt, quan hệ thương mại giữa hai nước đã mở ra một trang mới với nhiềuthành tựu và triển vọng

1.1 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Sau khi bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991, kimngạch xuất khẩu vào Trung Quốc không ngừng tăng lên, đóng góp không nhỏvào việc nâng cao tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Nếu năm 1991, tổngkim ngạch xuất khẩu đạt 19,3 triệu USD thì đến năm 2000 con số này đã tănglên gấp 79 lần là 1.534 Sau khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO,

ký các hiệp định đặc biệt là Hiệp định ACFTA, với chương trình thu hoạch sớmEHP, kim ngạch xuất khẩu còn tăng lên mạnh mẽ hơn nữa Tổng kim ngạch đãtăng đến 3,3 tỷ USD vào năm 2006, tăng lên gấp gần 200 lần so với năm 1991.Cho đến nay, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, vớitổng kim ngạch xuất khẩu là hơn 11 tỷ USD vào năm 2011

Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết hơn 30 văn bản thoả thuận, trong đó

có các hiệp định tạo hành lang pháp lý cơ bản cho quan hệ thương mại giữa hainước như: hiệp định thương mại, hiệp định mua bán vùng biên giới, hiệp định vềthành lập Uỷ ban hợp tác về kinh tế thương mại…Các hiệp định này cùng vớicác cặp cửa khẩu được khai thông trên tuyến biên giới Việt - Trung đã tạo cơ sởpháp lý và điều kiện thuận lợi cho các ngành, địa phương biên giới, các doanhnghiệp hai bên tiếng hành hợp tác kinh tế và trao đổi hàng hoá

Trang 11

Chính phủ Trung Quốc đã tỏ thái độ rất tích cực trong việc thúc đẩy quan

hệ hợp tác thương mại giữa hai bên, góp phần cải thiện cán cân thương mại cònchưa cân bằng Tháng 4 năm 2003, Chính phủ Trung Quốc đã xoá các khoản nợcho Việt Nam tương đương 420 triệu nhân dân tệ và Lãnh đạo hai nước cũngnhất trí phấn đấu đạt mục tiêu nâng cao kim ngạch trao đổi thương mại Việt-Trung Mọi cố gắng của hai bên đều được đền đáp khi kim ngạch thương mạingày càng tăng lên qua các năm và ở đây ta thấy rõ được kim ngạch xuất khẩuhàng hoá từ năm 1991 đến năm 2004

Bảng 1.1.Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc

từ 1991-2004

(Đơn vị: Triệu USD)

Năm Kim ngạch xuất khẩu Tốc độ phát triển

Trang 12

Từ năm 2005 cho đến nay, ảnh hưởng của việc gia nhập WTO và khumực mậu dịch tự do ACFTA cùng các cam kết thương mại được thể hiện rõ rệt.Kim ngạch xuất khẩu đã tăng một cách nhanh chóng Trung Quốc đã từ thịtrường xuất khẩu thứ 3 của Việt Nam vươn lên thứ 2 vượt qua Nhật Bản theosau Hoa Kỳ Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, kim ngạch thương mạităng đặc biệt rõ rệt trong 3 năm từ 2008 đến nay, năm 2011 Việt nam đã xuấtkhẩu 11,1 tỷ USD hàng hóa sang thị trường Trung Quốc, chiếm 11,4% thị phần,tăng 29,7% so với năm 2010.

Bảng 1.2 Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2009-2011

Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam

Do những đặc thù nhất định về vị trí địa lý nên hàng hoá nói chung củaViệt Nam và nông sản nói riêng chủ yếu xuất khẩu sang các tỉnh thuộc miền TâyNam và Nam Trung Quốc như Quảng Tây, Quảng Đông, Quảng Châu, VânNam … từ đó hàng hoá đi sâu vào lục địa củ a Trung Quốc Hai tỉnh Quảng Tây,Vân Nam là hai tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với Việt Nam vì vậyđây là cửa ngõ giao thông quan trọng cho việc buôn bán giao thương giữa hainước Việt Nam – Trung Quốc Trung Quốc đã vươn lên là thị trường xuất kh ẩulớn thứ 2 của Việt Nam vượt lên trên Nhật Bản và chỉ sau Hoa Kỳ vào năm2011

Trang 13

Về cơ cấu xuất khẩu, ở những năm 1991-2000, khi thương mại quốc tế

của Việt Nam nói riêng và quan hệ thương mại với Trung Quốc đang bắt đầucũng với những thay đổi dần dần trong đổi mới kinh tế, nền kinh tế Việt Namđang dần đi lên và bắt đầu vươn ra quốc tế H àng hoá xuất khẩu sang TrungQuốc giai đoạn này chủ yếu mới chỉ là nông sản và một vài khoáng sản có thếmạnh như quặng crom, dầu thô, dưới dạng nguyên liệu thô chưa qua chế biến, lànhững sản phẩm Việt Nam đang có lợi thế rừng vàng biển bạc nhưng có giá trịxuất khẩu thấp Mặt hàng công nghiệp tiêu dùng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Số liệu

cụ thể được thể hiện theo bảng số liệu sau:

Bảng 1.3 Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường

Trung Quốc giai đoạn 1992-1995

Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam

Do cơ cấu hàng xuất khẩu giai đoạn này mới chỉ là hàng thô chưa qua chếbiến nên kim ngạch xuất khẩu của giai đoạn này không cao Vì vậy, để nâng caokim ngạch xuất khẩu lên các doanh nghiệp phải kết hợp nâng cao hàm lượng kỹthuật trong hàng hoá, từ đó nâ ng cao chất lượng hàng hoá và giá trị xuất khẩu

Để làm được điều đó đòi hỏi Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ và khuyếnkhích các doanh nghiệp điều chỉnh lại cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Trang 14

Đến những năm 1996-2000, giá trị kim ngạch xuất khẩu đã tăng đáng kể.Ngoài các mặt hàng quen thuộc như dầu thô, cao su, hạt điều thì các mặt hàngdệt may đã bắt đầu xâm nhập vào thị trường Trung Quốc.

Bảng 1.4 Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Trung Quốc

giai đoạn 1996-2000

Đơn vị: USD

Hải sản 9.571.148 32.800.000 51.100.000 - 233.000.000Rau quả 5.097.606 24.800.000 10.400.000 35.700.000 120.400.000Cao su 60.109.096 92.389.261 64.282.000 51.800.000 66.400.000

Dầu thô 16.671.913 87.770.939 86.719.000 331.700.000 749.000.000Than đá 28.693.600 19.115.110 5.227.000 3.600.000 7.900.000Hàng dệt

may

-Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam

Theo số liệu ở bảng ta thấy, hầu hết các mặt hàng chủ lực đều tăng caohơn, điều đó cho thấy chất lượng hàng hoá Việt Nam ngày càng tăng lên và lenlỏi xâm nhập vào thị trường Trung Quốc Thị trường này là một thị trường tiềmnăng với nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng của Việt Nam ngày càng lớn donhững phù hợp trong tiêu chuẩn, văn hoá tiêu dùng và sự gần gũi về vị trí địa lý

Đó là gợi mở để các doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt được thời cơ mở rộng thịphần ở thị trường Trung Quốc bằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm, bao bìnhãn mác đảm bảo sức cạnh tranh bền vững trên thị trường này

Giai đoạn 2001 đến 2006, về cơ cấu mặt hàng không có thay đổi mấy, vẫnchủ yếu là mặt hàng nguyên liệu và khoáng sản thô, nông sản phẩm Tuy nhiên,một kết quả không tốt đó dù hàng nông sản là một trong mặt hàng có lợi thế nhấtcủa Việt Nam và trên thực tế thì xu hướng nhập khẩu nông sản của Trung Quốcvẫn tăng nhưng trong giai đoạn này xuất khẩu lại có xu hướng giảm, trái vớitiềm năng và dự báo trong chương trình thu hoạch sớm với các ưu đãi về thuếcác mặt hàng nông sản, thuỷ sản Cụ thể kim ngạch nông lâm thuỷ sản từ 417

Trang 15

hàng nhìn chung lại có xu hướng tăng lên ( hàng công nghiệp) và giữ ở mứctương đối cao (hàng nguyên liệu) Đó có thể là minh chứng cho sự giả m sút sứccạnh tranh so với các mặt hàng trên thị trường Trung Q uốc trong điều kiện hộinhập là thành viên của WTO và không đủ sức cạnh tranh trong cả với những mặthàng tương tự của các nước bạn ASEAN đặc biệt là Thái Lan.

Bảng 1.5 Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam và Thái Lan vào thị trường

Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam

Gạo là một nông sản có lợi thế so sánh cao ở Việt Nam, nhưng theo sốliệu trên ta thây gạo xuất khẩu vào Trung Quốc với một con số đang còn rấtkhiêm tốn, kém hơn 30 lần so với lượng gạo mà Thái Lan xuất khẩu sang thịtrường này Thêm vào đó, cao su cũng là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực củaViệt Nam nhưng vẫn không thể tham gia được vào top các nước ASEAN xuấtkhẩu cao su nhiều nhất sang Trung Quốc gồm 3 nước đứng đầu đó là Thái Lan,Malaysian và Indonesia

Các doanh nghiệp Trung Quốc với thâm niên buôn bán quốc tế lâu nămnên rất nhạy bén, linh hoạt thích ứng nhanh với những thay đổi của chính sách

và pháp luật của Việt Nam Do đó, họ luôn giành thế chủ động và đi trước trongviệc thâm nhập hàng hoá vào Việt Nam Trong đó, các doanh nghiệp Việt Namvới ít năm kinh nghiệm hơn nên tỏ ra khá chậm chạp, kém linh hoạt, nhạy bén,với môi trường luật pháp, văn hoá Trung Quốc, một nhược điểm của doanhnghiệp Việt Nam đó là không có một sự chủ động trong việc tổ chức nguồnhàng hoá xuất khẩu lâu dài, ổn định mà buôn bán và cụng cấp hàng hoá theophương thức còn hết sức thụ động, làm giảm sự tin tưởng từ phía bạn hàng, đôikhi bị nước bạn ép giá, bắt đền bù gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp Đứngtrước những hạn chế này, các doanh nghiệm cần chấn chỉnh, tìm hiểu kĩ về đốitác trước khi xuất khẩu, nâng cao chuyên môn trong kĩ thuật đàm phán kí kếthợp đồng và thanh toán xuất nhập khẩu

Giai đoạn 2007, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, cao su, hàng thuỷsản, hàng rau quả… là những nguyên liệu thô chưa qua chế biến hoặc mới sơchế Những năm gần đây, Việt Nam vẫn xuất khẩu sang Trung Quốc 3 nhómhàng lớn gồm: Nông lâm thủy hải sản; khoáng sản và hàng công nghiệp Đối vớinhóm hàng công nghiệp, cùng với thực tế đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngàycàng tăng, đặc biệt là đầu tư của các tập đoàn lớn như Samsung thì xuất khẩu

Trang 16

hàng công nghệ cao, hàng điện tử chất lượng tốt sẽ tăng lên trong thời gian tới.Đối với nhóm hàng nông sản, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này vẫn tăngđều Tuy nhiên, vừa qua, Trung Quốc đã ra một số quy chế mới buộc các doanhnghiệp nước ngoài muốn xuất khẩu hàng nông sản, thủy sản, trái cây vào TrungQuốc phải đăng ký doanh nghiệp Quy chế này cho thấy Trung Quốc đang tăngcường việc quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với nhóm hàngthiết yếu nhưng cũng là tín hiệu tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam tuân thủđúng quy định sẽ có được đầu ra xuất khẩu ổn định để không bị mất thị trường.

Bảng 1.6 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc

Sắn và các sản phẩm từ sắn 506.104.085 516.295.862 860.325.042Bánh kẹo và ngũ cốc các loại 19.578.659 30.322.136 31.057.712

Dầu thô 462.623.331 366.631.900 1.075.544.476Xăng dầu các loại 118.139.059 391.324.584 753.693.786Quặng và khoáng sản khác 103.633.823 101.915.301 125.549.097

Sản phẩm hoá chất 16.781.701 42.148.394 79.460.780

Trang 17

Chất dẻo nguyên liệu 20.496.808 53.210.068 33.088.715Sản phẩm từ chất dẻo 15.854.558 17.579.162 19.931.594Cao su 856.712.920 1.420.788.726 1.937.566.406Sản phẩm từ cao su 35.454.304 50.583.680 93.677.400

Gỗ và các sản phẩm gỗ 197.904.038 404.908.645 625.723.010Giấy và các sản phẩm từ giấy 3.070.508 3.906.300 6.654.143

Hàng dệt, may 46.157.954 93.551.932 203.116.958Giày dép các loại 98.016.953 154.970.503 252.608.652Sản phẩm gốm sứ 2.052.491 1.850.612 1.322.112Thuỷ tinh và các sản phẩm từ

và linh kiện

287.186.672 659.432.561 1.058.418.384

Điện thoại và linh kiện 24.245.982 38.440.638 87.181.656Máy móc, dụng cụ phụ tùng 93.426.908 249.940.811 282.555.766Dây điện và dây cáp điện 6.674.802 24.092.778 55.522.095Phương tiện vận tải và phụ

tùng

30.198.327 62.173.313 96.472.692

Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Năm 2011, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng trưởng ở hầu khắpcác mặt hàng Những mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trên 1 tỷ USD làcao su, dầu thô, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện và than đá

Trang 18

Trong đó cao su là mặt hàng chủ đạo đạt kim ngạch cao nhất, với 1,9 tỷUSD chiếm 17,4% thị phần, tăng 712,4% so với năm 2010, do ngành côngnghiệp ô tô của Trung Quốc đang được đẩy mạnh, theo đó là nhu cầu về cao suthiên nhiên Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam nên đẩy mạnh ngành côngnghiệp chế biến cao su, xuất khẩu cao su tổng hợp hay các mặt hàng cao su nhưsăm lốp… để đạt giá trị xuất khẩu cao hơn và giữ được thế chủ động hơn trongtình hình kinh tế bất ổn như hiện nay.

Thứ hai là mặt hàng dầu thô với 1,075 tỷ USD, tăng 2746,48% (là mặthàng tăng trưởng cao nhất) so với năm trước Theo phân tích của các chuyêngia, do kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh nên nhu cầu nhập khẩu dầu thôcủa Trung Quốc tăng nhanh cùng với giá dầu thô trên thế giới đang tăng sẽ cólợi cho xuất khẩu dầu thô Tuy nhiên, Việt Nam cũng nên có những biện pháphạn chế xuất khẩu dầu thô, tăng cường kĩ thuật chế biến dầu thô để tăng hàmlượng giá trị xuất khẩu

Sau khi ký kết “Quy tắc kiểm dịch an toàn vệ sinh thuỷ hải sản, gạo v àthực phẩm”, mặt hàng thuỷ hải sản và nông sản phẩm chất lượng thông thườngcủa Việt Nam đã có thể xuất khẩu sang Trung Quốc thuận lợi hơn Cũng theo lộtrình giảm thuế trong “Chương trình thu hoạch sớm” của ACFTA, việc xuấtkhẩu rau quả và thuỷ sản được đẩy mạnh hơn

Theo VASEP , thì năm 2011 Trung Quốc đã vươn lên trở thành thị trườnglớn thứ 4 của tôm Việt Nam sau Nhật Bản, Mỹ và EU Theo đó, trong năm

2011, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc đạt trên 223 triệu USD, tăng55% so với năm 2010 Như vậy, giá trị xuất khẩu tôm sang Trung Quốc trongnăm qua đã tăng gấp 6 lần so với năm 2007 (trên 36,7 triệu USD)

Trang 19

1.2 THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT NAM TỪ THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC

Nhập khẩu hàng hoá Trung Quốc của Việt Nam bắt đầu gia tăng mạnh từnăm 2000 Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại nhập khẩu lớn nhất củaViệt Nam, vượt qua cả Nhật Bản và Hàn Quốc Tỷ trọng nhập khẩu hàng hoáTrung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu từ năm 2005 đến nay hầu như đều

ở mức trên 15%/năm, cao hơn từ hai đến ba lần so với tỷ trọng của hàng hóaViệt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc trên tổng kim ngạch xuất khẩu

Bảng 1.7 Kim ngạch nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc 2000-2008

Đơn vị: Triệu USD

Trang 20

từ khi hiệp định tự do thương mại giữa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) bắt đầu

có hiệu lực từ ngày 1.7.2005 Trung Quốc là đối tác đầu tiên ký thoả thuận mậudịch tự do với khối ASEAN Nhưng đây chỉ là cơ sở pháp lý để Việt Namchuyển mạnh nhập siêu từ các nước ASEAN sang Trung Quốc, khi đồng CNYvẫn yếu tương đối so với các đồng tiền trong khu vực trong những năm vừa qua.Còn bản chất của việc Việt Nam nhập khẩu từ các nước láng giềng chủ yếu là do

cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam Việt Nam nhập khẩu phần lớn máy mócthiết bị cũng như nguyên vật liệu chế tác từ nước ngoài, sau đó gia công lắp ráp

và xuất khẩu đi các nước khác

Số liệu của tổng cục Hải quan cho thấy, cơ cấu của từng nhóm mặt hàngtrong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốc vẫn khá ổn địnhqua từng năm Nhóm hàng hoá tiêu dùng và phương tiện giao thông vận tảithường chiếm từ 4 – 5,5% Nhóm hàng hoá phục vụ sản xuất chiếm từ 55 –60% Còn nhóm máy móc thiết bị chiếm từ 22 – 25%

Nhóm hàng hoá phục vụ sản xuất bao gồm các nguyên liệu đầu vào chocác ngành sản xuất trong nước như phân bón, thuốc trừ sâu thức ăn gia súc vànguyên liệu; xăng dầu và khí đốt; chất dẻo, cao su, gỗ và hoá chất… và cácnguyên liệu đầu vào để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu như nguyên vật liệu dệtmay da giày, chất dẻo, máy tính và hàng điện tử… Đa phần các nguyên liệunhập từ Trung Quốc đều là sản phẩm đầu vào của các hãng xuất khẩu trongchuỗi sản xuất toàn cầu Do các ngành phụ trợ sản xuất nguyên vật liệu phục vụxuất khẩu của Việt Nam chưa phát triển, nên Việt Nam buộc phải nhập từ TrungQuốc Sự phụ thuộc này là một lẽ tự nhiên bởi Trung Quốc ở gần Việt Nam.Khoảng cách địa lý thuận lợi sẽ giúp cho việc vận chuyển hàng hoá dễ dàng vớichi phí thấp Đơn cử như hàng dệt may da giày, Việt Nam nhập rất nhiều sợi và

da giày từ Trung Quốc, nhưng lại xuất rất nhiều thành phẩm c uối cùng sang cácthị trường lớn khác như EU và Mỹ Hàng máy tính và linh kiện điện tử, chấtdẻo… cũng tương tự như vậy

Đối với nhóm hàng hoá máy móc thiết bị, Việt Nam ưa chuộng hàngTrung Quốc bởi công nghệ của Trung Quốc thường không quá đắt và phù hợpvới tài chính của các doanh nghiệp trong nước Hơn nữa, sản phẩm sản xuấttrong nước lại không phải đáp ứng các chất lượng tiêu chuẩn khắt khe của hàngxuất khẩu nên việc lựa chọn các máy móc thiết bị từ Trung Quốc là phù hợp.Còn với các hàng hoá xuất khẩu, Việt Nam thường xuất thô hoặc xuất khẩu hàng

sơ chế nên các máy móc sản xuất cũng không quá phức tạp, và việc lựa chọnnhập khẩu từ Trung Quốc có thể giúp giảm chi phí đầu tư lớn

Một nguyên nhân quan trọng nữa khiến cho việc nhập khẩu máy móc thiết

Trang 21

bị từ Trung Quốc tăng mạnh là do các nhà thầu Trung Quốc liên tục thắng thầu ởcác công trình lớn và quan trọng tại Việt Nam, chủ yếu là xây dựng các nhà máynhiệt điện, phân đạm, ximăng, bôxít, đường sắt… Với chi phí nhân công tạiTrung Quốc thấp, máy móc thiết bị rẻ hơn và nhận được sự hỗ trợ từ chính sách

tỷ giá đồng CNY yếu, đã khiến cho giá bỏ thầu của các doanh nghiệp TrungQuốc cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp nước ngoài khác và các doanhnghiệp Việt Nam Các gói thầu mà doanh nghiệp Trung Quốc trúng thường đượcthực hiện theo hình thức EPC, tức là các nhà thầu Trung Quốc sẽ làm trọn gói từkhâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến xây dựng

Có thể thấy rằng nền công nghiệp Việt Nam quá mỏng manh, phụ thuộcnhiều vào sản phẩm trung gian nhập từ Trung Quốc Nếu xét đến quá trình pháttriển kinh tế, Việt Nam lẽ ra phải có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực vải sợi (trừloại sợi cao cấp chủng loại đặc biệt như tơ sợi tổng hợp) Tuy nhiên trên thực tế,các sản phẩm như vải dệt may hay dệt kim hầu hết Việt Nam phải nhập từ TrungQuốc

Nhập khẩu hàng hoá từ Trung Quốc năm 2011 trị giá hơn 24 tỷ USD tăng23% so với năm 2010; chiếm 22,4% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá cảnước (gần 107 tỷ USD) Năm 2011, Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu hàng hoá từTrung Quốc, nhưng nhóm các mặt hàng chiếm t ỷ trọng cao về kim ngạch vẫn làmáy móc, thiết bị, phụ tùng; vải may mặc; máy vi tính điện tử và sắt thép Trongnăm này, nhóm máy móc thiết bị nhập khẩu tới trên 8 tỷ USD, chiếm 33,52%tổng kim ngạch nhập khẩu; mặt hàng vải chiếm 11,12%, đạt 2,8 tỷ USD; mặthàng sắt thép chiếm 8,3%, đạt gần 2 tỷ USD Đa số các mặt hàng nhập khẩu từTrung Quốc trong năm này đều tăng trưởng dương về kim ngạch so với 2010;trong đó nhập khẩu tăng mạnh ở một số nhóm mặt hàng như: hàng thuỷ sản tăng83.1% đạt18,7 triệu USD; Ô tô nguyên chiếc tăng 32,2%, đạt 201 triệu USD;Thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 11%, đạt 108 triệu USD Có thể thấy rõ tìnhhình nhập khẩu 3 năm 2009-2011 ở bảng số liệu sau:

Trang 22

Bảng 1.8 Kim ngạch nhập khẩu của Việt nam từ Trung quốc giai đoạn

Hàng rau quả 168.936.751 156.132.660 157.971.732Dầu mỡ động thực vật 927.496 7.765.078 6.515.528Bánh kẹo và ngũ cốc 4.417.673 4.994.264 7.703.221Thức ăn gia súc 140.894.114 97.544.073 108.232.231Nguyên phụ liệu thuốc lá 75.236.815 60.630.082 44.553.929

Xăng dầu các loại 1.290.162.315 1.064.605.256 1.299.990.266Khí đốt hoá lỏng 201.283.937 246.794.803 286.129.914Sản phẩm khác từ dầu mỏ 50.364.555 88.165.482 114.736.828

Sản phẩm hoá chất 309.497.092 405.582.886 458.256.044Nguyên phụ liệu dược phẩm 65.845.042 84.067.590 79.189.884Phân bón các loại 596.025.776 603.399.522 878.770.220Thuốc trừ sâu và nguyên liệu 202.129.020 226.934.364 269.424.397Chất dẻo nguyên liệu 135.134.590 223.235.849 339.602.632Sản phẩm từ chất dẻo 235.309.719 365.375.740 437.303.690

Trang 23

Cao su 16.566.999 42.827.653 59.580.383Sản phẩm từ cao su 57.187.977 70.714.356 97.583.108

Gỗ và sản phẩm gỗ 119.988.250 169.133.208 186.594.941Giấy các loại 46.499.592 57.946.530 68.258.686Sản phẩm từ giấy 79.951.569 115.739.671 132.261.450

Xơ, sợi dệt các loại 115.584.854 239.450.137 338.187.005Vải các loại 1.565.975.737 2.218.368.109 2.799.288.612Nguyên phụ liệu dệt, may 407.445.285 671.006.640 813.762.046

Đá quý và sản phẩm 7.230.595 5.369.408 9.969.727Sắt thép các loại 815.662.347 1.519.043.538 1.489.365.315Sản phẩm từ sắt thép 386.787.685 532.553.347 595.790.800Máy vi tính và linh kiện 1.463.551.047 1.682.597.156 2.362.237.997

Máy móc và phụ tùng khác 4.155.283.341 4.457.295.714 5.182.374.891Dây điện và dây cáp điện 137.962.599 177.695.535 234.315.881

Ô tô nguyên chiếc các loại 152.582.009 152.030.856 201.120.649Linh kiện phụ tùng ô tô 314.345.872 283.103.722 218.932.820Linh kiện phụ tùng xe máy 133.671.504 122.733.681 168.913.532Phương tiện vận tải khác và

phụ tùng

100.852.547 50.230.078 33.690.357

Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Trang 24

1.3 ĐÁNH GIÁ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THỜI GIAN QUA

1.3.1 Thành công

Trong thời gian qua, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng, đối tác chiếnlược hàng đầu của Việt Nam Những con số ấn tượng trong xuất khẩu sang thịtrường Trung Quốc đã góp phần nâng cao tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoácủa Việt Nam Ta có thể thấy rõ thông qua bảng số liệu và biểu đồ sau:

Bảng 1.9 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007-2011

Kim ngạch XK sang Trung Quốc

1.3 ĐÁNH GIÁ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THỜI GIAN QUA

1.3.1 Thành công

Trong thời gian qua, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng, đối tác chiếnlược hàng đầu của Việt Nam Những con số ấn tượng trong xuất khẩu sang thịtrường Trung Quốc đã góp phần nâng cao tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoácủa Việt Nam Ta có thể thấy rõ thông qua bảng số liệu và biểu đồ sau:

Bảng 1.9 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007-2011

Kim ngạch XK sang Trung Quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu

1.3 ĐÁNH GIÁ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THỜI GIAN QUA

1.3.1 Thành công

Trong thời gian qua, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng, đối tác chiếnlược hàng đầu của Việt Nam Những con số ấn tượng trong xuất khẩu sang thịtrường Trung Quốc đã góp phần nâng cao tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoácủa Việt Nam Ta có thể thấy rõ thông qua bảng số liệu và biểu đồ sau:

Bảng 1.9 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007-2011

Trang 25

Từ thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc thờigian qua ta cũng thấy được triển vọng hợp tác lâu dài và bền vững giữa hai bên.Tại nhiều cuộc hội nghị chính trị cấp cao, lãnh đạo hai nước đã khẳng định sựthành công và những kết quả đầy khởi sắc trong quan hệ thương mại của hainước.Thương mại Việt Nam-Trung Quốc cũng hứa hẹn có nhiều triển vọng nhờnhững thuận lợi hai bên có được: sự gần gũi về vị trí địa lí với bảy tỉnh biên giớiViệt Nam và hai tỉnh miền nam Trung Quốc, tiếng nói chung trong tổ chứcthương mại WTO, các diễn đàn kinh tế như ASEM, APEC, Khu vực Mậu dịch

tự do ACFTA…Hơn thế nữa, trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, córất nhiều mặt hàng mà Trung Quốc đã và sẽ có nhu cầu tiêu thụ rất cao trongthời gian tới Đó là động lực để Nhà nước Việt Nam nói chung, các doanhnghiệp Việt Nam nói riêng ngày càng tăng cường xuất khẩu hàng hoá sang thịtrường Trung Quốc Việc đó mang lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu các bàihọc kinh nghiệm quý báu để nâng cao năng lực cũng như nâng cao sức cạnhtranh hàng hoá của mình trên thị trường Trung Quố c nói riêng và thị trường thếgiới nói chung Trong giai đoạn vừa qua, hàng háo Việt Nam cũng đã phần nào

có chỗ đứng và tạo dựng được niềm tin trên thị trường Trung Quốc Việt Namcần đẩy mạnh nâng cao hiệu quả thương mại giữa hai bên bằng các hoàn thiện

về chính sách và giảm thiểu các hạn chế đang còn tồn tại

Bằng sự nỗ lực cả của hai bên, trong những năm qua, kim ngạch thươngmại không ngừng tăng lên chiếm tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch quốc gia

Bảng 1.10 Kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung Quốc và tổng kim ngạch thương mại của quốc gia

Đơn vị : nghìn USD

Tổng kim ngạchquốc gia

Tổng kim ngạchViệt – Trung

Chiếm % so vớitổng kim ngạch

Trang 26

1.3.2 Hạn chế:

Kim ngạch thương mại liên tục tăng qua các năm qua nhưng rõ ràng tathấy nổi lên một vấn đề bất cập đó là nhập siêu, kim ngạch nhập khẩu lớn hơnrất nhiều, gần gấp 3 so với kim ngạch xuất khẩu.Từ việc thặng dư thương mạivào năm 2000 (hơn 35 triệu USD), nước ta đã liên tục chịu thâm hụt thương mạivới Trung Quốc và mức thâm hụt này ngày càng tăng Bằng chứng, giai đoạn2010-2011 nhập siêu từ Trung Quốc là lớn nhất, chiếm 23,2% trong tổng nhậpsiêu của các nước mà Việt Nam có nhập siêu Đặc biệt, tỷ lệ nhập siêu từ TrungQuốc so với nhập siêu hàng hoá của nước ta đã đạt 61,7% vào năm 2008 lên tới154% vào năm 2010 Nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc năm 2011 đang

ở con số “khổng lồ” 13 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ 2010 và bằng gần140% giá trị nhập siêu cả nước Theo các số liệu thống kê và phân tích ở trên, tathấy mối quan hệ hai chiều giữa Việt Nam-Trung Quốc trong những năm qua rõrang diễn ra theo xu hướng có lợi cho Trung Quốc nhiều hơn Bởi lẽ các mặthàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc còn ở dạng thô, hầu hết là các hànghoá thô của ngành nông nghiệp, các sản phẩm chưa qua chế biến, có giá trị giatăng thấp, trong khi đó Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguyên vật liệu đầuvào cho sản xuất nông nghiệp, máy móc thiết bị và hàng tiêu dùng từ TrungQuốc Hơn thế nữa các mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chưa

có một chỗ đứng ổn định và vững chắc tại thị trường này Các doanh nghiệpViệt Nam làm ăn nhỏ lẻ manh mún chưa tìm hiểu kỹ về pháp luật cũng như thịtrường, thị hiếu người tiêu dùng tại đây dẫn đến tình trạng xuất khẩu thấtthường

Trong thời gian trước mắt, nhập siêu Việt Nam-Trung Quốc có thể tiếptục tăng bởi có một số yếu tố tác động như cơ cấu ngành hàng xuất khẩu có giátrị gia tăng cao chưa thể tăng đột biến được Những ngành có lợi thế so sánh nhưdệt may, giày da lại có cơ hội qua ít trên thị trường đầy cạnh tranh như TrungQuốc Bên cạnh đó, ngành công nghiệp phụ trợ trong nước yếu kém, Việt Namphải nhập khẩu các nguyên liệu vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất trongnước và cho xuất khẩu, Trung Quốc có thể là lựa chọn hàng đầu bởi lợi thế về vịtrí địa lý, giá cả và chất lượng phù hợp trong các mặt hàng Bên cạnh đó, đầu tưcủa Trung Quốc vào Việt Nam ngày một gia tăng khiến cho nhập khẩu thiết bịvào Việt Nam cũng gia tăng Đặc biệt, nhận thầu công trình của Trung Quốc ởViệt Nam cũng tăng mạnh nên nhập khẩu thiết bị đi kèm cũng gia tăng khiếnnhập siêu của Việt Nam vì thế mà khó giảm Hiện Việt Nam đứng thứ 5 trong

Trang 27

tổng số 10 thị trường lớn nhất của Trung Quốc về nhận thầu công trình quốc tế ởhải ngoại Ngoài ra, kim ngạch nhập khẩu với Trung Quôc cũng bị tăng về giátrị do giá thành hàng hóa sản xuất của Trung Quốc tăng lên trong những nămgần đây khi đồng NDT tăng giá, giá nguyên nhiên liệu đầu vào tăng, giá nhâncông tăng Việt Nam chủ yếu nhập khẩu hàng Trung Quốc thì cũng chịu nhữngtác động bất lợi này.

Vấn đề nhập siêu này cũng có nghĩa với việc kim ngạch xuất khẩu hànghoá của Việt Nam trong thời gian qua chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.Trên thực tế, xu hướng nhập khẩu nông sản của Trung Quốc vẫn tăng, kimngạch nhập khẩu nông sản của Trung Quốc từ các nước láng giềng ASEANkhông ngừng tăng lên Còn mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam là gạo, càphê, cao su, hạt tiêu… đều là những mặt hàng Trung Quốc có nhu cầu lớn TuyViệt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, cao su xuất khẩu sangTrung Quốc chiếm 60% tổng số xuất khẩu cao su của Việt Nam sang các nước.Tuy nhiên so với các nước khác trong khối ASEAN, có thể thấy hàng hoá ViệtNam vẫn chưa được tham gia vào thị trường Trung Quốc một cách đúng nhưtiềm năng của nó Có lẽ chính phủ Việt Nam chưa thực sự chặt chẽ trong cácvấn đề điều tiết và quản lý các hoạt động mua bán với Trung Quốc bằng chínhsách liên quan thương mại Chính vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưanhận thức được yêu cầu thực sự của thị trường tiềm năng Trung Quốc, vẫn chưa

có các kế hoạch mua bán dài hạn lâu năm mà còn manh mún nhỏ lẻ Từ trướcđến nay một phần lớn thương nhân Việt Nam có quan niệm rằng, Trung Quốc làmột thị trường dễ tính, chất lượng thế nào họ cũng mua và buôn bán ki ểu gìcũng xong Nhưng trên thực tế, nhu cầu tiêu dùng tại Trung Quốc đã thay đổi rấtnhanh cùng với sự tăng trưởng nhanh và mạnh của nền kinh tế Họ đang chuyểnsang tiêu dùng các sản phẩm chất lượng cao, sạch, hàng rào kiểm dịch ngàycàng chặt chẽ hơn…Doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn không bắt kịp sự thayđổi này do không có sự chuẩn bị và hỗ trợ kịp thời từ phía Nhà nước Hiệp hộitrái cây Việt Nam cho biết, buôn bán với Trung Quốc hiện vẫn dừng lại ởphương thức nhỏ lẻ, thanh toán không qua ngân hàng mà qua các trung gian,không ký hợp đồng buôn bán Điều này dấn đến chỗ người xuất khẩu Việt Namkhông biết bạn hàng Trung Quốc là ai, đối tượng nào tiêu dùng sản phẩm củamình Do vậy không chủ động được trong giao dịch, giá cả không được quyếtđịnh, và có thể bị xù nợ Hơn nữa, không cập nhập được tình hình nhu cầu tiêudùng, xu hướng thay đổi nên không có kế hoạch sản xuất cụ thể

Một nguyên nhân của tình trạng trên là do p hương thức buôn bán mà hainước áp dụng từ những năm trước chủ yếu là hình thức tiểu ngạch Xuất khẩubằng đường tiểu ngạch chiếm 1/3 trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu haichiều giữa Việt Nam và Trung Quốc Có nghĩa là trong gần 36 tỉ USD kimngạch của năm 2010, có 12 tỉ USD hàng hóa qua lại bằng đường tiểu ngạch,

Trang 28

phần lớn qua các cửa khẩu Ka Long, Móng Cái và Gia Vận (đều thuộc QuảngNinh), Tân Thanh (Lạng Sơn) và Hà Khẩu (Lào Cai).

Buôn bán tiểu ngạch thường chứa đựng những rủi ro do sự thay đổi chínhsách bất thường từ phía Trung Quốc, hàng hoá Việt Nam có khi có giá bán rấtcao mà nguyên nhân do doanh nghiệp đóng thuế thấp nên Trung Quốc chấpnhận mua giá cao hơn giá chung của thị trường, nhưng nếu gặp lúc Hải quanphía Trung Quốc đóng cửa để kiểm tra các doanh nghiệp buôn bán, kinh doanhthì một lượng hàng không chỉ là cao su mà các hàng nôn g sản khác bị ứ đọng tạicác cửa khẩu, lúc này, giá bán lại hạ xuống Cách thức quản lý của Việt Namcòn kém hiệu quả dẫn đến tình trạng mua tranh bán cướp tạo kẽ hở để phíaTrung Quốc ép giá, ép cấp, gây thiệt hại nhiều hơn cho doanh nghiệp Hơn nữavới hình thức này, Việt Nam chưa thể vận dụng những ưu đãi mà chương trìnhEHP mang lại

Buôn bán tiểu ngạch cũng dẫn đến việc Việt Nam dễ bị nhập phải hàngkém chất lượng , do thủ tục hải quan đơn giản, việc kiểm tra chất lượng hàng hoárất lỏng lẻo, thiếu nghiêm túc

Sự không rõ ràng trong quy định pháp luật cũng dẫn đến việc một số cánhân sẽ lợi dụng để gian lận trong thương mại gây thiệt hại lớn cho quốc gia

Giữa phương thức buôn bán biên mậu và phương thức giao dịch thương mại qua biên giới của người d ân sống ở khu vực quanh vùng biên giới có những quy

định, chính sách khác nhau, tuy nhiên hai hình thức giao dịch này thường dễnhầm lẫn do những đặc thù của sinh hoạt, mua bán vùng biên giới, và nhiềuthương nhân cũng lợi dụng sự nhập nhằng để né thuế Các chuyên gia và doanhnghiệp đã giải thích thêm về vấn đề này như sau:

Buôn bán biên mậu (mậu dịch) là hoạt động trao đổi thương mại qua biêngiới của hai quốc gia lân cận, tuy nhiên đây được xem là hình thức kinh doanh

và phải khai báo thủ tục hải quan, làm thủ tục xuất nhập khẩu, nộp thuế Các cánhân, doanh nghiệp tham gia buôn bán biên mậu phải có đăng ký kinh doanh,

mã số thuế và phải làm thủ tục xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu trước khi đưahàng hoá qua biên giới

Giao dịch thương mại qua biên giới (p hi mậu dịch) áp dụng cho cư dânsống hai bên biên giới có thể qua lại giữa hai đường biên để mua bán, trao đổihàng hoá mà không cần phải đăng kí kinh doanh với hải quan hay với chínhquyền của hai nước Để làm được điều này thì chính phủ hai nước phải có nhữngthoả thuận trước đó để tạo điều kiện cho người dân sống ở biên giới trao đổihàng hoá với nhau Theo quy định hiện nay, hoạt động phi mậu dịch có giá trịhàng hóa không vượt quá 2 triệu đồng/người/ngày và chỉ áp dụng cho cư dânsống ở hai biên giới

Trang 29

Hàng hoá buôn bán qua biên giới khi xuất khẩu, nhập khẩu đều phải nộpthuế và lệ phí (nếu có) theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ hàng hoá traođổi của cư dân biên giới trong định lượng miễn thuế, được hưởng các ưu đãi vềthuế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới theo thỏa thuận song phươnggiữa Việt Nam với những nước có chung biên giới Thực chất, phi mậu dịch vàmậu dịch có những chính sách, quy định khác nhau nhưng vì hình thức giao dịch

dễ gây nhầm lẫn nên một số thương nhân thường lợi d ụng khe hở này để thuêngười dân sống ở vùng biên vận chuyển qua biên giới để tránh thuế

Trước tình hình như vậy, Nhà nước đã có chủ trương, chính sách, cơ chế

gì nhằm cải thiện tình hình xuất khẩu sang Trung Quốc ? Việt Nam cần nângcao công tác quản lý buôn bán biên mậu để tránh các tình trạng gian lận thươngmại, giảm thất thoát cho đất nước góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu

Hàng kém chất lượng từ thị trường Trung Quốc có trong cả hàng tiểungạch và hàng chính ngạch Chúng ta ngày càng tự do hoá thương mại, hội nhậpkinh tế quốc tế, tham gia vào các tổ chức thương mại kèm theo đó là những camkết về cắt giảm thuế quan của đa bên Tuy nhiên có thể trong chính sách thươngmại của Việt Nam đã tự do hoá đến mức quên mất phải kiểm soát những hànghoá kém chất lượng từ các thị trường nước ngoài bằng các hàng rào kỹ thuật, cácdoanh nghiệp thì chạy đua với cuộc khủng hoảng kinh tế mà quá thờ ơ với tráchnhiệm xã hội Dẫn đến việc hàng kém chất lượng mà “ rẻ “của Trung Quốc cứ ồ

ạt tràn vào, mặc cho tiêu dùng c ủa người dân lo lắng, bấp bênh

Trang 30

CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ TRUNG QUỐC

2.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ

Việt Nam có một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong đó Nhà nướcđóng vai trò chủ đạo cho tới tận giữa những năm 80 của thế kỷ trước Kể từ năm

1986, dưới chính sách “Đổi mới”, tăng cường định hướng thị trường và hội nhậpvào nền kinh tế toàn cầu đã trở thành mục tiêu chính của Việt Nam Nhằm tăngcường các mối quan hệ kinh tế với khu vực, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và Diễnđàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Việt Nam cũng duy trìcác mối quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, được điều chỉnh theoHiệp định Thương mại năm 1991 và các hiệp ước hợp tác kinh tế khác Thamgia vào các thể chế khu vực nói trên tạo ra bước hội nhập đầu tiên của Việt Namvào hệ thống thương mại để chuẩn bị cho việc trở thành Thành viên WTO

Trong thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay, mô hình chính sách chủ đạocủa Việt Nam là thúc đẩy xuất khẩu, bảo hộ có chọn lọc và hội nhập kinh tếquốc tế Nhà nước đã có chính sách mặt hàng là xây dựng và nâng cao chấtlượng cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu phù hợp với lợi thế của quốc gia Trong

đó cơ cấu hàng hoá xuất khẩu tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động

Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu phù hợp với trình độ phát triển sản xuất trong nước.Với chính sách thị trường là xây dựng thị trường trọng điểm và khai thác tốt hơncác thị trường tiềm năng Để đạt được các mục tiêu chính sách, chính phủ đã cónhững biện pháp hỗ trợ và quản lý, cụ thể:

Trang 31

Năm 1998 ban hành Luật Thuế xuất nhập khẩu, các hoạt động xuất nhậpkhẩu từ đó đi vào khuôn khổ hơn, loại bỏ dần tình trạng gian lận thương mại,góp phần kiểm soát chặt chẽ các hoạt động thương Năm 1989, xoá bỏ hạnngạch xuất khẩu và hạn ngạch nhập khẩu đối với hầu hết hàng hoá, trao đổithương mại từ đó diễn ra sôi nổi đa dạng hơn, Việt Nam dần thiết lập quan hệthương mại với nhiều quốc gia Cũng vào năm này, Chính phủ xoá bỏ trợ cấpxuất khẩu bằng NSNN Tiến hành phá giá đồng VND, xoá bỏ chế độ hai tỷ giá,hình thành hệ thống tỷ giá thống nhất dựa trên tỷ giá chính thức do NHNN công

bố Năm 1991, mở cửa sàn giao dịch ngoại hối tại Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh Ban hành Quyết định về thành lập khu chế xuất Miễn thuế đầu vào đốivới sản xuất hàng xuất khẩu Có thể thấy, chính sách thương mại quốc tế củaViệt Nam ngày càng thông thoáng và được hoàn thiện phù hợp hơn với thông lệquốc tế

Quán triệt chủ trương “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theotinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảmđộc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninhquốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường”, Việt Nam đã tíchcực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế và các liên kết khu vực Năm 1998,Việt Nam gia nhập ASEAN, khối các nước Đông Nam Á, tham gia AFTA năm

1996, hướng đến một khu vực mậu dịch tự do, thúc đẩy xuất nhập khẩu trongkhối góp phần tăng tổng kim ngạch thương mại mỗi quốc gia Cùng năm nàyViệt Nam ký hiệp định khung với EU, một bước ngoặt để hàng hoá Việt Namxâm nhập vào thị trường tiềm năng Châu Âu Nhận thấy tầm quan trọng củaAPEC đối với sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực nói chung và củaViệt Nam nói riêng, ngày 15/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã nộp đơn xin gianhập APEC Đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp là thành viên chính thứcthứ 21 của APEC Ngay sau khi gia nhập APEC, Việt Nam đã tích cực tham giavào nhiều chương trình, dự án hợp tác của APEC, tranh thủ được sự hỗ trợ vàgiúp đỡ to lớn về vốn, khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ chocác mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Năm 2001, Việt Nam ký Hiệp Định Thương mại ViệtNam-Hoa Kỳ, có hiệu lực từ năm 2002 Năm 2007, Việt Nam được chính thứcgia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO sau 12 năm cố gắng để trở thànhthành viên của tổ chức này

Năm 2000, Chính phủ thành lập Cục XTTM, nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơhội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ Hoạt động này hỗ trợ cho hoạtđộng kinh doanh của thương nhân hiệu quả hơn thông qua các hình thức như hộichợ triển lãm thương mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hoádịch vụ Năm 2008, Quốc hội thông qua và cho phép ban hành nhiều đạo luật

Trang 32

nhằm hoàn thiện hệ thống luật pháp cho quá trình đổi mới, hội nhập KTQT:Luật Thương mại sửa đổi, bổ sung; Luật thuế xuất nhập khẩu sửa đổi bổ sung.Luật cạnh tranh và chống độc quyền…

2.2 VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO

2.2.1 Quá trình Việt Nam gia nhập WTO:

WTO có tên đầy đủ là Tổ chức Thương mại Thế giới (World TradeOrganization) Tổ chức này được thành lập và hoạt động từ 01/01/1995 với mụctiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn cầu tự do, thuận lợi và minhbạch Tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi Hiệpđịnh chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) 1947 (chỉ giới hạn ở thươngmại hàng hoá) và là kết quả trực tiếp của Vòng đàm phán Uruguay (bao trùmcác lĩnh vực thương mại hàng hoá, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư)

Mối quan hệ của Việt Nam với WTO được bắt đầu vào năm 1995 với việcnộp yêu cầu gia nhập chính thức Vào tháng 1 năm 1995, Đại hội đồng củaWTO đã thành lập Ban công tác để xem xét đơn xin gia nhập của Việt Nam.Ban công tác đã tiến hành 14 cuộc họp trong giai đoạn gần 12 năm - một quátrình đàm phán gia nhập khá dài

Việt Nam đã chuẩn bị bản Bị vong lục về chế độ ngoại thương của mìnhvào năm 1996 nhưng phải tới tận năm 1998 thì kế hoạch cho các cuộc họp định

kỳ của Ban công tác mới được đưa ra Các cuộc đàm phán diễn ra chậm chạp docác lo ngại về chính trị, nhu cầu cần có những thay đổi hệ thống quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam và các Thành viên WTO đặt ra yêu cầu Việt Namphải đưa ra các nhượng bộ lớn

Trang 33

Bảng Các mốc lớn trong quan hệ Việt Nam và WTO

1994 Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và thiết lập

quan hệ ngoại giao bình thường vào năm 1995 Điều này đã thúc đ ẩyviệc mở cửa nền kinh tế Việt Nam

1995 Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2005

1996 Bắt đầu cuộc gặp thường kỳ của Ban công tác về việc Việt Nam gia

nhập WTO

1998 Các cơ quan quản lý Việt Nam quyết định đẩy nhanh tiến trình gia nhập

WTO

2001 Phiên đàm phán đa phương lần thứ 9 của WTO/GATT – vòng đàm

phán Doha vì sự phát triển - được khởi động vào tháng 11 năm 2001

2002 Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên đối với hàng hóa và dịch vụ

2004 Việt Nam đưa ra Bản chào sửa đổi tham vọng hơn về tiếp cận thị

trường vào tháng 6 năm 2004 tại phiên họp lần thứ 8 của Ban công tác,Bản chào này thể hiện một bước đột phá trong đàm phán gia nhậpWTO

Bắt đầu các cuộc đàm phán song phương với các Thành viên WTO

2005 Ký thỏa thuận với Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập WTO

2006 Hoa Kỳ và Việt Nam ký Hiệp định song phương về các cam kết gia

nhập WTO của Việt Nam, đây là Hiệp định song phương cuối cùng vàdường như là khó khăn nhất trong số 28 Hiệp định song phương với cácThành viên WTO

2002-2006

Các cơ quan quản lý Việt Nam đã rà soát sâu rộng hầu hết luật và quyđịnh của Việt Nam trong các lĩnh vực liên quan tới WTO cũng như cáclĩnh vực khác và đã đưa k ế hoạch hành động liên quan tới WTO vào Kếhoạch phát triển năm năm 2006 - 2010 (SRV, 2006)

2007 Việt Nam trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế

giới vào ngày 11 tháng 1 năm 2007

Chính phủ Việt Nam đưa ra chương trình hành động thực thi các camkết gia nhập WTO

Trang 34

Vào năm 2002, Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về mở cửa thị trườnghàng hóa và dịch vụ, sau đó bản chào sửa đổi vào tháng 7 năm 2004 mang tínhtham vọng hơn Cả hai bản chào đều được các Thành viên WTO hoan nghênh.Sau một số vòng đàm phán, các đối tác thương mại của Việt Nam đồng ý bắtđầu dự thảo Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO và tiếnhành các cuộc đàm phán song phương cần thiết để đạt được thỏa thuận gia nhậpgiữa các bên.

Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán song phương với 28 Thành viênWTO, bao gồm cả Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ và Trung Quốc Thỏa thuận vớiHoa Kỳ ký vào tháng 5/2006 là thỏa thuận song phương cuối cùng và có lẽ làthỏa thuận song phương khó khăn nhất mà Việt Nam đã đàm phán Việc ký kếtthỏa thuận này cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm quyền cần thiết để dànhcho Việt Nam quy chế “Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn” (PNTR) -đây là điều kiện tiên quyết cho phép Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là một Thànhviên WTO Trọng tâm cải cách kinh tế và chính sách phát triển dựa vào xuấtkhẩu của Việt Nam đã khiến cho quá trình gia nhập, vốn kéo dài và rất phức tạp,trở nên đơn giản hơn Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa

Kỳ (BTA) và tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) rất hữu íchtrong bối cảnh này do các thỏa thuận này đã khởi động quá trình tự do hóa vàtiến trình “phi điều tiết hóa” (US Aid, 2007) Tuy nhiên, điều này không cónghĩa rằng các cuộc đàm phán mở cửa thị trường là dễ dàng Các bên đã phảimất rất nhiều thời gian và đàm phán diễn ra rất căng thẳng trước khi đạt đượcthỏa thuận gia nhập Chúng ta đã tập trung toàn bộ sức lực vào các cuộc đàmphán gia nhập, thường phải làm việc thâu đêm, đặc biệt trong giai đoạn cuốicùng của các cuộc đàm phán gia nhập Quyết tâm trở thành Thành viên WTOcủa Việt Nam có thể đã được thúc đẩy bởi kinh nghiệm thành công của các nềnkinh tế hướng về xuất khẩu tại khu vực Đông Á Có thể một động lực nữa làquyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tạo ra việc làm cho hơn 1triệu lao động mới gia nhập thị trường lao động mỗi năm tại Việt Nam, thựchiện xóa đói giảm nghèo và đạt được mục tiêu tiêu tham vọng là đưa Việt Namtrở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 (SRV, 2006)

Trong quá trình gia nhập WTO của mình, Việt Nam đã không nhận đượcnhiều đối xử đặc biệt và khác biệt từ các Thành viên WTO Việt Nam đã phảithực hiện các bước cụ thể trước, trong và sau giai đoạn đàm phán để có thể tậndụng cơ hội, vượt qua thách thức nhằm hỗ trợ quá trình phát triển của mình Các

nỗ lực này được một số nhà tài trợ và tổ chức quốc tế hỗ trợ thông qua việc cungcấp các chương trình xây dựng năng lực và kinh nghiệm Nhờ có sự kết hợp phùhợp giữa các nỗ lực và dự án của Việt Nam và quốc tế, các mục tiêu phát triển

Trang 35

của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO đã được làm rõ và Việt Nam đãđưa ra được các chiến lược đàm phán phù hợp.

Cụ thể hơn, các cơ quan Việt Nam đã đưa ra các bước đi để thực hiện mục tiêu này:

Trước hết, ngay trong giai đoạn gia nhập đầu tiên, Việt Nam đã dự đoánđược các cam kết đa dạng trong WTO sẽ đòi hỏi cải cách nền kinh tế trong nướctới mức nào và những thay đổi đó sẽ đóng góp vào quá trình phát triển theo cáchnào Việt Nam xác định dệt may, giầy dép, nông nghiệp, thủy sản và du lịch lànhững ngành có thể được hưởng lợi ngay từ các chương trình cải cách này và đãxây dựng ưu tiên đàm phán của mình, có tính tới những ngành có tiềm năng cólợi thế so sánh

Thứ hai, các cơ quan quản lý Việt Nam đã nhận thấy tiến trình gia nhậpWTO có thể kéo dài và phức tạp, do đó đã nỗ lực để tập hợp đủ hỗ trợ trongnước cho tiến trình gia nhập này Yếu tố thứ hai được ủng hộ bởi các cuộc thamvấn ở cấp chính trị và tầm nhìn rõ ràng về chi phí, lợi ích và các ưu tiên trongcác cuộc đàm phán gia nhập Xây dựng một chiến lược đàm phán phù hợp gồm

cả các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Bộ Thương mại và Chính phủ đã cóquan điểm chung về chiến lược đàm phán gia nhập WTO Rõ ràng, vấn đề nàykhông bị coi là một quyết định kỹ trị do một nhóm quan chức kiểm soát mà đãđược rất nhiều cơ quan chính phủ và Đảng Cộng sản xem xét cũng như đượctham vấn với các ngành trong nước

Thứ ba, do thời gian kéo dài, độ phức tạp cao và phạm vi rất rộng của Thỏathuận gia nhập, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một “lộ trình” xác định cáchoạt động khác nhau trong quá trình gia nhập và giai đoạn thực thi Thông tinchi tiết về các cấu phần của “lộ trình” này nằm trong Nghị quyết tháng 2 năm

2007 về việc ban hành Chương trình hành đ ộng của Chính phủ để thực thi Nghịquyết 4 Hội nghị TW X về một số chủ trương và chính sách lớn để phát triểnnhanh và bền vững cho nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO (Nghị quyết số16/2007/CP-NQ của Chính phủ) và trong Kế hoạch phát triển kinh xã hội 5 năm2006- 2010 (SRV, 2006)

Cuối cùng, đến ngày 11/2/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viênthứ 150 của WTO, đánh dấu cho nền kinh tế bước sang một trang mới, cột mốcđáng nhớ cho quá trình hội nhập của nước ta

Sau gần 6 năm vào WTO, tình hình kinh tế Việt Nam có nhiều khởi sắcđáng ghi nhận do những cam kết và thay đổi trong mô hình chính sách đã đemlại cho Việt Nam một diện mạo mới Bên cạnh đó vẫn còn nhiều những tồn tạihạn chế cần được khắc phục Tuy vậy, vẫn có thể cho rằng, hội nhập kinh tế

Trang 36

quốc tế và đặc biệt là gia nhập WTO đã có tác dụng tích cực đến kinh tế củaViệt Nam Các cơ hội đan xen thách thức từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

đã tác động mạnh mẽ lên nền kinh tế Các hợp đồng xuất khẩu đã ký kết với khách hàng được thực hiện theo đúng cam kết WTO Chính phủ đã thực hiện xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản theo đúng cam kết WTO và mở cửa thị trường, giảm thuế suất đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu theo đúng lộ trình như thịt, sữa bột, thức ăn chăn nuôi Tình trạng trợ cấp mua lúa, cà phê,

tạm trữ xuất khẩu như các năm trước đã không còn

2.2.2 Tổng quan các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam

2.2.2.1 Cam kết đa phương

Việt Nam đồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp định và quy định mang tínhràng buộc của WTO từ thời điểm gia nhập Tuy nhiên do nước ta đang phát triển

ở trình độ thấp lại đang trong quá trình chuyển đổi nên ta yêu cầu và được WTOchấp nhận cho hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một số cam kết cóliên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp phi nông nghiệp, quyền kinhdoanh

Các cam kết chính như sau:

(1) Kinh tế phi thị trường

Ta chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm (khôngmuộn hơn 31/12/2018) Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu ta chứng minhđược với đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thịtrường thì đối tác đó ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với ta Chế độ

“phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá Các thànhviên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù đối với hàng xuất khẩunước ta dù ta bị coi là nền kinh tế phi thị trường

(2) Dệt may

Các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với

ta khi vào WTO, riêng trường hợp ta vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấmđối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện pháp trả đũa nhất định.Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng tự vệ đặc biệt đối vớihàng dệt may của ta

(3) Trợ cấp phi nông nghiệp

Ta đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTOnhư trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên với các ưu đãi đầu tư

Trang 37

dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta được bảo lưu thờigian quá độ là 5 năm( trừ ngành dệt may).

(4) Trợ cấp nông nghiệp

Ta cam kết sẽ không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thờiđiểm gia nhập Tuy nhiên ta bảo lưu quyền được hưởng một số quy định riêngcủa WTO dành cho nước đang phát triển trong lĩnh vực này Đối với loại hỗ trợ

mà WTO quy định phải cắt giảm nhìn chung ta duy trì được ở mức không quá10% giá trị sản lượng Ngoài mức này, ta còn bảo lưu thêm một số khoản hỗ trợnữa vào khoảng 4.000 tỷ đồng mỗi năm

Có thể nói, trong nhiều năm tới, ngân sách của nước ta cũng chưa đủ sức

để hỗ trợ cho nông nghiệp ở mức này Các loại trợ cấp mang tính chất khuyếnnông (như hỗ trợ thủy lợi) là trợ cấp "xanh" hay trợ cấp phục vụ phát triển nôngnghiệp được WTO cho phép nên ta được áp dụng không hạn chế

(5) Quyền kinh doanh (xuất nhập khẩu hàng hóa)

Tuân thủ quy định WTO, ta đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nướcngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như người Việt Nam kể từ khi gianhập, trừ đối với các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước như: xăngdầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo chí và m ột số mặt hàng nhạy cảmkhác mà ta chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi (như gạo và dược phẩm)

Ta đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiệndiện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam Quyềnxuất khẩu chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhậpkhẩu

Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ khôngđược tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước Các cam kết vềquyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của ta trong việc đưa ra cácquy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm nhưdược phẩm, xăng dầu, báo - tạp chí

(6) Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia

Các thành viên WTO đồng ý cho ta thời gian chuyển đổi không quá 3năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp vớiquy định WTO Hướng sửa đổi là đối với rượu trên 20 độ cồn ta hoặc sẽ áp dụngmột mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm Đối với bia, ta sẽ chỉ ápdụng một mức thuế phần trăm

(7) Một số biện pháp hạn chế nhập khẩu

Ngày đăng: 24/09/2014, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế quốc tế ( Chương trình cơ s ở ), nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân 2008 ; Đồng chủ biên GS.TS Đỗ Đức Bình và PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế ( Chương trình cơ sở )
Tác giả: GS.TS Đỗ Đức Bình, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: nhà xuất bản đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
2. TS Lê Thị Anh Vân, “ Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (2003)”, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hànghoá của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (2003)
Nhà XB: NXBLao Động
3. “Tự do hoá thương mại và hợp tác kinh tế ở ASEAN” (2003), NXB thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do hoá thương mại và hợp tác kinh tế ở ASEAN
Nhà XB: NXB thế giới
Năm: 2003
4. Kinh tế đối ngoại, những nguyên lý và vận dụng tại Việt Nam, TS. Hà Thị Ngọc Oanh, NXB Lao động – Xã hội Khác
5. Văn kiện và biểu thuế gia nhập WTO của Việt Nam, NXB Tài chính, 2006 Khác
6. Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế, TS. Nguyễn Hữu Khải; NXB Lao Động – Xã Hội, 2005 Khác
7. WTO và những quy tắc cơ bản – Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện thông tin Khoa học xã hội, 2003 Khác
8. Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam – Bộ Thương mại, 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1.Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.1. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Trung Quốc (Trang 11)
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2009-2011 - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.2. Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2009-2011 (Trang 12)
Bảng 1.3 Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.3 Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường (Trang 13)
Bảng 1.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Trung Quốc - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Trung Quốc (Trang 14)
Bảng 1.6. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.6. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc (Trang 16)
Bảng 1.7. Kim ngạch nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc 2000-2008 - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.7. Kim ngạch nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc 2000-2008 (Trang 19)
Bảng 1.8. Kim ngạch nhập khẩu của Việt nam từ Trung quốc giai đoạn - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.8. Kim ngạch nhập khẩu của Việt nam từ Trung quốc giai đoạn (Trang 22)
Bảng 1.9. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007-2011 - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
Bảng 1.9. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2007-2011 (Trang 24)
Bảng Các mốc lớn trong quan hệ Việt Nam và WTO - chính sách thương mại quốc tế của việt nam liên quan đến thương mại hàng hoá việt nam–trung quốc
ng Các mốc lớn trong quan hệ Việt Nam và WTO (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w