Tiền Giang, một trong những tỉnh được mệnh danh là vương quốc trái cây, mặc dù ở gần các tỉnh và thành phố lớn nên có thị trường tiêu thụ rất rộng lớn, nhưng quy mô sản xuất ở tỉnh này c
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia đứng hàng thứ 5 trong top các nước xuất khẩu rau quả trên thế giới Theo đánh giá của Hiệp Hội rau quả Việt Nam, ngành rau quả tăng trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng 20%, trong đó, ngành trái cây của Việt Nam cũng có nhiều sự phát triển, đổi mới trong những năm gần đây Tuy nhiên, sự tăng trưởng này vẫn chưa thể nói lên điều gì, bởi vì khối lượng gần như dậm chân tại chỗ, nhưng theo nhận định của TS Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện cây ăn quả miền Nam (Bộ NN&PTNT) cho biết, do nhu cầu tiêu thụ trái cây nhiệt đới trên thế giới còn lớn, nên trái cây Việt Nam còn rất nhiều cơ hội để phát triển, đặc biệt là các loại trái cây đặc sản của Việt Nam
Trong cả nước, vùng Nam Bộ được xem là vùng trọng điểm của sản xuất lúa gạo và thủy sản, không những thế nơi đây còn được xem là vựa cây ăn trái của cả nước, với tổng diện tích hơn 408.000ha Theo Cục Trồng trọt, diện tích trái cây đặc sản ở Nam Bộ được các địa phương quy hoạch hơn 146.000ha, chiếm 36% diện tích cây ăn trái toàn vùng, bao gồm 14 loại: cây có múi (bưởi, quýt hồng, cam, chanh), xoài, nhãn, sầu riêng, chôm chôm, thanh long, vú sữa, măng cụt, dâu, khóm, mãng cầu, nho, táo và chuối… Sản xuất cây ăn trái ở khu vực này đã có bước tăng trưởng khá nhanh cả về diện tích và sản lượng nhưng so với tiềm năng sẵn có thì chuỗi sản xuất, xuất khẩu trái cây tại đây vẫn còn manh mún và kém hiệu quả Theo TS Phạm Văn Dư, Phó cục trưởng Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết các nông dân trồng trái cây ở vùng Nam Bộ gần như có thể đáp ứng hầu hết các yêu cầu của thị trường trong suốt năm Ở Nam bộ có nhiều điều kiện thuận lợi như đất đai, khí hậu cho sản xuất trái cây đặc biệt là rất thích hợp cho sự phát triển của các loại trái cây nhiệt đới
Tiền Giang, một trong những tỉnh được mệnh danh là vương quốc trái cây, mặc dù ở gần các tỉnh và thành phố lớn nên có thị trường tiêu thụ rất rộng lớn, nhưng quy mô sản xuất ở tỉnh này còn khá nhỏ lẻ và manh mún, thiếu sự liên kết giữa các nông hộ sản xuất trái cây để thống nhất với những quy trình và đầu tư
Trang 2đồng bộ, cũng như chưa tổ chức được một hệ thống tiêu thụ chuyên nghiệp… Tình trạng này khiến cho việc sản xuất cây ăn trái của tỉnh tiềm ẩn nhiều rủi ro Mặc dù có cơ hội rất lớn, nhưng sản phẩm trái cây đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức như việc sản xuất manh mún, chất lượng trái cây không đồng đều, chưa thể cơ giới hóa trong sản xuất, lại chưa có thương hiệu nổi tiếng và đặc biệt là sản phẩm phải qua nhiều khâu trung gian mới tới được tay của người tiêu dùng Qua đó cho thấy hệ thống sản xuất và kênh phân phối còn tồn đọng một số điểm yếu Bên cạnh đó, sự thiếu kiến thức về thông tin thị trường và khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng gây khó khăn cho các tác nhân tham gia Chính vì thế, cần phải gắn kết với các kênh phân phối bán lẻ khu vực, địa phương lại với nhau, để xem đó là một phương tiện để cho trái cây Việt Nam xâm nhập vào thị trường toàn cầu Theo ông John Hey, Tổng biên tập tạp chí Trái cây Châu Á, là một thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), cần tận dụng hệ thống phân phối của họ để đưa trái cây Việt Nam đến tay của người tiêu dùng nhanh nhất có thể
Do đó, để hiểu biết rõ về cấu trúc thị trường và hệ thống phân phối của trái cây, cần có những nghiên cứu nhằm giúp tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phân phối trái cây hay đưa ra một mô hình giúp hoàn thiện hệ thống phân phối trái cây của tỉnh nhà Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện như nghiên cứu của các tác giả (2005) Nguyễn Phạm Thanh Nam,
Trương Chí Tiến, Lưu Thanh Đức Hải Phân tích cấu trúc thị trường và kênh tiêu thụ sản phẩm cam ở vùng ĐBSCL – Việt Nam, và một số nghiên cứu có liên quan
đến phân tích cấu trúc thị trường của sản phẩm như nghiên cứu của Lưu Tiến
Thuận và Thanh Đức Hải về Cấu trúc thị trường và phân tích kênh phân phối: Trường hợp sản phẩm heo tại ĐBSCL – Việt Nam, nghiên cứu của Thái Văn Đạ, Lưu Tiến Thuận, Lưu Thanh Đức Hải về Phân tích cấu trúc thị trường và kênh marketing: Trường hợp cá tra, basa tại ĐBSCL – Việt Nam, Với mục tiêu là
tìm hiểu hệ thống kênh phân phối của trái cây ở tỉnh Tiền Giang, để qua đó biết được vai trò của các tác nhân trong hệ thống phân phối sản phẩm trái cây nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tác nhân tham gia Chính vì thế, tác giả đã
chọn đề tài: “Phân tích cấu trúc thị trường trái cây tỉnh Tiền Giang” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 31.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá cấu trúc thị trường và kênh tiêu thụ trái cây Tiền Giang, qua đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống phân phối trái cây tỉnh Tiền Giang
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Khái quát về tình hình sản xuất và tiêu thụ trái cây ở tỉnh Tiền Giang; (2) Phân tích cấu trúc của kênh phân phối trái cây và sự hợp tác giữa các tác nhân trong kênh từ tác nhân sản xuất đến tác nhân tiêu dùng;
(3) Đánh giá kết quả thực hiện thị trường của các kênh phân phối sản phẩm trái cây;
(4) Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống phân phối trái cây tỉnh Tiền Giang;
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Thực trạng sản xuất và tiêu thụ trái cây Tiền Giang như thế nào ?
(2) Tác nhân nào tham gia vào hệ thống phân phối trái cây và vai trò của từng tác nhân trong hệ thống phân phối trái cây Tiền Giang như thế nào ?
(3) Tính hiệu quả của kênh phân phối trái cây Tiền Giang như thế nào ?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian
Địa bàn nghiên cứu của đề tài là 3 xã ở tỉnh Tiền Giang bao gồm xã Mỹ Đức Tây (huyện Cái Bè), xã Quơn Long (huyện Chợ Gạo), xã Thạnh Tân (huyện Tân Phước) Những địa bàn này là những vùng có trái cây đặc trưng và có giá trị cao của tỉnh Tiền Giang nên việc chọn những địa bàn này làm điểm khảo sát thì tính nghiên cứu sẽ mang tính đại diện cao Các nông hộ, thu gom và thương lái chủ yếu được khảo sát ở 3 xã trên và một số thương lái xa ở Long An, Bình Thuận, và các tỉnh miền Trung Ngoài ra, một số chợ đầu mối và các điểm bán lẻ
và bán sỉ tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh Một số công ty chế biến và xuất khẩu ở các tỉnh như Bến Tre, Long An, Bình Dương…
1.4.2 Thời gian
Đề tài thu thập số liệu sơ cấp trong khoảng thời gian từ đầu năm 2012 đến
8 - 2012, cùng một số thông tin và số liệu thống kê từ năm 2009 – 2012
Trang 41.4.3 Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác nhân tham gia vào kênh phân phối trái cây Tiền Giang bao gồm nông hộ, thương lái/thu gom, nhà bán sỉ/bán lẻ, các công ty chế xuất, và cuối cùng là người tiêu dùng
1.5 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
[1] Nguyễn Phạm Thanh Nam, Trương Chí Tiến, Lưu Thanh Đức Hải
(2005), Phân tích cấu trúc thị trường và kênh tiêu thụ sản phẩm cam ở vùng
ĐBSCL, Việt Nam Nghiên cứu này nhằm phân tích cấu của kênh phân phối sản
phẩm cam và sự hợp tác giữa các tác nhân trong kênh, để đánh giá kết quả thực hiện thị trường của các kênh, qua đó đề xuất các nghiên cứu tiếp theo và những
hỗ trợ cho việc tăng tính hiệu quả của cả dây chuyền cung ứng cam của vùng ĐBSCL Nghiên cứu sử dụng mô hình Structure-Conduct-Perfromance (SCP) kết hợp cách tiếp cận kênh marketing và sự phân chia giá trị tạo ra giữa các thành viên trong kênh, để chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa 3 yếu tố cấu trúc thị trường,
sự vận hành và kết quả thực hiện thị trường Nhưng ở đây tác giả chỉ tập trung phân tích cấu trúc và kết quả thực hiện thị trường cam ở ĐBSCL Bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để phỏng vấn trực tiếp các thành viên trong kênh marketing cam bao gồm 20 nông dân trồng cam và 20 thương lái, người buôn sỉ
và bán lẻ cam ở 2 địa bàn Vĩnh Long và Cần Thơ đồng thời kết hợp tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan Nghiên cứu đã chỉ ra được những tồn tại ở nhiều trung gian phân phối và chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong kênh, như chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân và những hợp tác xã làm ảnh hưởng đến việc thương lượng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Các thành viên trong kênh tuy không gặp khó khăn trong quá trình tiếp nhận thông tin nhưng các thông tin mà họ tiếp nhận được không đảm bảo độ tin cậy và dễ bị lỗi thời nên gây khó khăn trong quá trình phát triển Nghiên cứu này vẫn chưa thể đưa ra kết luận về sự phân chia lợi nhuận giữa các thành viên trong kênh là hiệu quả hay chưa nhưng từ những dữ liệu thu thập được cũng nói lên rằng có sự chênh lệch không nhỏ giữa các thành viên này
[2] Lưu Tiến Thuận, Lưu Thanh Đức Hải, Cấu trúc thị trường và phân
tích kênh phân phối: Trường hợp sản phẩm heo tại ĐBSCL – Việt Nam
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát hiện trạng hệ thống marketing và kênh
Trang 5phân phối ở một số tỉnh ở ĐBSCL, nhưng chủ yếu tập trung vào cấu trúc thị trường nội địa và mối quan hệ giữa các tác nhân trung gian trong thị trường, đánh giá được tính hiệu quả của thị trường dịch vụ Nghiên cứu sử dụng mô hình SCP được kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing và giá trị tạo ra, để có thể nhận dạng ra các khía cạnh khác nhau của vấn đề Sử dụng 2 chỉ số lợi nhuận biên_tổng chi phí và lợi nhuận _chi phí gia tăng để so sánh và xác định tác nhân nào đạt phần trăm lợi nhuận cao và nguyên nhân của việc phân phối lợi nhuận Bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tác giả đã phỏng vấn 150 mẫu hộ chăn nuôi, 30 thương lái, 20 lò mỗ và 20 bán lẻ ở bốn tỉnh chăn nuôi heo ở vùng ĐBSCL: Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ Ngoài ra tác giả cũng sử dụng phần mềm SPSS để mô tả thực trạng và nhận dạng những yếu tố có ảnh hưởng đến kênh marketing heo Nghiên cứu đã chỉ ra được hai yếu tố quan trọng trong chi phí sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nuôi đó là chi phí thức ăn và chi phí giống Bên cạnh đó, giá bán bị ảnh hưởng mạnh bởi thị trường, giống heo, trọng lượng sau khi xuất chuồng và thời gian mua Ngoài ra, khả năng tiếp cận thị trường và thông tin thị trường của người nuôi còn bị hạn chế Các tác nhân riêng lẻ không tác động mạnh tới thị trường heo Một trong các tác nhân nhận được lợi nhuận biên cao nhất đó là thương lái, tiếp theo là người nuôi, bán lẻ và lò mổ Tuy nhiên qua việc đo lường
sự phân phối lợi nhuận của các tác nhân, vẫn chưa thể đưa ra được kết luận về tình hình của các tác nhân, và đòi hỏi phải có thêm thông tin để hỗ trợ trong việc đánh giá
[3] Lưu Thanh Đức Hải (2006), Cấu trúc thị trường và chuỗi giá trị
ngành hàng cá tra, cá basa tại đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu Kinh tế,
số 356 – Tháng 1/2008 Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả cấu trúc thị trường và kênh marketing cá Tra, cá Basa từ người sản xuất đến người tiêu dùng Đồng thời còn phân tích giá trị gia tăng trong chuỗi ngành hàng cá Tra, cá Basa
ở ĐBSCL, qua đó để đề xuất các giải pháp nhằm phát triển ngành hằng trong tương lai Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận SCP kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing và phân tích giá trị gia tăng trong chuỗi ngành hàng Trong nghiên cứu, bài viết chỉ tập trung nghiên cứu và thu thập số liệu ở 3 tỉnh gồm An Giang, Cần Thơ, và Đồng Tháp ở các mẫu đã thu thập được Qua việc phân tích phân
Trang 6tích chỉ tiêu lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị thì thương lái là tác nhân có mức chênh lệch cao nhất, tiếp theo là công ty chế biến và cuối cùng là người nuôi Nhưng tất cả các tác nhân trong kênh đều có mức lợi nhuận biên dương Mức lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm được tạo ra bởi người nông dân tăng đáng kể, do
đó sẽ có xu hướng tăng diện tích nuôi trong thời gia tới Nhưng nếu sự gia tăng không có kiểm soát thì sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của người nuôi
[4] Nguyễn Thanh Toàn (2002-2004), Nghiên cứu thị trường các sản
phẩm thủy sản ở tỉnh Cà Mau, tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006: 247-258
Nghiên cứu được tiến hành nhằm góp phần cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường và đề xuất chiến lược cải tiến thị trường góp phần cho việc phát triển ngành thủy sản của tỉnh Cà Mau cách bền vững Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp chọn mẫu gồm ngẫu nhiên đơn giản, thuận thiện, phán đoán và phát triển mầm và phương pháp phân tích SPC – một lí thuyết 4P về chiến lược thị trường để phỏng vấn trực tiếp và phân tích 216 mẫu số liệu Bên cạnh đó, còn sử dụng thêm phương pháp ma trận SWOT để phân tích đánh giá và đề xuất các chiến lược phát triển Qua nghiên cứu cho thấy, mạng lưới phân phối sản phẩm thủy sản trong tỉnh đã được hình thành, khoảng 56% sản phẩm là bắt nguồn từ người khai thác và 44% từ người Có hai kênh phân phối chính là từ người sản xuất trực tiếp qua các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu (chiếm khoảng 50% tổng sản lượng), kênh thứ hai là từ người sản xuất trực tiếp qua những người bán buôn rồi tới các đối tượng khác (chiếm khoảng 25% tổng sản lượng) Ở kênh thứ ha, 50% số lượng sản phẩm từ nhóm người trung gian được giao lại cho các doanh nghiệp chế biến và phần còn lại được tiêu tiêu thụ trong nước Trung bình khoảng 76,4% sản lượng của các nhà máy chế biến được xuất khẩu trực tiếp và 23,6% được tiêu thụ trong nước Nghiên cứu phân tích cơ bản từng tác nhân trong kênh, nhưng vẫn chưa đánh giá được tính hiệu quả của từng tác nhân trong kênh, nên chưa thể đưa ra giải pháp cụ thể để hoàn thiện hệ thống kênh phân phối
[5] Igor Insanic and Amra Insanic, Distribution Channels and
Procurement of Fruits & Vegetables in the Swedish Grocery Trade - a case study out of small suppliers’ perspective (Kênh phân phối và mua sắm trái cây
và rau quả tại cửa hàng tạp hóa thương mại ở Thụy Điển - Một trường hợp
Trang 7nghiên cứu về quan điểm của nhà cung cấp nhỏ) Nghiên cứu phân tích cách
mà các yếu tố ảnh hưởng đến các nông hộ nhỏ, các yếu tố này khác nhau như thế nào giữa các kênh và các tác nhân với nhau, để có thể giúp họ cạnh tranh tốt hơn Nghiên cứu thu thập các thông tin về cấu trúc kênh phân phối, các hoạt động thu mua và các mối quan hệ giữa các tác nhân với nhau thông qua phỏng vấn và nghiên cứu các tài liệu có liên quan Bằng cách sử dụng các lí thuyết về quản lí chuỗi giá trị và kênh phân phối để phân tích và so sánh giữa các tác nhân với nhau Nghiên cứu cho thấy một số yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến việc bán sản phẩm của người trồng người cung cấp nhỏ lẻ và phân tích những yếu tố này để qua đó nâng cao kiến thức của họ về kênh phân phối Ngoài ra còn cho thấy tầm quan trọng của thị trường nông dân trong tương lai
Nhận xét chung
Thông qua các tài liệu lược khảo cho thấy, các tác giả chủ yếu phân tích cấu trúc thị trường bằng mô hình SCP để thấy được mối liên kết giữa các tác nhân, nhưng một số tác giả vẫn chưa thể phân tích sâu từng đối tường tham gia trong kênh phân phối Các nghiên cứu trên tập trung phát họa mối quan hệ cơ bản của từng tác nhân khi tham gia trong kênh phân phối, chưa phân tích cụ thể tính hiệu quả của từng tác nhân khi tham gia vận hành hệ thống phân phối Qua đó, việc phân tích cụ thể từng tác nhân tham gia trong kênh phân phối và tính hiệu quả của kênh là rất cần thiết để thấy được tình hình của từng tác nhân nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao tính hiệu quả của kênh phân phối trái cây tỉnh Tiền Giang
Trang 8CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái niệm kênh phân phối
Có nhiều khái niệm về hệ thống kênh phân phối, như sau:
Theo Philip Lotler, kênh phân phối là tập hợp các cá nhân hay công ty
tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay một dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng
Theo Stern và El ANsary, kênh phân phối là tập hợp một hệ thống các tổ chức độc lập liên quan đến quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ sẵn sàn cho sử dụng hoặc tiêu dùng
Theo Corey, hệ thống kênh phân phối là một nguồn lực then chốt ở bên ngoài Thông thường phải mất nhiều năm xây dựng và không dễ gì thay đổi được nó Nó có tầm quan trọng không thua kém gì những nguồn lực then chốt trong nội bộ như con người và phương tiện sản xuất, nghiên cứu, thiết kế và tiêu thụ Nó là một cam kết lớn của công ty đối với rất nhiều các công ty độc lập chuyên về phân phối và đối với những thị trường cụ thể mà họ phục vụ Nó cũng
là một loại các cam kết về một loạt các chính sách và thông lệ tạo nên cơ sở để xây dựng rất nhiều những quan hệ lâu dài
Ngoài ra, còn nhiều khái niệm khác nhau nói về hệ thống kênh phân phối, tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà có những khái niệm khác nhau:
Xét ở góc độ vĩ mô, kênh phân phối là con đường vận động của hàng hóa và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Dưới góc độ người tiêu dùng thì kênh phân phối là tập hợp những tác nhân trung gian nên họ phải mua sản phẩm với giá cao hơn của người sản xuất Còn đối với người sản xuất, họ muốn tổ chức kênh phân phối chính là muốn tổ chức các quan hệ bên ngoài chuyển quyền sở hữu, đàm phán,…), nhằm thực hiện các hoạt động phân phối sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp theo các yêu cầu mà họ đặt ra
Xét ở góc độ quản lý, kênh phân phối là một lĩnh vực quyết định trong marketing Nó được coi là "một sự tổ chức các tiếp xúc bên ngoài để quản
lý các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu phân phối của nó"
Trang 92.1.2 Chức năng của hệ thống kênh phân phối
Chức năng cơ bản của kênh phân phối là giúp đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng đúng với mức giá mà ho ̣ có t hể mua và đúng những yêu c ầu
mà họ cần Nhờ có kênh phân phối mà đã giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản giữa người sản xuất và người tiêu dùng , đó là nhu cầu đa da ̣ng nhưng với số lươ ̣ng ít của người tiêu dùng với sả n xuất mô ̣t loa ̣i hàng hóa cu ̣ thể nhưng với số lươ ̣ng lớn; thứ hai đó là hàng hóa thường được sản xuất ở mô ̣t đi ̣a điểm nhưng sự tiêu dùng la ̣i rô ̣ng khắp hoă ̣c ngược la ̣i ; thứ ba là thời gian sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp với nhau Mă ̣c dù nhà sản xuất có thông qua hay không thông qua các tác nhân trung gian thì chức năng cơ bản của kênh phân phối vẫn phải được thực hiê ̣n
Quá trình phát triển của khâu sản xuất là phụ thuộc vào quá trình vận hành của hệ thống phân phối Tổ chức hệ thống phân phối phải đảm bảo:
Đáp ứng đầy đủ số lượng sản phẩm theo yêu cầu của người mua
Cung cấp hàng đúng thời điểm
Xem xét tình hình biến động giá cả thị trường và đưa ra dự báo
Có sự dự trữ hàng để có thể đáp ứng nhu cầu trong tương lai
Giới thiệu sản phẩm để lôi kéo sự chú ý của khách hàng
Bán hàng và tổ chức các dịch vụ sau bán hàng
Hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với nhà sản xuất
2.1.3 Phân loại kênh phân phối
Tùy theo các xác định mà kênh phân phối được chia ra thành nhiều loại: theo mức độ trung gian, theo sự độc lập hay phụ thuộc giữa các thành viên kênh Nhưng ở đây chỉ đề cập đến kênh phân phối trung gian
Trang 10(4) (3) (2) (1)
Hình 2.1: Phân loa ̣i kênh phân phối theo mƣ́c đô ̣ trung gian
Tùy theo mức độ trung gian mà kênh phân phối sẽ có độ dài ngắn khác nhau:
* Kênh 1: Là loại kênh phân phối trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng mà không cần thông qua các tác nhân trung gian Kênh này được áp dụng cho các loại hàng hoá dễ bị hư hỏng, dễ vỡ và các loại hàng hoá có tính kỹ thuật cao cần có sự hướng dẫn sử dụng hoặc những lại hàng hóa mà nhà sản xuất độc quyền phân phối Kênh này sẽ giúp cho nhà sản xuất trên thị trường tăng cường trách nhiệm của họ và đảm bảo tính chủ đạo của nhà sản xuất trong phân phối Thông tin mà nhà sản xuất thu được sẽ hữu ích hơn là thông qua những tác nhân trung gian, qua đó họ có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng một cách dễ dàng hơn Nhưng hiện nay lọai kênh này rất hiếm, chỉ phù hợp với loại hình sản xuất quy mô nhỏ và có quan hệ thị trường hẹp
* Kênh 2: Được gọi là kênh một cấp Hàng hoá thông qua tác nhân trung gian là người bán lẻ rồi đến tay người tiêu dùng Kênh này vẫn phát huy được lợi trường, cần đảm bảo sự cung cấp hàng hóa ở khắp mọi nơi, tạo điều kiện cho việc mua bán được dễ dàng
Nhà sản xuất
Người tiêu dùng cuối cùng
Tổng đại lí
Người bán lẻ Người bán buôn
Trang 11* Kênh 3: Là loại kênh hai cấp Trong kênh này thông qua hai tác nhân trung gian đó là người bán buôn và người bán lẻ Thường áp dụng cho loại hàng hóa có giá trị thấp và mức độ mua thường xuyên
* Kênh 4: Đây là kênh ba cấp Thường áp dụng trong trường hợp có nhiều nhà sản xuất nhỏ và nhiều người bán lẻ Và khi đó đại lý được sử dụng để giúp phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn đến thị trường mục tiêu
* Kênh 3 và 4 là hai loại kênh dài và đầy đủ nhất, là loại phổ biến trong phân phối hàng hoá Nó giải quyết được hai mâu thuẫn đầu tiên được nói đến đó
là sản xuất tập trung, tiêu dùng rộng khắp Tuy nhiên, việc sử dụng hai kênh này cần tốn nhiều chi phí cho việc thiết lập kênh, và việc điều hành, quản lý kênh sẽ gặp nhiều khó khăn
2.1.4 Phân tích kênh phân phối
Nghiên cứu sử dụng mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance) kết hợp với cách tiếp cận kênh marketing và cách phân tích giá trị tăng thêm tạo
ra của các tác nhân tham gia trong kênh Mô hình SCP chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa 3 yếu tố cấu trúc thị trường, sự vận hành và kết quả thực hiện thị trường Hai yếu tố cấu trúc thị trường và sự vận hành thị trường ảnh hưởng đến kết quả thực hiện thị trường và ngược lại Kết quả thị trường phụ thuộc vào sự vận hành thị trường của những người bán và người mua thông qua các chính sách định giá, chủng loại sản phẩm, đầu tư phương tiện sản xuất Sự vận hành thị trường ảnh hưởng chi phối ngược lại đến cấu trúc thị trường bao gồm ảnh hưởng đến số lượng và qui mô sản xuất kinh doanh của những người bán và người mua, các kênh marketing, mức độ khác biệt hóa sản phẩm, sự tồn tại hay không của các rào cản gia nhập và xuất ngành Dưới đây là sơ đồ thể hiện cấu trúc SCP:
Hình 2.2: Sự tương tác qua lại giữa 3 yếu tố trong mô hình SCP [1]
Do có một số giới hạn về số liệu nghiên cứu trong đề tài nên bài viết này chỉ tập trung phân tích cấu trúc và kết quả thực hiện thị trường trái cây Tiền
Cấu Trúc Thị
Trường
Vận Hành Thị Trường
Kết Quả Thực Hiện Thị Trường
Trang 12Giang Một số yếu tố liên quan đến cấu trúc thị trường và kết quả thực hiện thị trường của mô hình SCP được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.1: CÁC NHÂN TỐ CỦA SCP
Cấu trúc thị trường Kết quả thực hiện thị trường
- Các tác nhân tham gia trong kênh phân
phối
- Những rào cản gia nhập và xuất ngành
- Phân loại chất lượng sản phẩm
- Cách tiếp cận thông tin thị trường
- Cơ sở hình thành giá cả
- Hiệu quả của kênh phân phối; dịch vụ cung ứng; sản phẩm phù hợp với sở thích của khách hàng
- Phân tích giá trị tăng thêm được tạo ra trong chuỗi giá trị
- Phân tích biến động giá qua các năm và giá mùa vụ
Những yếu tố liên quan đến cấu trúc thị trường:
(1) Các tác nhân tham gia trong kênh phân phối: Đề tài nghiên cứu tập trung vào các tác nhân tham gia trong kênh phân phối thông qua phỏng vấn Những số liệu thu thập được từ những đối tường này sẽ vẽ nên một bức tranh tổng thể về cấu trúc thị trường trái cây
(2) Những rào cản thâm nhập và xuất ngành: Mỗi ngành hàng đều tồn tại các rào cản gia nhập và xuất ngành, điều này ảnh hưởng đến các tác nhân trong ngành và ngoài ngành
(3) Phân loại chất lượng sản phẩm: Phân loại chất lượng sản phẩm là điều thiết yếu, nó có nghĩa là người bán sẽ dựa vào những tiêu chí cụ thể khác nhau như loại, kích cỡ, trọng lượng, độ chín, màu sắc để phân định sự khác biệt giữa những sản phẩm của họ với các sản phẩm cạnh tranh của những người bán khác
(4) Cách tiếp cận thông tin thị trường: Sự tiếp cận một số thông tin cần thiết của thị trường thông qua các tác nhân về giá cả của sản phẩm và một số thông tin khác có liên quan
Những yếu tố liên quan đến kết quả thực hiện thị trường:
(1) Tính hiệu quả của hệ thống kênh phân phối trái cây: Phải đảm bảo các loại dịch vụ cung ứng các sản phẩm một cách hoàn hảo Hay có nghĩa là các kênh phân phối phải đáp ứng đầy đủ các dịch vụ có liên quan đến các chức năng trao đổi, vật chất và hỗ trợ như mong đợi của khách hàng
(2) Phân tích giá trị tăng thêm được tạo ra trong chuỗi giá trị: Phân tích tạo ra ở đâu trong kênh phân phối Giá trị kinh tế là hiệu số giữa lợi ích và chi phí đơn vị của sản phẩm qua từng tác nhân trong kênh phân phối
Trang 13(3) Biến động giá theo thời gian và theo mùa vụ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài gồm có:
a Số liệu thứ cấp: Số liệu đươc thu thập số liệu từ Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh Tiền Giang, niên giám thống kê tỉnh, Cục thống kê tỉnh Tiền Giang, Tổng Cục thống kê, thông tin từ báo đài, internet, và một số tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
b Số liệu sơ cấp: Số liệu được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu
phân tầng – ngẫu nhiên, phỏng vấn trực tiếp 169 nông hộ bằng bảng câu hỏi tại địa bàn nghiên cứu, và một số thương lái, thu gom được mô tả chi tiết trong bảng sau:
Bảng 2.2: PHÂN PHỐI MẪU VÀ ĐI ̣A BÀN KHẢO SÁT
Nguồn: Khảo sát thực tế của tác giả, năm 2012
- Nông hộ được chọn nghiên cứu: 169 mẫu, bao gồm 100 hộ có tham gia vào kênh phân phối trái cây, 69 hộ không tham gia vào kênh phân phối trái cây tại 3 huyện thuộc tỉnh Tiền Giang
- Thương lái, thu gom được chọn nghiên cứu là 12 mẫu thường xuyên hoạt động kinh doanh tại 3 huyện thuộc địa bàn nghiên cứu
- Những người buôn bán sỉ và buôn bán lẻ được chọn nghiên cứu ở một
số vùng như chợ Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang), huyện Hóc Môn, Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh), và một người bán lẻ ở miền Trung gồm 2 mẫu hoạt động tại TP Hồ Chí Minh
STT Tác nhân Số mẫu Cách tiếp cận Địa bàn khảo sát
1 Nông hộ 169 Phỏng vấn trực tiếp Xã: Mỹ Đức Tây (Cái Bè),
Quơn Long (Chợ Gạo), Thạnh Tân (Tân Phước) -Tiền Giang
2 Chủ vựa,
thương lái 12 Phỏng vấn trực tiếp
3 Bán sỉ 2 Phỏng vấn điện thoại Huyện Hóc Môn TP Hồ
Chí Minh
phỏng vấn điện thoại
Chợ Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
H Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh
Miền Trung
5 Công ty chế
Phỏng vấn qua điện thoại
Xã Long Định huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
Trang 142.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp phân tích được chọn ứng với từng mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả kết hợp với phương
pháp so sánh, đối chiếu số liệu của các năm nhằm phân tích tình hình sản xuất
và tiêu thụ trái cây ở Tỉnh Tiền Giang
Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích
SCP để phân tích cấu trúc của kênh phân phối trái cây và sự hợp tác giữa các tác nhân trong kênh từ tác nhân sản xuất đến tác nhân tiêu dùng
Mục tiêu 3: Sử dụng các chỉ số tài chính để đánh giá kết quả thực hiện thị
trường của các kênh phân phối trái cây tỉnh Tiền Giang;
Mục tiêu 4: Thông qua kết quả đánh giá ở mục tiêu 1, 2, 3, đề xuất giải
pháp hoàn thiện hệ thống phân phối trái cây tỉnh Tiền Giang
Trang 15CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT TRÁI CÂY Ở TỈNH TIỀN GIANG
3.1 MÔ TẢ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tiền Giang là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền – một nhánh của sông Mê Kông với chiều dài 120km, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70 km về phía Nam và cách thành phố Cần Thơ khoảng 90km về phía Bắc Phía Bắc và Đông Bắc giáp Long An và TP
Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Bến Tre và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông Ngày nay, Tiền Giang là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm án ngữ ngay cửa ngõ phía Nam thành phố Hồ Chí Minh với 3 tuyến đường giao thông huyết mạch đó là quốc lộ 1A, quốc lộ 30 và quốc lộ 50 Bên cạnh đó, tuyến đường thủy từ các tỉnh miền Tây lên thành phố
Hồ Chí Minh cũng đi qua kênh Chợ Gạo Với vị trí địa lí thuận lợi, Tiền Giang
có nhiều lợi thế hơn trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và giao lưu kinh tế với các tỉnh lân cận
Do nằm trong khu vực nhiệt đới Bắc bán cầu nên Tiền Giang có khả năng tiếp nhận được một lượng bức xạ rất dồi dào, lượng bức xạ này đã quyết định khí hậu mang tính chất nhiệt đới, gió mùa cận xích đạo ở tỉnh Các yếu tố khí hậu được phân bổ trong năm khá rõ nét, và điều này mang tính quy luật nên khá ổn định qua các năm Ngoài ra, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, kết hợp với bờ biển dài đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận, đồng thời là môi trường cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản
Với diện tích không lớn khoảng 2.508,3 km2, trải dài từ tây sang đông dọc theo tả ngạn sông Tiền Với lịch sử kiến tạo địa chất khác nhau, địa hình khác nhau và khí hậu – thủy văn khác nhau… nên đã tạo nên các loại đất phong phú và
đa dạng Với 4 nhóm đất chính là nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn, nhóm đất phèn và nhóm đất cát, thích hợp với các loại giống cây trồng và vật nuôi
Trang 16Tiền Giang là tỉnh được trồng nhiều loại nông sản có giá trị cao như lúa gạo, trái cây và thủy hải sản, đặc biệt là trái cây nên nơi đây được mệnh danh là
“vương quốc trái cây” Bên cạnh sự phát triển vượt bậc trong nông nghiệp, Tiền Giang còn được biết đến là một trong những vùng đất có lịch sử khai phá lâu đời, với nhiều lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa đặc sắc, tiêu biểu cho lịch sử hình thành
và phát triển của vùng đất Nam Bộ Với khoảng 20 khu di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia, cho thấy sự kết hợp du lịch với văn hóa – quảng bá văn hóa, là một tiềm năng lớn trong tương lai và cần được quan tâm nhiều hơn
3.1.2 Kinh tế - xã hội
Về kinh tế:
Nhìn chung tố độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang qua các năm có một sự tăng trưởng Trong năm 2011, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đạt 15.137 tỷ đồng theo giá so sánh năm 1994 tăng 10,5% so với năm 2010, nhưng theo giá trị thực tế đạt 46.689 tỷ đồng Theo cục Thống kê tỉnh Tiền Giang cho biết, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) 9 tháng đầu năm 2012 ước tính đạt 12.487 tỷ đồng, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2011 Mặc dù, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tiền Giang có phần chậm hơn so với
2 năm trước nhưng trong điều kiện kinh tế bị khủng hoảng thì tốc độ tăng như vậy cũng cho thấy sự nỗ lực lớn của ngành, của các doanh nghiệp và người dân trong tỉnh
So với năm 2010, tốc độ phát triển tổng sản phẩm trên địa bàn tổng sản phẩm đối với khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,8%, đối với khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 14,2% và khu vực dịch vụ tăng 12,2%
Cơ cấu kinh tế tổng sản phẩm kinh tế trong giai đoạn 2005-2011 vẫn chưa có sự thay đổi nhiều, mặc dù tỷ trọng của khu vực nông, lâm, thủy sản có sự chuyển dịch từ khu vực nông, lâm, thủy sản sang khu vực công nghiệp và xây dựng, nhưng tỷ trọng của khu vực I này vẫn chiếm tỷ lệ cao Trong giai đoạn 2010-2011, có sự tăng trưởng ở khu vực I từ 44,10% lên 47,20% Do thực hiện chủ trương của Chính phủ nên khu vực II tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ, năm 2010 chiếm tỷ trọng 29,20% giảm xuống còn 27,20% năm 2011 Tỷ trọng của khu vực III cũng giảm so với cùng kỳ, giảm xuống còn 25,70% năm 2011, điều này làm cho cơ cấu của tỉnh Tiền Giang không thay đổi
Trang 17Hình 3.1: Cơ cấu tăng trưởng kinh tế tỉnh Tiền Giang năm 2010-2011
Trong 9 tháng đầu năm 2012, đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng trưởng 5,1% so với 9 tháng đầu năm 2011, trong đó nông nghiệp tăng 5,4% (cùng kỳ tăng 5,9%) Có sự mâu thuẫn giữa giá các mặt hàng nông sản
và giá nguyên liệu đầu vào, trong khi giá một số mặt hàng nông sản hàng hóa như: lúa, heo hơi, dừa, luôn ở mức thấp nhưng giá các nguyên liệu đầu vào luôn tăng cao Ngành thủy sản cũng gặp nhiều khó khăn khi giá cả lên xuống thất thường ở một số thời điểm khó tiêu thụ Ngành lâm nghiệp cũng chỉ bằng 76,1%
so với cung kỳ năm trước
Khu vực công nghiệp và xây dựng, tốc độ tăng trưởng đạt 13,4%, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp gặp nhiều khó khăn
về vốn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhưng vẫn tiếp tục duy trì được và đạt tốc độ tăng trưởng đạt mức khá cao, tăng 18,3% Riêng tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng chỉ bằng 95,3% so với cùng kỳ năm trước
Đối với khu vực dịch vụ, có tốc độ tăng trưởng đạt 10%, giảm 1% so với cùng kỳ năm trước, nhưng đa số các ngành trong khu vực này đều có sự tăng trưởng nhưng vẫn chưa có những bước đột phá
Về Nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp là thế mạnh nổi bậc của tỉnh Tiền Giang, góp phần vào tăng trưởng kinh tế ổn định, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực Bên cạnh đó còn đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, góp phần quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của Tiền Giang trong những năm qua Tỉnh đã tập trung thực hiện chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó đã xác định 2 cây chủ lực đó là cây lúa chất lượng cao và cây ăn quả đặc
Nguồn :www.tiengiang.gov.vn
Trang 18sản (như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sơ ri Gò Công, sầu riêng và các loại cây có múi,…) và 2 con chủ lực là heo và bò (bò thịt và bò sữa)
Về sản xuất công nghiệp:Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp của tỉnh 6 tháng đầu năm 2012 đã tăng 15,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó có 6/10 huyện, thành, thị đã đạt từ 50% kế hoạch năm trở lên; và có 9/10 huyện, thành thị có chỉ số tăng trong đó tăng cao nhất là huyện Châu Thành tăng 23,7%, tiếp đến là Cai Lậy tăng 21,5%, và Cái Bè tăng 20,4% Bên cạnh đó, có huyện giảm là huyện Tân Phước chỉ bằng 90,5%
Theo thống kê của tỉnh, tổng số hợp tác xã hiện có trên địa bàn tỉnh là
104 hợp tác xã và 01 Liên hiệp HTX Tổng số xã viên hiện có khoảng 50.947 xã viên, tăng 954 xã viên so với cuối năm 2011) Bên cạnh hợp tác xã, tỉnh còn triển khai phát triển tổ hợp tác, có khoảng 1.408 tổ hợp với 71.940 xã viên hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực như nông nghiệp, tín dụng, tiểu thủ công nghiệp…
Về thương mại – dịch vụ: Đây là ngành giữ vai trò quan trọng thứ hai trong cơ cấu nền kinh tế của tỉnh Tiền Giang Hiện nay, tỉnh đang tập trung hướng phát triển ở thị trường nội địa, mở rộng giao thương với thành phố Hồ Chí Minh, với các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh việc sắp xếp lại mạng lưới bán lẻ, ưu tiên phát triển hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại và phát triển các khu thương mại, dịch
vụ tại thành phố Mỹ Tho và một số huyện và thị xã, tỉnh Tiền Giang còn tập trung hình thành khu dân cư - đô thị - thương mại - dịch vụ khoa học kỹ thuật, y
tế, giáo dục - đào tạo, tài chính - ngân hàng và nghỉ dưỡng ở các khu vực Trung Lương (Mỹ tho), khu vực Bắc Gò Công, Đông Nam huyện Tân Phước nhằm đáp ứng phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của người dân Ngoài ra còn củng cố và phát triển hệ thống các chợ đầu mối nông sản – thủy sản khác, nhằm tạo cầu nối giữa vùng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng đồng bằng
Trang 19tham gia sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Đài Loan Bên cạch
đó, tỉnh cũng tổ chức nhiều phiên giao dịch việc làm thông qua phỏng vấn trực tiếp để tuyển dụng trực tiếp nhằm giải quyết được một phần nhỏ vấn đề thất nghiệp của người lao động Ngoài ra, chế độ bảo hiểm thất nghiệp cũng khá được quan tâm Tỉnh Tiền Giang đã giải quyết được 4.935 trường hợp để được hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp
Đời sống dân cư và an sinh xã hội: Đời sống của người dân hiện nay
đã được cải thiện hơn so với những năm trước, đã không còn xảy ra tình trạnh thiếu lương thực ở tỉnh Tuy nhiên, người dân cũng gặp không ít khó khăn về giá trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Giá cả đều sụt giảm đã ảnh hưởng rất lớn đến thu nhuận của người nông dân Một số hoạt động không lành mạnh của các thương lái Trung Quốc trong việc gom hàng nông sản đã tạo nên những cơn sốt giá ảo trên thị trường gây nên thiệt hại rất to lớn cho sản xuất và thị trường nông sản Các cơ quan chức năng, Sở, Ngành, đoàn thê còn tổ chức thăm hỏi các gia đình chính sách, hộ nghèo, neo đơn… cho thấy sự quan tâm chăm sóc của tỉnh đến cuộc sống của người dân
Giáo dục: Không chỉ quan tâm đến việc huy động trẻ em đến trường, với tỷ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ trong độ tuổi 0-2 tuổi là 7,2%; huy động trẻ em
đi mẫu giáo là 58,9% Mặc dù học sinh THCS có sự suy giảm nhưng học sinh tiểu học và THPT có sự gia tăng Ngoài ra, tỉnh còn có các trường đại học, cao đẳng đào tạo nhiều ngành nghề
Văn hóa, thể thao: Toàn tỉnh có 418.098 hộ đăng kí xây dựng gia đình văn hóa và đạt tỷ lệ 99,7%; có 54/169 xã phường văn hóa; có 902/1.016 ấp, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa Về việc xây dựng nếp sống văn hóa nơi công cộng, toàn tỉnh có khoản 18 chợ văn hóa, 5 công viên văn hóa, 84 con đường văn hóa,
176 cơ sở thờ tự văn hóa Các hoạt động văn hóa được quan tâm và phát triển, bài trừ các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan Bên cạnh đó, các hoạt động thể dục thể thao cũng đạt các thành tích cao và những khen thưởng
3.2 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT TRÁI CÂY
3.2.1 Tình hình chung cả nước
Đồng bằng sông Cửu Long hiện có khoảng 285.800 ha cây ăn quả với tổng sản lượng đạt gần 4 triệu tấn/năm Nổi tiếng với nhiều loại trái cây đặc sản
Trang 20như xoài cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi, vú sữa Lò Rèn, quít hồng Lai Vung… Mặc
dù với diện tích khá lớn như thế, nhưng tình trạng sản xuất manh mún làm cho chất lượng trái cây không đồng đều Các tổ sản xuất, hợp tác xã trái cây đã được
ra đời nhưng hoạt động vẫn chưa hiệu quả Các mô hình Global Gap, Viet Gap,… vẫn chưa được mở rộng trên địa bàn Một số nơi đã triển khai mô hình Viet Gap nhưng hoạt động vẫn chua hiệu quả Ngoài ra mẫu mã trái cây vẫn chưa thể hấp dẫn người tiêu dùng trong nước lẫn người tiêu dùng nước ngoài Do đó, trái cây của nướ ta vẫn chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường truyền thống nhử Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Hà Lan, Singapore,… còn đối với một
số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc,… số lượng còn hạn chế
Thế nhưng các nhà vườn vẫn không tránh khỏi tình trạng trái cây mất mùa được giá, được mùa rớt giá, do đó người dân cũng rất khó khăn trong quá trình tìm kiếm đầu ra ổn định cho sản phẩm trái cây Hiện nay đa số người dân vẫn ưa chuộng trái cây ngoại hơn trái cây trong nước, do đó làm cho tình hình tiêu thụ của các mặt hàng trái cây trong nước gặp khá nhiều khó khăn Một số nơi như Bến Tre, Cần Thơ, Mỹ Tho… đã và đang chịu sự ảnh hưởng lớn của trái cây ngoại nhập từ Thái Lan, Trung Quốc Mặc dù giá trái cây ngoại nhập luôn cao hơn giá trong nước khoảng 10.000 đồng/kg nhưng người dân vẫn ưa chuộng trái cây ngoại nhập của Thái Lan hơn do có xuất xứ rõ ràng, chất lượng lại vượt trội hơn so với trái cây trong nước Tuy một số trái cây trong nước cũng đã được đánh giá cao về chất lượng và uy tín, nhưng do dây chuyên phân phối trái cây trong nước qua rất nhiều khâu trung gian cho nên giá rất cao Bên cạnh đó một số người dân có thu nhập thấp và trung bình thường thích mua trái cây Trung Quốc
hơn do giá cả rẻ hơn rất nhiều
3.2.2 Tình hình sản xuất trái cây tại Tiền Giang
Với đặc điểm về điều kiện tự nhiên, cùng với lớp đất phù sa màu mỡ rất thích hợp cho việc trồng các loại cây ăn trái Theo số liệu thống kê của tỉnh năm
2011, Tiền Giang có khoảng 67.991 ha trồng cây ăn quả, dẫn đầu các địa phương trong toàn quốc Hiện nay việc trồng cây ăn quả của tỉnh được nâng lên theo hướng chuyên canh và có chất lượng cao hơn Biết được tiềm năng và lợi thế đó, các nhà vườn tăng cường đầu tư, mở rộng diện tích trái cây cùng với nâng cao chất lượng để phục vụ cho thị trường Nhiều loại trái cây đặc sản được trồng như
Trang 21vú sữa Lò Rèn, xoài cát Hòa Lộc, thanh long Chợ Gạo,…
Bảng 3.1: DIÊ ̣N TÍCH VÀ SẢN LƯỢNG MỘT SỐ CÂY ĂN QUẢ CHỦ YẾU
Nguồn: Cục Thống kê Tiền Giang
Nhìn chung, diện tích cây ăn quả của tỉnh Tiền Giang tăng đều qua các năm, từ 67.552 ha năm 2009 tăng lên đến 67.991 ha năm 2011, trong đó:
Cam: Được trồng tập trung nhiều ở huyện Cái Bè, Cai lậy và Châu Thành,
chiếm khoảng 93,57% trong tổng diện tích trồng cam của tỉnh Tiền Giang năm
2011 Diện tích trồng cam có xu hướng tăng từ 6.993 – 7.400 ha trong giai đoạn năm 2008 – 2010, nhưng đến năm 2011 diện tích trồng cam có xu hướng giảm khoảng 1.472 ha Mặc dù diện tích giảm trong trong giai đoạn 2010 – 2011 nhưng sản lượng vẫn không giảm, tăng từ 112.957 – 126.706 tấn Năm 2011, địa phương có sản lượng cam lớn nhất là huyện Cái Bè với tổng sản lượng 63.154 tấn, tiếp theo là huyện Châu Thành 29.140 tấn và huyện Cai Lậy là 28.125 tấn
Dứa (khóm): Đây là một trong 3 loại cây ăn quả chủ đạo được tỉnh khuyến
khích đầu tư phát triển trong thời gian vừa qua nhằm phục vụ xuất khẩu Với diện tích 13.175 ha và sản lượng đạt mức 207.945 tấn, dứa là loại trái cây chiếm diện tích và sản lượng cao nhất
Xoài: Tiền Giang đặc biệt nổi tiếng với thương hiệu xoài cát Hòa Lộc và
có diện tích trồng xoài chiếm khá cao so với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích khoảng 5.521 ha vào năm 2011 Thế nhưng trong hơn 4 năm trở lại đây, diện tích cây xoài có xu hướng giảm xuống từ 6.685 – 5.521 trong giai đoạn 2008 – 2011 Mặc dù diện tích trồng xoài có sự suy giảm nhưng sản lượng trồng xoài vẫn tăng từ 86.128 – 93.470 tấn trong giai đoạn trên, đứng thứ 5 so với sản lượng các cây trồng khác
Trang 22Thanh long: Tiền Giang là tỉnh đứng thứ hai sau Bình Thuận về diện tích
và sản lượng Đây là loại trái cây nổi tiếng ở vùng đất huyện Chợ Gạo với diện tích chiếm khoảng 89,71% trong số các loại cây trồng Trong hơn 4 năm từ năm
2008 đến nay, diện tích thanh long có xu hướng tăng từ 1.747 – 2.158 ha và sản lượng 21.845 – 35.302 tấn, và trong thời gian tới có xu hướng tiếp tục tăng Đây cũng là loại trái cây có kim ngach xuất khẩu lớn của cả nước, nhưng do một số nguyên nhân mà kim ngạch xuất khẩu thanh long của tỉnh còn nhiều hạn chế
Nhãn: Đứng thứ 2 sau dứa về diện tích và đứng thứ 3 sau dứa và cam về
sản lượng Nhưng hiện nay diện tích trồng nhãn đã bị thu hẹp hơn, nhưng mức sản lượng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 13,88% trong tổng sản lượng trái cây của tỉnh năm 2011
Ngoài ra, Tiền Giang còn trồng nhiều loại trái cây đặc sản khác như sầu riêng, vú sữa, bưởi,… với diện tích và sản lượng ở mức trung bình Tuy nhiên, hiện nay do nhu cầu thị hiếu của thị trường, nên diện tích trái cây sẽ được điều chỉnh phù hợp với xu hướng của thị trường
Trang 23
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC KÊNH PHÂN PHỐI
TRÁI CÂY TIỀN GIANG 4.1 CÁC TÁC NHÂN THAM GIA TRONG KÊNH PHÂN PHỐI
4.1.1 Hộ nông dân
Hộ nông dân là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ Hộ gia đình, tập trung những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống, cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống Tuy nhiên cũng có thể có một vài trường hợp một số thành viên của hộ không có họ hàng huyết thống, nhưng những trường hợp này rất ít xảy ra1
Các nông hộ ở đây chủ yếu trồng các loại trái cây đặc sản, có giá trị kinh
tế cao và thích hợp với từng vùng như xoài cát Hòa Lộc, khóm Tân Phước, thanh long Chợ Gạo,… Ngoài ra còn trồng một số loại trái cây khác cũng có giá trị kinh tế khác như cam, chanh, mận,… Với đặc điểm là vùng có diện tích trồng cây ăn trái lớn nhất, nên đa số các hộ nông dân là người địa phương và có kinh nghiệm trồng cây ăn trái lâu năm trung bình từ 10 đến 30 năm, tỷ lệ này chiếm trên 50% trong tổng số nông hộ được phỏng vấn Phần lớn các hộ nông dân được khảo sát vẫn nằm trong mức giới hạn của độ tuổi lao động, nhưng vẫn còn tồn tại một số đối tượng nằm ngoài độ tuổi lao động, chiếm khoảng 15% trong tổng số
hộ được khảo sát
Tùy theo đặc điểm của từng vùng và lịch sử phát triển của nó mà phù hợp với từng loại cây trồng loại cây ăn trái Ví dụ như vùng đất phèn ở Tân Phước chỉ thích hợp trồng cây khóm, chình vì thế mà địa phương vận động phong trào, khuyến khích người dân tham gia trồng khóm để vươn lên thoát nghèo Khoảng 85% người dân tham gia trồng khóm là cho biết họ trồng khóm là do vườn nhà đã trồng trước đó Qua đó cho thấy người dân đã nhận ra được tính kinh tế của cây khóm ở vùng đất này cao hơn so với các loại cây trồng khác, nên cũng đã khuyến khích các hộ khác tham gia vào phong trào phát triển của tỉnh Không chỉ riêng
1
Tài liệu tập huấn Kinh tế phát triển hộ gia đình (2008), Sở Nông nghiệp và phát nông thôn tỉnh Quảng Bình
Trang 24vùng khóm Tân Phước, địa phương các vùng phát triển mạnh cây ăn trái cũng đang cố gắng nâng cao lợi thế của huyện nhà Ngoài ra còn có một vài lí do khiến cho các nông dân ở đây quyết định tham gia trồng trái cây mà không trồng lúa, rau màu hay các loại cây khác Sau đây là bảng tóm tắt một vào lí do chính:
Bảng 4.1: LÝ DO TRỒNG CÂY ĂN TRÁI CỦA CÁC NÔNG HỘ
có để nâng cao năng suất cho cây ăn trái Vào mùa thu hoạch, các nông hộ thường bán trái cây cho các chủ vựa/thu gom tại địa phương và trực tiếp vận chuyển trái cây đến cơ sở thu mua Tùy đặc điểm từng vùng, từng loại trái cây
mà các nông hộ thu hoạch và dùng các phương tiện như xe máy hay ghe xuồng
để vận chuyển trái cây trong quá trình tiêu thụ Một số nơi có các thương lái tại địa phương trực tiếp đến tận ruộng vườn để thu mua
4.1.2 Chủ vựa/thu gom và thương lái
Theo khảo sát thực tế cho thấy, một số chủ vựa/thu gom tại địa bàn nghiên cứu, phần lớn họ là người địa phương và thu mua trái cây trực tiếp từ nông dân, một số ít mua lại từ một số thương lái địa phương nhỏ lẻ tại địa mình cư trú, và sau đó bán lại cho các thương lái xa tới thu mua hay bán trực tiếp cho những người bán lẻ Các thương lái gồm có các thương lái nhỏ và thương lái sỉ Một số thương lái nhỏ là người địa phương, hoạt động riêng lẻ, thường thu mua trái cây tại nhiều nhà vườn rồi vận chuyển bán cho các chủ vựa/thu gom tại địa phương hay các thương lái lớn hơn hoặc các thương lái từ nơi xa để tiêu thụ Các thương lái nhỏ này thường có vốn ít và có phương tiện vận chuyển nhỏ hơn Các thương
Trang 25lái sỉ có thể là những người cư trú tại địa phương hoặc gần vùng trái cây đặc trưng, họ cũng có thể đến từ các tỉnh khác để thu mua trực tiếp từ nông dân hay mua lại từ các thương lái địa phương rồi vận chuyển đến các vùng khác để tiêu thụ Hình thức kinh doanh chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể, ngoài việc sử dụng lao động gia đình họ vẫn chủ yếu là sử dụng lao động thuê mướn
Hoạt động thu mua của các thu gom, thương lái diễn ra quanh năm Tùy theo mùa mà các đối tượng này đến thu mua trái cây tại các nhà vườn Đây chính
là cầu nối giữa người nông dân trồng trái cây và một số tác nhân trung gian khác trong kênh phân phối như người bán sỉ, bán lẻ, hay công ty chế biến – xuất khẩu
4.1.3 Người bán sỉ
Người bán sỉ thường thu gom trái cây từ các chủ vựa/thu gom rồi phân phối lại cho người bán lẻ Tuy nhiên, người bán sỉ thường thu mua trái cây với số lượng lớn từ các thương lái Trong một vài trường hợp đặc biệt, một số chủ vựa/thu gom mang đặc điểm như thương lái vận chuyển trái cây đến người bán sỉ
ở các chợ đầu mối lớn, tiếp đó, trái cây được phân phối lại cho người bán lẻ Thông thường các thông tin giá cả thị trường, người bán sỉ là người nắm rõ nhất, cung cấp đầy đủ thông tin về quá trình tiêu thụ của trái cây
4.1.4 Người bán lẻ
Người bán lẻ là một trong những tác nhân trung gian cuối cùng liên kết giữa các tác nhân khác với người tiêu dùng Các hoạt động bán lẻ này thường phục vụ nhu cầu tiêu dùng trái cây của các cá nhân và gia đình Thông thường những người bán lẻ rất am hiểu về nhu cầu của người tiêu dùng và nắm bắt được những thông tin mới nhất về sự thay đổi xu hướng tiêu dùng của khác hàng
4.1.5 Công ty chế biến xuất khẩu
Trong các tác nhân tham gia trong kênh phân phối trái cây, công ty chế biến - xuất khẩu là tác nhân giúp cho sản phẩm trái cây đến tay người tiêu dùng nước ngoài Đây chính là tác nhân đóng vai trò khá quan trọng trong việc chi phối thị trường vì lượng tiêu thụ trái cây và giá cả trên thị trường một phần được quyết định từ việc kinh doanh của họ Thông qua xuất khẩu trái cây và các sản phẩm từ trái cây, các công ty này đã giúp giới thiệu và tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới cho trái cây Tiền Giang nói riêng và Việt Nam nói chung
Trang 26Lập sơ đồ kênh phân phối trái cây:
Dưới đây là sơ đồ kênh phân phối sản phẩm trái của tỉnh Tiền Giang Thông qua sơ đồ kênh phân phối, ta có thể thấy được sự lưu chuyển của trái cây thông qua 6 kênh Sau khi thu hoạch, trái cây được vận chuyển cho một số đối tượng như chủ vựa/thu gom, thương lái, công ty chế biến – xuất khẩu hay được bán trực tiếp cho người tiêu dùng Dựa vào sơ đồ 4.1 kết hợp với bảng 4.2, ta có thể thấy được sản lượng trái cây chủ yếu được lưu chuyển qua 2 kênh phân phối chính, đó là kênh 1 và 2
Kênh 1: Được chia làm 4 kênh phân phối nhỏ là 1A, 1B, 1C và 1D:
Kênh 1A: Nông hộ Chủ vựa/Thu gom Người bán sỉ Người bán lẻ Người tiêu dùng trong nước
Kênh 1B: Nông hộ Chủ vựa/Thu gom Công ty chế biến – Xuất khẩu Siêu thị Người tiêu dùng trong nước
Kênh 1C: Nông hộ Chủ vựa/Thu gom Người bán lẻ Người tiêu dùng trong nước
Kênh 1D: Nông hộ Chủ vựa/Thu gom Công ty chế biến – Xuất khẩu Người tiêu dùng trong nước
Kênh 2: Được chia làm 4 kênh phân phối nhỏ là 2A, 2B, 2C và 2D:
Kênh 2A: Nông hộ Thương lái Người bán sỉ Người bán lẻ Người tiêu dùng
Kênh 2B: Nông hộ Thương lái Công ty chế biến – Xuất khẩu Siêu thị
Người tiêu dùng
Kênh 2C: Nông hộ Thương lái Người bán lẻ Người tiêu dùng Kênh 2D: Nông hộ Thương lái Công ty chế biến – Xuất khẩu Người tiêu dùng
Kênh 1 và kênh 2 là hai kênh thu mua trái cây từ nông dân với sản lượng khá lớn Chủ vựa/Thu gom thu mua khoảng 42,58% sản lượng trái cây sản xuất
ra từ nông dân Bên cạnh đó, thương lái trực tiếp thu mua hơn một nửa sản lượng sản xuất ra từ nông dân (khoảng 52,51%) Tuy nhiên, ở đây đề tài chỉ tập trung phân tích các kênh phân phối mà sản lượng trái cây lưu thông là lớn nhất Đó
chính là kênh 1C, 1D và 2A, 2D
Trang 27Siêu thị
Thương lái (Thương lái địa phương + Thương lái đường dài)
Tiêu dùng nội địa
Trang 28Bảng 4.2: KÊNH PHÂN PHỐI MẶT HÀNG TRÁI CÂY TỈNH TIỀN GIANG
Trang 29Dưới đây là hai kênh phân phối trái cây chủ yếu:
Kênh 1:
- Kênh 1C: Nông hộ Chủ vựa/Thu gom Người bán lẻ Người tiêu dùng trong nước: Sau khi thu hoạch, nông hộ bán trái cây trực tiếp cho chủ vựa/thu gom tại địa phương Trái cây sẽ được các hộ nông dân vận chuyển tới địa điểm thu mua của chủ vựa/thu gom Một nhóm khác được chủ vựa/thu gom trực tiếp đến tận ruộng/vườn để thu gom trái cây (chiếm khoảng 42,58% sản lượng trái cây) Sau đó, trái cây được phân loại, đóng gói, và vận chuyển đi đến thị trường miền Tây, TP Hồ Chí Minh và miền Trung rồi phân phối lại cho một số người bán lẻ tại các chợ để tiêu thụ
- Kênh 1D: Nông hộ Chủ vựa/Thu gom Công ty chế biến – Xuất khẩu Người tiêu dùng trong nước: Ngoài ra, các công ty chế biến – xuất khẩu cũng là một lựa chọn tốt để tiêu thụ trái cây Sau khi thu mua trái cây từ các hộ nông dân, các chủ vựa/thu gom phân loại trái cây cho đúng quy cách rồi vận chuyển đến các công ty chế biến – xuất khẩu để tiêu thụ Sau đó, công ty sẽ xử lí trái tươi hoặc chế biến thành một số sản phẩm đóng hộp và xuất khẩu đi một số thị trường nước ngoài
Kênh 2
- Kênh 2A: Nông hộ Thương lái Người bán sỉ Người bán lẻ Người tiêu dùng: Ngoài chủ vựa/thu gom, thương lái cũng là một trong những đối tượng thu mua truyền thống của các hộ nông dân, bao gồm thương lái địa phương và thương lái đường dài Những thương lái này thu gom trái cây tại nhiều nơi trong tỉnh, rồi vận chuyển đi đến các chợ đầu mối để tiêu thụ Tại đây, các mặt hàng trái cây được phân phối đến các chợ bán lẻ để tiêu thụ hoặc một số người bán lẻ trực tiếp đến các chợ đầu mối thu mua trái cây và vận chuyển về một số để nơi tiêu thụ
- Kênh 2D: Nông hộ Thương lái Công ty chế biến – Xuất khẩu Người tiêu dùng: Không chỉ vận chuyển trái cây đến các chợ đầu mối, các thương lái còn tìm đầu ra tại một số công ty chế biến – xuất khẩu
Trang 304.2 Sự cạnh tranh đối với thị trường trái cây ở Tiền Giang
4.2.1 Những rào cản gia nhập và xuất ngành
Không chỉ xét đến các đối tượng tham gia kinh doanh trái cây, ở đây còn
đề cập đến các lí do khiến cho các hộ nông dân khác không tham trồng trái cây Qua khảo sát thực tế cho thấy, một số nguyên nhân làm cho các nông hộ không tham gia trồng trái cây tại tỉnh Tiền Giang như không có nguồn vốn đầu tư, không có đất đai để tham gia trồng trái cây, không đủ sức khỏe để tham gia canh tác và một số lý do khác Dưới đây là bảng khảo sát các lý do không tham gia trồng cây ăn trái tại các hộ gia đình:
Bảng 4.3: LÝ DO KHÔNG THAM GIA CỦA HỘ GIA ĐÌNH
Lý do không tham gia Tỷ lệ (%) Xếp hạng
và không có đất đai là chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nguyên nhân khoảng trên 30% Đây là một trong những rào cản khiến cho người dân e ngại tham gia trồng cây ăn trái Bên cạnh đó, một số lý do về sức khỏe cũng làm cho họ phải từ bỏ việc đầu tư vào trồng cây ăn trái, vì lý do này mà không chỉ những người chưa trồng không muốn tham gia mà còn có một số người vì không đủ sức khỏe nên phải từ bỏ ruộng vườn
4.2.2 Phân loại chất lượng sản phẩm
Việc phân loại sản phẩm không chỉ được thực hiện ở khâu bán sản phẩm của các nông hộ mà còn là một khâu quan trọng để người thu mua xác định giá sản phẩm trái cây Dựa vào các tiêu chí phân loại sản phẩm, ta có thể thấy được
sự khác biệt giữa các sản phẩm của họ với những sản phẩm cạnh tranh của những người bán khác Một số tiêu chí cơ bản để xác định sự khác biệt của sản phẩm như kích cỡ, hình dáng, màu sắc, độ chín của trái cây Tùy theo mỗi loại trái cây
Trang 31mà có sự phân loại khác nhau, ví dụ như trong trường hợp của thanh long, trái phải to tròn, da bóng đẹp, màu sắc tươi, que màu xanh, cứng và giòn, trái không
bị sẹo Nhưng trong trường hợp phân loại khóm thì có chút khác biệt, ngoài những đặc điểm cơ bản thì hình dạng trái khóm dài sẽ được giá cao hơn Một số loại trái cây vì gặp những hạn chế về chất lượng sản phẩm nên không đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nên không chỉ gặp khó khăn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm mà còn gặp khó khăn trong việc phát triển thị trường
4.2.3 Cách tiếp cận thông tin thị trường
Theo kết quả khảo sát cho thấy các nông hộ thông thường tiếp cận thông tin thị trường thông qua các phương pháp truyền thống như tìm kiếm thông tin thị trường thông qua người bán, tham khảo ý kiến của những người thân, bạn bè,… để có thể nắm bắt thông tin giá cả Ngoài ra còn tham khảo thêm một số thông tin giá cả thị trường trên tivi, radio, báo… nhưng đa số người dân phản ánh
về tính chính xác của những thông tin này và cho biết giá cả được đưa ra thường chênh lệch nhiều so với giá thị trường Khiến cho người dân hoang mang và thường gây ra tình trạng chờ giá, điều này làm cho một số mặt hàng trái cây bị hư hỏng, gây tổn thất cho các nông hộ
Bảng 4.4: NGUỒN TIẾP CẬN THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG
Nguồn tiếp cận Tỷ lệ (%) Xếp hạng
Nguồn: Khảo sát thực tế năm 2012
Mặc dù hiện nay có rất nhiều nguồn thông tin về thị trường được cung cấp
từ nhiều nguồn cho các nông hộ, nhưng việc tiếp cận của họ vẫn còn hạn chế, chủ yếu là từ những nguồn thông tin truyền thống Đa số người được khảo sát trả lời ít tìm hiểu trước thông tin về thị trường trước khi bán sản phẩm, tỷ lệ này chiếm khá cao với 75,25% Mặc dù được hỗ trợ về nhiều mặt tiếp cận thông tin thị trường từ nhiều nguồn nhưng người dân cho biết đa số họ vẫn hay thăm dò giá cả thông qua hàng xóm, sau khi thấy ai bán sản phẩm họ sẽ hỏi giá và đây là một nguồn tin truyền thống thường được áp dụng, tỷ lệ này đứng thứ hai trong bảng xếp hạng với 62,38% Đối với kênh thông tin thông qua người bán cũng là
Trang 32một nguồn cung cấp thông tin khá chính xác, thông thường giá bán thực tế và giá bán dược cung cấp thông qua kênh này chênh lệch rất ít
4.2.4 Cơ sở hình thành giá cả
Giá cả trên thị trường bị ảnh hưởng bởi các tác nhân tham gia trong kênh phân phối Thông thường giá cả được hình thành dựa trên sự thương lượng giữa người bán và người mua Nhưng trong một vài trường hợp giá bán được định trước bởi người mua, việc thương lượng chỉ là mang tính hình thức nhưng thực chất không có hiệu quả
4.3 Kết quả thực hiện của hệ thống kênh phối trái cây Tiền Giang
4.3.1 Phân tích chi phí sản xuất và lợi nhuận đối với nông dân
Nông dân thường chủ yếu trồng các loại trái cây có giá trị kinh tế cao để
có được thu nhập hàng ngày Để biết được mức lợi nhuận khác nhau của từng loại trái cây, phải hiểu rõ được cơ cấu chi phí ở từng khoản mục Hai bảng 4.5 và 4.6 dưới đây cho biết cơ cấu chi phí và mức lợi nhuận của nông hộ khi tham gia sản xuất trái cây
a) Chi phí:
Tùy vào mỗi loại trái cây có những đặc điểm riêng mà có những khoản mục chi phí giống hay khác nhau, nhưng cơ bản vẫn có những khoản chi phí như: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, nhân công, công cụ, dụng
cụ, máy móc trang thiết bị,… Ngoài ra có những khoản chi phí đặc trưng khác như chi phí trụ của cây thanh long, chi phí thuê đất của khóm,…
Trang 33Bảng 4.5: CƠ CẤU CHI PHÍ SẢN XUẤT TRÁI CÂY CỦA NÔNG HỘ
Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế của tác giả năm 2012
Xoài: Xoài được nhiều hộ nông dân quan tâm và chọn trồng cho vườn
cây ăn trái của mình Tuy nhiên, cũng nhiều hộ nông dân tham gia trồng và gặp khá nhiều khó khăn khi đầu tư cho cây xoài vì chi phí khá cao Nhiều hộ nông dân đã phải chuyển sang cây trồng khác vì không thể tiếp tục Bảng 4.5 trên đây cho ta thấy được một số chi phí sản xuất cơ bản mà người nông dân phải chịu được tính trên đơn vị kg
- Chi phí cây giống: Chiếm tỷ trọng không cao khoảng 0,08% trong tổng
chi phí sản xuất Qua khảo sát, đa số các hộ nông dân được thừa hưởng vườn xoài từ gia đình cho nên các chi phí ban đầu gần như không đáng kể, khoảng 96,7% số nông hộ cho biết họ không tốn chi phí đầu tư ban đầu cho giống Bên cạnh đó, một số hộ nông dân có thể tự ươm giống tại nhà để có thể xác định được giống xoài có chất lượng, một số khác có thể mua giống từ hàng xóm nên chi phí giống gần như không đáng kể
- Chi phí phân, thuốc: Qua bảng 4.5, ta có thể thấy đây là chi phí chiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng cơ cấu chi phí của nông dân trồng xoài Chi phí này chiếm khoảng 55,30% tương đương khoảng 3.545 đồng/kg Để có được những
Loại chi phí
Số tiền (đ/kg)
Cơ cấu
CP (%)
Số tiền (đ/kg)
Cơ cấu
CP (%)
Số tiền (đ/kg)
Cơ cấu
CP (%)
Trang 34trái xoài đẹp, có chất lượng cao, người nông dân phải tốn nhiều chi phí cho phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Theo khảo sát cho biết, một số hộ nông dân đã gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc cây xoài do phải xịt thuốc khá nhiều và chi phí cho phân bón là rất cao Trong một vụ trồng xoài, trung bình người nông dân phải chi ra khoảng 723.000 đồng/1.000m2
cho tiền phân bón hóa học và khoảng 1.960.000 đồng/1.000m2
cho tiền thuốc bảo vệ thực vật Do quá trình canh tác lâu dài, đất đã bị thoái hóa và kém màu mỡ cho nên các hộ nông dân thường phải bón phân cho đất, trùng bình 1 – 2 lần/năm Bên cạnh đó, xoài thường được các
hộ nông dân áp dụng các biện pháp xử lí hoa để cho ra trái đồng loạt và thông
thường xoài được áp dụng xử lí vào mùa nghịch để bán được giá cao hơn, cho nên chi phí cho thuốc phun xịt là rất cao
- Chi phí nhân công: Đây là chi phí chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, chiếm
khoảng 34,60% trong tổng cơ cấu chi phí sản xuất, tương đương khoảng 2.183 đồng/kg Người nông dân chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình là chủ yếu, trong đó, lao động gia đình chiếm khoảng hơn 80% trong tổng chi phí nhân công
và chiếm khoảng 27,33% trong tổng cơ cấu sản xuất Do xoài là loại cây ăn trái không cần sự chăm sóc thường xuyên như các loại rau màu nên người nông dân chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình Theo khảo sát thực tế cho thấy, trung bình một vụ sản xuất họ phải chi ra khoảng 1.350.000 đồng/1.000m2, gấp 4 lần chi phí dành cho lao động thuê mướn Tuy nhiên, một số hộ vẫn phải thuê thêm lao động để làm một số công việc như nạo vét kênh mương, xịt thuốc, thu hoạch Tiền công lao động vào khoảng 100.000 – 120.000 đồng/ngày Trong những lúc thiếu lao động, tiền công cho công việc phun xịt thuốc có khi lên đến 200.000 đồng/ngày
- Chi phí khấu hao máy móc công cụ, dụng cụ, nhiên liệu: Chi phí này
chiếm tỷ trọng không cao khoảng 3,21% trong tổng chi phí sản xuất Nguyên nhân là do một số máy móc, trang thiết bị, công cụ dụng cụ đã được sử dụng từ trước đó, tùy vào cách sử dụng và bảo quản mà tuổi thọ của chúng có thể đến 10 năm Do đó, chi phí khấu hao chiếm tỷ trọng không lớn
- Ngoài ra còn có một số chi phí khác như chi phí dich vụ (0,67%), chi phí vốn vay (3,96%), và một số chi phí khác
Trang 35 Thanh long:
- Chi phí giống: Gần như chi phí giống là bằng không, nguyên nhân là do
địa bàn khảo sát được chọn có truyền thống trồng thanh long rất lâu đời và đa số người dân nơi đây trồng thanh long ruột trắng nên thường xin giống thanh long
từ hàng xóm hoặc nhân hom giống từ vườn thanh long tại gia đình nên chi phí cho giống là không đáng kể Một số khác chỉ tốn chi phí giống cho thanh long ruột đỏ và ruột tím Tuy nhiên giống thanh long được xét ở đây chủ yếu là giống thanh long ruôt trắng
- Chi phí trụ: Đây là loại chi phí chỉ có ở thanh long Mặc dù chi phí giống
được xem là không đáng kể, nhưng các nông hộ ở đây lại phải chịu cho chi phí trụ Chi phí trụ trung bình chiếm khoảng 6,73% trong tổng chi phí sản xuất Một
số hộ nông dân vẫn còn sử dụng trụ cây, nhưng đang dần chuyển sang trụ đá Tùy vào từng thời điểm mà chi phí trụ có mức giá khác nhau, trung bình từ 45.000- 80.000 đồng/trụ
- Chi phí thuê đất: Phần lớn các nông hộ sử dụng đất sở hữu để canh tác,
một số ít hộ không có đất phải thuê đất với chi phí khoảng 2.000.000 đồng/1.000m2
/năm Tuy nhiên chi phí này chiếm tỷ trọng không cao khoảng 0,44% trong tổng chi phí sản xuất
- Chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật: Đây là chi phí lớn thứ hai,
chiếm 40,89% trong tổng cơ cấu chi phí sản xuất của nông hộ, tương đương khoảng 1.445,55 đồng/kg
- Chi phí nhân công: Đây là chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng
45,74% trong tổng cơ cấu chi phí sản xuất Thanh long là loại trái cây dễ chăm sóc, nên phần lớn các hộ nông dân sử dụng lao động trong gia đình là chủ yếu Chi phí cho lao động gia đình chiếm hơn 80% trong tổng chi phí lao động, và khoảng 36,74% trong tổng chi phí sản xuất Các nông hộ thường thuê thêm lao động vào mùa thu hoạch trái để Tiền công lao động thuê thường dao động khoảng 120.000 – 150.000 đồng/ngày
- Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ: Do các máy móc,
thiết bị, công cụ, dụng cụ phần lớn được sử dụng từ trước đó, một số ít sử dụng được vài năm, trung bình từ 3 – 15 năm Do đó, chi phí sau khấu hao chiếm tỷ
Trang 36trọng tương đối thấp vào khoảng 1,99% trong tổng chi phí sản xuất trong một vụ, vào khoảng 70,35 đồng/kg
- Ngoài ra, còn một số chi phí khác như còn có chi phí vốn vay (3,01%), chi phí dịch vụ, cụ thể là chi phí thuê máy làm đất để cải tạo vườn, chi phí này chiếm khoảng 1,20% trong tổng cơ cấu chi phí sản xuất
- Chi phí thuê đất: Đây là loại chi phí chiếm tỷ trọng tương đối lớn,
khoảng 15,62 % Do địa bàn khảo sát (huyện Tân Phước) còn nằm trong danh sách nghèo của tỉnh nên các hộ nông dân nơi đây vẫn còn thiếu đất để canh tác Chính vì thế, một số hộ nông dân không có đất phải thuê đất để canh tác với chi phí thuê đất trung bình khoảng 2.000.000 đồng/1.000m2/năm
- Chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất: Đây là chi phí chiếm
tỷ trọng cao nhất khoảng 22,93% Các hộ nông dân trồng khóm chủ yếu tốn nhiều chi phí bón phân hơn là chi phí phun xịt Chi phí phân và thuốc bảo vệ thực vật trung bình khoảng 302,02 đồng/kg trong một vụ sản xuất khóm
- Chi phí nhân công: Đây là chi phí lớn thứ hai trong cơ cấu chi phí sản
xuất khóm của nông dân, chiếm khoảng 16,13% chi phí đầu tư Với đặc thù nơi đây trồng khóm với diện tích khá lớn nên lao động gia đình vẫn không thể đáp ứng đủ, do đó phải thuê thêm lao động cho một số công việc cần thiết Đặc biệt là vào thời điểm thu hoạch, chi phí lao động thuê mướn rất cao Trong những lúc thiếu lao động, chi phí thuê lao động lên đến 150.000 đồng/người/ngày
- Chi phí khấu hao máy móc, công cụ, nhiên liệu: Đây là chi phí chiếm tỷ
trọng tương đối thấp trong cơ cấu chi phí sản xuất Chi phí này chiếm khoảng 7,27%, tương đương khoảng 95,81 đồng trên 1kg khóm, bao gồm cả chi phí nhiên liệu dùng trong việc tưới tiêu
- Chi phí dịch vụ: Như chi phí thủy lợi, đây chính là chi phí bơm tác, đắp
đê mà các nông hộ phải đóng cho nhà nước hàng năm, với mức giá khoảng 500.000 đồng/1ha/năm, nên cũng được xem là một trong những chi phí sản xuất của nông hộ, chiếm khoảng 8,43%
Trang 37- Chi phí lãi vay : Do các hộ nông dân còn gặp nhiều khó khăn trong đầu tư
vốn sản xuất, nên khoảng 70% hộ nông dân đi vay vốn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với mức lãi suất trung bình khoảng 1,5%/tháng Do đó, chi phí vốn vay cũng chiếm một tỷ trọng tương đối trong cơ cấu chi phí sản xuất, khoảng 10,23%
- Chi phí hao hụt: Đây là chi phí chiếm tỷ trọng cũng khá lớn, chiếm
khoảng 11,36% trong quá trình sản xuất và tiêu thụ Chủ yếu là bị hư hỏng trong quá trình thu hoạch và vận chuyển tiêu thụ Đặc biệt, trong quá trình cân bán sản phẩm, các nông hộ thường mất khoảng 5% trong tổng sản lượng thu hoạch
b) Lợi nhuận
Qua bảng 8 ta có thể nắm được một số chi phí cơ bản của nông hộ trồng trái cây đặc biệt là ba loại trái cây xoài, thanh long, khóm Dưới đây là bảng lợi nhuận cơ bản của nông hộ trồng trái:
Bảng 4.6: LỢI NHUẬN CỦA NÔNG HỘ TRỒNG TRÁI CÂY
Đvt: đồng/kg
Đối tƣợng Giá mua
(1)
Giá bán (2)
Lợi nhuận (3)=(2) - (1)
Tỷ suất lợi nhuận(%)
)1(
)3()4
Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế của tác giả năm 2012
Xoài: Với chi phí đầu tư ban đầu nông hộ phải bỏ ra khoảng 6.410 đồng
cho 1 kg xoài, khi tiêu thụ, nông hộ bán ra được với một mức giá khá cao khoảng 24.140 đồng/kg Qua đó cho thấy, nông hộ là một đối tượng tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất trong kênh phân phối, với mức lợi nhuận mà nông hộ kiếm được khoảng 17.730 đồng/kg, tương đương 276,60% trên tổng chi phí
Thanh long: Với chi phí đầu tư ban đầu tương đối thấp hơn so với xoài,
nông hộ trồng thanh long với mức chi phí trung bình bỏ ra khoảng 8.460 đồng/kg Nông hộ nhận về được một mức lợi nhuận cũng khá cao, vào khoảng 4.925 đồng/kg tương đương khoảng 139,32% trên tổng chi phí
Khóm: Đây là một loại trái cây có mức chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn
hai loại trái cây xoài và thanh long, vào khoảng 1.317 đồng/kg Khi bán, nông hộ thu được với mức giá bán trung bình khoảng 2.900 đồng/kg, kiếm được khoảng 1.583 đồng/kg, tương đương khoảng 120,20% trên tổng chi phí
Trang 384.3.2 Phân tích chi phí sản xuất và lợi nhuận chủ vựa, thương lái
a) Chi phí:
Đây là tác nhân trung gian giữa nông hộ với người bán sỉ, người bán lẻ và công ty chế biến xuất khẩu Bảng 4.7 dưới đây chỉ ra một số chi phí cơ bản của hai tác nhân này
Bảng 4.7: CƠ CẤU CHI PHÍ KINH DOANH CỦA CHỦ VỰA THƯƠNG LÁI
Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế của tác giả năm 2012
Xoài: Có hai chi phí chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chi phí của chủ
vựa thu mua xoài, đó là chi phí nhân công và chi phí vận chuyển tiêu thụ, chiếm hơn 80% Ngoài ra còn có một số chi phí khác như chi phí thuê mặt bằng, chi phí bao bì đóng gói, chi phí lãi vay, chi phí điện nước, chi phí thông tin liên lạc,…
- Chi phí nhân công: Đây là chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng cơ
cấu chi phí, chiếm khoảng 66,45%, tương đương khoảng 1.464 đồng/kg Trong
đó, chi phí lao động ở gia đình là chủ yếu, chiếm khoảng 40.25%, tương đương khoảng 887 đồng/kg Chi phí lao động thuê mướn, bốc vác chiếm khoảng 39,41% trong tổng chi phí nhân công và chiếm khoảng 26,17% trong tổng chi phí tăng thêm của chủ vựa, tương đương khoảng 532 đồng/kg
Loại chi phí
Số tiền (đ/kg)
Cơ cấu
CP (%)
Số tiền (đ/kg)
Cơ cấu
CP (%)
Số tiền (đ/kg)
Cơ cấu
CP (%)
Vận chuyển tiêu
CP khấu hao (máy
Trang 39- Chi phí vận chuyển tiêu thụ: Đây là chi phí lớn thứ hai trong tổng cơ cấu
chi phí, chiếm khoảng 15,89% Do chủ vựa xoài phải vận chuyển đến các nhà bán lẻ ở TP Hồ Chí Minh để tiêu thụ Mức giá vận chuyển đến TP Hồ Chí Minh khoảng 300.000 đồng/tấn Còn tại thị trường miền Trung, vận chuyển với mức giá cao hơn nhiều khoảng 800.000 – 1.000.000 đồng/tấn nhưng chi phí này chủ vựa không phải chi trả
- Chi phí thuê mặt bằng: Đây là loại chi phí chiếm tỷ trọng tương đối thấp,
vào khoảng 4,04% tổng chi phí tăng thêm Qua khảo sát tại đại bàn nghiên cứu, các chủ vựa thường thuê mặt bằng tại các chợ trái cây, thông thường chi phí này
sẽ được thu theo từng năm hoặc theo từng tháng, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên
- Chi phí lãi vay: Chiếm tỷ trọng khoảng 5,81% trong tổng chi phí tăng
thêm của chủ vựa Do gặp một số rủi ro trong hoạt động tiêu thụ, nên một số chủ vựa phải đi vay để có thể đền bù sự thiếu hụt vốn Qua khảo sát cho thấy, phần lớn nguồn vốn vay của các chủ vựa từ các đối tượng cho vay nóng bên ngoài Mặc dù phải trá với mức lãi suất cao hơn nhiều so với vay tại các ngân hàng nhưng nó rút ngắn được thời gian và các thủ tục hành chính phức tạp Chính vì thế họ sãn sang trả với mức lãi suất khá cao để có thể kịp thời giải quyết nhu cầu vốn trước mắt
- Chi phí sơ chế, bao bì, đóng gói, bảo quản: Chi phí này chiếm khoảng
4,54% trong tổng chi phí tăng thêm của chủ vựa Theo khảo sát, chi phí đóng gói khoảng 100 đồng/kg, bao gồm những khoản chi phí như thùng, giấy gói, băng keo,
Thanh long:
- Chi phí nhân công: Đứng thứ hai trong cơ cấu chi phí tăng thêm của chủ
vựa, thương lái, chiếm khoảng 29,59% Trong đó, chi phí lao động thuê mướn chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 24,87% trong tổng cơ cấu chi phí tăng thêm, và hơn 84% trong tổng chi phí nhân công của chủ vựa, thương lái Tùy thuộc vào quy mô của mỗi chủ vựa, thương lái, mà số lao động thuê cần nhiều hay ít, trung bình khoảng từ 3 – 50 người/lượt hàng Tiền công lao động tại địa phương doa động từ 120.000 – 160.000 đồng/ngày
- Chi phí vận chuyển tiêu thụ: Chiếm tỷ trọng khoảng 34,15% trong tổng
chi phí gia trị gia tăng Phần lớn các chủ vựa, thương lái phải thuê xe để vận