1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và phối hợp hệ thống câu hỏi tự luận và trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra, đánh giá khả năng nắm vững kiến thức của học sinh về đề tài Cảm ứng điện từ trong SGK vật lí 11 (nâng cao)

54 1,1K 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 6,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói kiểm tra, đánh giá là một khâu có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giả tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của người thầy và việc học của trò, đồ

Trang 1

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Tạ

Tri Phương, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Em xin chan thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Uguyén Thi Nga

Trang 2

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

LGI CAM DOAN

Tôi cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của tôi và không trùng với bất kì kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2010

Sinh viên tuyến Ckị (ga

Ugayén Shi Vga X32 - $7) (0át tí

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.PGS.TS: Phó giáo sư Tiến sĩ

2 GS.TS: Giáo sư Tiến sĩ

3.TNKQNLC: trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

4.THPT: trung học phổ thông

5 SGK: sách giáo khoa

Trang 4

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

3 Giả thuyết khoa học

4 Đối tượng nghiên cứu

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Bố cục của khoá luận

CHUONG 1 CO SO Li LUAN VE CONG TAC KIEM TRA, DANH

GIA KET QUA HQC TAP CUA HOC SINH O TRUONG PHO

1.4 Phân tích câu hỏi

1.5 Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm

KÉT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2 SOẠN THẢO VÀ PHÓI HỢP HỆ THÓNG CÂU HỎI

TỰ LUẬN VÀ CÂU HỎI TNKQNLC ĐÈ TÀI “CÁM ỨNG ĐIỆN

TỪ” (NÂNG CAO)

2.1 Đặc điểm cấu trúc nội dụng đề tài “Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 THPT

2.2 Nội dung về kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học đề tài

Trang 5

2.3 Soạn thảo hệ thống câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQNLC đề tai “

Cảm ứng điện từ” Vật lí II THPT (nâng cao)

2.4 Đề xuất các phương án phối hợp các câu hỏi tự luận và câu hỏi

TNKQNLC trong quá trình dạy học đề tài “Cảm ứng điện từ” trong SGK

Vat li 11 THPT (nang cao)

KET LUAN CHUONG 2

KET LUAN CHUNG

TAI LIEU THAM KHAO

44

86

87 89

Trang 6

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

khuôn, máy móc, nặng về hình thức Năng lực học tập của học sinh nói

chung, mức độ kiến thức Vật lí nói riêng bị giảm sút nghiêm trọng Chính vì

thế việc cải tiến và đổi mới đồng bộ cả về mục đích, nội dung, phương pháp

và đặc biệt là cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đang

và luôn là vấn đề cấp thiết

Có thể nói kiểm tra, đánh giá là một khâu có vị trí hết sức quan trọng

trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giả tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của người thầy và việc học của trò, đồng thời giúp các nhà quản lý giáo dục hoạch định được chiến lược trong quá trình quản lý và điều hành

Trên thế giới hiện nay người ta sử dụng khá đa dạng các hình thức

kiểm tra đánh giá kết qua hoc tập của học sinh Mỗi hình thức có những ưu,

nhược điểm nhất định, nhưng tất nhiên, không có phương pháp nào là hoàn

mĩ cho mọi mục tiêu giáo dục Trong những nam gần đây, loại trắc nghiệm khách quan có nhiều ưu thế phù hợp với ngành giáo dục nước ta như: có thê

dùng khảo sát kiến thức trên điện rộng một cách nhanh chóng, khách quan, nó

cho phép xử lý kết quả theo nhiều chiều với từng học sinh cũng như tổng thể

cả lớp học hoặc một trường học nên đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chính

thức sử dụng vào việc kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh ở

trường phô thông

Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ ở trên, qua thực tiễn giảng dạy bộ

môn Vật lí ở trường THPT chúng tôi lựa chọn đề tài “Xây dựng và phối hợp

hệ thống câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQNLC nhằm kiểm tra, đánh giá khả

Ugayén Shi Vga X32 - $7) (0át tí

Trang 7

năng nắm vững kiến thức của học sinh về đề tài “Cảm ứng điện từ” trong

SGK Vật lí 11 THPT(nâng cao)” đề nghiên cứu

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu xây dựng một hệ thống câu hỏi tự luận và trắc nghiệm

khách quan nhiều lựa chọn (TNKQNLC) của chương “ Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 THPT góp phần cải tiến hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến

thức của học sinh

3 Giá thuyết khoa học

Nếu xây dựng được hệ thống câu hỏi tự luận và câu hỏi TNKQNLC trên cơ sở các mục tiêu đạy học và có các phương án phối hợp các câu hỏi này một cách phù hợp trong quá trình dạy học đề tài “Cảm ứng điện từ” trong

SGK Vật lí 11 THPT thì có thể đánh giá chính xác, khách quan mức độ nắm

vững kiến thức của học sinh

4 Đối tượng nghiên cứu

Kiểm tra, đánh giá kết quá học tập chương “ Cảm ứng điện tử” của học sinh lop 11 THPT (nang cao)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác kiểm tra, đánh giá

- Nghiên cứu lí luận và kĩ thuật xây dựng câu hỏi tự luận và

TNKQNLC

- Nghiên cứu nội dung chương trình Vật lí II THPT nói chung va

chương “Cảm ứng điện từ” nói riêng; trên cơ sở đó xác định được mức độ của

mục tiêu nhận thức ứng với từng đơn vị kiến thức mà học sinh cần đạt được

- Vận dụng cơ sở lí luận xây dựng hệ thống câu hỏi tự luận và trắc nghiệm

khách quan nhiều lựa chọn cho chương “ Cảm ứng điện từ” lớp 11 THPT (nâng cao)

Trang 8

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu chương trình, SGK và các tài liệu khác liên quan

- Các phương pháp hỗ trợ điều tra thăm dò

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo khóa

luận tốt nghiệp gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về công tác kiểm tra, đánh giá kết quá học tập của học sinh ở trường phổ thông

Chương 2 Soạn thảo và phối hợp hệ thống câu hỏi tự luận và câu hỏi

TNLQNLC nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh

về đề tài “Cảm ứng điện từ” lớp 11 THPT(nâng cao)

Trang 9

CHUONG 1 CO SO Li LUAN VE CONG TAC KIEM TRA,

ĐÁNH GIÁ KÉT QUÁ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở

TRƯỜNG PHỎ THÔNG

1.1 Cơ sở lí luận về công tác kiểm tra, đánh giá trong dạy học

1.1.1 Khái niệm về kiểm tra, đánh giá

Có nhiều định nghĩa về công tác kiểm tra, đánh giá chúng ta đặc biệt chú ý tới một số định nghĩa sau đây:

- Định nghĩa của Jean Marie De Ketele

+ Thu thập thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy

+ Xem xét mức độ phù hợp giữa tập thông tin này với một tập hợp các tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu, hay đã điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin

+ Nhằm ra một quyết định

- Định nghĩa của James H va Mc Millan

Đánh giá là việc thu thập, giải thích và sử dụng thông tin giúp giáo viên

ra những quyết định tốt hơn

- Định nghĩa của Rall Tyler

Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các

mục tiêu trong chương trình giáo dục

- Định nghĩa của các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình

độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của người học, về tác động và

nguyên nhân của tỉnh hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học tập ngày một tiến

bộ hơn

Trang 10

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

1.1.2 Một số khái niệm liên quan

Liên quan đến khái niệm đánh giá phải kế đến một số thuật ngữ thường

gặp sau:

- Kiểm tra: là phương tiện, hình thức và công cụ để đánh giá Trong kiểm tra người ta xác định trước các tiêu chí và không thay đôi chúng trong quá trình kiểm tra

Tóm lại, kiểm tra là quá trình hẹp hơn đánh giá, là một khâu của quá trình đánh giá (là công cụ đề đánh giá)

- Thi: cũng là kiểm tra nhưng có tầm quan trọng đặc biệt mà được dùng

khi kết thúc một giai đoạn đào tạo, một quá trình đào tạo

Trong thi, tinh chat “tong kết” nổi trội hơn so với kiểm tra

Trong kiểm tra thì tính chất “định hình” nỗi trội hơn

- Do: trong khoa học tự nhiên “đo” là so sánh một đối tượng với một

đối tượng khác được chọn là chuẩn làm đơn vị

Trong giáo dục, “đo” được hiểu là so sánh hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ của một cá nhân hoặc một tập thể dạy học đã đạt được với một hệ

thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ được dùng làm chuân

Tại sao ta thực Ta cần những Ta sẽ giải Ta sẽ sử đụng

hiện đánh giá thủ thuật gì dé thích những những kết quả

[_*| tin? [| duoc như thế | thế nào?

Trang 11

* Muc dich

- Nhằm nâng cao hiệu quả dạy học giáo viên cần liên tục đánh giá học sinh so với mục tiêu học tập và điều chỉnh giảng dạy của mình dựa trên co sở

các thông tin thu được

- Không những cho học sinh biết họ đã nắm được, làm được những gì

mà còn tác động thúc đầy học tập (động viên, khích lệ học sinh)

- Cung cấp thông tin phản hồi dé str dung cho học sinh

- Theo dõi sự tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập

- Truyền đến cho học sinh những kỳ vọng, mong muốn của giáo viên

một cơ quan trong trường, một cơ quan ở ngoài trường ra bài, nhà xuất bản

nào đó ra đề ); khác nhau về cách thức làm bài ( viết, nói, làm thí nghiệm )

- Việc lựa chọn phương pháp xác định thông tin tuỳ thuộc vào mục

đích và mục tiêu học tập

* Giải thích

- Đánh giá chất lượng: mức độ tốt, xấu của hành vi hoặc việc làm

- Giải thích những gì thu thập được trong bước xác định thông tin

- Phán quyết về kết quả học tập của học sinh

Trang 12

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

- Yếu tố quyết định đề đánh giá một hành động chính là bản chất những tiêu chuẩn hành động mà ta sử dụng Tiêu chuân hành động được áp dụng để xác định một hành động là “tốt” hay ““xấu”

- Tiêu chí đóng vai trò quan trọng trong quy trình đánh giá Tiêu chí là

những hành động hoặc khía cạnh cụ thể được minh chứng sẽ đạt tới chuẩn mực Đó là các tiêu chí chấm điểm, hướng dẫn chấm, giải thích, chỉ dẫn rất

chặt chẽ

* Sử dụng

- Kết quả kiểm tra và những thông tin khác gắn chặt với những quyết định của giáo viên về điều chỉnh giảng dạy, quyết định về đánh giá , đáp ứng

nhu cầu của học sinh và phụ huynh họ

Ví dụ về tiêu chuẩn: học sinh phải biết tất cả các thủ phủ của các tỉnh

trong cả nước

Ví dụ về tiêu chí: tiêu chí là những gì giáo viên sử dụng đề có thể kết

luận học sinh thực sự biết các thủ phủ đó

Một giáo viên yêu cầu học sinh trả lời đúng khoảng

20 câu lựa chọn

Hiện nay, giáo viên thường sử dụng tiêu chí để chấm các bài kiểm tra

và các bài thi mà không theo một tiêu chuẩn nào nữa

Cả tiêu chí và tiêu chuẩn để truyền đạt những kỳ vọng, mong muốn của

giáo viên đến với học sinh (độ khó của bài tập, tính khat khe, chặt chẽ của tiêu

chí đều thông báo cho học sinh biết họ có khá năng đạt được những gì

1.1.4 Mục đích của kiểm tra, đánh giá

Việc kiểm tra, đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tuỳ từng trường hợp

Ugayén Shi Vga 12 X32 - $7) (0át tí

Trang 13

1.1.4.1 Đối với học sinh

- Chuẩn đoán năng lực, trình độ của người học dé phan loai, tuyén chon

1.1.4.2 Đối với người dạy

- Cung cấp thông tin về các đặc điểm tâm sinh lí của người học và trình

độ học tập của họ

- Cung cấp thông tin cụ thé về tình hình học tập của học sinh làm cơ sở cho việc cải tiến nội dung và phương pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả day hoc (rất quan trọng)

1.1.4.3 Đối với cơ quan quản lí và nghiên cứu giáo dục

- Cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc cải tiến mọi hoạt động của giáo

dục (phát triển chương trình, biên soạn sách giáo khoa, đào tạo, bồi dưỡng

giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, quản lí các Sở, các trường )

- Cung cấp thông tin cần thiết cho việc đánh giá các cơ sở giáo dục 1.1.4.4 Mục đích đánh giá trong đề tài này

- Xác nhận kết quả nhận biết, hiểu, vận dụng theo mục tiêu đề ra

- Xác định xem khi kết thúc một học phần của dạy học, mục tiêu của dạy học đã đạt được đến mức độ nào sơ với mục tiêu mong muốn

- Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học sinh giúp

giáo viên giảng dạy tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí 1.1.5 Chức năng của đánh giá

Chức năng của đánh giá được phân biệt dựa vào mục đích của đánh giá

Trang 14

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

1.1.5.1 Chức năng kiểm tra

Đây là chức năng cơ bản nhất thể hiện ở chỗ phát hiện được thực trạng

về kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh đề từ đó xác định được mức độ

đạt được và khả năng tiếp tục học tập của họ Đây cũng là phương tiện hữu hiệu đề kiểm tra hiệu quá hoạt động của giáo viên, của nhà trường, mọi cơ sở tham gia vào công tác giáo dục

1.1.5.3 Chức năng điều khiển

Nó là cơ sở điều khiển hữu hiệu trong giáo dục

Ngoài ra, các tác giả nghiên cứu đánh giá còn nêu ra các chức năng khác nhau:

- GS Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học:

chức năng sư phạm, chức năng xã hội, chức năng khoa học

- Theo GS TS Pham Hitu Tong, trong thực tiễn đạy học ở phổ thông thì chủ yếu quan tâm đến chức năng sư phạm, được chia nhỏ thành ba chức

năng: chức năng chuẩn đoán; chức năng chỉ đạo, định hướng hoạt động học; chức năng xác định thành tích học tập, hiệu quả dạy học

1.1.6 Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiếm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Vấn đề kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo có tác dụng khi

thực hiện các yêu câu sau:

Trang 15

1.1.6.1 Dam bao tinh khach quan trong qua trinh danh gia

- La su phan anh trung thuc két quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập

của học sinh so với yêu cầu chương trình quy định

- Nội dung kiểm tra phù hợp với yêu cầu chương trình quy định

- Tổ chức thi phải nghiêm minh

Đề đám bảo tính khách quan trong kiểm tra, đánh giá, từ khâu ra đề, tổ chức thi cho tới khâu cho điểm, xu hướng chung là tuỳ theo đặc trưng môn học mà lựa chọn hình thức thi thích hợp

1.1.6.2 Đảm bảo tính toàn diện

Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải

chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức

1.1.6.3 Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống

- Cần kiểm tra, đánh giá học sinh thường xuyên trong mỗi tiết học, sau mỗi phần kiến thức

- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống

1.1.6.4.Đảm bảo tính phát triển

- Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó

- Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong

học tập của học sinh

1.1.7 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra, đánh giá

- Xác định rõ mục đích kiểm tra, đánh gia

- Xác định rõ nội dung cụ thể của các kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra,

đánh giá, các tiêu chí cụ thé với từng mục tiêu dạy học với từng kiến thức, kĩ

năng đó đề làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu

- Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp với đặc điểm nội dung kiến thức, kĩ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục

đích cần kiểm tra

Trang 16

0w, Dat hoe Supham Ha VO 2 Khoa luén tot nghiép

(THI VA KIEM TRA)

Trả lời dài Trả lời ngắn

(Trắc nghiệm khách

quan)

| |

án

(MCQ)

(Mulitiple choice question)

Ugayén Shi Vga 16 K32 - SP Vat li

Trang 17

Ở đây ta chỉ di sâu vào nghiên cứu hình thức trắc nghiệm viết và được

chia thành hai loại:

Luan dé và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm tra khả năng học tập và cả hai đều là trắc nghiệm (test) Theo nghĩa Hán “trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” là suy xét, chứng thực Danh từ “luận đề” ở đây không chỉ giới hạn trong các bài “khoá luận” mà nó bao gồm các hình thức khác thông thường trong lối thi cử Chăng hạn như những câu hỏi lí thuyết những bài toán Các chuyên gia đo lường gọi chung các hình thức này là “trắc

nghiệm luận đề” (essay — Type test) cho thuận tiện để phân biệt với loại trắc

nghiệm gọi là “trắc nghiệm khách quan” (Objective test) Thực ra việc đùng danh từ “khách quan” dé phân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũg không đúng hẳn, vì trắc nghiệm luận đề không nhất thiết là trắc nghiệm chủ quan và trắc nghiệm khách quan không hoàn toàn là khách quan

Giữa luận đề và trắc nghiệm khách quan có một số khác biệt và tương

đồng, song, quan trọng là cả hai đều là những phương pháp quan sát thành quả học tập hữu hiệu và điều cần thiết miễn là ta nắm vững phương pháp soạn thảo và công dụng của mỗi loại

Với hình thức luận đề thường bộc lộ nhiều nhược điểm là không phản

ánh được toàn bộ nội dung chương trình, gây tâm lí học tủ và khi chấm bài

giáo viên còn nặng tính chủ quan Vì thế, để nâng cao tính khách quan trong kiểm tra, đánh giá nhiều tác giá cho rằng nên sử dụng trắc nghiệm khách quan thì góp phần vào khắc phục những hạn chế của hình thức kiểm tra, thi tự luận 1.2 Mục tiêu dạy học

Mục tiêu dạy học: là tuyên bố những gì học sinh phải hiểu rõ, phải nắm

vững, phải làm đươc sau bài học Mục tiêu dạy học cần được biết dưới góc độ

người học để nhắn mạnh kết qua cuối cùng của người học là ở phía học sinh chứ không phải ở phía giáo viên

Trang 18

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

- Mục tiêu thường được thể hiện bằng các động từ: phát biểu được, trình bày được, nói lại được

- Mục tiêu được trình bày theo năm tiêu chuẩn:

+ Cụ thê (chỉ rõ cái gì cần đạt được, tránh chung chung, mơ hồ)

+ Có thê đo được (lượng hóa được)

+ Phù hợp

+ Thực tế (khả thi, có khả năng thực hiện được)

+ Có thời hạn : thực hiện hoàn thành trong một khoảng thời gian xác định

- Mục tiêu dạy học là hệ thống các mục tiêu được sắp xếp thành ba lĩnh

1.2.1 Tam quan trọng của các mục tiêu dạy học

Việc xác định các mục tiêu dạy học có tầm đặc biệt quan trọng, nhằm:

- Có được phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học

- Có được lí tưởng rõ ràng về cái cần được kiểm tra, đánh giá khi kết thúc mỗi môn học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ

Trang 19

1.2.2 Cần phát biểu mục tiêu như thế nào?

Các câu phát biểu mục tiêu cần:

- Phải rõ ràng, cụ thể

- Phải đạt tới được trong quá trình học hay đơn vị học tập

- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học

- Phải quy định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng mà

người học sẽ có được khi họ đạt đến mục tiêu

- Phải đo lường được

- Phải chỉ rõ những gì người học có thê làm được vào cuối giai đoạn

học tập

1.2.3 Phân biệt các mục tiêu nhận thức

B.S Bloom đã xây dựng các cấp độ mục tiêu giáo dục, thường được gọi

là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các

mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất với sáu mức độ: Nhận biết

(knowledge); Théng hiéu (Comprehension); Ung dung(Application); Phan tich (Analysis); Tong hop ( Synthesis); Danh gia (Evaluation)

Với các bài học trong SGK chuẩn, mức độ nắm vững kiến thức chỉ giới

1.2.3.2 Thông hiểu (Comprehension)

Khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu như chuyên dịch kiến thức từ

mức độ trừu tượng này sang mức độ trừu tượng khác, từ hình thức ngôn ngữ

này sang hình thức ngôn ngữ khác (VD: từ câu chữ sang đồ thị, kí hiệu, công

Trang 20

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

thức ), kha nang giải thích tài liệu (nêu ý nghĩa, tư tưởng, các mối quan hệ )

Thường sử dụng các động từ như: giải thích, chuyên đổi, biến đổi, diễn

giải, đoán trước, ước tính, sắp xếp, tóm lược

1.2.3.3 Ung dung(Application)

Khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào tình huống nào đó, áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, định luật, công thức để giải

quyết một vấn đề trong học tập, trong thực tiễn

Thường sử dụng các động từ như: thay đối, trình diễn, bố sung, điều

chỉnh, áp dụng, giải quyết, dàn dựng, sử dụng, chỉ ra, vạch ra

Mức độ ứng dụng đôi khi cần phân biệt:

- Mức độ ứng dụng I: Giải được bài tập chỉ dựa vào một định luật, một nguyên lí, một công thức

- Mức độ ứng dụng 2: Giải được bài tập chỉ dựa vào hai định luật, hai

nguyên lí, hai công thức

1.3 Phương pháp và kỹ thuật soạn thảo các câu hỏi tự luận và

Các ưu điểm của kiểm tra viết:

- Cho phép kiểm tra nhiều học viên một lần

- Các câu trả lời của học viên được lưu lại trên giấy để chấm

- Cho phép học viên cân nhắc nhiều hơn với các câu trả lời của mình

Ugayén Shi Vga 20 X32 - $7) (0át tí

Trang 21

- Người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra

- Cho biết sự thé hiện kiến thức bền vững về các khái niệm cơ bản, các

định luật, hiện tượng

- Nó có thê mô tả, giải thích các quá trình, cơ cấu kỹ thuật, giải các bài

toán, thậm chí giải quyết các vấn đề lớn hơn

- Thể hiện được sự thông minh, sự độc đáo, độ nhanh nhay (thé hién

ra các kĩ năng và phâm chất của người học)

Các nhược điểm của kiểm tra viết:

- Do số vấn đề trong bài trắc nghiệm không nhiều, do đó khó đánh giá

kết quả học tập trong toàn bộ chương trình

- Người học dễ học thuộc, dễ quay cóp

- Việc chấm phụ thuộc vào người đặt ra tiêu chí (thang điểm) và chủ

quan của người chấm

1.3.1.2 Lựa chọn nội dung cho bài tự luận

1.3.1.2.1 Dựa vào mục tiêu học tập

1.3.1.2.2 Quan tâm đến những kiến thức quan trọng nhất (cơ bản nhá)

Để tìm kiến thức cơ bản nhất ta phải làm theo các bước sau:

- Bước 1: Chia nội dung giảng dạy (phần dự định đánh giá) thành các suất nhỏ nhất (menu) — gọi là các nguyên tố kiến thức

- Bước 2: Phân tích toàn bộ phần định kiểm tra, phân tích cả chương chứa bài đó, thậm chí phân tích toàn bộ SGK (toàn giáo trình) và nhiều khi phải phân tích toàn bộ chương trình đẻ thấy “tần suất” sử dụng nguyên tố đó

- Bước 3: Tập trung chú ý vào các nguyên tố quan trọng nhất Tầm quan trọng của một nguyên tố được xác định bằng các yếu tố sau:

+ “Tần suất” xuất hiện của nó trong phần dự định đánh giá

+ “ Tần suất” lặp lại của nó trong phần dự định kiểm tra

+ “Tần suất” lặp lại của nó trong toàn bộ SGK hay chương trình

Trang 22

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

+ Tầm quan trọng của đối tượng chứa nguyên tố đó

1.3.1.2.3 Một bài kiểm tra tự luận phải chứa đựng các tính chất sau:

- Tính thực chất (liên quan đến khái niệm giá trị)

- Độ tin cậy

- Tính thông minh

- Có khả năng dự đoán (dự báo, chân đoán )

- Khả năng phân biệt hóa (phân biệt được học sinh giỏi, khá, trung

bình, yếu), có các câu chứa đựng các năng lực khác nhau

1.3.1.3 Chấm

- Phải cho trọng số trong từng điểm trình bày (trọng số - hệ số) VD:

bài 15 phút là hệ số 1; 1 tiết hệ số 2

- Tránh thiên lệch cá nhân khi chấm điểm

- Phải tránh “hiệu ứng hào quang”

- Không nhìn tên người học trong khi chấm

- Chấm điểm cùng 1 câu cho tất cả các bài, vì cho phép so sánh từng

câu trả lời với nhau, tránh được sự thay đổi mang tính hệ thống mà ta khó

nhận thấy khi chấm bài đầu tiên và bài cuối Nhờ đó, làm tăng độ tin cậy khi

chấm

- Sự cần thiết của việc phân loại điểm số một cách khách quan: chấm bài tự luận chứa đựng rất nhiều độ thiếu tin cậy: các giáo viên khác nhau chấm cùng một bài sẽ cho điểm khác nhau; cùng một giáo viên có thể chấm

một bài tại các thời điểm khác nhau sẽ cham điểm khác nhau

Do đó: nên cho điểm tổng quát hơn, rộng hơn, trong đó không có sự cô gắng phân biệt tỉ mỉ các câu

VD: hàng ngày cho điểm tốt - khá — đạt - kém hoặc A - B ~ C— D 1.3.1.4 Phân tích các yếu tố kiến thức của một bài tự luận

Ugayén Shi Vga 2 X32 - $7) (0át tí

Trang 23

- Giúp giáo viên và học sinh thu hồi được thông tin để điều chỉnh giáng

dạy và học tập

- Khi phân tích các yếu tô kiến thức thường dựa vào bảng phân loại

mục tiêu (bảng Bloom)

Ngoài ra, còn dựa vào bảng mục tiêu của Conklin - Stiggrins:

- Nhận biết và hiểu đơn giản

- Hiểu sâu và lập luận

Bài trắc nghiệm được gọi là khách quan vì hệ thống cho điểm là khách

quan, chứ không chủ quan như bài tự luận (nội dung của bài trắc nghiệm khách quan cũng có phần chủ quan, theo nghĩa là nó đại diện cho sự phán xét

của một người nào đó về bài trắc nghiệm khách quan)

Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:

- Được gọi là khách quan vì việc chấm không phụ thuộc vào người cham

- Kết quả phản ánh kiến thức về toàn bộ chương trình

- Người học phải hiểu và nhớ kiến thức cơ bản, quan trọng, nhanh chóng tìm được câu trả lời đúng

- Người học phải có năng lực thực hành cao, phải linh hoạt, quyết đoán

- Có thê ra nhiều đề tương đương khác nhau (tránh quay cóp)

- Đỡ mất thời gian, công sức chấm (rất kinh tế)

1.3.2.2 Các hình thức trắc nghiệm khách quan

Trang 24

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

1.3.2.2.1 Câu hói nhiều lựa chọn (MCQ)_ Là loại thông dụng nhất Câu trả

lời đúng cho từng câu hỏi của bài trắc nghiệm được chọn thành nhiều phương

án lựa chọn (thông thường là 4 hoặc 5)

Câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm hai phần: Phần "gốc" và phần "lựa

chọn"

Để soạn thảo loại câu hỏi này chúng ta cần dựa vào các nguyên tắc sau:

- Câu tiền đề có rõ ràng, trực tiếp và đơn giản không?

- Câu tiền đề này có phản ánh đầy đủ các vấn đề không?

- Câu tiền đề có đúng thực không?

- Chỉ có một câu trả lời đúng đuy nhất không?

- Các câu lựa chọn có tương đương về cấu trúc ngữ pháp, độ dài và độ khó không?

- Có tránh được dấu hiệu trả lời không?

- Các câu lựa chọn có đặt đúng trật tự logic không?

- Các trả lời đúng có được đải đều trong tất cả các câu lựa chọn không?

- Ưu điểm:

+ Độ tin cậy cao hơn

+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi

+ Tính chất giá trị tốt hơn

+ Có thé phân tích tính chất "mỗi" câu hỏi

+ Tính khách quan khi chấm

- Khuyết điểm:

+ Khó soạn câu hỏi

+ Thí sinh nào óc sáng tạo có thể tìm ra câu trả lời hay phương án đã cho học sinh có thể sẽ không thoả mãn

Ugayén Shi Vga 24 X32 - $7) (0át tí

Trang 25

+ Các câu TNKQNLC có thể không đo được khả năng phán đoán tính

vi và khả năng giải quyết vẫn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi tự luận soạn kĩ

+ Tốn nhiều giấy đề in loại câu hỏi này hơn loại câu hỏi khác

Khi soạn thảo loại câu hỏi này, chúng ta phải chú ý đến một vài điểm sau:

- Thường hiện nay ta dùng 4 hoặc 5 lựa chọn, trong đó một lựa chọn là

đúng hoặc phù hợp nhất

+ Nên sử dụng câu đúng vì: là câu hỏi trực tiếp nên dễ viết hơn, vấn đề

được nêu hoàn chỉnh, rõ ràng hơn, quen thuộc với học sinh, tránh phải thay

đối về mặt ngữ pháp của mỗi câu lựa chọn cho phù hợp với câu hỏi đầu tiên

(Rất phù hợp cho học sinh lớp 7, lớp 8 và đầu cấp 3)

+ Sử dụng câu phù hợp nhất: Cho phép phân biệt rõ hơn và đánh giá rất

hiệu quả khả năng hiểu bài của học sinh Đối với loại câu này, các câu lựa

chọn đều đúng về mặt nguyên tắc nhưng bao giờ cũng có một câu trả lời phù hợp hơn cả

VD: Nhiệt chỉ truyền từ vật I sang vật 2 khi:

A Nhiệt độ của vật l cao hơn vật 2

B Động năng của vật l cao hơn vật 2

C Nội nang cua vat | cao hon vat 2

Đáp án C là tông quát, phù hợp nhất

- Viết câu tiền đề là một câu hỏi hoặc một yêu cầu phải rất rõ ràng: Câu tiền đề phải có nghĩa, ngắn gọn, rõ ràng, nếu chỉ có nghĩa khi đặt các câu lựa chọn thì không đạt yêu cầu, do đó càng nhiều thông tin càng tốt ở câu này, nhưng tránh dài dòng

VD: Câu kém: “Giá trị đề cập tới:

A Sự nhất quán của các điểm kiểm tra

Trang 26

Sruibug Pat hoe Su pham 2v (22/2 Khoa luén tot nghiép

B Kết luận có được trên cơ sở các điểm kiểm tra

C Lỗi chấm điểm được xác định do sai lệch tiêu chuẩn

D Sự ồn định của các kết quả kiểm tra

Sửa lại: Kết luận dựa trên cơ sở các kết quả kiểm tra đề cập tới:

bài cần tốn hơn, trừ trường hợp ngoại lệ: trường hợp không làm gì đó là quan

trọng như biết luật lệ giao thông khi lái xe, các nguyên tắc sử dụng trang thiết

bị cháy, nổ, điện

- Viết câu trả lời đúng phải không có đầu mối Nếu có sự khác biệt giữa

câu đúng và câu nhiễu thì học sinh dựa vào một 36 yéu tố để phát hiện ra mà

không cần sử dụng kiến thức Các lỗi thường thấy là: câu trả lời đúng thường

dài hơn, phức tạp hơn, chỉ tiết hơn, chặt chẽ hơn, chung chung hơn

Sử dụng các thuật ngữ: “ Thường một số ”

- Viết câu đánh lạc hướng có vẻ hợp lý nhưng rõ ràng là sai Mục đích

của câu hỏi chọn câu trả lời đúng là bắt buộc học sinh phân biệt giữa các câu

trả lời có thể đúng

+ Các lựa chọn này nên có độ đúng nhất định để đánh giá những học

sinh không chuân bị kĩ bài

+ Tránh các từ hạn định: luôn luôn, không bao giờ, có ý ngược lại

Trang 27

+ Tốt nhất là xác định những hiểu lầm hay những lỗi chung học sinh hay mắc phái, sau đó viết các câu lựa chọn có vẻ lôi cuốn những học sinh lầm tưởng

- Tránh sử dụng các câu như: tất cả những từ ở trên, tất cả những câu ở trên, không có từ nào ở trên, không có câu nào ở trên, A và C nhưng không có B

Lí do:

+ “Tất cả”: là câu trả lời đúng chỉ khi hai lựa chọn là đúng, một số học

sinh có thể lựa chọn câu đầu tiên là đúng mà không cần đọc các câu khác + Chỉ khi học sinh cần biết những gì là không đúng thì các từ “không từ nào”; “ không câu nào” mới phù hợp

- Sử dụng chữ cái của của câu trả lời đúng có cùng số lần: Nếu có bốn

lựa chọn thì khoảng 25% các câu hỏi nên có chữ cái của câu trả lời đúng

giống nhau ( 5 lựa chọn thì 20%) Tránh một mẫu thức giúp học sinh đoán

- Loại MCQ sử dụng rất tốt với các mục đích xác đích: đánh giá khả

năng nhớ, khả năng hiểu và khả năng áp dụng Trong đó khả năng áp dụng là

khó khăn nhất

Gợi ý: đưa vào các tình huống trước đây học sinh chưa gặp phải Đưa

ra một vấn đề hư cấu có thể giúp giải quyết được bằng cách áp dụng kiến thức, quy trình phù hợp

1.3.2.2.2 Trắc nghiệm đúng — sai

Là loại hình đặc biệt của loại câu MCQ nhưng chỉ có hai lựa chọn, loại này được trình bày dưới đạng một phát biều và học sinh phải trả lời bằng cách chon dung (DB) hoặc sai (S)

- Ưu điểm: Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về những

sự kiện Nó giúp cho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn trong khoảng

Ngày đăng: 24/09/2014, 20:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w