Hoạt động khai thác Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long trong giai đoạn 2003-2007
Trang 11.1 LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT 3
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khai thác bảo hiểm 23
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG
Trang 22.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG
2.2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG (2003-
2.2.1 Vài nét thị trường bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt trong thời
2.2.2 Khái quát về tình hình Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI
2.2.3 Thực trạng khai thác nghiệp vụ Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt
2.2.3.4 Đánh giá chung về hoạt động khai thác bảo hiểm Cháy và các
CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT LÀM TĂNG HIỆU QUẢ KHAI
THÁC HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG 61
3.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT CỦA CÔNG TY BẢO
Trang 33.1.3.2 Đối với Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long 643.2 PHƯƠNG HƯỚNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI
PHỤ LỤC 1 (Hợp đồng Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt) iv
Trang 4DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Bảng 2.1: Doanh thu từ các nghiệp vụ bảo hiểm của PVI Thăng Long
Bảng 2.3: Tình hình thực hiện kế hoạch khai thác bảo hiểm Cháy và các
Bảng 2.4: STBH bình quân một hợp đồng bảo hiểm Cháy và các RRĐB
Bảng 2.5: Chi phí khai thác bảo hiểm Cháy và các RRĐB của PVI Thăng
Bảng 2.6: Hiệu quả khai thác bảo hiểm Cháy và các RR ĐB tại PVI
Trang 6Lời mở đầu
Từ xa xưa, tổ tiên chúng ta đã hiểu rõ tầm quan trọng của lửa, lửa dùng
để nấu chín thức ăn, để sưởi ấm khi trời trở lạnh… để làm rất nhiều công việckhác phục vụ trong sinh hoạt và dường như lửa là người bạn rất nồng ấm củacon người chúng ta
Tuy nhiên khi lửa vượt ra khỏi khả năng kiểm soát của con người, lửakhông còn vẻ thân thiện vồn có của nó nữa, nó sẽ gây ra những vụ cháy lớn,những vụ thảm họa ngoài sức tương tượng của chúng ta Mặc dù có rất nhiềubiện pháp Phòng cháy chữa cháy (PCCC) Nhưng hàng năm vẫn xảy ra trên10.000 vụ cháy, làm thiệt hại hàng nghìn các khu dân cư, các cơ sở sản xuấtkinh doanh Làm bao nhiêu người lâm vào cảnh lầm than, mất nhà, mất ngườithân
Không chỉ có Cháy, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta còn luônphải đương đầu với rất nhiều những nguy cơ tiềm ẩn gây hại khác cho conngười, như thảm họa sóng thần tại Ấn Độ Dương cuối năm 2004, khiến232.000 nạn nhân thiệt mạng và mất tích Ngoài ra, còn rất nhiều đợt bão, lũthường xuyên càn quét nước ra vào những tháng mùa mưa làm cho nhân dân tađiêu đứng
Để bù đắp cho những mất mát đó Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt(RRĐB) đã ra đời Tuy không thể bù đắp được những sự mất mát về tinh thần,nhưng nó sẽ phần nào giúp ta vực dậy được để lấy lại được những gì đã mất
Nhận thức được ý nghĩa to lớn của Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt.Trong thời gian thực tập tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long – mộttrong những doanh nghiệp bảo hiểm có triển khai Bảo hiểm Cháy và các rủi ro
Trang 7đặc biệt, tôi đã nghiên cứu về loại hình bảo hiểm này với đề tài: “Hoạt động khai thác Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long trong giai đoạn 2003-2007”
Nội dung của chuyên đề bao gồm 3 phần:
Chương I: Lý thuyết cơ bản về Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt
& hoạt động khai thác bảo hiểm.
Chương II: Hoạt động khai thác Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long (giai đoạn 2003-2007).
Chương III: Một số đề xuất làm tăng hiệu quả khai thác bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt của Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long.
Em xin chân thành cảm ơn cô Tôn Thị Thanh Huyền đã hướng dẫn emhoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này!
Trang 8CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT & HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM
1.1 LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1.1.1 Sự cần thiết của Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Cháy, theo luật Phòng cháy chữa cháy, Cháy được hiểu là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể
gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường
Khi Cháy xảy ra thì thường để lại những hậu quả rất nặng nề cho chúng
ta Theo con số thống kê, trong 5 năm từ năm 2002 đến năm 2006, trên cả nước
ta xảy ra 12.934 vụ cháy, trong đó 8.271 vụ cháy ở các khu dân cư và cơ sở (cơ
sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, trụ sở cơ quan ) và 4.663 vụ cháy rừng; làmchết và bị thương 1.468 người, thiêu hủy tài sản trị giá 1.548 tỷ đồng và33.273ha rừng các loại Trong đó, có 83 vụ cháy lớn, gây thiệt hại 841,6 tỷđồng Trung bình mỗi năm xảy ra 2.587 vụ cháy, làm chết và bị thương 293người, thiệt hại về tài sản trị giá 310 tỷ đồng và 6.655 ha rừng các loại
Trung bình mỗi ngày, cả nước xảy ra 7 vụ cháy, làm chết hoặc bị thương
1 người, thiệt hại về tài sản tính thành tiền là 1,4 tỷ đồng và trên 18 ha rừng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra các vụ cháy Trước hết phải kể đếnnguyên nhân do chập điện, đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra cháy Theo
Trang 9thống kê từ Phòng Cảnh sát PCCC Công an Hà Nội, từ tháng một đến thángnăm năm 2007, cả thành phố đã xảy ra gần 80 vụ cháy, trong đó các vụ cháy dochập điện chiếm 80%, khiến 8 người bị thương, thiệt hại về tải sản trên 2,6 tỷ.
Nguyên nhân thứ hai, đó là do nổ gas Gas vốn là nhiên liệu dạng khí,được “hoá lỏng” để dễ lưu trữ, sang chiết và sử dụng Ở thể lỏng, gas vẫn luôn
có xu thế hoá hơi, dễ rò và rất dễ cháy nổ Theo thống kê của Phòng cảnh sátPCCC - Công an Hà Nội thì trên địa bàn Thành phố Hà Nội, mỗi năm trungbình xảy ra khoảng 15 vụ cháy nổ do gas, gây hậu quả nghiêm trọng về người
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổphần ngày càng nhiều, theo đó sự tự chủ của các doanh nghiệp cũng ngày mộtcao Họ tự tìm lối đi cho mình và cũng rất cần có một sự bảo đảm cho chínhbản thân doanh nghiệp họ Bởi trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn tiềm
ẩn nhiều nguy cơ đe dọa, như: cháy, bão lũ, đình công, nổi loạn… Đối với các
cá nhân, các hộ gia đình, trong cuộc sống hàng ngày của họ cung luôn phải tiếpxúc với các nguồn rủi ro khác nhau, như: nổ gas, chập điện… Bên cạnh việc
Trang 10thiết lập hệ thống an ninh bảo vệ, phòng cháy chữa cháy, một Đơn bảo hiểmCháy và các rủi ro đặc biệt có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội, bản thândoanh nghiệp, các cá nhân và hộ gia đình.
Bảo hiểm cháy đã ra đời từ rất lâu Lịch sử ra đời của loại hình bảo hiểmnày được bắt nguồn từ một vụ cháy lớn ở thành phố LonDon cổ vào năm 1666,
vụ cháy đã thiêu trụi 13.000 dãy nhà và 87 nhà thờ của thành phố này Khi mới
ra đời, các công ty bảo hiểm chỉ đảm bảo cho hậu quả của sự cố “hoả hoạn” gọi
là bảo hiểm cháy đơn thuần
Trước nhu cầu của nhiều khách hàng muốn được bảo hiểm chống lại cácrủi ro đặc biệt, có mức độ tổn thất tương tự hoả hoạn với giá phí thấp và thểthức đơn giản, các công ty bảo hiểm đã phải thiết kế các bản Hợp đồng bảohiểm (HĐBH) phối hợp giữa rủi ro hoả hoạn và các rủi ro khác như: đa rủi ronhà ở, đa rủi ro doanh nghiệp hoặc tổ chức nghề nghiệp Do đó Bảo hiểmcháy dần dần đã được kết hợp thêm bảo hiểm cho các rủi ro đặc biệt
Ở Việt Nam, Nghiệp vụ bảo hiểm cháy được triển khai từ cuối năm
1989 Ngày nay đã có rât nhiều doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh sản phẩmbảo hiểm cháy và còn mở rộng thêm phạm vi bảo hiểm là các rủi ro đặc biệtcho thuận tiện trong việc tham gia bảo hiểm và bảo bảo an toàn cho mọi người.Những năm gần đây, doanh thu phí bảo hiểm từ nghiệp vụ này tăng lên khôngngừng Năm 2003, Bảo hiểm cháy toàn thị trường năm 2003 đạt 265,7 tỷ đồng.Năm 2004, Bảo hiểm cháy nổ: Đạt doanh thu 412 tỷ tăng 87,7% so với 2003.Đến sáu tháng đầu năm 2007, doanh thu phí bảo hiểm cháy và các rủi ro đặcbiệt đã đạt gần 418 tỷ đồng
Ngày 24/04/2007 thấy rõ sự cần thiết của Bảo hiểm cháy và các rủi rođặc biệt, Bộ tài chính đã ban hành quyết định 28/2007/QĐ-BTC, trong đó quy
Trang 11định nêu rõ biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, quyết định này có hiệu lực từngày 28/07/2007 Từ năm 2008 trở đi, khi các đối tượng có nguy hiểm về cháy
nổ sẽ được công khai minh bạch, được cấp Giấy chứng nhận an toàn về phòngcháy chữa cháy và đối tượng sử dụng ngân sách Nhà nước được cấp kinh phímua bảo hiểm, thì doanh thu phí bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt sẽ tăngnhiều, và sẽ đóng góp đáng kể vào sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam
1.1.2 Nội dung cơ bản của Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt
1.1.2.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý hợppháp của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức và cá nhân thuộcmọi thành phần kinh tế trong xã hội Đối tượng này được chia ra theo các nhómnhư sau:
- Công trình xây dựng, kiến trúc đã đưa vào sử dụng (trừ đất đai)
- Các máy móc, thiết bị, phương tiện lao động phục vụ cho hoạt độngsản xuất kinh doanh
- Vật tư, hàng hóa dự trữ trong kho
- Nguyên, vật liệu, làm dở thành phẩm và thành phẩm trên dây chuyềnsản xuất
- Các loại tài sản khác như: kho, bãi, nhà hàng khách sạn…
Theo nghị định 35/2003/NĐ-CP, danh mục cơ sở có nguy hiểm về cháy,
nổ tại phụ lục 1 là những đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm Cháy nổ
Trang 121 Cơ sở sản xuất vật liệu nổ, cơ sở khai thác, chế biến dầu mỏ và sảnphẩm dầu mỏ, khí đốt; cơ sở sản xuất, chế biến hàng hoá khác cháy được cókhối tích từ 5.000 m3 trở lên.
2 Kho vật liệu nổ, kho dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, kho khí đốt hoálỏng; cảng xuất nhập vật liệu nổ, cảng xuất nhập dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ,cảng xuất nhập khí đốt hoá lỏng
3 Cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí đốt hoá lỏng
4 Nhà máy điện; trạm biến áp từ 110 KV trở lên
5 Chợ kiên cố, bán kiên cố thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của ủyban nhân dân cấp huyện trở lên; các chợ kiên cố, bán kiên cố khác, trung tâmthương mại, siêu thị, cửa hàng bách hoá có tổng diện tích các gian hàng từ300m2 trở lên hoặc có khối tích từ 1.000 m3 trở lên
6 Nhà ở tập thể, nhà chung cư, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ cao từ 5tầng trở lên hoặc có khối tích từ 5.000 m3 trở lên
7 Bệnh viện tỉnh, bộ, ngành; các cơ sở y tế khám chữa bệnh khác có từ
50 giường trở lên
8 Rạp hát, rạp chiếu phim, hội trường, nhà văn hoá, nhà thi đấu thể thaotrong nhà có thiết kế từ 200 chỗ ngồi trở lên, vũ trường, câu lạc bộ trong nhà,
cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí và phục vụ công cộng khác trong nhà có diện tích
từ 200 m2 trở lên; sân vận động 5.000 chỗ ngồi trở lên
9 Nhà ga, cảng hàng không; cảng biển, cảng sông, bến tàu thuỷ, bến xekhách cấp tỉnh trở lên; bãi đỗ có 200 xe ôtô trở lên; nhà ga hành khách đườngsắt loại 1, loại 2 và loại 3; ga hàng hoá đường sắt loại 1 và loại 2
Trang 1310 Cơ sở lưu trữ, thư viện, bảo tàng, di tích lịch sử, nhà hội chợ, triển
lãm thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thànhphố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
11 Cơ sở phát thanh, truyền hình, cơ sở bưu chính viễn thông cấp tỉnh trở lên
12 Trung tâm chỉ huy, điều độ, điều hành, điều khiển với quy mô khuvực và quốc gia thuộc mọi lĩnh vực
13 Kho hàng hoá, vật tư cháy được hoặc hàng hoá vật tư không cháyđựng trong các bao bì cháy được có khối tích từ 5.000 m3 trở lên; bãi hàng hoá,vật tư cháy được có diện tích từ 500 m2 trở lên
14 Trụ sở cơ quan, văn phòng làm việc, cơ sở nghiên cứu từ 6 tầng trởlên hoặc có khối tích từ 25.000 m3 trở lên
15 Hầm mỏ khai thác than và các khoáng sản khác cháy được; côngtrình giao thông ngầm có chiều dài từ 400 m trở lên; công trình trong hang hầmtrong hoạt động có sản xuất, bảo quản, sử dụng chất cháy, nổ và có khối tích từ 1.000 m3 trở lên
16 Cơ sở và công trình có hạng mục hay bộ phận chính nếu xẩy ra cháy
nổ ở đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ cơ sở, công trình hoặc có tổngdiện tích hay khối tích của hạng mục, bộ phận chiếm từ 25% tổng diện tích trởlên hoặc khối tích của toàn bộ cơ sở, công trình mà các hạng mục hay bộ phận
đó trong quá trình hoạt động thường xuyên có số lượng chất nguy hiểm cháy,
nổ thuộc một trong các trường hợp sau đây :
a) Khí cháy với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5%thể tích không khí trong phòng trở lên hoặc có từ 70 kg khí cháy trở lên;
Trang 14b) Chất lỏng có nhiệt độ bùng cháy đến 610C với khối lượng có thể tạothành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khí trong phòng trở lên hoặccác chất lỏng cháy khác có nhiệt độ bùng cháy cao hơn 610C với khối lượng từ1.000 lít trở lên;
c) Bụi hay xơ cháy được có giới hạn nổ dưới bằng hoặc nhỏ hơn 65 g/m3
với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khítrong phòng trở lên; các chất rắn, hàng hoá, vật tư là chất rắn cháy được vớikhối lượng trung bình từ 100 kg trên một mét vuông sàn trở lên;
d) Các chất có thể cháy, nổ hoặc sinh ra chất cháy, nổ khi tác dụng vớinhau với tổng khối lượng từ 1.000 kg trở lên;
đ) Các chất có thể cháy, nổ hoặc sinh ra chất cháy, nổ khi tác dụng vớinước hay với ôxy trong không khí với khối lượng từ 500 kg trở lên
Đối tượng bảo hiểm trên thường được tham gia bảo hiểm theo các đơn vịrủi ro Theo Quyết định số 909/ QĐ- PVI ngày 01 tháng 10 năm 2007 của Tổng
giám đốc Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam, Đơn vị rủi ro: Là
nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác với khoảng cách không cho phéplửa từ nhóm này lan sang nhóm khác, tuy nhiên khoảng cách gần nhất khôngdưới 12 mét
1.1.2.2 Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn những rủi ro được bảo hiểm và giới hạntrách nhiệm của nhà bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm Trong bảohiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt, Công ty bảo hiểm có trách nhiệm bồi thườngcho những thiệt hại và những chi phí sau:
Trang 15Những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho tài sản đượcbảo hiểm ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.
Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản được bảo hiểmtrong và sau khi cháy
Chi phí thu dọn hiện trường sau khi cháy
a Rủi ro được bảo hiểm
Các rủi ro được bảo hiểm bao gồm Các rủi ro chính và các rủi ro đặcbiệt
Rủi ro chính: thực chất là những rủi ro : Cháy, sét và nổ.
Rủi ro “cháy” sẽ được bảo hiểm nếu hộ tụ đủ ba yếu tố: Phải thực sự
có phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên dùng, lửa đó phải là lửa bất ngờhay ngẫu nhiên phát ra Khi có đủ 3 yếu tố đó và có thiệt hại về vật chất, nhữngthiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù đó là do bị cháy, do nhiệt hay do khóigây nên
Sét: Với rủi ro này, Người được bảo hiểm sẽ được bồi thương khi tàisản bị phá hủy trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây cháy Nếu sét đánh màkhông phát lửa hoặc không pha hủy trực tiếp tài sản thì không thuộc tráchnhiệm bồi thường của Công ty bảo hiểm Ví dụ: Khi sét đánh làm phá hủy trựctiếp các thiết bị điện tử thì sẽ được bối thường, còn nếu sét đánh làm thay đổidòng điện dẫn đến thiệt hại cho thiết bị điện tử thì sẽ không được bồi thường
Nổ: nổ do những nguyên nhân sau thì Người được bảo hiểm sẽ đượcbồi thường
+ Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt như: nồi áp suất,
+ Nổ hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hoặc sưởi ấm trong một ngôinhà (không phải nhà xưởng) làm các công việc sử dụng hơi đốt, ví dụnhư: Nổ khí gas,…
Trang 16+ Bất kỳ thiệt hại nào do nổ gây ra cháy.
Các rủi ro đặc biệt
Bên cạnh các rủi ro chính là cháy, sét và nổ, còn có các rủi ro đặc biệt cóthể được bảo hiểm nếu Người được bảo hiểm yêu cầu và đồng ý nộp phí bảohiểm tăng lên Các rủi ro đặc biệt bao gồm: Nổi loạn, đình công, bạo loạn dân
sự, động đất, hệ thống chữa cháy rò rỉ nước, giông bão, máy bay và các phươngtiện hàng không khác rơi vào,…
b Rủi ro loại trừ
Mặc dù loại bảo hiểm này có bao gồm cả một số rủi ro đặc biệt, tuynhiên cũng như các loại bảo hiểm khác, bảo hiểm Cháy và các RRĐB cũng cónhững loại rủi ro không thể bảo hiểm được Đó là những rủi ro sau:
Tổn thất do hành động cố ý hay đồng lõa của người được bảo hiểmgây ra
Những tổn thất về:
+ Hàng hóa nhận uỷ thác hay ký gửi trừ khi những hàng hóa đó được xácnhận trong Giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và Người được bảohiểm trả thêm phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí quy định
+ Tiền bạc, kim loại quý, đá quý, chứng khoản, thư bảo lãnh, tem phiếu,tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử,bản mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế, trừ khi những hạngmục này được xác nhận trong giấy chứng nhận là được bảo hiểm
+ Chất nổ nhưng không bao gồm nhiên liệu, xăng, dầu
+ Người, động vật và thực vật sống
Trang 17+ Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theođơn bảo hiểm hàng hải hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải,trừ phần thiệt hại vượt quá số tiền được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hảihoặc lẽ ra được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải và dù có hay không cóbảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt.
+ Tài sản bị cướp hay bị mất cắp
+ Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào trừthiệt hại về tiền thuê nhà nếu tiền thuê nhà được xác nhận trong Giấy chứngnhận bảo hiểm là được bảo hiểm
+ Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba
+ Những thiệt hại trong phạm vi mức miễn thường
Bất kỳ tổn thất nào (dù là tổn thất trực tiếp hay chi phí có liên quanhay tổn thất có tính chất hậu quả) trực tiếp hay gián tiếp mà nguyên nhân gây ra
1.1.2.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
a Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm (GTBH) là giá trị thực tế hoặc giá trị mua mới của tàisản được bảo hiểm Có nghĩa là đối với các tài sản mới mua chưa qua sử dụng,thì GTBH của tài sản đó chính là giá trị mua mới của tài sản đó trên thị trường
Trang 18Còn đối với các tài sản đã đi vào sử dụng thì GTBH của nó được tính bằng giátrị thực tế hay giá trị còn lại của tài sản đó tại thời điểm tham gia bảo hiểm
Giá trị thực tế = Giá trị mua mới (Nguyên giá) – Hao mòn
Những tài sản tham gia loại bảo hiểm này thường có giá trị rất lớn, như:các công trình lớn, nhà cửa, nhà máy, xí nghiệp, phương tiện vận tải, hàng hóatrong kho…
Đối với các công trình xây dựng (nhà máy, xí nghiệp, nhà ở, văn phòng),Giá trị mua mới là giá trị mới xây của công trình bao gồm cả chi phí khảo sátthiết kế
Đối với máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác: giá trị muamới của tài sản loại này bao gồm cả chi phí vận chuyển và chi phí lắp đặt (nếucó)
GTBH của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định trên cơ sở giáthành sản xuất
GTBH của hàng hóa mua về để trong kho, cửa hàng được xác định theogiá mua cộng với chi phí vận chuyển
b Số tiền bảo hiểm (STBH)
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của Nhà bảo hiểm trongtrường hợp tài sản được bảo hiểm gặp phải rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm và bịtổn thất toàn bộ STBH cũng là căn cứ để xác định chính xác phí bảo hiểm Do
đó, xác định chính xác STBH có nghĩa đặc biệt quan trọng Trên cơ sở kiểm trađối tượng bảo hiểm của Người được bảo hiểm và các giấy tờ sổ sách có liênquan, Công ty bảo hiểm và Người được bảo hiểm thỏa thuận STBH của tài sản
Trang 19Đối với các tài sản cố định, việc xác định STBH căn cứ vào GTBH củatài sản Đối với các tài sản lưu động, giá trị thường xuyên biến động thì có thểbảo hiểm theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa (còn gọi là giá trị điềuchỉnh).
Bảo hiểm theo giá trị trung bình:
Người được bảo hiểm ước tính và thông báo cho công ty bảo hiểm giá trịcủa số hàng hóa trung bình có trong kho, trong cửa hàng… trong thời hạn bảohiểm Giá trị trung bình này được coi là STBH Phí bảo hiểm được tính trên cơ
sở giá trị trung bình khi tổn thất xảy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm, hoặc công
ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trung bình
đã khai báo
Bảo hiểm theo giá trị tối đa (hay còn gọi là giá trị điều chỉnh)
Người được bảo hiểm ước tính và thông báo cho công ty bảo hiểm giá trịcủa số hàng hóa tối đa vào một thời điểm nào đó trong thời hạn bảo hiểm Phíbảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa này nhưng chỉ thu trước 75% Khitổn thất xảy ra thuộc trách nhiệm bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽ bồi thườngthiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị tối đa đã khai báo
Đầu mỗi tháng hoặc mỗi quý (tuỳ hai bên thỏa thuận), Người được bảohiểm thông báo cho công ty bảo hiểm số hàng tối đa thực có trong tháng (trongquý) trước đó
Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ sở các giá trị được thông báo công tybảo hiểm tính giá trị số hàng tối đa bình quân của cả thời hạn bảo hiểm và tínhlại phí bảo hiểm trên cơ sở giá trị tối đa bình quân này
Trang 20Nếu số phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa bình quân nhiềuhơn số phí bảo hiểm đã nộp, thì Người được bảo hiểm trả thêm cho công ty bảohiểm số phí còn thiếu Ngược lại, nếu số phí bảo hiểm đã nộp nhiều hơn số phíbảo hiểm tính được trên cơ sở giá trị tối đa bình quân thì công ty bảo hiểm hoàntrả số chênh lệch cho Người được bảo hiểm Tuy nhiên, số phí bảo hiểm chínhthức phải nộp không được thấp hơn 2/3 số phí bảo hiểm đã nộp đầu năm.
Nếu trong thời hạn bảo hiểm đã có tổn thất được công ty bảo hiểm bồithường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân tính được thì phíbảo hiểm được tính trên cơ sở số tiền bồi thường đã trả (trong trường hợp này,
số tiền được bồi thường coi như STBH) Công ty bảo hiểm có quyền yêu cầuNgười được bảo hiểm xuất trình sổ sách kế toán để kiểm tra số liệu được thôngbáo
Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp đòi hỏi công ty bảohiểm phải biết giá trị hàng hóa được bảo hiểm, theo dõi chặt chẽ số hàng hóa
đó trong suốt thời gian bảo hiểm Những tài sản lớn công ty bảo hiểm khó cóthể tái bảo hiểm được vì tính phí phức tạp và khó khăn Ngược lại, bảo hiểmtheo giá trị trung bình lại đơn giản, dễ theo dõi Đối với các loại hàng hóa cógiá trị ít biến động trên thị trường thì áp dụng phương pháp này rất thuận tiện
1.1.2.4 Phí Bảo hiểm
Phí bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt được tính theo tỷ lệ phí và sốtiền bảo hiểm:
P = Sb x R
Trong đó: P là Phí bảo hiểm,
Sb là Số tiền bảo hiểm,
Trang 21R là Tỷ lệ phí bảo hiểm.
Đối tượng bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt rất đa dạng về chủng loại
và mức độ rủi ro Một ngôi nhà ở giữa một vùng đất trống và một ngôi nhà ởcạnh là cây xăng thì không thể có cùng một mức phí bảo hiểm như nhau Bởivậy tỷ lệ phí sẽ được quy định riêng cho từng loại rủi ro hay được tính theotừng loại đối tượng và ngành nghề kinh doanh
Tỷ lệ phí bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt thường chia làm 2 phần:
Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần: xác định theo phân loại vàtheo danh mục
Xác định Tỷ lệ phí thuần theo phân loại.
Theo phương pháp này, các đơn vị rủi ro có thể so sánh được sẽ được kếthợp lại với nhau Các tiêu chí dùng để so sánh mức độ rủi ro của các đơn vị rủi
ro này là:
Vật liệu xây dựng bằng gì?
Khả năng phòng cháy, chữa cháy
Những vật hay công trình bố trí xung quanh, bên ngoài
Người sử dụng (chủ ở hay cho thuê)
Trang 22Phương pháp này phù họp với những tài sản tương đối đồng nhất vớinhau, như: nhà ở, văn phòng,
Xác định Tỷ lệ phí thuần theo danh mục
Phương pháp này được thực hiện theo một quy trình gồm 3 bước:
Bước 1: Rà sét lại danh mục tài sản tham gia bảo hiểm rồi phân loại theo
danh mục khác nhau
Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỷ lệ
phí phù hợp trong bảng tỷ lệ phí có sẵn
Bước 3: Điều chỉnh Tỷ lệ đã chọn theo các yếu tố làm tăng (giảm).
+ Để xác định mức độ tăng giảm Tỷ lệ phí, trước hết phải xem đối tượngtham gia bảo hiểm thuộc loại công trình nào sau đây:
Loại D: Giảm tối đa 10% phí bảo hiểm trong biểu phí Các công trìnhthuộc loại này phải được xây dựng bằng các vật liệu chịu lửa
Loại N: Giữ nguyên tỷ lệ phí Khi kết cấu chính của công trình đượcxây dựng bằng vật liệu chịu lửa
Loại L: Tăng tối đa 10% phí bảo hiểm trong biểu phí Khi công trìnhkhông đáp ứng được tiêu chuẩn gì ở trên
+ Các nhân tố làm tăng phí:
Công tác phòng cháy, chữa cháy chưa đảm bảo: thiếu thốn về kiểnthức và phương tiện trang thiết bị phòng cháy chữa cháy
cháy: sản xuất sơn, sản xuất gỗ, kho lưu trữ vải vóc, xăng, dầu + Các nhân tố làm giảm phí:
Trang 23 Công trình có hệ thống phòng cháy chữa cháy tôt, đặc biệt có hệthống báo cháy và chữa cháy tự động.
Tình hình tổn thất quá khứ: nếu trong quá khứ không có hay ít bị tổnthất về cháy nổ, đình công, bạo loạn Bão lũ
1.2 HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.2.1 Vai trò của hoạt động khai thác trong kinh doanh bảo hiểm
Hoạt động khai thác bảo hiểm được hiểu là hoạt động tuyên truyền,quảng cáo, vận động mời chào khách hàng tham gia bảo hiểm, bán sản phẩmbảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp tiến hành hay thông qua đại lý,cộng tác viên bảo hiểm, tổ chức môi giới bảo hiểm
Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của quy trình triển khai bảo hiểm
Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của Doanh nghiệp bảo hiểm nóichung và từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng, đặc biệt là những nghiệp vụ bảohiểm mới triển khai, những sản phẩm mới tung ra trên thị trường Xuất phát từnguyên tắc chung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là “lấy số đông bù số ít”,nhằm tạo lập nguồn quỹ bảo hiểm đủ lớn để dễ dàng san sẻ rủi ro, Doanhnghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốt khâu khai thác
1.2.2 Quy trình khai thác bảo hiểm
1.2.2.1 Lập kế hoạch tiếp cận khách hàng
Trang 24Sản phẩm, dịch vụ tốt sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu doanh nghiệp không có
đủ số khách hàng mà họ cần Cái gì là khó nhất khi bắt tay vào kinh doanh?Đối với nhiều người câu trả lời có lẽ là "tìm kiếm khách hàng" Do đó, bướcđầu tiên trong quy trình khai thác bảo hiểm là cần phải lập ra một khế hoạch đểtìm kiếm khách hàng, hướng tới những từng nhóm khách hàng mực tiêu riêngcủa từng nghiệp vụ bảo hiểm Vì vậy khi lập ra kế hoạch khai thác một nghiệp
vụ bảo hiểm, cần chú trọng đến các vấn đề sau:
Quan tâm đến những đối tượng có thể trở thành khách hàng của Công ty
Mỗi sản phẩm bảo hiểm có một đặc tính riêng, phù hợp với từng nhómkhách hàng khác nhau, do đó với một nghiệp vụ bảo hiểm công ty bảo hiểmkhó có thể hướng tới toàn bộ thị trường Vì vậy cần phải nghiên cứu đặc điểmcác nhóm khách hàng, so sánh với khả nǎng đáp ứng của doanh nghiệp vàquyết định chọn nhóm khách hàng mục tiêu để lập kế hoạch chinh phục
Quan tâm tới những khách hàng có quan hệ rộng
Báo chí là nguồn cung cấp các thông tin quan trọng về khách hàng tiềmnǎng Doanh nghiệp cần quan tâm đến tin về những người mới được thǎngchức, những người đã giành được các giải thưởng, những người đã mới mởtiệm kinh doanh, hoặc những người theo bất kì cách nào có thể sẽ trở thànhkhách hàng tiềm nǎng Hãy gửi tới những người đó những bức thư cá nhân để
họ biết về lợi ích của những gì mà doanh nghiệp có thể mang lại Doanh nghiệpcần cố gắng để có mặt tại các cuộc gặp mặt mà những người đó sẽ đến Khi gặp
họ hoặc gửi thư cho họ, hãy để họ biết rằng doanh nghiệp đã đọc những thôngtin về họ và chúc mừng họ về thành công hoặc hãy đề cập đến sự thú vị củanhững bài báo viết về họ Nếu doanh nghiệp khiến những người trên trở thànhkhách hàng của mình, doanh nghiệp có cơ hội được biết đến nhiều hơn
Trang 25Chú ý đến các sự kiện
Cần liên lạc với những người tổ chức và đề nghị đưa sản phẩm hay dịch
vụ của doanh nghiệp vào tham gia như là một phần thưởng trong sự kiện đó.Tham gia các cuộc mít tinh hay các cuộc hội thảo mà các khách hàng tương laicủa doanh nghiệp có lẽ sẽ tham dự Khách hàng tương lai biết đến sản phẩm,dịch vụ của doanh nghiệp bằng nhiều cách khác nhau và từ nhiều nguồn khácnhau Họ càng nghe thường xuyên về doanh nghiệp bao nhiêu thì họ càng quantâm tới những gì doanh nghiệp cung cấp khi họ sẵn sàng mua bấy nhiêu
Dùng quảng cáo nhỏ thay vì những quảng cáo lớn
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ lập kế hoạch vung tiền qua cửa sổbằng một quảng cáo lớn là một điều không hoàn toàn cần thiết Tốt hơn hãyxây dựng kế hoạch quảng cáo nhỏ để sử dụng trong thời gian dài trên nhiềuxuất bản phẩm mà các đối thủ của doanh nghiệp đang quảng cáo ở đó Sự nhắclại sẽ làm cho tên tuổi của doanh nghiệp trở nên quen thuộc Và vì theo tínhtoán của các chuyên gia makerting, khách hàng chỉ ghi nhớ hình ảnh, tên củadoanh nghiệp khi họ đọc, nhìn, xem ít nhất 3 lần ngoại trừ quảng cáo của củadoanh nghiệp cực kì ấn tượng Nếu doanh nghiệp chọn quảng cáo trên nhữngTrang Vàng, hãy đặt quảng cáo trong nhiều loại đề mục khác nhau Điều này sẽlàm tăng lòng tin của khách hàng vào Doanh nghiệp bảo hiểm, yếu tố cốt lõi đểkhách hàng chọn Nhà bảo hiểm cho mình
1.2.2.2 Xác định các biện pháp khai thác
Khi đã lập ra một kế hoạch khai thác bảo hiểm hợp lý, bước thực hiệnkhai thác sẽ được các chuyên viên khai thác bảo hiểm thực hiện Nhiệm vụ củacủa khai thác viên bảo hiểm là:
Trang 26- Tư vấn cho khách hàng hiểu họ đang có các nguy cơ gặp phải nhữngrủi ro nào, từ đó giới thiệu cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm họ cần.
- Đánh giá mỗi rủi ro của từng đơn vị rủi ro khác nhau
- Quyết định chấp nhận hay không chấp nhận rủi ro và chấp nhận rủi ro
đó tới mức nào
- Xác định các điều khoản, điều kiện và phạm vi bảo hiểm
- Tính toán mức phí bảo hiểm thích hợp
1.2.2.3 Đánh giá rủi ro
Giám định viên sẽ chuẩn bị biên bản giám định cho khai thác viên bảohiểm và vẽ sơ đồ trong trường hợp có nhiều rủi ro tài sản Biên bản sẽ bao gồmcác nội dung sau đây:
Miêu tả đầy đủ về rủi ro: Phần này có thể bao gồm sơ đồ của các cơ sở
trong trường hợp có rủi ro tài sản, tính chất của công việc được thực hiện ở các
cơ sở này, những chi tết về vấn đề bảo vệ đối tượng bảo hiểm, như: hệ thốngphòng cháy chữa cháy, hệ thống trống trộm
Đánh giá mức độ rủi ro: Phần này tập trung vào mọi yếu tố của nguy cơ
liên quan tới cả tinh thần và vật chất, cũng như cung cấp cho khai thác viên bảohiểm khái niệm về mức độ rủi ro mà anh ta được nhận được yêu cầu bảo hiểm.Giám định viên có thể nhận xét về tài sản xung quanh, như trong trường hợpbảo hiểm hỏa hoạn Điều này có thể ảnh hưởng tới mức độ rủi ro
Xác định mức độ tổn thất lớn nhất có thể xảy ra: Tổn thất có thể xảy ra
chinh là tổn thất tối đa của đối tượng được bảo hiểm theo đành giá của giámđịnh viên
Trang 27Ngăn ngừa tổn thất: Giám định viên sẽ thông báo cho mọi người được
bảo hiểm những bước cần thiết phải thực hiện để phòng ngừa rủi ro Trong một
số trường hợp, những đề nghị này được trình bày dưới hình thức yêu cầu màngười được bảo hiểm phải thực hiện nếu muốn được bảo hiểm Cũng có cảnhững khuyến nghị mà nếu người được bảo hiểm thực hiện được thì sẽ đượcgiảm phí bảo hiểm
Bảo hiểm đủ giá trị: Giám định viên sẽ đưa ra một con số thẩm định
chính xác về GTBH Trong mọi trường hợp, người được bảo hiểm có tráchnhiệm đảm bảo rằng mình đã mua bảo hiểm đủ giá trị mong muốn, tuy nhiênSTBH mong muốn không thể vượt quá GTBH Và người được bảo hiểm có thểtham khảo ý kiến của môi giới bảo hiểm hoặc của một chuyên gia khác về vấn
đề này
Giả sử rủi ro được chấp nhận bảo hiểm, và việc quyết định chấp nhận rủi
ro ở mức nào và STBH bao nhiêu còn phụ thuộc vào khả năng tài chính củaDoanh nghiệp bảo hiểm Công ty bảo hiểm sẽ đưa ra một giới hạn nào đó chomột rủi ro cụ thể phù hợp với khả năng của công ty bảo hiểm cũng như khảnăng tái bảo hiểm
1.2.2.4 Đề ra các biện pháp hỗ trợ
Nhiệm vụ cơ bản của một khai thác viên bảo hiểm là phải đánh gia nguy
cơ có liên quan tới rủi ro được yêu cầu bảo hiểm Đối với những trường hợpđơn bảo hiểm có giá trị nhỏ, khai thác viên bảo hiểm có thể thực hiện nhiệm vụtrên thông qua nghiên cứu đơn yêu cầu bảo hiểm và trao đổi thư từ với ngườiyêu cầu bảo hiểm Có thể công ty bảo hiểm sẽ cử một nhân viên bán bảo hiểmtại địa phương tới địa điểm yêu cầu bảo hiểm để đánh giá đối tượng bảo hiểm
Trang 28Tuy nhiên, điều này không thể áp dụng được với các trường hợp đơn bảo hiểm
có giá trị lớn và phức tạp Bởi vì, các chi tiết về rủi ro không chỉ giới hạn trongmột đơn yêu cầu bảo hiểm, cho dù đơn bảo hiểm lớn đến đâu cũng không chứađựng đầy đủ thông tin
Đây là lúc cần tới sự giúp đỡ của môi giới bảo hiểm Đối với nhữngtrường hợp đơn bảo hiểm có giá trị lớn, công ty môi giới sẽ đại diện cho ngườiđược bảo hiểm đảm đương nhiệm vụ chuẩn bị hồ sơ cho khai thác viên bảohiểm Điều này có nghĩa là môi giới bảo hiểm sẽ thực hiện kiểm tra tại chỗcũng như chuẩn bị các hồ sơ và biên bản giám định về những vấn đề liên quanđến các khía cạnh khác của rủi ro Tài liệu này có thể rất đầy đủ và sẽ dượcchuyển cho khai thác viên bảo hiểm để tiến hành thương thuyết về các điềukhoản, điều kiện, phạm vi bảo hiểm và phí bảo hiểm
1.2.2.5 Đánh giá rút kinh nghiệm
Bảo hiểm là một nghành dịch vụ, do đó quan tâm chăm sóc khách hàng
là một nhiệm vụ không thể thiếu của các Doanh nghiệp bảo hiểm Biết đượcmức độ thỏa mức độ thỏa mãn của khách hàng, nhu cầu cụ thể của họ sẽ giúpDoanh nghiệp bảo hiểm đánh giá được đường đi của mình, xem xét xem kếhoạch khai thác bảo hiểm của mình đã hoàn thiện chưa, hay còn những thiết sót
gì cần sửa chữa để dần dần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả khai thác bảohiểm
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khai thác bảo hiểm
Trang 29Khai thác bảo hiểm có ý nghĩa sống còn đối với mỗi Doanh nghiệp bảohiểm, nhất là trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nhưhiện nay.
Kết quả khâu khai thác thể hiện chủ yếu ở các chỉ tiêu: Số lượng kháchhàng tham gia bảo hiểm ( Số hợp đồng bảo hiểm đã được lý kết, Số giấy chứngnhận bảo hiểm (GCNBH), số đơn bảo hiểm đã cấp), doanh thu phí bảo hiểm
1.2.3.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch khai thác
Hàng năm các Doanh nghiệp bảo hiểm đều lập kế hoạch khai thác chotừng nghiệp vụ, từng loại sản phẩm bảo hiểm Và để đánh giá tình hình thựchiện các kế hoạch đó, có thể dùng các chỉ số sau:
Trang 30Một Doanh nghiệp bảo hiểm thường triển khai nhiều nghiệp vụ haynhiều sản phẩm bảo hiểm khác nhau Để xác định và đánh giá nghiệp vụ bảohiểm nào là chủ yếu, là thế mạnh của Doanh nghiệp bảo hiểm đó và hướng pháttriển của chúng trong tương lai, cần phải tính toán và phân tích cơ cấu khai tháctừng nghiệp vụ Phân tích cơ cấu khai thác bảo hiểm chủ yếu được thực hiệnvới các chỉ tiêu: Tổng số hợp đồng bảo hiểm và doanh thu phí bảo hiểm.
Đối với các Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Theo xu hướng chung thìnghiệp vụ bảo hiểm chủ yếu thường chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu Nhưngkhi phân tích cần phải quan tâm đến lợi nhuận mà từng nghiệp vụ hay từng loạihình bảo hiểm đó mang lại
Những nghiệp vụ bảo hiểm mới triển khai thường có tỷ trọng doanh thuthấp Nhưng nếu tính toán theo dõi và so sánh trong nhiều năm thì có thể thấyđược xu hướng biến động và triển vọng của nghiệp vụ trong thời gian tới
1.2.3.4 Phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác
Trong quá trình khai thác, có một số nghiệp vụ và một số sản phẩm bảohiểm phát sinh tính thời vụ, như: Bảo hiểm du lịch, bảo hiểm an sinh giáo dục
Việc xác định và vạch rõ tính thới vụ cho mỗi nghiệp vụ và mỗi loại sảnphẩm bảo hiểm là rất cần thiết Bởi ta có thể dựa vào đó để lập ra một kế hoạch
tổ chức khai thác hợp lý, chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết để ký kết hợp đồngbảo hiểm, đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của khách hàng
Để phân tích tính thời vụ trong khâu khai thác có thể sử dụng chỉ số thời
vụ theo tháng (ki):
ki = Xi
X
Trang 31đó:
ki là Chỉ số thời vụ tháng thứ i;
Xi là Mức độ khai thác tháng thứ i;
X là Mức độ khai thác bình quân một tháng trong năm
Chỉ số thời vụ theo tháng phản ảnh mối quan hệ giữa mức độ khai thácbình quân một tháng trong năm Kết quản tính ra càng gần 1 thì tính thời vụ củanghiệp vụ trong tháng đó càng ít và ngược lại Nếu tính toán và so sánh kết quảnhiều năm liên tục thì sẽ nhìn thấy rất rõ quy luật trong khâu khai thác đối vớitừng nghiệp vụ hay từng loại sản phẩm đó
Khi đã tính được chỉ số thời vụ, cần phải tính toán thêm hệ số biến thiên
để thấy được sự biến động tương đối về mức độ khai thác
1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động khai thác
Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm khi triển khai thường phải qua một số khâucông việc cụ thể như: Khâu khai thác, khâu giám định và bồi thường, khâu đềphòng và hạn chế tổn thất… Để nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ, đòi hỏi phảinâng cao hiệu quả của từng khâu công việc Điều đó có nghĩa là phải xác địnhhiệu quả từng khâu, sau đó so sánh và đánh giá xem khâu nào chưa mang lạihiệu quả để tìm ra nguyên nhân và hướng khắc phục Đối với khâu khai thác,
để đánh giá hiệu quả của khâu này, phải xác định chỉ tiêu:
Hiệu quả khai thác = Kết quả khai thác trong kỳ Chi phí khai thác trong kỳ
Trong - Kết quả khai thác trong kỳ có thể là doanh thu phí bảo hiểm,
hoặc cũng có thể là số lượng hợp đồng, số đơn bảo hiểm cấp trong
Trang 32đó: kỳ…
- Chi phí khai thác có thể là tổng chi phí trong khâu khai thác hoặccũng có thể là số đại lý khai thác trong kỳ
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY
VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU
Nhiệm vụ kinh doanh được Tổng công ty PVI giao cho là khai thác, cungcấp các dịch vụ Bảo hiểm cho các đơn vị, cá nhân, tổ chức trong và ngoàingành Dầu khí
PVI Thăng Long thực hiện khai thác bảo hiểm ngoài nghành tại 13 tỉnhthành Tây Bắc Việt Nam bao gồm: Hà Nội, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu,Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, BắcGiang, Hà Tây Trong đó Hà Nội là thị trường chiến lược, hầu hết các đơn bảo
Trang 33hiểm về vật chất xe cơ giới và các đơn liên quan đến dự án được khai thác tạiđây Các tỉnh khác như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh được coi là các thịtrường tiềm năng Tại đây PVI Thăng Long đã xây dựng được mạng lưới phápnhân và thành lập các văn phòng khu vực Hiện nay, PVI Thăng Long đã có 32đại lý pháp nhân ở khắp các tỉnh trong khu vực thị trường đảm nhận
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
PVI Thăng Long gồm có một ban giám đốc và 7 phòng ban Các phòngban đều có chức năng nhiệm vụ tương đương với các phòng tương ứng tạiTổng công ty Cơ cấu tổ chức của PVI Thăng Long Có thể được minh họa bởihình vẽ sau:
Sơ đố 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của PVI Thăng Long
CTY BHDK HÙNG VƯƠNG
Phòng BH Hàng hải Tài sản
Phòng
BH
Kỹ thuật
Phòng
Xe cơ giới Con người
&
QLĐL
Phòng KD KV Đống Đa
Phòng KD KV Hà Đông
Phòng KD KV Lào CaiBan Giám Đốc
KHỐI PHÒNG QL
Trang 34Ban giám đốc
Bao gồm 1 Tổng giám đốc và 2 phó Tổng giám đốc Điều hành toàn bộhoạt động của Công ty
Khối quản lý: Bao gồm 2 Phòng:
Phòng Hành chính - kế toán: Phòng kế toán thực hiện xây dựng các chỉ
tiêu về chi phí và lợi nhuận hàng năm của công ty và chi nhánh Phân tích hiệuquả kinh doanh của các đơn vị
Phòng Giám định - bồi thường: Phòng thực hiện công việc tiếp nhận,
xem xét tính hợp lệ của hồ sơ khiếu nại và xét giải quyết bồi thường
Khối kinh doanh: Bao gồm 3 phòng:
Phòng Bảo hiểm kỹ thuật: Phòng Bảo hiểm kỹ thuật có chức năng kinh
doanh, tham mưu và giúp Giám đốc Công ty chỉ đạo kinh doanh theo đúngpháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm kỹ thuật, công trình, xây dựng lắp đặt, tàisản, trách nhiệm
Thực hiện các công việc kinh doanh do Giám đốc phân công
Thực hiện công việc kinh doanh theo các quy định, quy trình gồm: Tiếpthị, đánh giá rủi ro trước khi cấp đơn, cấp đơn bảo hiểm, phân tán rủi ro
Thực hiện hợp tác với các Công ty bảo hiểm, các môi giới bảo hiểm cóquan hệ kinh doanh
Trực tiếp giao dịch với khách hàng, đàm phán với khách hàng, và các đốitác theo quy định của công ty
Phòng bảo hiểm hàng hải: Là một phòng kinh doanh mũi nhọn của công
ty với ba loại hình dịch vụ chính: Bảo hiểm thân tàu, Bảo hiểm hàng hoá, Bảohiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
Trang 35Phòng Bảo hiểm Xe cơ giới – Con người & Quản lý đại lý: Ngoài vai trò
nhận các hợp đồng như 2 phòng kinh doanh trên còn có nhiệm vụ quản lý đại
lý, thực hiện kinh doanh theo phân cấp và phân vùng được Công ty giao
Khối các văn phòng khu vực: Hoạt động dưới sự quản lý trực tiếp của
PVI Thăng Long
Công ty Bảo hiểm Dầu khí Hùng Vương (PVI Hùng Vương)
Được thành lập theo quyết định số 1121/QĐ-PVI của Hội đồng quản trịTổng Công ty cổ phần PVI Việt Nam ngày 04/12/2007 PVI Hùng Vương làđơn vị trực thuộc Tổng Công ty cổ phần PVI Việt Nam, hạch toán phụ thuộc.Tiền thân là Văn phong khu vực Việt Trì – một trong những văn phòng khuvực của PVI Thăng Long Vì vậy, PVI Thăng Long có trách nhiệm quản lý vàđiều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của PVI Hùng Vương
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2007
2003-Hoạt động sản xuất kinh doanh của PVI Thăng Long trong những nămgần đây đạt kết quả tốt Trong giai đoạn từ năm 2003 – 2007, doanh thu từ hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm của PVI Thăng Long không ngừng tăng lên Kết quảkinh doanh bảo hiểm của PVI Thăng Long được thể hiện trong bảng 2.1
Nhìn vào bảng số liệu 2.1 ta thấy doanh thu phí bảo hiểm của PVI ThăngLong có xu hướng gia tăng qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng không đều.Nguyên nhân của thực trạng này là do tiền thân của PVI Thăng Long là mộtvăn phòng bảo hiểm, và mới chỉ chuyển sang mô hình công ty thành viên vàonăm 2002 nên việc kinh doanh còn nhiều khó khăn, bất ổn Trong giai đoạn này
Trang 36tốc độ tăng bình quân bình quân về doanh thu nghiệp vụ của PVI Thăng Long
là 30,86 %
Xuất thân là văn phòng khu vực một với kinh nghiệm ít ỏi và nguồnnhân lực còn hạn chế được đổi thành chi nhánh phía Bắc cuối năm 2002 Chonên, những năm đầu doanh thu của PVI Thăng Long chưa cao Năm 2003,doanh thu mới chỉ hơn 13 tỷ đồng Năm 2004, doanh thu đạt hơn 17 tỷ đồngtăng 32,35 % Năm 2005, doanh thu đạt hơn 19 tỷ đồng, tăng 11,37% một con
số ít ỏi nhưng cũng đáng được ghi nhận cho những năm đầu quy mô còn nhỏ,đội ngũ nhân viên còn mỏng về số lượng cũng như kinh nghiệm còn ít, việckhai thác còn gặp nhiều khó khăn Đến năm 2005, chi nhánh phía Bắc đãchuyển thành công ty thành viên trực thuộc Tổng công ty, với việc mở rộngquy mô kinh doanh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đại lý cộng tác viên,cùng với sự hỗ trợ của Tổng công ty, doanh thu phí bảo hiểm của PVI ThăngLong đã tăng lên 19.187,37 triệu đồng, tăng 11,37% so với năm 2004
Bảng 2.1: Doanh thu từ các nghiệp vụ bảo hiểm của PVI Thăng
Trang 376 BH khác TRĐ 1.006,56 598,18 161,23 994,1 85,43
Tổng TRĐ 13.017,46 17.229,13 19.187,37 29.824,55 36.892,63 Tốc độ tăng trưởng
Nguồn:PVI Thăng Long
Năm 2006, do hoạt động kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định,những chiến lược mục tiêu được đặt ra phù hợp với khả năng của công ty cũngnhư đã thích ứng được với nhu cầu thị trường, điều này đã dẫn đến doanh thuphí tăng một cách vượt bậc so với năm 2005, cụ thể đạt 29.824,55 triệu đồng,tăng 55,4% Năm 2006 mặc dù có những thay đổi trong chính sách của nhànước, như không bắt buộc chủ xe máy mới khi đăng kí kinh doanh phải muabảo hiểm, điều này làm doanh thu phí bảo hiểm xe cơ giới của Tổng công tygiảm, nhưng do thị trường bảo hiểm xe cơ giới của PVI Thăng Long còn nhỏ,nên quy định này không làm ảnh hưởng nhiều Cụ thể là năm 2006 doanh thuphí bảo hiểm xe cơ giới chiếm khoảng 40% tổng doanh thu của công ty đạt10.032,05 triệu đồng Năm 2006 là một năm khá thành công đối với PVI ThăngLong, công ty đã có được sự tín nhiệm từ phía khách hàng, đã ký kết đượcnhững hợp đồng bảo hiểm với những khách hàng lớn như Tổng Công ty Hànghải Việt Nam với hợp đồng bảo hiểm tàu; cho PMU Thăng Long, PMU 2, Nhàmáy xi măng Bỉm Sơn, Thủy điện Đồng Nai 3, Dự án Trung tâm Thương mạiDầu khí với hợp đồng bảo hiểm công trình và CAVICO Việt Nam với hợpđồng bảo hiểm máy móc thiết bị
Năm 2007, doanh thu phí bảo hiểm của PVI Thăng Long tiếp tục tăngtrưởng, đạt 36.892,63 triệu đồng, tăng 23,7% so với năm 2006 Hầu hết các
Trang 38nghiệp vụ bảo hiểm đều có sự tăng trưởng về doanh thu, tăng mạnh nhất lànghiệp vụ bảo hiểm máy móc thiết bị Trong năm 2007 đánh dấu sự tăngtrưởng khá mạnh về sản phẩm bảo hiểm kỹ thuật, chiếm hơn 40% doanh thu,đây là sản phẩm tái tục hàng năm, phí bảo hiểm thường tái tục vào cuối năm,
vì vậy đơn vị khó chủ động về việc thực hiện kế hoạch kinh doanh doanh hàngtháng và kế hoạch kinh doanh cho các năm tiếp theo Trong khi đó nghiệp vụbảo hiểm Tài sản, Hàng hải lại có tỷ trọng thấp về doanh thu, có xu hướng giảm
so với các năm trước, nguyên nhân là do có sự thay đổi về nhân sự cũng như cơcấu phòng, tuy nhiên nguyên nhân chính là do mức tái tục của khách hàng thấp,điều này chứng tỏ chất lượng dịch vụ sau bán hàng của công ty còn chưa tốt,công ty cần phải có chính sách điều chỉnh lại cho phù hợp vào năm 2008
2.2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG (2003-2007)
2.2.1 Vài nét thị trường bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt trong thời gian qua
Những năm gần đây, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam tăngtrưởng không ngừng Năm 2006, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt6.445 tỷ đồng, tăng 17,5% so với năm 2005 12 doanh nghiệp bảo hiểm trongnước vẫn nắm giữ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với thị phần 94,9%, nhưngthực chất, thị phần doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ vẫn tập trung chủ yếuvào các doanh nghiệp lớn như Bảo Việt: 34,9%, Bảo Minh 21,3%, PVI 18,1%
và Pjico 10,5% 9 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chia nhau thị phần5,l% còn lại Nghiệp vụ bảo hiểm Cháy và các RRĐB đạt doanh thu 637 tỉ
Trang 39đồng, tăng 10,6% so với 2005 trong đó bảo hiểm cháy nổ đạt 517 tỉ đồng tăng22,5% Nhà nước đã ban hành Nghị định 130/2006/NĐ-CP quy định về bảohiểm cháy nổ bắt buộc trong đó có 16 đối tượng phải mua bảo hiểm bắt buộccháy nổ và 16 loại trừ bảo hiểm, đóng góp kinh phí PCCC là 5% Bộ Tài chínhban hành quy tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, phối hợp với Bộ Công
An ra thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 130 nóitrên
Năm 2007, thị trường bảo hiểm Việt Nam trải qua năm đầu tiên kể từ khiViệt Nam chính thức gia nhập WTO với những thành tựu đáng khích lệ Doanhthu bảo hiểm phi nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng, tăng trưởng 30% Trong 9 thángđầu năm 2007, nghiệp vụ Bảo hiểm Cháy và các RRĐB đạt doanh thu 661 tỉđồng (tăng 43%) trong đó Bảo hiểm cháy nổ đạt 78,7 tỉ đồng Top 5 doanh thu
là Bảo Minh 182 tỷ đồng, Bảo Việt Việt Nam là 163 tỷ đồng, PVI là 70 tỷđồng, GIC 48 tỉ đồng và VIC 47 tỉ đồng Tỷ lệ bồi thường toàn thị trường là43% Top 5 Công ty có tỷ lệ bồi thường cao nhất là Bảo Minh 77,3%, PVI52,7%, UIC 48,2%, Bảo Long 42,18%, PJICO 48,1%, Bảo Việt 26.7% Quyếtđịnh 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 ban hành Quy tắc biểu phí bảo hiểmcháy nổ bắt buộc, có hiệu lực từ ngày 28/07/2007 đã làm tăng trưởng thị trườngvào 6 tháng cuối năm 2007 và nhất là từ năm 2008 trở đi khi các đối tượng cónguy hiểm về cháy nổ được công khai minh bạch, được cấp Giấy Chứng nhận
an toàn về phòng cháy chữa cháy và đối tượng sử dụng Ngân sách Nhà nước đãđược cấp kinh phí mua bảo hiểm
Nhìn chung thị trường bảo hiểm Cháy và các RRĐB hai năm trở lại đâyđang trên đà phát triển, cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt Trongnghiệp vụ này PVI thị phần đứng thứ 3 sau hai đối thủ lớn là Bảo Việt và BảoMinh Đây là hai đối thủ rất mạnh đã nhiều năm liền dẫn đầu thị trường bảo