1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống hình ảnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du (Hệ thống hình ảnh thiên nhiên)

51 704 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 7,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó giúp ta có cái nhìn toàn diện về con người, sự nghiệp thơ văn của ông đồng thời khẳng định được vị trí vai trò, đóng góp của tác giả đối với nền văn học.. Trong cuốn Văn học Việt

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của dân tộc sống ở cuối thế kỷ XVIH đầu thế kỷ XIX Số lượng tác phẩm của Nguyễn Du không nhiều nhưng sự

nghiệp văn chương của Nguyễn Du là sự nghiệp thành công, hoàn thiện trên

nhiều phương diện: từ thể loại trữ tình đến thể loại tự sự, từ thơ chữ Hán đến

thơ chữ Nôm Những tác phẩm của ông đều có giá trị nội dung nhân văn sâu

sắc và giá trị nghệ thuật ở đỉnh cao

Gần ba thế kỷ trôi qua, con người và sự nghiệp văn học của ông trở thành vấn đề trung tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học Bên cạnh những công trình nghiên cứu về Truyện Kiều và Văn chiêu hồn, việc sưu tầm và nghiên cứu mảng Thơ chữ Hán của ông cũng được quan tâm Tuy nhiên, sự quan tâm ấy phần nhiều đi sâu vào vấn đề nội dung tác phẩm Hiện

nay, khi ngành thi pháp học đang phát triển, Thơ chữ Hán được xem xét từ góc độ hình thức - một phương diện rất quan trọng cấu thành nên tác phẩm

Bởi lẽ, trong tác phẩm văn học, hình thức là phương tiện để truyền đạt nội

dung và làm cho nó có gương mặt độc đáo Vì vậy tìm hiểu: Hệ thống hình ảnh trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng là phương thức tiếp cận tác phẩm từ góc độ nghệ thuật

Mặt khác, việc nghiên cứu và tìm hiểu Hệ /hống hình ảnh trong Thơ

chữ Hán Nguyễn Du cũng là cách thức để ta hiểu thêm phong cách nghệ thuật độc đáo, tâm tư, tình cảm của tác giả Qua đó giúp ta có cái nhìn toàn diện về

con người, sự nghiệp thơ văn của ông đồng thời khẳng định được vị trí vai trò, đóng góp của tác giả đối với nền văn học

Một nguyên nhân nữa khiến tôi lựa chọn đề tài này vì đây là nội dung quan trọng, hấp dẫn, Thơ chữ Hán Nguyên Du được lựa chọn giảng day trong nhà trường cho học sinh.

Trang 2

Như vậy, có thể nói Nguyễn Du là nhà thơ lớn của dân tộc, là tập đại

thành của văn học phong kiến Tác phẩm của đại thi hào ấy là đỉnh cao khẳng

định một dân tộc có nền văn hiến nghìn đời, khẳng định “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn” trong đó Thơ chữ Hán góp một phần đáng kể

Vì những lý do kể trên, người viết chọn đề tài: Hệ thống hình ảnh trong

Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Hệ thống hình ảnh thiên nhiên)

2 Lịch sử vấn đề

Trong tác phẩm văn học, hình ảnh là một trong những yếu tố quan trọng

cấu thành nên hình thức của tác phẩm, vì thế nó mang giá trị nội dung nhất

định Hiện nay giới nghiên cứu tìm hiểu tác phẩm nghệ thuật từ góc độ hình thức Tiếp cận tác phẩm từ hệ thống hình ảnh là một con đường đi vào thế giới nghệ thuật Về vấn đề Hệ (hống hình ảnh trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta gặp rải rác ở một số bài giới thiệu chung trong sáng tác Thơ chữ Hán

của ông

Trong cuốn Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII - hét thé ky XIX, Nguyễn Lộc đã trình bày những vấn đề cơ bản về Thơ chữ Hán: “Nguyễn Du không phải là nhà thơ chỉ biết đến số phận riêng của cá nhân mình, chỉ biết ngồi ngắm cái bóng dưới chân mình, Nguyễn Du cũng không phải là nhà thơ chỉ quan tâm đến triều đại này, triều đại khác, mà Nguyễn Du là nhà thơ biết đặt lòng mình nơi những con người bất hạnh, nơi những con người đau khổ”),

Trong đó tác giả có đề cập đến một số hình ảnh con người xuất hiện trong tác

phẩm Thơ chữ Hán

Trong cuốn Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm” „ một số nhà nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến vấn đề này Tiêu biểu là những công trình sau:

- Xuân Diệu khi nhìn nhận “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”

đã nói về hình ảnh người nghệ sĩ Đó là dáng hình, đời sống vật chất và đời

© Sdd, tr.333

'® Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu Nxb Giáo dục, 1998.

Trang 3

sống tỉnh thần: “Chính Thơ chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống, nét mặt,

mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của Nguyễn Du”),

- Nguyễn Huệ Chỉ trong “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông

trong Thơ chữ Hán” cũng khẳng định: “Thơ chữ Hán Nguyễn Du khắc hoạ các hình ảnh trữ tình của chính Nguyễn Du, một hình ảnh rất động trước mọi

342)

biến cố của cuộc đời” Đồng thời ông cũng cho rằng, Nguyễn Du cũng nói dến hình ảnh những con người có số phận cơ cực hẩm hiu nhất trong cuộc sống, những người có tài và có tình - “Ấy là những nhà văn nhà thơ nổi tiếng

trác tuyệt mà cuộc đời trải muôn vàn bất hạnh, là bậc anh hùng hào kiệt thất thế, là những người phụ nữ có sắc đẹp nghiêng thành phải chịu một số phận

buồn thảm”®),

- Ngoài ra các bài viết khác: Tâm sự của Nguyễn Du qua Thơ chữ Hán (Trương Chính); Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Mai Quốc Liên) cũng đề cập một

số hình ảnh trong Thơ chữ Hán

Trong bài viết của Lê Thu Yến: 7ời gian và không gian nghệ thuật

trong thơ chữ Hán Nguyễn Du®°, tác giả khảo sát một số hình ảnh về thời gian như chiều tà, đêm tối, mùa thu; một số hình ảnh về không gian như mồ mổ,

miếu, đên, gò đồng

Từ những công trình nghiên cứu về Thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi

nhận thấy vấn đề Hệ thống hình ảnh trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du đã ít nhiều được đề cập đến Tuy nhiên, nghiên cứu đó chưa đặt thành vấn đề riêng

biệt, chưa khảo sát toàn diện và chưa có sự lí giải sâu sắc hình ảnh trong Thơ chữ Hán, còn tản mạn Chính vì lẽ đó, trên cơ sở gợi ý của những người đi

trước, tác giả khoá luận này mong muốn ở mức độ nhất định hệ thống lại toàn

bộ hình ảnh thiên nhiên trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du Qua đó, người viết

© Sad, tr44

Sad, tr.57

© Sdd, tr.71

'® Tạp chí Văn học, Số 4 1998, Số 9.2000.

Trang 4

góp phân khẳng định giá trị tác phẩm, hiểu hơn về tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du

3 Phạm vi, mục đích nghiên cứu

3.1 Về tư liệu

Tư liệu khảo sát chính của khoá luận này là Thơ chữ Hán Nguyễn Du

gồm 249 + I bài Thơ chữ Hán Nguyễn Du Mặc dù vậy, để có cái nhìn sâu sắc

hơn về Thơ chữ Hán, trong khi phân tích, đánh giá, bài viết đặt hình ảnh trong

Thơ chữ Hán trong mối tương quan so sánh với hệ thống hình ảnh khác trong thơ văn Nguyễn Du: Truyện Kiêu, Văn chiêu hồn

3.2 Về phạm vì và mục đích nghiên cứu

Để giải quyết những vấn đề mà bài viết đặt ra, chúng tôi tự giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình là chỉ tập trung tìm hiểu những hình ảnh có tính khái quát, được tác giả dùng với tần số lặp đi lặp lại nhiều lần và mang sắc thái biểu cảm nhất định, gắn với dụng ý nghệ thuật của tác giả

Thơ chữ Hán Nguyễn Du là một mảng sáng tác vô cùng quan trọng

trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du Vì thế khoá luận này tìm hiểu tác phẩm nhằm hướng tới những mục đích sau:

Góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống sâu sắc và cụ thể hơn vấn

đề hình ảnh thiên nhiên trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du, góp phần chứng minh

thành công nghệ thuật của Thơ chữ Hán Từ đó ta có cái nhìn toàn diện hơn

đối với con người và thơ văn của ông, giúp ta nhận ra thái độ chính trị và những bước thăng trầm trong cuộc đời nghệ sĩ

Mặt khác, khoá luận này còn góp phần khẳng định vai trò to lớn của Thơ chữ Hán đối với sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du cũng như vị trí của Nguyễn Du trong nền văn học dân tộc Thơ chữ Hán soi tỏ tấm lòng nhân đạo của nghệ sĩ đối với những kiếp người, những mảnh đời khác nhau - một tình

cảm bao dung không biên giới, không phân biệt dân tộc, vùng miền

Trang 5

Đi sâu tìm hiểu đề tài này, chúng tôi cũng mang đóng góp một phần

nhỏ bé cho việc giảng dạy về tác giả, tác phẩm Nguyễn Du đặc biệt là những

bài thơ chữ Hán trong nhà trường phổ thông sau này

4 Phương pháp nghiên cứu

Khoá luận sử dụng những phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp thống kê, phân loại,

- Phương pháp hệ thống,

- Phương pháp so sánh và một số thao tác như phân tích, giảng bình

Trang 6

NỘI DUNG Chương 1

NHUNG VẤN ĐỀ CHUNG VE TAC GIA

vA TAC PHAM THO CHU HAN NGUYEN DU 1.1 Tác giả Nguyễn Du

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xã hội

Thời đại Nguyễn Du sống là thời đại chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng toàn diện và sâu sắc Đó là thời đại có nhiều biến động dữ dội trong lịch sử Sự phá sản của ý thức hệ phong kiến, đấu tranh giai cấp diễn ra

quyết liệt, cuộc sống điêu đứng cực khổ của nhân dân, sự xa hoa hưởng lạc của giai cấp thống trị Nguyễn Du đã chứng kiến sự hưng thịnh và suy vong của những triều đại và tập đoàn phong kiến: Lê, Trịnh, Tây Sơn và chúa Nguyễn

Lịch sử Việt Nam giai đoạn nửa cuối thé ky XVIII dau thé ky XIX là giai đoạn thể hiện sự phá sản của ý thức hệ phong kiến chính thống (Nho giáo)

Nếu như từ thế kỷ XV trở về trước, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì sang thế kỷ XVI - XVII nó bắt đầu lung lay rạn vỡ, đến thế kỷ XVII - XIX nó gần như bị phá sản hoàn toàn Thời đại biến thiên với nhiều phen thay đổi sơn

hà Các phe phái phong kiến tranh giành lẫn nhau khiến cho tình trạng đất nước vô cùng rối ren loạn lạc Hơn nữa tình trạng chúa Nguyễn đàng trong, chúa Trịnh đàng ngoài, vua Lê, chúa Trịnh cùng tồn tại song song là thực trạng trái ngược với nguyên tắc: “Thiên vô nhị nhật, quốc vô nhị quán” (Trên trời không có hai mặt trời, trong nước không có hai vua) Mãi đến giữa năm

1788 đất nước mới căn bản được thống nhất khi Tây Sơn lần lượt lật đổ các tập

đoàn phong kiến: Nguyễn - Trịnh - Lê thiết lập nên triều đại mới Tuy nhiên, triéu dai này không tôn tại được lâu, sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh

đã đánh bại triều Tây Sơn lên ngôi hoàng đế lập ra nhà Nguyễn năm 1802

Trang 7

Sự phá sản của ý thức hệ phong kiến không chỉ thể hiện ở sự rối ren, sự

thay đổi liên tục của bộ máy nhà nước trung ương mà còn được biểu hiện ở sự

băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống Bao nhiêu tín điểu nguyên tắc đều bị vi phạm, đi ngược với quan niệm đạo đức Nho giáo Từ cung vua phủ chúa, nơi ngự trị những khuôn vàng thước ngọc của chế độ phong kiến, những

“quân - thần”, “phu - phụ”, “phụ - tử” , tóm lại là “tam cương ngũ thường” của Nho giáo đều bị sụp đổ Những tư tưởng tiến bộ ít nhiều khả thủ của Nho giáo bị mất dần, còn lại chỉ là những bầy tôi dối trên lừa dưới, con bất hiếu,

anh em bất nghĩa, bất tình tất cả vì một ngai vàng, một chức tước hay vì tiền

bạc Trong Hoàng Lê Nhất thống chí, Nguyễn Cảnh Thước đã từng lấy 40

lạng vàng còn lại của nhà vua, lột nốt chiếc ngự bào vua đang mặc đó thôi

Lý tưởng trung quân còn bị xúc phạm như vậy nói gì đến “tiết”, “nghĩa”

Pham Dinh H6 trong “Via trung tuy bú” từng than: “Đời suy thói tệ, thế đạo ngày một sút kém”, “danh phận lung tung không còn biết đâu mà phân biệt thuận mới nghịch nữa”

Trên thực trạng suy đồi của luân lý đạo đức phong kiến, con người

không được đánh giá theo “tam cương ngũ thường” mà dựa vào yếu tố khác để

đánh giá con người Trong hoàn cảnh ấy tầng lớp nho sĩ là những người đầu tiên chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tư tưởng, họ rơi vào bị kịch về lý tưởng, về “chí nam nhi” Họ không biết nên làm gì và làm thế nào cho đúng Chỉ thấy lẻ tẻ vài người còn theo “con đường mẫu mực” như Lý Trần Quán -

kẻ “ngu trung cuồng tín”, hay hăm hở thực hiện chí nam nhi như Nguyễn Công Trứ, hoặc đứng hẳn về phía nhân dân như Cao Bá Quát, còn lại hầu hết

các nho sĩ đều rơi vào tâm trạng bế tắc, chán chường do mất niềm tin vào chính quyền, minh chúa và đôi khi là với chính mình

Bên cạnh sự phá sản của ý thức hệ phong kiến, đây còn là thời kỳ mâu thuẫn giai cấp xã hội trở nên gay gắt Biểu hiện của mâu thuẫn xung đột

không thể hoà giải đó là khởi nghĩa nông dân Có thể nói chưa bao giờ khởi

Trang 8

nghĩa nông dân lại diễn ra quyết liệt rộng lớn như thời kỳ này vì vậy đây là

thời kỳ được mệnh danh là “thế kỷ nông dân khởi nghĩa” Khởi nghĩa của

nông dân nổ ra trên quy mô rộng lớn từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền

ngược, từ kinh thành đến thôn xóm do cả người dân tộc đến người kinh lãnh đạo, cả tu hành lẫn dòng dõi tôn thất chỉ huy Có nhiều cuộc khởi nghĩa lớn khiến cho triều định phong kiến run sợ khiếp nhược khó đối phó Tiêu biểu là khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739-1769), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu

(1741-1751) Ngoài ra lớn nhỏ còn có biết bao cuộc khởi nghĩa khác

Khí thế sức mạnh của thế kỷ nông dân khởi nghĩa kết tỉnh vào cuộc

khởi nghĩa Tây Sơn (1771) do lãnh tụ Nguyễn Huệ chỉ huy Cuộc khởi nghĩa

quét sạch ba tập đoàn phong kiến (Nguyễn - Trịnh - Lê), đánh tan sự xâm lược

của quân Xiêm (1785) và quân Thanh (1788) thống nhất đất nước, lập nên

triều Tây Sơn Khởi nghĩa nông dân này có ý nghĩa vô cùng lớn lao, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng thời đại làm cho tư tưởng thời đại có sự thay đổi Đó là

sự xuất hiện của trào lưu tư tưởng dân chủ trong xã hội - cơ sở của chủ nghĩa nhân văn dep dé trong van học, tác động tới thế giới quan và nhân sinh quan

của người nghệ sĩ

Cùng với sự hỗn loạn của xã hội là cuộc sống điêu đứng cơ cực của

nhân dân Người dân phải chịu cảnh thuế khoá nặng nề, thêm vào đó thiên tai

lũ lụt dịch bệnh thường xuyên xảy ra, đói kém mất mùa nạn đói hoành hành (năm 1820 có bệnh dịch lớn lan rộng từ Nam ra Bắc, từ mùa thu sang mùa đông cướp đi sinh mạng của hơn 20 vạn người) Rồi hàng loạt các tệ nạn xã hội xảy ra: trộm cắp, cướp giật, lừa đảo Hậu quả của “nạn trời cách đất” là

nông dân “không còn thước đất cắm dùi” phải bỏ làng phiêu tán khắp nơi, người chết đầy đường

Cuộc sống cơ hàn của nhân dân khiến mâu thuẫn giữa giai cấp bị trị và

giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt

Trang 9

Đối lập với cuộc sống của nhân dân là cuộc sống của giai cấp thống trị

ngày càng xa hoa - một cuộc sống đế vương trên nền thống khổ của nhân dân

Bọn chúng vừa chuyên quyền, sâu mọt lại ham mê tửu sắc, lo ăn chơi hưởng lạc hơn lo việc trị nước Tiền bạc bót lột từ sức lao động của dân được “đầu

tư” cho những thú vui phù phiếm, những chuyến tuần du, xây lăng tẩm, chùa chiên trong khi dân chết đói hàng vạn người Chính cảnh sống đối lập ấy dẫn đến lòng người mong mỏi cho loạn lạc Đó là sự tất yếu của quá trình lịch sử

Điểm qua đôi nét về hoàn cảnh lịch sử xã hội đương thời ta thấy đây là giai đoạn cực kỳ khủng hoảng của lịch sử dân tộc Đúng như Xuân Diệu nhận xét: “Đây là thời kỳ tê đi tái lại cắt không ra một giọt máu đỏ của niềm vui”

Những biến động đó của lịch sử có thể xem như trận cuồng phong, khủng khiếp và dữ dội Như một sự ngẫu nhiên, Nguyễn Du được sắp đặt ở cạnh

“mắt bão” Từ vị trí ấy, ông có cơ hội quan sát đánh giá phân tích nhận xét

guồng chuyển biến của thời đại Nhưng không chỉ là người chứng kiến, ông còn là người chịu tác động trực tiếp của những sự kiện ấy Ông cũng trải qua

phong trần trong cơn giông tố ấy

1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp

Nguyễn Du sinh năm 1765 - mất năm 1820, tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh tại phường Bích Câu - Thăng Long (nay thuộc Hà Nội) Quê cha Nguyễn Du ở làng Tiên Điền huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh Quê mẹ ở xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Tiên Sơn tỉnh

Bắc Ninh) Hà Tĩnh là mảnh đất có truyền thống hiếu học, xứ Kinh Bắc là nơi

thắm đượm những câu hát quan họ, kinh thành Thăng Long là nơi phồn hoa đô

hội, trung tâm chính trị của cả nước Vì vậy Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống văn hoá của nhiều vùng quê khác nhau Đó là một tiền đề

thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật của nhà đại thi hào dân tộc

Nguyễn Du xuất thân trong gia đình đại quý tộc, có thế lực vào bậc nhất lúc đương thời

Trang 10

Cha ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775) là một đại quan, văn võ song toàn Nguyễn Nghiễm làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), quyền hạn bổng lộc nhiều Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần con gái một viên quan nhỏ sinh năm 1740 là vợ ba của Nguyễn Nghiễm Có người cho rằng bà là một cô

gái đẹp và giỏi nghề ca xướng Năm 1778 bà qua đời khi mới 39 tuổi Anh là Nguyễn Khản từng làm quan tới chức Tham tụng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm và là người rất mê hát xướng Ngoài ra trong

dòng họ có nhiều người đỗ tiến sĩ, nhiều người tài thơ phú Sống trong một môi trường như thế, năng khiếu văn học của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở

và phát triển từ sớm Mặt khác ông có dịp hiểu biết về cuộc sống phong lưu,

xa hoa của giới quý tộc phong kiến - những điều đó đã để lại dấu ấn trong

sáng tác văn học của ông sau này

Cuộc sống êm đêm ấy kéo dài không bao lâu, Nguyễn Du sớm rơi vào cuộc sống đầy khó khăn gian khổ Năm 10 tuổi mồ côi bố, ba năm sau mẹ qua đời nên Nguyễn Du phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản Nhiều

biến cố xảy ra, sự kiện kiêu binh đã làm cho gia đình Nguyễn Khản lao đao

nghiêng ngả nhưng vì còn nhỏ nên Nguyễn Du tiếp tục đi học Năm 18 tuổi

ông thi đỗ tam trường và không tham dự bất cứ kỳ thi nào nữa không hiểu vì

lý do gì

Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ chạy theo tàn quân của bọn xâm lược Nguyễn Du

chạy theo Lê Chiêu Thống sang phương Bắc không kịp, trở về quê vợ ở Quỳnh

Côi - Thái Bình sống nhờ nhà người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, lúc này đã

ra cộng tác với Tây Sơn và đang giữ chức Thị lang Bộ lại Nguyễn Du sống ở Thái Bình đến mấy năm, sau đó bỏ về Hà Tĩnh sống cuộc đời phường săn núi

Hồng, dân chài biển Nam

Mặc dù vậy Nguyễn Du vẫn không thôi sở nguyện “phục quốc”, vì thế

năm 1796 nghe tin ở Gia Định Nguyễn Ánh hoạt động mạnh, Nguyễn Du mưu

Trang 11

trốn vào Gia định theo Nguyễn Ánh Nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An, việc bại lộ, Nguyễn Du bị bắt giam ba tháng Nhờ người anh cùng mẹ là Nguyễn Đề đã ra làm quan với Tây Sơn nên Nguyễn Du được tha Ở đây nhà

thơ sống thiếu thốn vật chất, đói rét bệnh tật luôn ám ảnh

Những trải nghiệm trong cuộc sống phong trần đem lại cho Nguyễn Du một vốn sống thực tế phong phú, đã thôi thúc ông suy nghĩ nhiều về xã hội, về

thân phận con người, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành tài năng và bản lĩnh sáng tạo văn chương Hơn mười năm lăn lộn chật vật ở các vùng quê khác nhau cũng là dịp Nguyễn Du học hỏi, nắm vững ngôn ngữ nghệ thuật dân

gian Đây là vốn hiểu biết cần thiết cho việc sự hình thành phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Du

Sau nhiều năm sống hết sức khó khăn ở các vùng quê khác nhau, năm

1802, Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn Con đường công danh của

Nguyễn Du khá thuận lợi Năm 1802, ông nhận chức Tri huyện tại huyện Phù

Dung (nay là Khoái Châu - Hưng Yên), sau đổi sang Tri phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Tây) Từ năm 1805 đến năm 1809, ông được thăng chức Đông Các điện học sĩ, năm 1809, được bổ làm Cai bạ Quảng Bình Năm 1813, ông được

thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc Sang Trung Quốc, Nguyễn Du trực tiếp tiếp xúc với một nên văn hoá mà từ nhỏ ông

đã quen thuộc qua nhiều sử sách và thơ văn Chuyến đi sứ để lại dấu ấn sâu đậm trong thơ văn, đặc biệt góp phần nâng tầm khái quát của những tư tưởng

về xã hội và thân phận con người trong sáng tác của ông Năm 1820, Nguyễn

Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc nhưng lần này chưa kịp lên

đường thì ông đã mất vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (16-9-1820)

Như vậy, các yếu tố lịch sử thời đại, gia đình, tài năng bẩm sinh, truyền thống văn học đã góp phần hình thành thiên tài dân tộc Nguyễn Du, là cơ sở cho những tác phẩm văn học mà giá trị của nó không phải một thời mà là mãi

mãi

Trang 12

Về sáng tác của Nguyễn Du, ngoài Truyện Kiều nổi tiếng, những tác phẩm viết bằng chữ Nôm của ông còn có bài Văn chiêu hồn (hay gọi là Văn tế thập loại chúng sinh), bài Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài thơ Thác

lời trai phường Nón

Những sáng tác bằng chữ Hán của ông gồm ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục

Những giá trị nhân văn sâu sắc, thành công nghệ thuật của các sáng tác trên đã khiến Nguyễn Du xứng đáng là đại thi hào dân tộc

1.2 Tác phẩm Thơ chữ Hán Nguyễn Du

1.2.1 Hoàn cảnh sáng tác

Bên cạnh kiệt tác được sáng tác bằng chữ Nôm là Truyện Kiều, Nguyễn

Du còn làm nhiều bài thơ bằng chữ Hán, về tác phẩm chữ Hán Nguyễn Du có

ba tập thơ

Thanh Hiên thi tap (hoặc Thanh Hiên tiên hậu tập), Nam trung tập ngâm và Bắc hành tạp lục, được tập hợp thành Thơ chữ Hán Nguyễn Du Trước cách mạng tháng Tám, Đào Duy Anh đã tìm được 131 bài thơ nhưng

chỉ giới thiệu có mấy bài Năm 1959, Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khác Hanh

đã phiên dịch và giới thiệu tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du Nam 1965, nhóm Lê

Thước, Trương Chính đã xuất bản Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm 249 bài Gần

đây, công trình Nguyễn Du - cuộc đời và tác phẩm nhân kỷ niệm 181 năm

ngày Nguyễn Du qua đời do nhóm Nguyễn Thạch Giang và nhiều người khác biên khảo và chú giải, đã công bố tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm 250 bài Theo Nguyễn Thạch Giang trong công trình đã nói ở trên, số lượng mỗi tác phẩm và hoàn cảnh ra đời cụ thể của mỗi tập thơ như sau:

- Thanh Hiên thi tập: gồm 78 bài sáng tác qua các thời kỳ: Thời kỳ Nguyễn Du chạy loạn về Thái Bình tức quãng đời 10 năm gió bụi (1786-1796)

Trang 13

gồm 27 bài Thời kỳ ở ẩn dưới chân núi Hồng (1796-1802) với 33 bài Thời kỳ làm quan ở Bắc Hà (1802-1804): 18 bài

- Nam trung tạp ngâm: tập hợp những bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812 tức là từ khi Nguyễn Du được thăng Đông các điện học sĩ, vào Nam

làm quan trong kinh cho đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinh Quảng Bình gồm 40 bài

- Bắc hành tạp lục: tập hợp những bài thơ làm khi đi sứ Trung Quốc (1813-1814) gồm 132 bài (Trong Thơ chữ Hán Nguyên Du - Ñxb Văn học, H,

1965, Bắc hành tạp lục gồm 131 bài)

1.2.2 Những vấn đề cơ bản trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du

Thơ chữ Hán Nguyễn Du được coi là tập nhật ký bằng thơ ghi trong

khoảng thời gian dài, từ năm nhà thơ 21 tuổi (1786) cho đến năm nhà thơ 49 tuổi (1814), trước lúc chết 5 năm Bài nào cũng chứa đựng một lời tâm sự, một

niềm băn khoăn, một nỗi lo lắng Ngay cả những bài tức cảnh, vịnh sử khi đi

sứ Trung Quốc cũng nặng tu tâm sự của nhà thơ, bộc lộ thái độ sống của nhà thơ một cách rõ rệt Qua đây chân dung nghệ sĩ hiện lên rõ nét, đồng thời ta

hiểu được thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại đương thời, tâm tư, tình cảm của Nguyễn Du trước cuộc đời

Trước hết Thơ chữ Hán phản ánh thái độ của Nguyễn Du đối với các

triều đại đương thời

Đối với triều Lê, Nguyễn Du luôn giữ tấm lòng cô trung của mình

Theo quan niệm Nho giáo: vua gắn với nước, vì thế khi triều đại thay đổi

(hưng thịnh hoặc suy vong) bề tôi của triều đại ấy mang tâm sự mất vua cũng

như mất nước Khi nhà Lê sụp đổ, tâm sự của kẻ sĩ Bắc Hà là hụt hãng hoang

mang Nguyễn Du cũng vậy Ông rơi vào tâm trạng “hoài Lê”, nuối tiếc thời

đã qua của Lê triều

Mặt khác, dòng họ, gia đình của Nguyễn Du có bao nhiêu ân huệ và kỷ niệm với triều đại này Vì thế nhà thơ dễ gì một lúc rũ sạch được Bản thân

Nguyễn Du cũng chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không kịp Trong Thơ chữ

Trang 14

Hán, những bài thơ viết về nhà Lê đều được sáng tác khi ông đã làm quan với nhà Nguyễn vì thế ông hay nói tới những hình ảnh của quá khứ và hiện tại để nói lên tâm sự của mình khi cái mới lu mờ cái cũ Qua các tác phẩm tiêu biểu

như: Đạo ý, My trung mạn hứng, Thăng Long, Ngộ gia đệ cựu ca cơ ta thấy

tình cảm của ông dành cho triều đại nhà Lê giống như người ta hướng tới phần

mộ cổ kính mà không bao giờ thôi hương khói Nhưng Nguyễn Du cũng ngậm

ngùi thấy sự tiêu vong của nhà Lê là tất yếu của lịch sử Nguyễn Du tiếc, nhớ

mà không thể khôi phục

Đó là thái độ của Nguyễn Du đối với nhà Lê Vậy đối với nhà Tây Sơn

tâm sự của ông như thế nào?

Trong ý nghĩ của kẻ sĩ Bắc Hà, Tây Sơn là lực lượng quét sạch nhà Lê, chúa Trịnh Vì thế thời trai trẻ dường như Nguyễn Du hận và không hợp tác với Tây Sơn, chạy theo Lê Chiêu Thống, về Thái Bình mưu chống Tây Sơn, định vào Gia Định theo Nguyễn Ánh Sau này khi ông đã về già và Tây Sơn chỉ còn là hoài niệm, thái độ của ông với Tây Sơn có phần biến chuyển khách quan hơn Bài thơ Long Thành cẩm giả ca không chỉ thể hiện sự xót thương của Nguyễn Du đối với cô ca nữ bị tàn tạ theo năm tháng mà lồng vào đó là

tình cảm của Nguyễn Du đối với tang thương dâu bể của cuộc đời, sự còn mất của tạo vật, sự hưng vong của triều đại phong kiến trong đó có triều Tây Sơn

“Phải chăng tiếng là chống Tây Sơn nhưng Nguyễn Du không có hành động

nào thiết thực tích cực”),

Qua Thơ chữ Hán, Nguyễn Du cũng gửi gắm tâm sự của mình đối với

tân triều (nhà Nguyễn)

Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn từ rất sớm (1802), con đường

công danh khá thuận lợi Ta tưởng rằng “trải qua những cuộc bể dâu” thì

Nguyễn Du đã có thời đắc ý Tuy nhiên trong Thơ chữ Hán ta thấy Nguyễn Du

có tâm sự khác hẳn, không đắc ý, không mãn nguyện Qua các bài thơ Tán thu

+? Nguyễn Lộc Văn học Việt Nam (nửa cuối thé ky XVIII - hết thế ky XIX) Nxb GD, 2004, tr.314

Trang 15

ngâu hứng, Thu nhật ký hứng, Ngâu đề, Khổng Tước vũ, Ngâu đắc ta thấy

Nguyễn Du coi cuộc đời làm quan của mình là đi tới một phương trời khác, xứ

sở khác Ông luôn coi mình là người khách sống ở đất Nam Hà, không coi đó

là ngôi nhà của mình, không gột rửa được tâm trạng mình là người phương Bắc Có thể nói, ông ái ngại khi đi cùng triều đại nhà Nguyễn và trước sau ông luôn mang tâm trạng của kẻ di thần

Qua đây ta hiểu được con người công dân và thái độ chính trị của nhà

thơ, để rồi cảm thông và thương xót cho con người trước rất nhiều biến động

của cuộc đời, sự hưng vong của các triều đại, nhà thơ không xác định được đâu là con đường đúng đắn, đâu là con đường nên đi

Không chỉ bộc lộ thái độ đối với các triểu đại, qua Thơ chữ Hán, Nguyễn Du còn bộc lộ tình cảm thiết tha với cuộc đời “Chính vấn đề cuộc đời mới là trung tâm những suy nghĩ, day dứt của nhà thơ”, Nguyễn Du bày tỏ

thái độ tình cảm của mình đối với nhiều loại người trong xã hội Nhà thơ xót

thương cảm thông đối với những kiếp người cùng khổ: ông già hát rong trên

đất Thái Bình (Thái Bình mại ca giả), với cảnh sắp chết đói của bốn mẹ con người ăn mày (Sở kiến hành) Bên cạnh đó, ông còn dành một số lượng khá

lớn về các nhân vật lịch sử Đó là giai nhân tài tử (Độc Tiểu Thanh ký, Dương Phi cố lý, Phản chiêu hôn, Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ ); là các anh hùng

nghĩa sĩ (Dự Nhượng, Kinh Kha, Hàn Tín ); là các bậc đế vương (Vua

nghiêu, vua Thuấn, Minh Thành Tổ ) là những tên gian thần (Tô Tần, Tần

Cối, Tào Tháo ) Viết về họ, Nguyễn Du còn bày tỏ thái độ tình cảm của

mình, ông cảm thông xót thương cho những người tài hoa mệnh bạc, phê phán

căm ghét cái xấu những hôn quân ngu thần đẩy con người vào cảnh sống bất hạnh Những bài viết của ông là bằng chứng xúc động cho ngòi bút nhân đạo

của nhà thơ

Sdd, tr.319

Trang 16

Qua Thơ chữ Hán, ta còn thấy chân dung người nghệ sĩ một cách rõ nét

từ hình hài dáng vẻ đến đời sống vật chất và đời sống tinh than

Nguyễn Du tự hoạ chân dung bên ngoài của mình bằng những nét tiêu biểu: con người gầy guộc, râu dài Đặc biệt là hình ảnh mái tóc bạc cứ trở đi trở lại trong Thơ chữ Hán Rất nhiều lần nhà thơ nói đến mái tóc bạc của

mình, lúc là “bạch mấn”, khi là “bạch phát”, chỗ là “bạch đầu” Mái tóc ấy được miêu tả ở nhiều dáng vẻ khác nhau: có khi bơ phờ trước gió chiêu, có khi

loà xoà trên gối hoặc rơi thõng xuống vạt áo Nguyễn Du cũng nói vì sao tóc ông bạc nhanh thế Đó là do thời gian trôi nhanh, do chuyện cơm áo, vì hư danh giày vò, vì lênh đênh phiêu dạt Đây là hình ảnh giàu giá trị tạo hình và khả năng biểu cảm trong Thơ chữ Hán tạo thành một ám ảnh nghệ thuật

Bên cạnh đó, đời sống vật chất của bản thân và gia đình cũng được Nguyễn Du nhắc đến nhiều lần trong Thơ chữ Hán Đó là cuộc sống đói rét

bệnh tật luôn đeo đuổi Nơi ở không phải lầu son gác tía mà là “một gian nhà nát cửa cài lệch then, cánh xiêu cổng vẹo” (U cư I, II) Chuyện cơm áo cũng thường giày vò nhà thơ, có lúc cả ngày bếp không đỏ lửa, nhìn đoá cúc vàng

bên cửa sổ tưởng có thể ăn được Thêm vào đó là bệnh tật Có khi ba tháng, Nguyễn Du ốm liên miên mà không có tiền mua thuốc (Mạn hứng I) Tham chí nhà thơ vĩ đại ấy phải đi Khất thực Ngay cả khi ra làm quan với triều Nguyễn, người cũng luôn bị giày vò bởi cảnh nheo nhóc của những đứa con thơ nơi bắc Hoành Sơn (Ngâu dé, Ngâu hứng)

Đời sống vật chất đầy gian khổ, đời sống tinh thần của Nguyễn Du lại càng chồng chất bi kịch Hiện lên trong những trang thơ là con người bế tắc

khi “hùng tâm” và “kế sinh nhai” cả hai đều mờ mịt Thêm vào đó là một con

người luôn bất yên, bất ổn, không bằng lòng và cô đơn Cả đời, Nguyễn Du không có tri âm tri kỷ để sẻ chia nỗi niềm, chỉ còn biết hướng lòng mình vào

quá khứ và tương lai Có thể nói, Nguyễn Du là con người tài năng nhưng đây bất hạnh

Trang 17

Tóm lại, Thơ chữ Hán Nguyễn Du đã bộc lộ rõ ý thức con người cá

nhân từng trải gặp nhiều bất hạnh Cảm hứng khi viết về mình là thương thân, xót thân Vì thế Thơ chữ Hán cũng là tập thơ buồn, nỗi buồn của cá nhân thi sĩ

và nỗi buồn của thời đại, nỗi buồn của thi sĩ và nỗi buồn của bao kiếp người lênh đênh bạc mệnh khác, nỗi buồn của hiện tại và nỗi buồn của qúa khứ

Trang 18

Chương 2

HỆ THỐNG HÌNH ẢNH TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYÊN DU

(HỆ THỐNG HÌNH ẢNH THIÊN NHIÊN)

2.1 Khái niệm hình ảnh và hệ thống hình ảnh trong tác phẩm văn học

Trước hết chúng ta đi tìm hiểu khái niệm hình ảnh

Theo Từ điển tiếng Việt căn bản (Nguyễn Như Ý chủ biên) Hình ảnh là

hình người, vật, cảnh để lại ấn tượng nhất định và được tái hiện trong trí óc Theo Từ điển từ Hán Việt (Phan Văn Các) Hình ảnh là ấn tượng của con người, sự vật phản ánh trong trí não hoặc trong tác phẩm nghệ thuật

Như vậy dù các cách diễn đạt khác nhau nhưng cùng có nét nghĩa chung: hình ảnh là ấn tượng của con người và sự vật được phản ánh trong trí não

Trong tác phẩm văn học hình ảnh là yếu tố thuộc hình thức của tác

phẩm Nó là ấn tượng của con người, sự vật được phản ánh trong tác phẩm

nghệ thuật Do đặc trưng của văn học là phản ánh cuộc sống bằng hình tượng,

vì vậy hình ảnh có vị trí, vai trò quan trọng trong việc thể hiện cuộc sống cũng

như truyền tải ý đồ nghệ thuật của nhà văn

Tìm hiểu hình ảnh trong tác phẩm văn học cũng là một trong những con đường để ta hiểu tâm tư tình cảm của tác giả cũng như tư tưởng mà nhà văn gửi gắm

Về khái niệm hệ thống, được hiểu là một thể thống nhất bao gồm nhiều yếu tố giữa chúng có quan hệ với nhau Giá trị của mỗi yếu tố do quan hệ giữa

nó với các yếu tố khác trong hệ thống quyết định Định nghĩa khác diễn đạt:

hệ thống là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố có quan hệ với nhau

Xét trong tác phẩm văn học, hệ thống hình ảnh gồm nhiều thành tố và

những thành tố đó có mối quan hệ với nhau nhằm diễn đạt ý đồ nghệ thuật nào

đó của tác giả Mặt khác, hệ thống hình ảnh là một trong những yếu tố quan

trọng cấu thành nên hình thức tác phẩm, là phương thức để biểu đạt hình

tượng Hình thức và nội dung tác phẩm văn học, có mối quan hệ chặt chẽ

Trang 19

thống nhất với nhau Hình thức biểu hiện nội dung, hình thức phù hợp nội dung Nhà phê bình Nga Bêlinxki viết: '“Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng

và hình thức phải hoà hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể

xác, nếu huỷ diệt hình thức thì cũng có nghĩa là huỷ diệt tư tưởng và ngược lại

cũng vậy”),

Như vậy hình thức là phương tiện chuyển tải nội dung, làm cho nội dung có gương mặt độc đáo Hêghen đã nói: “Nội dung chẳng phải là cái gì khác mà chính là sự chuyển hoá của hình thức vào nội dung và hình thức cũng

chẳng gì khác hơn là sự chuyển hoá của nội dung vào hình thức”),

Vì vậy, tìm hiểu hệ thống hình ảnh thiên nhiên trong Thơ chữ Hán

Nguyễn Du cũng là một trong những con đường đi vào thế giới nghệ thuật Nhờ đó ta hiểu rõ hơn chân dung tinh thần Nguyễn Du, thấy được tấm lòng nhân đạo của nghệ sĩ

2.2 Hệ thống hình ảnh thiên nhiên trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong thời kỳ tang thương dâu bể, thời kỳ

mà những điều gọi bằng lẽ phải không hiện ra trước mắt Đây là thời kỳ giằng

co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau Trong đời sống tư tưởng của xã hội, “khuôn vàng thước ngọc” của giáo lý phong kiến bị bung ra, bị

xáo đến tận gốc, tạo nên không ít những cuộc khủng hoảng tỉnh thần Nguyễn

Du cũng như bao kẻ sĩ đều rơi vào tâm trạng bế tắc và bi kịch Ông đã đem cái bệnh của thời đại làm cái bệnh của mình, mâu thuẫn xã hội trong thời đại không giải quyết được, không biết cách nào giải quyết tích lại thành một nỗi u uất trong tâm hồn Phải chăng vì tâm cảnh như vậy nên ngoại cảnh được nhìn qua lăng kính của con người ấy cũng mang sắc màu ảm đạm trong Thơ chữ Hán thê lương, xám xịt Đúng là “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Hình

ảnh thiên nhiên trong Thơ ch# Hán bao gồm hình ảnh về thời gian và hình ảnh

+? Dẫn theo Phương Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, 2004, tr.256

© Sdd, tr.257

Trang 20

về không gian Sự phân chia như vậy của chúng tôi chỉ mang tính tương đối để

tiện cho khảo sát và phân tích Thực chất thời gian và không gian là phạm trù

thống nhất không thể tách rời

2.2.1 Hình ảnh về thời gian

Truyện Kiéu 1a một Đoạn trường tân thanh, tuy nhiên trong đó ta vẫn gặp không ít những hình ảnh mang màu sắc tươi sáng, đẹp đế:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

hoặc:

Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông

Trong Thơ chữ Hán dường như hình ảnh ấy bị bao phủ bởi đêm đen, bởi

thứ chiều thu “mây như pha sữa cả trời nhoà”°) Vậy thì tại sao cùng một ngòi

bút, mà đến Thơ chữ Hán hầu như chỉ có một xa xám chiều thu? Nhà thơ gửi

gắm điều gì qua những hình ảnh này?

Theo thống kê của Nguyễn Thị Dậu (K25) trong 250 bài Thơ chữ Hán,

có tới 81 lần Nguyễn Du nhắc tới hình ảnh đêm rối với các từ da, hdc da, han

canh, quần âm Chúng chiếm 32,4% số lượng toàn tác phẩm Như vậy cứ khoảng hơn ba bài thơ Nguyễn Du lại nhắc đến hình ảnh đêm rối một lần Nguyễn Du cũng nhắc đến hình ảnh buổi chiều 45 lần bằng các từ mộ, nhật

mộ, nhật lạc, tà dương, tịch dương, vấn Chúng chiếm 18% số lượng toàn tác

phẩm Như vậy, trong khoảng gần sáu bài thơ ông lại nhắc đến hình ảnh buổi chiều một lần Và không ít lần Nguyễn Du nhắc đến răng khuyết, trăng xế, trăng tàn Những hình ảnh về thời gian ấy làm cho ta gấp quyển Thơ chữ Hán lại, tự nhiên có cảm giác chung “là một buổi chiều thu rất dài và tê tái”),

Trước hết ta thấy hình ảnh đêm ứối trong Thơ chữ Hán bao phủ từ nơi ăn

chốn ở đến bước chân phong trần của nhà thơ Dường như Nguyễn Du ở trong

+ Xuân Diệu, “Con người Nguyễn Du trong Thơ chữ Hán”, dẫn từ Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, Nxb GD, H, 1998, tr.44

Trang 21

bóng tối thật nhiều và mỗi lần bóng tối xuất hiện là một lần nhà thơ lại cảm thấy có điều gì chẳng lành

Người trung đại quan niệm: ban ngày là thế giới của người sống Nó

mang đến nguồn năng lượng để con người và vạn vật sinh sôi nảy nở Còn

buổi chiêu, đêm tối là thế giới của cõi âm, của các hồn ma, đặc biệt là lúc đêm

tàn Đấy là thời khắc ma quỷ xuất hiện Thời gian ấy dành cho cái chết tồn tại Mặt khác, người trung đại cũng cho rằng : ánh sáng biểu trưng cho cái tốt, cái đẹp còn bóng tối luôn gắn với cái ác, cái xấu, là nơi tồn tại của những rủi ro

bất hạnh

Trong Thơ chữ Hán ta thấy hình ảnh bóng tối bao phủ lên cảnh vật và con người Nơi ở của Nguyễn Du cũng mang vẻ u tịch, ngột ngạt gợi cảm giác lạnh lẽo đến ghê người:

U thất hàn thu hiện quỷ lân

(Nhà tối, thu lạnh, ma trơi hiện ra)

(Giản công bộ Thiêm sự Trần II)

Một câu thơ nhưng xuất hiện đồng thời ba hình ảnh: nhà fối, thu lạnh,

ma trơi hiện ra Nguyễn Du dùng biện pháp nghệ thuật liệt kê, đặt những hình

ảnh liên kề nhau góp phần nhấn mạnh không gian chật chội, ảm đạm, tối tăm,

như muốn chấm dứt sự tương thông giữa đất trời với con người Hay chính con người không muốn hoà nhập với vũ trụ Phải chăng vì thế mà nhiều khi bóng

tối được nhìn phóng đại lên, một dải lá chuối cũng đủ làm cho ngôi nhà bị tối

hơn:

Nhất đái ba tiêu lục phú giai

(Một dải chuối xanh che rợp thêm nhà)

(Ngẫu hứng IID

Hình ảnh bóng tối trong câu thơ này được thể hiện gián tiếp, nó không

phải là kết quả của thời gian ban đêm mà do bóng một dải lá chuối che rợp thêm nhà Dường như Nguyễn Du có khuếch đại nó làm cho chốn ở của ông

Trang 22

đã nhỏ hẹp lại càng nhỏ hẹp hơn, đã tối tăm lại càng u ám Thi sĩ ấy có nỗi

niềm gì mà đâu cũng chỉ thấy bóng tối bao phủ, Hay do sớm rơi vào cuộc đời

gió bụi, cảnh ăn nhờ ở gửi, cảnh làm thân “trệ khách” lâu ngày với biết bao

buồn tủi đắng cay, với nỗi nhớ quê hương người thân da diết, thêm vào đó cuộc sống trần thế lắm gian nguy, trước mắt là con đường gập ghềnh, tương lai mù mịt đã khiến nhà thơ luôn khép kín trong bóng tối, chỉ thấy bóng liễu

âm u mỗi khi nhìn ra cửa sổ “Tiểu song khai sứ liễu âm âm” (Xuân đa) Nhiều

khi con người ấy còn tự nhốt mình trong bóng tối âm u:

Thâm đường, tiểu tiểu há liêm lung

(Nhà sâu thẳm, lặng lẽ buông rèm xuống)

(Nedu dé)

Nha đã tối, Nguyễn Du còn buông rèm cho tối hơn Hình ảnh đó góp phần thể hiện niềm bất đắc chí quay lưng lại với cuộc đời của Nguyễn Du Trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du đã dựng lên bức tranh Đêm trường dạ

tối tăm trời đất, ở đó các cô hôn thất thểu, bông bế, dắt díu nhau trở về cõi dương thế trong bóng đêm bao phủ như vẽ lên bức tranh cuộc sống hiện thực

nơi trần thế Đó là cuộc sống có nhiều rủi ro, bất hạnh Trong Thơ chữ Hán,

con người cũng thường bị đêm tối bủa vây, bao phủ:

Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân

Hắc dạ hà kỳ mê thất hiểu

(Trên lối cũ, gió lạnh dồn cả vào một người

Đêm tối mờ mịt không biết bây giờ là bao giờ, mãi chẳng thấy sáng)

(Dạ hành)

Hình ảnh đêm tối không chỉ bao trùm lên toàn bộ không gian, thời gian

mà nó còn vây phủ con người, nó theo bước chân phong trần của tác giả Hình

tượng một con người đi trong bóng đêm dày đặc, hãi hùng, bị gió lạnh dồn cả

vào mình, cứ mong trời sáng mà không thấy sáng thật đã phản ánh đúng cái cảm nghĩ tuyệt vọng của Nguyễn Du về sự mất phương hướng Nguyễn Du

Trang 23

khắc khoải chờ trời sáng như chờ đợi một cái gì mới hơn tốt đẹp hơn nhưng

kết quả bóng đêm vẫn là bóng đêm “Đây không chỉ là hình ảnh tự hoạ chính

xác nhất của nhà thơ mà còn là hình ảnh có ý nghĩa xã hội rộng lớn: tấn bi

kịch lịch sử của chế độ phong kiến ở giai đoạn cực kỳ thối nát, tan rữa”©), Nguyễn Du cũng cố gắng tìm cách xua tan bóng tối, hướng ra ánh sáng

nhưng:

Cưỡng khỏi thôi song vọng mình nguyệt Lục âm trùng điệp bất di quang

(Gang dậy mở cửa sổ xem trăng sáng

Bóng râm lớp lớp không để lọt tia sáng nào)

(Ngẫu hứng) Hình ảnh “lục âm trùng điệp” dày đặc đó góp phần nói lên tâm trạng bế

tác của Nguyễn Du Ông cũng khao khát tìm ra hướng đi đúng cho mình, tìm

ra ánh sáng ở cuộc đời nhưng càng nhìn đời, càng thấy xung quanh mình tràn đầy thống khổ, lại càng bế tắc Hình ảnh “bóng râm lớp lớp” như bức rèm dày

đặc bao phủ nhà thơ để suốt cuộc đời nhà thơ đã vùng vẫy trong mớ bòng bong tư tưởng đó:

Nhất sinh ú tử vị tằng khai (Trọn đời mối u sầu chưa hề gỡ ra)

(Thu chi)

Nhu vay hình ảnh đêm rối là hình ảnh tượng trưng cho con người bế tắc

khi muốn quay về con đường mưu sinh cũng không song, tìm đến con đường

công danh để thực hiện chí nam nhi cũng không được, định làm ẩn sĩ “xuất

thế” nhưng có nhiều món nợ đời chưa trả nên phải “nhập thế”

Bên cạnh đó, hình ảnh đêm rối góp phần làm sáng tỏ Nguyễn Du - một

con người cô đơn, không bè bạn tri âm tri kỷ

© Nguyén Huệ Chi “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong Thơ chữ Hán”, dẫn từ Nguyễn Du về tác

gia va tác phẩm, Ñxb Giáo dục, 1998, tr.65

Trang 24

Ta thấy trong 250 bài Thơ chữ Hán, hình ảnh Nguyễn Du xuất hiện trong đêm tối là hình ảnh con người cô đơn, có nhiều tâm sự suy nghĩ nhưng

không biết giãi bày cùng ai Một Nguyễn Du “cô đơn sừng sững” (Trần Đình

Sử), luôn thao thức trước cuộc đời:

Trù trướng thân tiêu cô đối ảnh

(Đêm khuya, băn khoăn một mình đối bóng)

(Tống nhân) Người chính phụ trong Chỉnh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn đã

từng thấm thía nỗi đơn lạnh của mình trong đêm vắng khi “Hoa đèn kia với

bóng người khá thương” Nguyễn Du, khi đối diện với chính mình trong đêm khuya vắng lặng càng xót xa cho sự cô lẻ của mình Hai nhưng mà một, “cái bóng” kia giúp Nguyễn Du nhận ra mình mà xót xa nức nở Đêm khuya là

khoảng thời gian yên fĩnh nhất đồng thời cũng là lúc tâm hồn con người lắng

đọng lại những suy tư, để cảm nhận một cách sâu sắc những gì đang diễn ra xung quanh mình Nguyễn Du nghe được cả những âm thanh từ xa vọng lại, những âm thanh ấy gợi ra không gian yên tĩnh, vắng vẻ:

Sơn canh cổ giáp ngũ canh kê

Chung dạ bồi hồi tứ chuyển mê (Đầu canh trống ốc, cuối canh gà Khắc khoải đêm thâu nghĩ chẳng ra)

(Nedu hing) Thời gian đêm tối là lúc con người và vạn vật nghỉ ngơi, cuộc sống tạm

thời khép lại Vậy mà Nguyễn Du vẫn khắc khoải Nhà thơ luôn thức khi mọi

người ngủ Phải chăng lòng nhà thơ chứa nhiều tâm sự, những nỗi đau thương

u uất đồn lại, những vất vả luân lạc trong cuộc đời đã khiến ông: “Bên đèn ngồi mãi tới trời rạng đông” (Mạc phủ tức sự) Có thể nói xuất hiện trong ba tập Thơ chữ Hán là một Nguyễn Du lầm lũi cô đơn ôm một khối tình Vì một nguyên nhân nào đó ông không thể nói ra hay không muốn nói ra Cho nên

Trang 25

đọc Thơ chữ Hán ta có cảm giác ấm ức tức tối Chính Nguyễn Du cũng đôi lần thổ lộ:

Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ Hồng sơn sơn dạ Quế giang thâm

(Ta có một chút tâm sự không biết tỏ cùng ai

Dưới chân núi Hồng, sông Quế giang sâu thẳm)

(My trung mạn hứng)

Đó là nguyên nhân khiến lúc nào ông cũng chìm trong hắc dạ, triệt dạ,

hàn canh, bất mị

Mặt khác, hình ảnh đêm tối trong Thơ chữ Hán còn gắn với cuộc đời

lưu lạc của nhà thơ Đêm tối không cho người lữ hành nhìn thấy con đường phía trước có nghĩa là Nguyễn Du vẫn còn phiêu dạt, vẫn phải “dạ hành”:

Chỉnh phụ hoài vãng lộ

Dạ sắc thượng mông mông (Người lữ hành nghĩ đến đường phía trước

Sác đêm còn mờ mịt) Những chuyến đi đêm đây bất trắc, hiểm nguy Thế nhưng người lữ hành vẫn phải đi, đi nhưng không biết sẽ về đâu vì sắc đêm còn mờ mịt; đi mà

không xác định được phương hướng Câu thơ vừa gợi ra sự cô đơn hoang mang bất ổn vừa gợi ra được cuộc đời gió bụi, nay đây mai đó của Nguyễn

Du Và chính từ những chuyến đi đêm ấy, Nguyễn Du hiểu hơn về cảnh sống

của người lao động:

Dã túc phùng tiêu giả Tưởng liên bất tại đông (Đêm trọ giữa đồng quê gặp bác tiểu phu,

Thương nhau không cứ ở chỗ giống nhau)

(Phượng Hoàng lộ thượng tảo hành)

Ngày đăng: 24/09/2014, 20:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w