1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư

139 1,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của huyệt Thận du, những biến đổi của các đặc điểm này khi cơ thể bị bệnh và khi có tác động điện châm vào huyệt cũng như khẳng định hiệu quả của phương

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau thắt lưng (ĐTL) là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng

từ ngang đốt sống L1 đến ngang đĩa đệm L5 – S1 Nguyên nhân chính của đau thắt lưng là do thoái hóa cột sống thắt lưng bao gồm thoái hóa đốt sống thắt lưng, đĩa đệm và xương sụn khớp đốt sống thắt lưng [1], [2]

Tuy đau thắt lưng là chứng bệnh không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm giảm khả năng lao động và hiệu quả công việc ở người trưởng thành

Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau thắt lưng có bệnh danh là “Yêu thống" đã được mô tả rất rõ trong các y văn cổ Châm cứu là một trong những phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc của Y học cổ truyền (YHCT) đã góp phần không nhỏ trong điều trị các chứng bệnh trong đó có chứng "Yêu thống"

Châm cứu có cơ sở chữa bệnh là huyệt và kinh lạc Trong hệ thống huyệt của các đường kinh trong cơ thể có nhiều loại huyệt, trong đó có huyệt bối du Huyệt bối du là nơi dương khí tạng phủ tỏa ra ở vùng lưng, mỗi tạng phủ có một huyệt bối du Huyệt phân bố cách đều trục giữa cột sống 1,5 thốn, nằm trên kinh Túc Thái dương Bàng quang Khi tạng phủ có bệnh, thường ở huyệt bối du tương ứng sẽ xuất hiện cảm giác ấn đau hoặc tê tức, vì vậy chữa bệnh của bản tạng tại huyệt bối du có hiệu quả rõ rệt [3], [4]

Thận du là huyệt bối du của tạng Thận, ký hiệu quốc tế là UB23 Huyệt Thận du có tác dụng ích thủy, tráng hỏa, điều hòa thận khí, kiện cân cốt, chữa đau lưng, minh mục, thông nhĩ Với lý giải bằng y lý YHCT, lưng là phủ của thận nên những bệnh lý đau lưng đều có liên quan đến tạng thận và huyệt Thận

du thường được sử dụng trong điều trị bệnh lý của tạng Thận trên lâm sàng

Trang 2

Mặc dù huyệt Thận du đã được ứng dụng nhiều trên lâm sàng, nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến đặc điểm sinh học của huyệt này trên cơ thể người Việt Nam bình thường khỏe mạnh và trên cơ thể người bệnh Để góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của huyệt Thận du, những biến đổi của các đặc điểm này khi cơ thể bị bệnh và khi có tác động điện châm vào huyệt cũng như khẳng định hiệu quả của phương pháp điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với các mục tiêu sau:

1 Xác định một số đặc điểm sinh lý của huyệt Thận du ở người bình thường khỏe mạnh

2 Xác định sự biến đổi các đặc điểm sinh lý của huyệt này trên bệnh nhân đau thắt lưng thể thận hư dưới ảnh hưởng của điện châm

3 Đánh giá hiệu quả của điện châm huyệt Thận du kết hợp với các huyệt Giáp tích L2-L5, Thứ liêu, Ủy trung, Dương lăng tuyền trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 HUYỆT VỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP CHÂM

1.1.1 Huyệt vị châm cứu

1.1.1.1 Quan niệm của Y học cổ truyền về huyệt châm cứu

- Khái niệm về huyệt

Theo thiên Cửu châm thập nhị nguyên của sách Linh khu, huyệt là nơi thần khí lưu hành, xuất nhập, chúng được phân bố khắp phần ngoài (biểu) của cơ thể, nhưng không phải hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương Theo các sách xưa, huyệt còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau như du huyệt, khổng huyệt, kinh huyệt, khí huyệt, khí phủ Huyệt là tên gọi ngày nay quen dùng nhất [3], [4]

- Phân loại huyệt

Huyệt được phân bố khắp mặt ngoài cơ thể, mỗi huyệt có một tên có ý nghĩa nhất định Căn cứ vào học thuyết kinh lạc, có thể chia làm ba loại huyệt chính: huyệt của kinh (kinh huyệt), huyệt ngoài kinh (kinh ngoại kỳ huyệt) và huyệt ở chỗ đau (a thị huyệt) [3]

+ Huyệt của kinh (Kinh huyệt): là những huyệt nằm trên 12 đường kinh

chính và 2 mạch Nhâm, mạch Đốc Một số huyệt có chức năng và tác dụng giống nhau được chia thành những nhóm huyệt và được gọi bằng những tên chung như huyệt Nguyên, huyệt Lạc, huyệt Du ở lưng, huyệt Mộ, huyệt Ngũ

du, huyệt Khích, Bát hội huyệt và Giao hội huyệt

+ Huyệt ngoài kinh (Kỳ ngoại huyệt): là những huyệt không thuộc vào

12 kinh chính và hai mạch Nhâm, Đốc Huyệt thường có vị trí ở ngoài các đường kinh, nhưng cũng có một số huyệt nằm trên đường tuần hành của kinh mạch chính song không phải là huyệt của kinh mạch đó

Huyệt ngoài kinh chưa được nói tới trong cuốn Nội kinh, đó là những huyệt do các nhà châm cứu đời sau quan sát và phát hiện dần Trên lâm sàng chúng có hiệu quả điều trị rõ ràng và có vị trí cố định

Trang 4

+ Huyệt A thị: Sách Nội kinh có viết "lấy chỗ đau làm huyệt", những

huyệt đó sau này được gọi là huyệt A thị Đó là những huyệt không có vị trí

cố định, cũng không tồn tại mãi mãi, nó chỉ xuất hiện ở những chỗ thấy đau,

nó không phải là những huyệt của các kinh mạch chính và huyệt ngoài kinh Đặc tính của huyệt A thị là châm vào đó có thể chữa chứng đau nhức rất tốt vì

có tác dụng lưu thông khí huyết

- Vai trò và tác dụng của huyệt

Sách Tố Vấn viết "Người ta có 12 khớp lớn, 365 khe nhỏ chưa kể huyệt của 12 kinh mạch, đều là nơi vệ khí lưu hành Đó cũng là nơi tà khí vào cơ thể

và lưu lại, phải dùng châm, cứu để đuổi tà khí đi" [3], [5] Như vậy, huyệt vừa

là nơi thần khí lưu hành xuất nhập, vừa là nơi tà khí xâm nhập vào cơ thể, vừa

là nơi dùng kim hay mồi ngải tác động vào đó để đuổi tà khí ra ngoài

+ Về sinh lý: Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà

nó phụ thuộc Huyệt là nơi thần khí vận hành qua lại vào ra, nơi tạng phủ kinh lạc dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, làm cho cơ thể thành một khối thống nhất, góp phần duy trì các hoạt động sinh lý của cơ thể luôn ở trong trạng thái bình thường [3], [4], [6]

+ Về bệnh lý: Huyệt cũng là cửa ngõ xâm nhập của tà khí lục dâm Khi

sức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì tà khí qua các huyệt này vào gây bệnh cho các đường lạc, nếu bệnh tiến triển nặng hơn tà khí sẽ từ kinh vào sâu trong tạng phủ [3], [4], [6]

+ Về chẩn đoán: Khi tạng phủ bị bệnh, có thể có những thay đổi bệnh

lý phản ánh ra ở huyệt như đau nhức, hoặc ấn vào đau, hoặc hình thái huyệt bị thay đổi Thay đổi này là tín hiệu giúp các nhà lâm sàng có thêm tư liệu để quyết định chẩn đoán bệnh [3], [4], [6]

+ Về phòng và điều trị bệnh: Huyệt là nơi tiếp nhận những kích thích

khác nhau Tác động lên huyệt một lượng kích thích thích hợp có thể điều hòa được khí, khí hòa thì huyết hòa, khi huyết hòa thì tuần hoàn của huyết trong mạch mới thuận lợi, được chuyển đi để nuôi dưỡng cơ thể, lấy lại thăng bằng

Trang 5

âm dương, nghĩa là làm ổn định những rối loạn bệnh lý, lập lại hoạt động sinh

lý bình thường của cơ thể [3], [4], [6]

1.1.1.2 Các nghiên cứu về huyệt của y học hiện đại

Y học hiện đại (YHHĐ) dựa trên bằng chứng của các nghiên cứu lâm sàng, thực nghiệm, qua các phân tích cụ thể chính xác bằng các phương tiện ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến đã chỉ ra vị trí giải phẫu của các huyệt trên đường kinh, đã đề cập đến cấu trúc giải phẫu và điện sinh học của huyệt

- Đặc điểm giải phẫu của huyệt

+ Về hình dáng và diện tích da vùng huyệt: Các nhà khoa học khi nghiên cứu về huyệt đã nhận định rằng huyệt vị trên cơ thể không phải chỉ là một điểm mà mỗi huyệt có vùng hình chiếu tương ứng trên mặt da Huyệt đa

số có hình tròn và chiếm vị trí nhất định trên mặt da, kích thước các huyệt dao động trong khoảng từ 4 đến 18 mm2, là những vùng da nhạy cảm hơn và có chức năng đặc hiệu hơn so với các cấu trúc xung quanh [7], [8], [9], [10]

+ Về tổ chức học vùng huyệt: Nghiên cứu các thành phần tổ chức học của Bosy J cho thấy 29% số huyệt có các sợi thần kinh kiểu não- tủy Các xung động thần kinh phát sinh tại các huyệt được truyền theo các sợi này về tủy sống và não bộ, 42% số huyệt có dây thần kinh dưới da và 46% số huyệt có tĩnh mạch dưới da và đám rối thần kinh bao quanh (theo [7])

Nghiên cứu của Portnov Ph.G cho thấy có khoảng 80% các huyệt cũng như vùng da xung quanh có các sợi thần kinh và mạch máu dưới da, trong đó khoảng 30% có các sợi thần kinh, động mạch dưới da và mạch bạch huyết, khoảng 30% có các sợi thần kinh và tĩnh mạch nhỏ dưới da, 10% số huyệt tìm thấy tiểu tĩnh mạch và tiểu động mạch dưới da Nghiên cứu hình thái của huyệt dưới kính hiển vi điện tử, tác giả đã phát hiện ra đặc điểm của các sợi thần kinh tại huyệt có đường kính từ 20- 200 µm, gồm cả các sợi có và không

có myelin, hầu hết các sợi thần kinh ở huyệt có đường kính lớn và rất giàu mucosacarid và cho phản ứng dương tính với serotonin Gần sợi thần kinh còn

có các ống bạch huyết, có các tế bào mast cũng như các lưới mạch máu Tế bào

Trang 6

mast được coi như là nhân tố quan trọng trong điều hòa sự cân bằng nội môi bởi nó có chứa các hạt có hoạt tính sinh học cao tham gia điều hòa các chức năng của cơ thể như heparin, histamin, serotonin, acid hyaluronic, các chất có khả năng gây ảnh hưởng đến điện thế màng tế bào và tính thấm thành mạch làm cho tế bào mast có thể đáp ứng với nhiều loại kích thích khác nhau như cơ học, nhiệt, hóa học, tia, các enzym Số lượng lớn tế bào mast chịu sự điều hòa của hệ nội tiết và hệ thần kinh trung ương Ngược lại các chất có hoạt tính sinh học trong tế bào mast như heparin, histamin, serotonin không những gây ra tác dụng tại chỗ mà còn có thể tham gia điều hòa hoạt động của hệ thần kinh và nội tiết Bên cạnh đó, các chất trung gian còn có khả năng gây ảnh hưởng đến điện thế màng tế bào, đến tuần hoàn mao mạch, tính thấm thành mạch và màng tế bào, nghĩa là ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất Do đó có thể xem tế bào mast như một bộ máy đặc biệt tại huyệt (theo [7], [9])

Hsiu H và cs đã sử dụng tia laser doppler flowmetry (LDF) để phát hiện các đặc điểm vi thể tại huyệt và các mô xung quanh huyệt Hợp cốc và Kinh cốt Kết quả cho thấy tại huyệt có mạng lưới mao mạch lớn hơn nhiều so với vùng ngoài huyệt [11]

Yan X.H và cs đã sử dụng bức xạ synchrotron để nghiên cứu cấu trúc của các huyệt Tam âm giao, Thiên khu, Nội quan và Túc tam lý trên chuột Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tại các huyệt có tồn tại nhiều vi mạch mà trong các mô xung quanh của huyệt người ta không thể tìm thấy loại cấu trúc đó Các

vi mạch đã làm nên cấu trúc đặc biệt của huyệt, có mối quan hệ nhất định với chức năng của huyệt và đóng vai trò quan trọng trong châm cứu [12]

Bürklein M đã sử dụng laser quang phổ doppler CO2 để so sánh lưu lượng máu dưới da huyệt Kiên tỉnh và da vùng cơ thang phía ngoài huyệt Kết quả cho thấy tại huyệt Kiên tỉnh có lưu lượng máu dưới da lớn hơn so với lưu lượng máu dưới da ngoài huyệt (p<0,05) [13]

Khi nghiên cứu sử dụng ánh sáng laser quang học công suất thấp để nghiên cứu đặc điểm của các huyệt Nội quan và Giản sử trên người tình

Trang 7

nguyện khỏe mạnh có độ tuổi trung bình là 23,6±1,2, Huang Y và cs thấy có

sự khác biệt đáng kể về đặc điểm quang học giữa các huyệt và vị trí ngoài huyệt thể hiện qua sự suy giảm hệ số khuếch tán và phổ phát xạ Các tác giả cho rằng các đặc điểm này tạo ra những tương tác nhân-quả với sự thay đổi chức năng của các mô [14]

Như vậy, có thể nhận định rằng các huyệt châm cứu có cấu trúc hình thái nhất định chiếm một diện tích trên bề mặt da Vùng huyệt có số lượng khá cao các sợi thần kinh ngoại vi, động mạch, tĩnh mạch và mạch bạch huyết dưới da Các sợi thần kinh ngoại vi tạo thành mạng lưới quấn quanh mạch máu, có nhiều đầu mút thần kinh và các tế bào mast có hoạt tính sinh học cao

- Đặc điểm sinh học của huyệt

+ Về đặc điểm nhiệt độ da tại huyệt: Khi nghiên cứu nhiệt độ bằng máy

đo nhiệt độ da tại các huyệt châm cứu, Darras J.C đã thấy một số huyệt cao hơn và ngược lại một số huyệt thấp hơn so với vùng xung quanh huyệt và khi một bộ phận trong cơ thể bị viêm nhiễm sẽ có cảm ứng ra các huyệt của đường kinh tương ứng làm nhiệt độ da tại huyệt tăng cao hơn từ 10C đến 20C [15]

Nghiên cứu của Xu Y.X ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng cơ thể con người

có hiện tượng bức xạ hồng ngoại với cường độ khác nhau giữa các vùng da trong huyệt và ngoài huyệt Nhiệt độ da trong huyệt cao hơn so với ngoài huyệt Chuyển hóa năng lượng tại các huyệt trên cùng đường kinh cao hơn so với vùng ngoài huyệt và cao hơn so với các huyệt không cùng đường kinh [16] Nghiên cứu của Vũ Văn Lạp về đặc điểm huyệt Túc tam lý cho thấy nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý là 31,180C, cao hơn vùng xung quanh huyệt Sau 30 phút điện châm, nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý tăng cao hơn so với trước điện châm trong khi đó nhiệt độ da ngoài huyệt không có sự khác biệt ở hai thời điểm trước và sau điện châm [10]

Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm nhiệt độ tại 12 cặp huyệt Nguyên ở người trưởng thành thuộc các lứa tuổi 20-

25, 50-67 cho thấy tại 12 cặp huyệt Nguyên có nhiệt độ da cao hơn hẳn so với

Trang 8

vùng xung quanh, không có sự khác biệt về nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên giữa bên phải và bên trái cơ thể, nhưng có sư khác nhau giữa nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên ở các nhóm lứa tuổi, ở nhóm lứa tuổi 20-25 có nhiệt độ cao hơn so với ở nhóm lứa tuổi 50-67 [17]

Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy

có sự khác nhau về nhiệt độ giữa huyệt và vùng ngoài huyệt, giữa các huyệt trên cơ thể người khỏe mạnh bình thường Đối với cơ thể đang bị bệnh thì có

sự thay đổi nhiệt độ tại các huyệt hoặc các huyệt Nguyên liên quan đến tạng phủ bị bệnh [17], [18] Thông qua đo nhiệt độ của kinh lạc, huyệt vị có thể xác định sự mất cân bằng âm dương của kinh lạc, từ đó có thể phân tích nguyên nhân gây bệnh, đưa ra phương pháp điều trị

+ Về điện trở da và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt: Các nhà

khoa học cho rằng đặc điểm điện sinh lý của huyệt bao gồm điện trở da và cường độ dòng điện qua da vùng huyệt là hai thông số để phát hiện đặc điểm sinh học sớm nhất của huyệt và là phương tiện để có thể tìm hiểu cơ chế tác

dụng của châm cứu

Colbert A.P (2008) đã tiến hành ghi điện trở da tại nhiều huyệt cùng một lúc bằng thiết bị đa kênh tự động để nghiên cứu đặc điểm điện sinh lý tại huyệt Nội quan, Ngư tế và tại điểm ở giữa đường nối cổ tay và khuỷu tay của 8 tình nguyện viên lứa tuổi từ 27- 62 Kết quả nghiên cứu cho thấy điện trở da ở huyệt Nội quan và Ngư tế đều thấp hơn so với vị trí không phải huyệt ở gần đó [19] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Thái (1996) về ảnh hưởng của điện châm lên ngưỡng đau và một số đặc điểm của huyệt châm cứu đã nhận thấy dưới tác dụng của điện châm, nhiệt độ da ở đa số huyệt đều biến đổi theo xu hướng tăng, độ thông điện tại huyệt tăng còn điện trở da lại giảm xuống [20] Nghiên cứu của Phạm Hữu Lợi (2003) về một số đặc điểm sinh học tại huyệt Nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não Nhật Bản, đánh giá hiệu quả phục hồi vận động bằng điện châm của cho thấy nhiệt độ tại các huyệt Nguyên của trẻ viêm não Nhật Bản cao hơn so với trẻ bình thường Sau điều trị

Trang 9

bằng điện châm, thấy có sự tương ứng giữa mức độ phục hồi trên lâm sàng với sự trở về bình thường của nhiệt độ và cường độ dòng điện tại các huyệt Nguyên [18] Nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh (1994), Vũ Văn Lạp (1996), Hoàng Khánh Hằng (2001), Bùi Mỹ Hạnh (2003) đều cho thấy có sự khác biệt rõ ràng về điện trở và cường độ dòng điện vùng huyệt so với vùng da xung quanh Da vùng huyệt có điện trở thấp và cường độ dòng điện cao hơn da vùng xung quanh huyệt [7], [8], [9], [10] Phạm Thị Xuân Vân (1985) nghiên cứu đặc điểm các huyệt vùng bụng trên động vật thực nghiệm cũng cho thấy cường độ qua da vùng huyệt lớn hơn

và điện trở da vùng huyệt nhỏ hơn vùng ngoài huyệt [21]

1.1.2.3 Sự tương đồng về huyệt theo Y học cổ truyền với Y học hiện đại

Theo lý luận YHCT, huyệt là nơi thần khí ra vào lưu hành (ở phần biểu của cơ thể), có thể hiểu đó là nơi liên thông giữa cơ thể với ngoại môi, nơi cơ thể đáp ứng (xuất), tiếp nhận (nhập), lưu hành (làm việc không ngừng) [3], [4], [6]

Y học hiện đại cũng có một cơ quan như vậy, đó là hệ thống cơ quan cảm thụ

Hệ thống cơ quan cảm thụ gồm đầu mút thần kinh tự do, các tiểu thể, các tận cùng có và không có myelin ở chân lông có chức năng tiếp nhận cảm giác xúc giác (cảm giác sờ mó), cảm giác nóng lạnh, cảm giác đau, đáp ứng với cảm giác bản thể (cảm giác sâu), đáp ứng với các thay đổi của tạng phủ

Từ các phân tích trên nhận thấy hệ thống cơ quan cảm thụ có chức năng như hệ thống huyệt Các cơ quan cảm thụ xúc giác, nóng, lạnh, đau tương tự kinh huyệt (của mạch khí); các cơ quan cảm thụ đáp ứng cảm giác bản thể tương tự như huyệt hội ở cân, cốt, các tổ chức; các cơ quan cảm thụ đáp ứng thay đổi của tạng phủ tương tự hệ thống huyệt du, mộ tại tạng phủ, ngũ du, và nguyên huyệt, huyệt bát hội (tạng, phủ, mạch) nằm trên các đường kinh, thống huyệt ở cân cơ Hệ thống cơ quan cảm thụ có cấu trúc của nó, không phải là da, cân, xương nhưng nằm ở da, cơ, gân, xương (màng) Chỉ có dùng kính hiển vi mới thấy được các cấu trúc này Vì vậy, Y học cổ truyền chỉ có thể nói chúng không phải là da, gân, xương

Trang 10

Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt về hình thái cũng như đặc điểm chức năng giữa huyệt và cấu trúc da xung quanh huyệt và đưa đến nhận định

rằng huyệt là một vùng nhỏ trên cơ thể có sự tập trung các sợi thần kinh Huyệt có nhiệt độ cao hơn vùng da xung quanh và có cường độ dòng điện qua

da lớn hơn vùng lân cận, và điện trở nhỏ hơn vùng ngoài huyệt

1.1.2 Phương pháp châm và điện châm

1.1.2.1 Phương pháp châm

Châm là dùng kim châm vào huyệt để kích thích sự phản ứng của cơ thể nhằm gây được tác dụng điều khí, làm thông kinh mạch, tạo nên trạng thái cân bằng âm dương, nghĩa là phục hồi trạng thái sinh lý, loại trừ trạng thái bệnh lý, đưa cơ thể trở lại hoạt động bình thường để đạt được mục đích phòng bệnh và chữa bệnh [3], [4], [6], [22], [23], [24], [25]

Khi điều trị bệnh người thầy thuốc dựa trên trạng thái hư- thực của bệnh nhân, theo học thuyết kinh lạc, học thuyết ngũ hành mà sử dụng thủ pháp bổ- tả trong châm Bổ- tả là thủ thuật được áp dụng khi châm để nâng cao hiệu quả của châm sau khi châm đạt đắc khí

Bổ pháp được sử dụng trong điều trị những bệnh mà YHCT chẩn đoán

là hư, thường là những bệnh mắc đã lâu, cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm trong trường hợp công năng hoạt động của cơ thể bị giảm sút (gọi là chính khí hư) Tả pháp thường được sử dụng trong điều trị những bệnh mà YHCT chẩn đoán là thực, là tà khí thực và thường thấy ở bệnh mới mắc, cơ thể bệnh nhân còn khỏe, sức chống đỡ với bệnh còn mạnh Các thầy thuốc khi điều trị bệnh thường sử dụng thủ pháp bổ- tả theo các nguyên tắc hư thì bổ, thực thì tả, hư thì bổ mẹ, thực thì tả con Bổ tả có thể tiến hành theo các cách như bổ tả theo nhanh- chậm (châm kim chậm, rút kim nhanh là tả; châm kim nhanh, rút kim chậm là bổ), bổ tả theo nghịch- thuận (châm kim thuận theo hướng tuần hành của đường kinh là bổ; châm kim ngược theo hướng tuần hành của đường kinh

là tả), Bổ tả theo hướng vê kim (sau khi châm đã đắc khí, vê kim theo hướng

Trang 11

của chiều kim đồng hồ, vê nhẹ là bổ, vê kim ngược lại hướng của chiều kim đồng hồ, vê mạnh nhiều lần là tả) Ngoài ra còn có các loại thủ pháp bổ- tả khác như bổ tả theo thở ra- hít vào, nhấc lên- ấn xuống

1.1.2.2 Phương pháp điện châm

Điện châm là phương pháp dùng dòng điện tác động lên các huyệt qua các kim châm Điện châm là một phát triển mới của châm cứu và là phương pháp kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, phát huy được cả tác dụng

của dòng điện điều trị lẫn tác dụng của huyệt châm cứu [3], [22], [23], [24]

Ưu điểm của điện châm là rung kim đều kết hợp với tác dụng của dòng điện như không gây đau, tạo cảm giác dễ chịu, do vậy điện châm ra đời đã đáp ứng được mục đích điều khí của châm cứu nhanh mạnh lại không gây đau đớn và đã trở thành phương pháp chủ yếu trong châm cứu hiện nay

Dùng dòng điện kích thích lên huyệt châm cứu đã phối hợp tác dụng của hai phương pháp khác nhau để đạt được hiệu quả tốt hơn, cơ thể được tiếp thu hai loại kích thích, mỗi loại kích thích đem lại một số tác dụng nhất định Dùng dòng điện trong điều trị vật lý kích thích lên huyệt, ngoài tác dụng do huyệt được kích thích còn có cả tác dụng sinh bệnh lý do dòng điện gây nên Điện châm cũng sử dụng thủ pháp bổ- tả Khi vận dụng tả pháp hoặc bổ pháp trên thực tế lâm sàng, phải chú ý tới các thông số về tần số, cường độ của kích thích để lựa chọn cách thức bổ tả thích hợp

+ Tần số kích thích (tính bằng Hertz- Hz) là số xung động được tạo ra trong đơn vị thời gian tính bằng giây Thủ pháp tả sử dụng tần số kích thích cao (trên 5Hz), thủ pháp bổ sử dụng tần số kích thích thấp (1- 3 Hz)

+ Cường độ kích thích là biên độ xung (tính bằng microampe- μA) Biên độ xung nhỏ là kích thích yếu, biên độ xung lớn là kích thích mạnh Như vậy, xét về mục đích, bổ tả là sự điều chỉnh lượng kích thích ở huyệt sau khi châm đạt đắc khí Dù có nhiều cách thức bổ tả khác nhau nhưng mục đích chỉ có một, đó là điều khí hòa huyết, phù chính khu tà, lập lại thăng bằng âm dương, tiêu trừ bệnh tật

Trang 12

1.1.2.3 Cơ chế tác dụng giảm đau của châm theo Y học cổ truyền

Về nguyên nhân gây đau và làm cho hết đau, trong các y văn cổ đã ghi:

"Khí tổn thương thì đau”, “đau do khí huyết không lưu thông, khí huyết bị ứ trệ”, nghĩa là sự vận hành của “khí huyết” trong kinh mạch có trở ngại, không thông thì gây nên đau, do đó chữa bệnh cần “làm thông kinh mạch, điều hòa khí huyết” [3], [4], [5], [24], [25]

Sách Linh khu, thiên Quan năng [26] nhấn mạnh "người thầy thuốc khi châm cần rõ tác dụng điều khí Điều quan trọng trong châm là không được quên cái thần của nó" Thần nói ở đây chủ yếu là chỉ hoạt động tinh thần và ý thức, mà người xưa thường quy nó vào chức năng của Tâm Người xưa rất coi trọng tác dụng của "thần", sách Linh khu, thiên “Bản thần” và thiên “Châm giải” viết: “Phàm các phép châm, trước tiên phải dựa vào thần, thông qua việc chế ngự thần khí để vận hành lưu thông” nghĩa là để chữa bệnh, trị đau việc đầu tiên là phải trị thần, tức là làm cho người bệnh yên tâm, không lo lắng Khí và huyết có liên quan mật thiết với nhau "khí là soái của huyết, khí hành thì huyết hành, khí ngưng thì huyết trệ, huyết mạch hòa lợi thì tinh thần còn Huyết hòa thì kinh mạch lưu hành, nuôi dưỡng lại âm dương, làm khỏe gân xương, làm lợi quan tiết" Như vậy, đau có quan hệ mật thiết với khí- huyết - thần Châm có tác dụng thúc đẩy khả năng tự điều chỉnh của cơ thể đưa cơ thể trở về trạng thái hoạt động sinh lý bình thường và duy trì cho cơ thể luôn ở trạng thái bình thường đó Các thầy thuốc cổ đại đều nhấn mạnh châm phải gây được “đắc khí” mới đạt hiệu quả chữa bệnh Đắc khí là cảm giác kim bị mút chặt, cảm giác nặng chặt ở tay người châm và cảm giác tức, nặng trướng của người được châm Trong các sách cổ có viết “ Nếu thần khí đến, kim thấy chặt”, nói lên cảm giác căng nặng sinh ra lúc châm vào huyệt có quan hệ với hoạt động của “thần khí” [26] Trên lâm sàng, các thầy thuốc đã biết vận dụng tác dụng này của châm cứu theo nguyên tắc bệnh ở kinh cân thì “lấy nơi đau làm huyệt” gọi là A thị huyệt, Thiên ứng huyệt hay Thống điểm huyệt

Trang 13

Châm vào những huyệt đó sẽ làm cho kinh mạch lưu thông, khí huyết điều hòa sẽ đạt đến "thông tắc bất thống" có nghĩa là thông thì không đau

Tóm lại, theo lý luận y học cổ truyền, châm là dùng kim kích thích vào huyệt với mục đích điều khí, hoà huyết để duy trì sự hoạt động bình thường của cơ thể, tiêu trừ các hiện tượng mất thăng bằng Cơ sở của châm chính là kinh lạc và huyệt vị Tác động lên huyệt một lượng kích thích thích hợp ta có thể điều hòa được khí, khí hòa thì huyết hòa Khi huyết hòa, tuần hoàn của khí huyết trong kinh mạch thuận lợi, khí huyết lưu thông, lập lại thăng bằng âm dương, đưa cơ thể trở về trạng thái sinh lý bình thường

1.1.2.4 Cơ chế tác dụng giảm đau của châm theo Y học hiện đại

Cơ chế tác dụng của châm giảm đau đã được nghiên cứu từ những năm

70 của thế kỷ XX [27], [28] Ngày nay, theo đường lối kết hợp Đông- Tây y cùng với sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán thăm dò hiện đại, các

cơ chế chống đau của châm cứu ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và được chứng minh bằng các phương pháp

nghiên cứu có tính định lượng, khách quan, khoa học

Khi cơ thể có bệnh, những tổn thương tại các cơ quan là một kích thích tạo ra cung phản xạ bệnh lý [27] Châm hay cứu là một kích thích Nếu đủ mạnh sẽ ức chế cung phản xạ bệnh lý, có tác dụng giảm đau Khi nghiên cứu

về cơ chế giảm đau của châm, các tác giả đã tập trung vào một số thuyết như thuyết phản xạ thần kinh, thuyết thần kinh- thể dịch, trong đó thuyết thần kinh- thể dịch được nhắc đến nhiều hơn

- Thuyết "cổng kiểm soát" hay cơ chế tác dụng của châm qua con đường thần kinh: Đa số các tác giả nghiên cứu cơ chế giảm đau của châm đều ủng hộ

thuyết "Cổng kiểm soát" của Melzack R và Wall P.D [28] cũng như thuyết

"hai cửa" của Hsiang Tung C [29] Thuyết "Cổng kiểm soát" của Melzack R

và Wall P.D quan niệm rằng sừng sau tủy sống ví như cánh cửa có thể đóng

mở Cửa đóng khi có kích thích lên các thụ cảm thể ngoại biên với nguồn kích thích thấp khoảng 0,03 đến 0,04 V và kích thích đều đặn, nghĩa là tác động

Trang 14

lên những thụ cảm thể xúc giác và áp lực, đó là tận cùng của những sợi thần kinh Aβ có tốc độ cao Các xung thần kinh theo sợi Aβ vào tủy sống tạo ra một điện trường âm ở sừng sau làm ức chế dẫn truyền cảm giác đau (cửa đóng), không cho cảm giác đau đi tiếp nên cảm giác đau được giảm đi hoặc mất hẳn Cửa mở nếu các thụ cảm thể đau bị kích thích mạnh và các xung đau được dẫn truyền vào sừng sau bởi những sợi nhỏ Aδ, sợi C tạo ra điện trường dương giúp cho các xung đau đi vào dễ dàng và làm cho cảm giác đau tăng lên [28] Sau này Hsiang Tung C [29] đã đưa ra thuyết "hai cửa" chứng minh quá trình ngăn chặn cảm giác đau không chỉ xảy ra ở tủy sống mà còn xảy ra trong đồi thị và thể lưới thân não Các thí nghiệm kích thích thể lưới thân não đã chỉ ra rằng khi kích thích vào thể lưới thân não có thể loại trừ được các cảm giác đau được truyền về từ các thụ cảm thể ở nhiều vị trí khác nhau của cơ thể Thể lưới thân não nhận các xung động hướng tâm truyền vào theo các dây thần kinh sọ não, nhất là dây số V và dây X Những xung đau truyền theo các dây thần kinh sọ não có tác dụng hoạt hoá thể lưới thân não, kéo theo nó là sự

hoạt hóa các hệ thống chống đau trong não bộ

Nghiên cứu của Man P.L và Chen C.H [30] đã chứng minh rằng nơi chủ yếu ức chế các xung truyền cảm giác đau là đồi thị, khi kích thích dòng điện vào nhân bụng sau của đồi thị có tác dụng làm mất cảm giác đau khi có các tác nhân gây hại Các tác giả trên cho rằng khi điện châm các huyệt tạo ra những thay đổi tại huyệt và các xung thần kinh theo các sợi thần kinh có kích thước lớn Aα, Aδ vào đến các cấu trúc trong hệ thần kinh trung ương (tủy sống, thể lưới thân não, đồi thị), ở đây sẽ hình thành các cổng ngăn chặn các xung đau từ ngoại vi truyền vào không cho chúng đến vỏ não

- Thuyết phản xạ thần kinh thực vật: Thuyết này chú ý đến vai trò của các

phản xạ thần kinh thực vật và đánh giá cao ý nghĩa của các phản xạ do các yếu tố lý hóa tác động lên bề mặt da Sherback A.E xem da như tấm màn hai mặt trong và ngoài, cả hai mặt đều có các thụ cảm thể và các đám rối thần kinh, mạch máu, đặc biệt có rất nhiều tận cùng của hệ thần kinh thực vật Do

Trang 15

vậy khi tác động lên bề mặt da và các điểm có hoạt tính sinh học cao (huyệt)

sẽ gây được các biến đổi trong các trung khu thần kinh thực vật, do đó điều chỉnh được cảm giác đau, làm giảm đau (theo [31]

- Thuyết thần kinh- thể dịch: Những nghiên cứu từ năm 1976 cho thấy cơ

chế giảm đau của châm là kích thích hệ chống đau tự nhiên của cơ thể qua việc giải phóng các chất giảm đau nội sinh Các chất tham gia vào cơ chế chống đau gồm morphin nội sinh (endorphin, enkephalin), serotonin và catecholamin [32]

* Endorphin: Có 3 loại endorphin là α, β,γ, nhưng chất có hoạt tính mạnh nhất là β-endorphin Endorphin được hình thành từ một tiền chất β-lipotropin, đây là một peptit có phân tử lớn và được sản xuất nhiều ở tuyến yên, vùng dưới đồi và vùng não thất Các nơ ron bài tiết endorphin thường nằm trải dài suốt từ vùng nhân cung của vùng dưới đồi cho tới vùng quanh não thất Chỉ ở nhân cung endorphin được hình thành ở thân nơ ron, còn các vùng khác nó được hình thành

ở sợi trục Những sợi trục này chủ yếu đi đến vùng chất xám quanh cống, đồi thị Endorphin có tác dụng giảm đau, làm dịu đau và ức chế hô hấp

* Serotonin: được tổng hợp từ một acid amin là tryptophan Nó được

bài tiết ở các tận cùng thần kinh của các nơ ron bắt nguồn từ nhân Raphé và tận cùng ở sừng sau tủy sống Tác dụng của Serotonin là kích thích các nơ ron tại tủy sống bài tiết enkephalin và gây ra ức chế trước synap trong đường dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại biên về trung ương Nó có tác dụng ức chế cả sợi C và sợi Aδ ở sừng sau tủy sống đồng thời tạo trạng thái thức tỉnh

Như vậy, hệ thống giảm đau có thể ngăn cản sự dẫn truyền tín hiệu đau ở các chặng trong đường dẫn truyền cảm giác đau ngay từ thụ thể đau, nơi tín hiệu đau vừa được dẫn truyền đến tủy sống hay ở các nhân của thể lưới thân não và nhân lá trong đồi thị Điều quan trọng nhất là hệ thống giảm đau có khả năng ức chế cả hai loại cảm giác đau nhói (đau nhanh) và đau rát (đau chậm)

* Acetylcholin và catecholamin: Acetylcholin thuộc hệ cholinergic và

catecholamin thuộc hệ adrenergic Cơ chế chống đau của các chất này đã

Trang 16

được xác nhận Các tác giả Việt Nam nghiên cứu về tác dụng của điện châm trên động vật thực nghiệm cũng như trên bệnh nhân mổ bướu cổ, phẫu thuật xoang sàng hàm cũng cho thấy có sự tăng rõ hai chất này [31], [33]

1.1.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của châm các huyệt lên chức năng các cơ quan trong cơ thể

Phương pháp điều trị bằng châm cứu cho đến nay đã được Tổ chức Y tế thế giới công nhận và khuyến cáo sử dụng ở nhiều nước trên thế giới để điều trị trên 100 chứng bệnh khác nhau [34] Có được sự ghi nhận đó là do châm cứu đã thực sự có tác dụng trên lâm sàng Những tác dụng của châm cứu đã được đề cập trong y văn cổ ngày nay đang tiếp tục được nghiên cứu chứng minh dưới ánh sáng của Y học hiện đại Một trong những con đường đưa đến

sự hiểu biết về cơ chế tác dụng của châm cứu là tìm hiểu những biến đổi về chức năng của các cơ quan trong cơ thể dưới ảnh hưởng kích thích các huyệt

1.1.3.1 Ảnh hưởng của châm lên hệ tuần hoàn

- Tác động lên tim mạch: Nghiên cứu của Lujian H.L và cộng sự (2007) cho

thấy điện châm các huyệt Nội Quan và Giản sử có tác dụng làm ổn định nhịp nhanh thất trên chuột được tái tưới máu sau một thời gian ngắn thiếu máu cơ tim cục bộ [35] TheoTakayama S và cộng sự (2010) châm huyệt Thái xung không làm thay đổi nhịp tim nhưng làm giảm lưu lượng máu ngoại vi trong khi châm và làm tăng trở lại mức chỉ số ban đầu sau khi kết thúc châm 180 giây [36] Nghiên cứu của Hoàng Khánh Hằng (2001) cho thấy điện châm huyệt Hợp cốc có tác dụng kéo dài khoảng QT và TP trên điện tim nhưng không làm thay đổi thời gian và biên độ các sóng P, khoảng PR, phức bộ QRS, sóng T [8]

- Tác động lên huyết áp: Theo Jones A.Y (2011) kích thích huyệt Nội quan có

tác dụng ổn định huyết áp khi thay đổi tư thế [37] Nghiên cứu của Sahmeddini M.A (2012) cho thấy điện châm các huyệt Nội quan, Giản sử có tác dụng giữ

ổn định huyết áp, nhịp tim và áp lực tĩnh mạch trung tâm của bệnh nhân trong suốt quá trình phẫu thuật, tương đương với dùng thuốc norepinephrine [38]

Trang 17

- Tác động lên các thành phần hữu hình trong máu: Nghiên cứu của

Rivas-Vilchis J.F và cộng sự (2009) cho thấy châm huyệt Đại chùy (GV14) có tác dụng làm tăng số lượng bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu đa nhân trong máu [39],

Ye F (2007) thấy điện châm làm tăng số lượng bạch cầu, làm giảm mức độ ảnh hưởng của miễn dịch gây ra bởi hóa chất ở bệnh nhân ung thư đang hóa trị [40] Theo Jong M.S (2006) điện châm các huyệt Thủ tam lý và Khúc trì

có thể điều chỉnh tế bào lympho máu ngoại vi làm giảm dòng tế bào CD4 và CD8 và tăng cytokine huyết thanh của hệ thống miễn dịch [41]

1.1.3.2 Ảnh hưởng của châm lên hệ hô hấp

Nghiên cứu của Tai S (2006) cho thấy điện châm các huyệt Trung phủ, Thiên đột làm giảm chất nhầy trên bề mặt khí quản, cải thiện lưu thông không khí trong lòng khí quản ở chim gây mô hình viêm đường hô hấp tắc nghẽn [42] Theo Han J (2012) điện châm huyệt Ngư tế làm giảm triệu chứng các đợt cấp của bệnh hen phế quản và đạt hiệu quả cao nhất trong thời gian 30 phút lưu kim, tương đương với hiệu quả của salbutamol [43], theo Medici T.C (2002) châm có hiệu quả trong điều trị hen phế quản mức độ nhẹ và trung bình [44]

1.1.3.3 Ảnh hưởng của châm lên hệ tiêu hóa

Wang C và cộng sự (2007) thấy điện châm huyệt Nội quan làm giảm đáng kể tình trạng trướng bụng ở mèo [45] Theo nghiên cứu của Ma X.P (2009) điện châm huyệt Thiên khu và Thượng cự hư làm giảm số lượng tế bào mast ở niêm mạc ruột, giảm lượng chất P và corticotropin ở vùng dưới đồi của chuột bị gây mô hình thực nghiệm hội chứng ruột kích thích [46] Các nghiên cứu trên người cho thấy điện châm huyệt Túc tam lý (S36) có tác dụng điều chỉnh các rối loạn nhu động ruột ở người mắc chứng ruột kích thích [47] Điện châm huyệt Kiên tỉnh có tác dụng làm giảm các triệu chứng ở bệnh nhân viêm túi mật và điều chỉnh khối lượng túi mật ở bệnh nhân viêm túi mật mạn tính [48] Nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh, Vũ Văn Lạp khi điện châm các huyệt Túc tam lý, Hợp cốc và Nội quan thấy có tác dụng làm tăng nhu động ruột, tăng khả năng hấp thụ glucose ở ruột các động vật thực nghiệm [9], [10]

Trang 18

1.1.3.4 Ảnh hưởng của châm lên hệ thần kinh và thần kinh thể dịch

Trong các công trình nghiên cứu về tác động của châm lên hệ thần kinh trung ương nhiều tác giả đều có nhận định: Châm tác động lên chức năng của

hệ thần kinh trung ương qua nhiều con đường trực tiếp và gián tiếp, đó chính

là một trong những cơ chế chính tạo ra tác dụng của châm đối với cơ thể Kim M.S và cộng sự (2008) cho thấy châm huyệt Nội quan làm tăng tần số và biên độ các sóng trên điện não đồ, làm tăng nhịp tim trên điện tâm đồ [49] Theo Streitberger K và cộng sự (2008) điện châm huyệt Hợp cốc làm tăng tần số sóng alpha trên điện não đồ của vùng chẩm Mối quan hệ tuyến tính giữa các thông số nhịp tim và tần số, biên độ của sóng alpha trên điện não đồ chứng tỏ tác dụng của điện châm trong điều hòa chức năng của não thông qua tác động hoạt hóa hệ thần kinh thực vật [50] Nghiên cứu của Bùi Mỹ Hạnh (2003) cho thấy chỉ số và biên độ sóng alpha ở vùng chẩm tăng rõ rệt sau 3 phút và sau 8 ngày điện châm huyệt Nội quan ở người bình thường khoẻ mạnh [7] Isoyama D và cs (2012) châm huyệt Nội quan, Thần môn, Đản trung, Bách hội điều trị giảm lo âu ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm cho thấy châm có thể làm giảm triệu chứng lo âu, căng thẳng, từ đó làm tăng khả năng thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm [51] Đa số các tác giả nhận định rằng kích thích các huyệt có thể làm tăng ngưỡng đau Tác dụng này liên quan tới hệ thần kinh và hệ thống giảm đau nội sinh

Han J.Y và cs (2011) thấy châm các huyệt Túc tam lý, Trung quản và Nội quan có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa và làm lành các tổn thương niêm mạc dạ dày, cải thiện chức năng tiêu hóa thông qua cơ chế tăng hàm lượng beta-endorphin trong huyết tương và vùng dưới đồi theo trục não-ruột [52] Theo Song X.L.(2010) châm huyệt Tam âm giao làm giảm đau bụng kinh do làm tăng hàm lượng β- endorphin, là chất có tác dụng giảm đau mạnh [53], Lee H.J và cs (2010) châm huyệt Túc tam lý làm giảm hàm lượng chất

P ở sừng sau tủy sống, hàm lượng β- endorphin tăng 51,47% trong máu và 12,6% trong não chuột [54] Takeshige C và cs (1991) cho rằng châm gây

Trang 19

tăng tiết β- endorphin, chất đóng vai trò ức chế trước synap trong cơ chế giảm đau do châm Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, các tác giả cho rằng chuột bị cắt tuyến thượng thận sẽ làm nồng độ Na+ trong máu giảm, đó chính là lý do làm mất tác dụng giảm đau do châm [55] Wang Y (1992) thấy điện châm làm tăng hàm lượng leucin-enkephalin và dopamin ở cả thân não và gian não Tiêm morphin vào chất xám cạnh thất có thể hoạt hóa được đường ly tâm của

hệ serotoninergic để tạo ra tác dụng giảm đau ở tủy sống [56]

Như vậy, từ kết quả nghiên cứu các tác giả đều có nhận định rằng endorphin và enkephalin là chất trung gian hóa học quan trọng tham gia vào

β-cơ chế giảm đau khi châm [54], [57]

1.1.3.5 Ảnh hưởng của châm lên hệ nội tiết, sinh dục

Cakmak Y.O và cs cho thấy điện châm huyệt Quy lai làm tăng lưu lượng máu đến tinh hoàn [58] Còn Zhaohui Z và cs; Mo X và cs đã đưa ra kết luận rằng châm các huyệt Can du, Thận du, Quan nguyên, Tam âm giao làm bình ổn nồng độ hormon FSH, LH, oestrogen, progesteron, kích thích quá trình rụng trứng [59], [60] Từ kết quả nghiên cứu trên, các tác giả nhận định rằng châm là phương pháp an toàn trong điều trị vô sinh do có tác dụng điều chỉnh chức năng sinh lý và ít tác dụng phụ nên khả năng mang thai dễ dàng hơn

1.1.3.6 Tác dụng của châm lên phòng chống stress

Để tìm hiểu tác dụng của châm trong việc chống stress, nhiều tác giả đã tiến hành điện châm trên động vật gây mô hình thực nghiệm Kết quả cho thấy điện châm có vai trò chống strees thông qua việc ức chế sự tăng hàm lượng corticosterone và adrenocorticotropin hormone (ACTH) [61], [62], [63]

Nghiên cứu cơ sở khoa học của điện châm trong điều trị một số chứng đau của Nghiêm Hữu Thành cho thấy điện châm làm tăng hàm lượng cortisol, adrenalin và noradrenalin trong máu của bệnh nhân đau do viêm loét dạ dày tá tràng, đau do ung thư vòm họng Đây là các hormon có tác dụng ổn định huyết áp và giảm đau Kết quả này một lần nữa cho thấy mối liên hệ giữa cơ chế tác dụng của châm đối với hệ thần kinh- nội tiết trong cơ thể [64]

Trang 20

1.1.3.7 Ảnh hưởng của châm lên hệ miễn dịch

Yamaguchi N (2007) châm các huyệt Can du, Tỳ du, Thận du, Túc tam lý

ở người khỏe mạnh cho thấy châm gây ảnh hưởng đến sự trưởng thành chức năng các tế bào miễn dịch trong máu thể hiện bằng sự xuất hiện của các chất liên quan tới hoạt động của đại thực bào, miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào như cytokine IL-1β, IL-4 và IFN-γ [65] Liu J.M và cs (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của điện châm huyệt Quan nguyên và Túc tam lý lên chức năng miễn dịch tế bào lympho T ở chuột được gây mô hình lão hóa cho thấy điện châm có tác dụng tăng sinh tế bào có khả năng chống lão hóa như lympho T, IL-2/IL-2R, CD8 + CD 28, [66] Theo Li H và cs (2009) điện châm huyệt Mệnh môn, Đại chùy làm tăng các chất có tác dụng chống viêm như lympho B, lympho T, IL-2 và TNF-alpha [67]

Có thể nói vai trò của châm cứu trong điều hòa đáp ứng miễn dịch là kết quả của chuỗi phản ứng hóa học của hệ thần kinh- nội tiết- miễn dịch

1.2 HUYỆT THẬN DU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HUYỆT THẬN

DU TRONG ĐIỀU TRỊ

1.2.1 Vị trí, liên quan giải phẫu và tác dụng của huyệt Thận du

Thận du là huyệt thứ 23 của kinh Túc Thái dương bàng quang có ký hiệu quốc tế là UB23, là du huyệt ở lưng của tạng thận (bối du) Huyệt tương ứng với tạng thận ở bên trong, là nơi dương khí tỏa ra, là du huyệt quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh của tạng thận [3], [6], [22], [23], [24], [26] Huyệt Thận du nằm dưới mỏm gai sau đốt sống thắt lưng thứ 2 (L2), từ đường giữa cột sống đo ngang ra mỗi bên 1,5 thốn Dưới huyệt là cân ngực- thắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau dưới, cơ lưng dài, cơ ngang gai, cơ gian mỏm ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái chậu Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L1 hoặc L2 Thần kinh vận động cơ là nhánh của đốt sống thắt lưng 2, nhánh của đám rối thắt lưng

Thận du có tác dụng bổ thận, mạnh lưng xương, khu thủy thấp, ích thủy tráng hỏa, minh mục, thông nhĩ, điều hòa thận khí Châm huyệt Thận du có thể điều trị đau tại chỗ hoặc bệnh thuộc thận

Trang 21

1.2.2 Ứng dụng huyệt Thận du trong thực tiễn lâm sàng

Theo các y văn cổ, huyệt Thận du thường được phối hợp với các huyệt khác trong điều trị các chứng bệnh sau:

- Chứng đau lưng

+ Phối hợp với các huyệt Côn Lôn, Ủy Trung trị lưng đau do huyết ứ + Phối hợp với các huyệt Mệnh môn, Tích trung, Trung lữ du, Yêu du trị lưng đau do chấn thương

+ Phối hợp với các huyệt Thứ liêu, Ủy trung, Yêu dương quan trị lưng đau do lạnh

- Bệnh hệ tiết niệu, nội tiết, sinh dục

+ Phối hợp với các huyệt Bàng quang du, Đại đôn, Tam âm giao,Trung cực trị tiểu nhiều, tiểu không tự chủ

+ Phối hợp với các huyệt Quan nguyên, Tam âm giao, Tâm du trị di tinh, bạch đới

+ Phối hợp với các huyệt Quan nguyên, Tam âm giao, Trung cực trị tảo tiết + Phối hợp với các huyệt Khí hải, Tam âm giao, Trung cực trị kinh nguyệt không đều

- Bệnh ngũ quan, chuyển hóa

+ Phối hợp với các huyệt Thiên lịch, Thính hội trị Thận hư, giảm thính lực + Phối hợp với các huyệt Ế phong, Thái khê, Thính hội trị tai ù do hư + Phối hợp với các huyệt Hòa liêu, Khế mạch, Thừa quang, Toản trúc,

Ty trúc không trị đau đầu

+ Phối hợp với các huyệt Tam âm giao, Chương môn, Thái xung, Thái khê, Bách hội, Thượng tinh, Nội quan, Thần môn, An miên trị mất ngủ

Như vậy, trên lâm sàng các nhà châm cứu thường phối hợp Thận du với các huyệt khác trong điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau, đặc biệt là các chứng bệnh liên quan đến chức năng của tạng thận, trong đó có chứng yêu thống Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc

Trang 22

điểm sinh học của huyệt Thận du và chứng minh hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng theo thể bệnh thận hư của Y học cổ truyền dựa trên các bằng chứng khoa học khách quan, sử dụng các xét nghiệm của Y học hiện đại Vì vậy nghiên cứu đặc điểm sinh học của huyệt Thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng theo thể bệnh thận hư là việc làm cần thiết để làm rõ hiệu quả của điện châm trong điều trị các thể lâm sàng của đau thắt lưng, một chứng bệnh phổ biến trong xã hội hiện đại

1.2.3 Các nghiên cứu sử dụng huyệt Thận du trong điều trị đau thắt lưng

Thận du là bối du huyệt của tạng thận, là nơi dương khí của tạng thận toả ra ở vùng lưng Theo lý luận YHCT, thận thuộc thủy, tàng tinh tiên thiên

và hậu thiên, là chủ của mệnh môn hoả nên Thận là tạng của thủy hoả Thận tàng tinh chủ việc sinh dục, là gốc của tiên thiên, là rễ của sự sinh trưởng phát dục Thận tinh sinh thận khí, thận khí thịnh thì khoẻ, thận khí suy thì bệnh Vì thận tàng tinh, chủ hỏa nên bệnh của thận là bệnh hư Thận tàng tinh mà tinh lại sinh tuỷ, tuỷ ở trong xương để nuôi dưỡng xương cốt, tủy tạo huyết cho nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ Chức năng của thận tốt được biểu hiện ở xương cốt vững chắc, vận động tốt Lưng là phủ của thận, trong hệ kinh lạc, vùng lưng có liên quan với kinh Túc Thái dương Bàng quang và mạch Đốc Như vậy, đau thắt lưng có liên quan đến tạng Thận và sự vận hành khí huyết trong các kinh Túc Thái dương Bàng quang, mạch Đốc

Thận du là huyệt bối du của thận nên trên lâm sàng huyệt Thận du thường được lựa chọn phối hợp với các huyệt khác trong điều trị các bệnh lý liên quan đến chức năng của tạng thận, đặc biệt là chứng Yêu thống

Năm 2011, Molsberger A.F và cs tại Anh và Đức đã tổng hợp kết quả khảo sát đánh giá của chuyên gia quốc tế (IES) về châm cứu trong các thử nghiệm ngẫu nhiên đối với bệnh đau thắt lưng và phác đồ điều trị đau thắt lưng trên hai mươi lăm kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trong điều trị đau thắt lưng Kết quả khảo sát cho thấy các huyệt thường được

sử dụng trong điều trị là Thận du, Đại trường du, Uỷ trung [68]

Trang 23

Nghiên cứu của Cabioglu M.T ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2008 cho thấy sự thay đổi trong các cơ quan nội tạng gây ra dưới tác dụng của châm cứu có thể được giải thích thông qua cơ chế hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm Châm huyệt Du ở lưng có hiệu quả đặc biệt trong điều trị các bệnh của các cơ quan nội tạng [69]

Ở Việt Nam, theo tìm hiểu của chúng tôi chưa thấy có báo cáo khoa học nào thống kê về tần suất sử dụng một số huyệt đặc hiệu (Phong trì, Nội quan, Hợp cốc, Tam âm giao, Túc tam lý ) trong các phác đồ điều trị Tuy nhiên trên thực tế lâm sàng, huyệt Thận du đã được nghiên cứu phối hợp sử dụng với các huyệt khác trong điều trị một số chứng bệnh, đặc biệt là chứng đau thắt lưng đem lại kết quả rất khả quan

Năm 2001, Lưu Thị Hiệp đã tiến hành nghiên cứu tác dụng giảm đau

do thoái hoá cột sống thắt lưng của nhóm công thức huyệt Giáp tích, Thận du, Đại trường du cho thấy, triệu chứng đau giảm từ từ sau 10 ngày điều trị [70]

Kiên Chính và cộng sự (2011) đã nghiên cứu điều trị đau lưng do thoái hóa cột sống bằng phương pháp điện mãng châm các huyệt Thận du, Giáp tích cho thấy điện mãng châm có hiệu quả cao trong điều trị đau lưng với kết quả tốt chiếm 60%, khá là 40% [71]

Ở Mỹ năm 2003, Meng C.F và cộng sự tại khoa khớp, Bệnh viện phẫu thuật khớp New York đã sử dụng phác đồ điện châm gồm các huyệt Thận du, Khí hải du, Đại trường du, Bàng quang du, Yêu dương quan và Mệnh môn với tần số kích thích từ 4-6 Hz với thời gian kích thích trong 20 phút, hai lần một tuần trong 5 tuần để nghiên cứu xác định hiệu quả và tính an toàn của châm cứu trong điều trị chứng đau lưng mạn tính ở bệnh nhân cao tuổi, so sánh với nhóm kiểm soát được điều trị bằng thuốc giảm đau NSAID, giãn cơ, paracetamol kết hợp tập thể dục trị liệu hoặc vật lý trị liệu Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số khuyết tật (RDQ) ở nhóm điện châm giảm nhiều hơn và kéo dài ít nhất 4 tuần sau khi ngừng điều trị châm cứu so với nhóm dùng thuốc, sự cải thiện về lâm sàng này có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và châm

Trang 24

cứu ít có liên quan đến tác dụng phụ so với nhóm dùng thuốc (chỉ với mức độ đau ít khi châm kim qua da và vết tụ máu trên một vài bệnh nhân) so với nguy

cơ chảy máu đường tiêu hóa, gây độc với thận, tim mạch, hệ thần kinh trung ương do NSAID gây ra hoặc tăng nguy cơ ngã khi sử dụng các thuốc giảm đau giãn cơ, gây ngủ [72]

Zaringhalam J và cộng sự tại Đại học Y khoa Tehran, Iran (2011) đã

sử dụng phác đồ gồm các huyệt Thận du, Đại trường du, Bàng quang du, Thứ liêu, Côn Lôn, Hoàn khiêu và Dương lăng tuyền để nghiên cứu so sánh tác dụng điều trị của phương pháp châm cứu, dùng thuốc (baclofen) và phương pháp kết hợp châm cứu với dùng thuốc (baclofen) trong điều trị đau thắt lưng mạn tính ở nam giới Các tác giả đã đưa ra kết luận rằng điều trị kết hợp điện châm với baclofen cho hiệu quả hơn baclofen điều trị đơn thuần để giảm đau trong điều trị đau thắt lưng mạn tính [73]

Phác đồ điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng của Ngô Châu Hồng ở Trung Quốc (2003) gồm các huyệt Thận du, Đại trường du, so sánh với nhóm được điều trị bằng thuốc chống thoái hóa trong thời gian một tháng cho thấy hiệu quả điều trị của nhóm châm cứu là 93,3% cao hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng thuốc chống thoái hóa là 66,7% (với p<0,05) [74]

Dương Trường Lâm (2002) đã báo cáo kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng trong đó châm cứu được kết hợp thuốc uống hỗ trợ để điều trị chứng đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống thắt lưng Về châm cứu, tác giả đã sử dụng nhóm huyệt Thận du, Khí hải du, Trật biên, Hoàn khiêu, Phong thị, Ủy trung, Thừa sơn, Phi dương, Côn lôn Kết quả thu được rất khả quan, các triệu chứng được cải thiện một cách rõ rệt [75]

Để đánh giá hiệu quả ôn châm trong điều trị thoái hóa cột sống thắt lưng, Dương Linh và cộng sự (2007) đã tiến hành nghiên cứu trên 80 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: nhóm sử dụng phương pháp ôn châm và nhóm châm thông thường Kết quả cho thấy hiệu quả điều trị của phương pháp ôn châm cao hơn có ý nghĩa so với phương pháp châm cứu thông thường [76]

Trang 25

Như vậy, qua báo cáo của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho thấy huyệt Thận du đã được sử dụng trong hầu hết các phác đồ điều trị chứng đau thắt lưng do nhiều nguyên nhân, cho kết quả điều trị rất thuyết phục trên lâm sàng và cũng khẳng định châm là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả

1.3 CHỨNG ĐAU THẮT LƯNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG THEO

Y HỌC HIỆN ĐẠI VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN

1.3.1 Sơ lược cấu trúc giải phẫu chức năng vùng thắt lưng

Đoạn thắt lưng gồm 5 đốt sống, 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn (hình 1.1), CSTL hơi cong về phía trước và di động một chiều [1], [2], [77]

Hình 1.1 Các đốt sống thắt lưng [78]

Khớp đốt sống là khớp thực thụ, có diện khớp là sụn, bao hoạt dịch, hoạt dịch và bao khớp Cơ vận động cột sống gồm hai nhóm chính là nhóm cơ cạnh cột sống và nhóm cơ thành bụng Các dây chằng bao gồm dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng bao khớp, dây chằng vàng, dây chằng

Trang 26

trên gai và dây chằng liên gai giúp cho cột sống vững vàng, đồng thời hạn chế những vận động quá mức của cột sống Lỗ liên đốt sống (lỗ ghép) được tạo bởi khuyết dưới của đốt sống trên và khuyết trên của đốt sống dưới, cho các dây thần kinh sống đi từ ống sống ra ngoài Các đốt sống thắt lưng có nhiệm

vụ bao bọc tủy sống và liên quan trực tiếp với tủy sống, đuôi ngựa, các rễ thần kinh Khi ống sống thắt lưng bị hẹp thì chỉ cần một thay đổi nhỏ chu vi phía sau đĩa đệm (cột sống bị thoái hóa hay lồi đĩa đệm nhẹ) cũng có thể dẫn đến chèn ép rễ thần kinh gây đau Ở phần sâu của vùng thắt lưng là các chuỗi hạch thần kinh giao cảm, động mạch và tĩnh mạch chủ bụng Các tạng trong ổ bụng

và vùng tiểu khung cũng có những quan hệ về thần kinh với vùng thắt lưng Như vậy, cột sống thắt lưng là đoạn cột sống có biên độ hoạt động rất lớn với các động tác cúi, ngửa, nghiêng, quay với các biên độ rộng, là nơi chịu tải 80% trọng lượng cơ thể nên cấu tạo thân đốt sống cứng và đĩa đệm có kích thước lớn hơn các vùng khác nhất là đốt sống thắt lưng 4 và 5 Cấu tạo các cơ, dây chằng khỏe, đĩa đệm và bao khớp đàn hồi đảm bảo chức năng nâng đỡ, giữ cho cơ thể ở tư thế đứng thẳng Những đặc tính cấu tạo giải phẫu

và các mối liên quan của vùng thắt lưng có thể thấy tất cả những biến đổi gây tác động về mặt giải phẫu sinh lý, chức năng của cột sống thắt lưng đều có thể

là các nguyên nhân gây đau thắt lưng

1.3.2 Đau thắt lưng do thoái hóa cột sống theo Y học hiện đại

1.3.2.1 Đau thắt lưng và phân loại đau thắt lưng

- Đau thắt lưng là hội chứng thể hiện bằng hiện tượng đau ở vùng được giới

hạn từ ngang đốt sống thắt lưng 1 (L1) ở phía trên và ngang đĩa đệm đốt sống thắt lưng 5 (L5) và cùng 1 (S1) ở phía dưới; bao gồm da, tổ chức dưới da, cơ, xương và các bộ phận ở sâu Đau có thể kèm theo biến dạng, hạn chế vận động hoặc không Đau có thể do rất nhiều nguyên nhân gây nên đòi hỏi phải xác định nguyên nhân thì điều trị mới có kết quả [1], [77], [79], [80] Trong

Trang 27

bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ X, đau thắt lưng được xếp vào mục các bệnh lý khác của cột sống, có mã bệnh quốc tế là M54.5 [81]

- Phân loại đau thắt lưng: ĐTL là hội chứng của nhiều bệnh, thuộc nhiều

chuyên khoa khác nhau, vì vậy việc phân loại còn chưa thống nhất, có cách phân loại dựa theo thời gian đau, có cách phân loại dựa theo nguyên nhân, có cách phân loại dựa vào đặc điểm lâm sàng Hiện nay, trên lâm sàng hay sử

dụng phân loại theo phương pháp Mooney (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Phân loại đau thắt lưng của Mooney [82]

1.1 Đau thắt lưng dưới 7 ngày, không lan 1.2 Đau thắt lưng dưới 7 ngày, lan xuống đùi

1 Cấp tính

1.3 Đau thắt lưng dưới 7 ngày, lan xuống chân 2.1 Đau thắt lưng từ 7 ngày - 3 tháng, không lan 2.2 Đau thắt lưng từ 7 ngày - 3 tháng, lan xuống đùi

3.3 Đau thắt lưng trên 3 tháng, lan xuống chân

1.3.2.2 Cơ chế bệnh sinh của ĐTL do thoái hóa cột sống

- Thoái hóa khớp là tổn thương của toàn bộ khớp bao gồm tổn thương sụn là

chủ yếu, kèm theo tổn thương xương dưới sụn, dây chằng, các cơ cạnh khớp và màng hoạt dịch Đó là một bệnh đặc trưng bởi các rối loạn về cấu trúc và chức năng của một hoặc nhiều khớp Tổn thương diễn biến chậm tại sụn kèm theo các biến đổi hình thái, biểu hiện bởi hiện tượng hẹp khe khớp, tân tạo xương

(gai xương) và xơ xương dưới sụn Trong thoái hóa khớp có sự tham gia của

các cytokin tiền viêm (Interleukin-1β, yếu tố hoại tử u TNF-α) ngoài ra còn có vai trò của các gốc tự do nitric axit (NO) tham gia vào quá trình dị hóa sụn khớp Các yếu tố này làm thay đổi sinh hóa học và cơ học của sụn khớp và mô

Trang 28

xương dưới sụn Chất cơ bản (proteoglycan) mất dần, thoái hóa lưới collagen, kích hoạt enzym tiêu protein (metalloprotease) làm cho bề mặt sụn khớp bị

mỏng dần, xơ hóa, biểu hiện lâm sàng là đau và hạn chế vận động khớp [83]

- Thoái hóa cột sống (THCS) bao gồm thoái hóa thân đốt sống, thoái hóa

xương sụn đốt sống và thoái hóa đĩa đệm cột sống Thoái hóa thân đốt sống là biểu hiện của các biến đổi thoái hóa mạn tính các thành phần của xương và các dây chằng cột sống Hậu quả của thoái hoá đốt sống dẫn đến hẹp lỗ ghép (do mọc gai xương, phì đại mỏm khớp, hẹp đĩa đệm); trượt thân đốt (do mỏm khớp thoái hoá nặng, dây chằng lỏng lẻo, hở eo) và hẹp ống sống Thoái hóa xương sụn đốt sống là hậu quả của thoái hoá đĩa đệm và phản ứng của các tổ chức kế cận (dày mâm sụn, co cứng cơ cạnh sống, đau rễ thần kinh), biến đổi tăng dần theo lứa tuổi gây nên xơ hóa kéo theo calci hóa dẫn tới viêm khớp thoái hóa, viêm khớp, phì đại Thoái hóa đĩa đệm bắt đầu là thoái hóa nhân nhầy, nứt rách vòng sợi dẫn đến xẹp, lồi đĩa đệm rồi xơ hóa, đóng vôi đĩa đệm

và sau đó là hư khớp đốt sống (bong các dây chằng bám ở mép đốt sống, tạo nên các gai xương) hoặc thoát vị đĩa đệm biểu hiện trên lâm sàng với các triệu

chứng đau thắt lưng từ nhẹ đến nặng và có thể kèm theo đau thần kinh tọa

Thoái hóa cột sống là hậu quả do nhiều nguyên nhân gây nên mà chủ yếu là sự lão hóa của tế bào và tổ chức (THCS nguyên phát), và một số yếu tố thúc đẩy quá trình này nhanh hơn và nặng thêm (THCS thứ phát)

THCS nguyên phát là thoái hoá sinh lý tự nhiên theo lứa tuổi, là nguyên nhân chính gây THCS Theo quy luật tự nhiên cùng với thời gian các

tế bào sụn cột sống với thời gian tích tuổi lâu dần sẽ già, khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi collagen và mucopolysacarit giảm sút và rối loạn, chất lượng sụn kém dần, tính chất đàn hồi và chịu lực của sụn sẽ giảm, hơn nữa tế bào sụn ở người trưởng thành không có khả năng sinh sản và tái tạo THCS thường xuất hiện muộn, thường ở người trên 60 tuổi, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi, mức độ không nặng THCS thứ phát là thoái hoá bệnh lý mắc phải

Trang 29

phần lớn do các nguyên nhân cơ giới, gặp ở mọi lứa tuổi, mức độ nặng và tiến triển nhanh do tình trạng chịu áp lực quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thương sụn khớp, phần xương dưới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, dây chằng bao khớp xơ cứng tạo nên những triệu chứng và biến chứng trong thoái hóa cột sống [77], [83], [84], [85]

- Cơ chế bệnh sinh của thoái hoá cột sống là sự kết hợp của hai quá trình

thoái hóa sinh lý theo lứa tuổi và thoái hóa bệnh lý mắc phải (chấn thương, rối loạn chuyển hóa, miễn dịch, nhiễm khuẩn ) Các tác nhân cơ học (sức nặng

cơ thể, mang vác vật nặng, các chấn thương, vi chấn thương) gây suy yếu các chất cơ bản của tổ chức sụn Các tế bào sụn giải phóng các enzym tiêu protein làm huỷ hoại dần dần các chất cơ bản Ngày nay nhiều nghiên cứu đã chứng

tỏ là trong bệnh thoái hoá vẫn có các đợt viêm với sự tham gia của các cytokin, các interleukin gây viêm [83]

Thoái hóa cột sống thắt lưng là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần

gây đau, hạn chế vận động, biến dạng cột sống thắt lưng mà không có biểu hiện viêm Do sụn khớp không có hệ thần kinh nên đau trong thoái hóa khớp

có thể do các cơ chế như viêm màng hoạt dịch phản ứng, xương dưới sụn tổn thương rạn nứt nhỏ gây kích thích phản ứng đau, gai xương tại các vị trí tì đè gây kéo căng các đầu mút thần kinh ở màng xương, dây chằng bị co kéo do trục khớp tổn thương, mất ổn định và bản thân tình trạng lão hóa của dây chằng gây dãn dây chằng Đây lại là nguyên nhân gây mất ổn định trục khớp, lỏng lẻo khớp dẫn đến tình trạng thoái hóa khớp trầm trọng hơn, viêm bao khớp hoặc bao khớp bị căng phồng do phù nề quanh khớp, các cơ bị co kéo, nguyên nhân tương tự tổn thương dây chằng [77], [83], [86], [84]:

- Các yếu tố cơ giới thúc đẩy sự thoái hóa tiến triển nhanh hơn: Các dị dạng

bẩm sinh làm gù vẹo cột sống, làm thay đổi diện tích tỳ nén bình thường của cột sống; Các biến dạng sau chấn thương, viêm, u làm thay đổi hình thái cột sống; Sự tăng trọng tải như tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp

Trang 30

- Các yếu tố khác: di truyền (cơ địa già sớm), nội tiết (mãn kinh, đái tháo

đường, loãng xương, dùng thuốc corticoid), chuyển hóa (bệnh Goutte), các yếu tố tác động từ môi trường, khí hậu

1.3.2.4 Đau thắt lưng do thoái hóa cột sống

THCSTL thường gây ra ĐTL mạn tính, bệnh thường xuất hiện ở lứa tuổi trên 40 với các triệu chứng [77], [83], [84]:

* Triệu chứng lâm sàng:

- Đau Đau có tính chất cơ học (tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi),

+ Vị trí đau: đau ở vùng cột sống thắt lưng, thường khu trú không lan + Tính chất đau: Đau âm ỉ, đau tăng khi vận động, khi thay đổi thời tiết, hoặc nằm lâu bất động, đau giảm khi nghỉ ngơi Bệnh nhân có thể cảm thấy tiếng lục khục khi cử động cột sống Đau diễn biến thành từng đợt, hay tái phát, không kèm theo các biểu hiện viêm như sưng, nóng, đỏ, sốt

- Hạn chế vận động Các động tác của cột sống (cúi, ngửa, quay) bị hạn chế

một phần do các phản ứng co cơ kèm theo

- Biến dạng cột sống Do mọc các gai xương, do lệch trục khớp gây biến dạng

như gù, vẹo cột sống

- Dấu hiệu toàn thân Đau cột sống thắt lưng do thoái hóa không có hiểu hiện

triệu chứng toàn thân như sốt, thiếu máu, gầy sút cân

Trên nền đau thắt lưng mạn tính có thể xuất hiện các cơn đau thắt lưng cấp tính (đợt cấp của ĐTL mạn) với các triệu chứng:

- Đau Cơn đau xuất hiện sau một động tác mạnh quá mức, đột ngột và trái tư

thế (bưng, bê, vác, đẩy, ngã )

+ Vị trí: Đau vùng CSTL, đau cả hai bên, đau không lan xa

+ Tính chất: đau đột ngột, chườm ấm đỡ đau, có tư thế chống đau

- Hạn chế vận động Khó thực hiện các động tác của cột sống (cúi, ngửa, quay)

* Dấu hiệu cận lâm sàng: Chụp X quang thường quy CSTL ở vị trí thẳng, nghiêng thấy các dấu hiệu chung của thoái hóa cột sống:

- Hẹp khe khớp với bờ diện khớp nhẵn,

Trang 31

- Đặc xương dưới sụn, xẹp các diện khớp dưới sụn,

- Hình ảnh tân tạo xương: Mọc gai xương ở rìa ngoài thân đốt sống, gai xương có thể tạo thành những cầu xương, khớp tân tạo Những gai xương ở gần lỗ gian đốt gây hẹp lỗ liên hợp đốt sống dễ chèn ép vào rễ thần kinh

1.3.2.5 Điều trị và phòng bệnh đau thắt lưng do thoái hoá cột sống

Đau thắt lưng do THCS cho đến nay không có thuốc điều trị đặc hiệu

mà chỉ điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng

- Phác đồ điều trị đau thắt lưng do THCS gồm:

• Thuốc giảm đau

• Thuốc chống viêm không steroid

• Thuốc giãn cơ

• Các biện pháp vật lý trị liệu, phục hồi chức năng tránh đau tái phát

- Một số phác đồ điều trị đau thắt lưng:

• Diclofenac 100mg/ngày + Paracetamol 2- 3g/ngày + Mydocalm 150- 300mg/ngày hoặc Myonal 150 mg/ngày [79], [80]

• Tramadol hydrochloride 37,5mg/ngày + paracetamol 325mg/ngày x 4 tuần [87]

• Eperisone 50 mg/ngày + Tramadol 100 mg/ngày x 1 tháng [88]

- Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm [83]

Một số thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh tác dụng của glucosamin sulphat trong điều chỉnh chuyển hoá tăng sinh tổng hợp polysaccharid ở sụn khớp, ngoài ra còn có tác dụng bảo vệ sụn khớp do ức chế một số enzym phá hủy sụn khớp và các enzym kích hoạt phản ứng viêm Glucosamine sulfate và chondroitin sulphat (Viartril-s 1500mg/ngày), dùng kéo dài 6-8 tuần x 2-3 đợt/năm Dạng tiêm bắp (có lidocain) dùng tiêm 1 ống/lần x 3 lần/tuần x 4 tuần sau đó chuyển sang dạng uống

Một số thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm khác như Diacerein (Artrodar®), Chondroitin sulfat (Ch-s) (Chondrosulf®), Axit Hyaluronic (AH) (Go-on®), thuốc tiêm nội khớp (Hyruan®)

Trang 32

+ Định hướng nghề nghiệp thích hợp với tình trạng bệnh, kiểm tra định

kỳ những người lao động nặng

+ Hạn chế các hậu quả của THCS: Cần phòng bệnh THCS ngay từ khi còn nhỏ Ăn nhiều thức ăn giàu các chất chống oxy hóa như vitamin C và E, người cao tuổi nên uống bổ sung vitamin D và calci hằng ngày Luôn giữ tư thế đúng ngay cả khi nằm ngủ, nhất là tư thế làm việc khi ngồi hoặc đứng Tập một số động tác các cơ vùng thắt lưng như tập nghiêng xương chậu, tập

cơ bụng, tập khối cơ cạnh sống, giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp Khi đã bị THCS và có chỉ định điều trị thì nên kiên trì và chịu khó uống thuốc Người bệnh cần xác định đây là bệnh mạn tính và phải điều trị lâu dài

1.3.3 Chứng yêu thống theo y học cổ truyền

1.3.3.1 Khái niệm Yêu thống

Đau thắt lưng trong Y học cổ truyền gọi là chứng “Yêu thống" đã được

mô tả rất rõ trong các y văn cổ

Yêu là thắt lưng, thống là đau.“Yêu thống” tức là đau thắt lưng, là từ dùng để chỉ chứng trạng đau nhức, tê bì, hạn chế vận động vùng thắt lưng

1.3.3.2 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh

- Do thận hư lại lao động quá sức, hoặc cơ thể suy nhược do bệnh tật lâu ngày, hoặc sinh hoạt tình dục quá độ làm thận tinh hư tổn không nhu dưỡng được kinh mạch mà dẫn tới yêu thống Yêu thống do thận hư thì bệnh khởi phát có xu hướng từ từ, mạn tính [5], [26], [89]

Trang 33

- Do cảm nhiễm ngoại tà, lục dâm: lao động ra mồ hôi nhiều hoặc lao động ở những nơi ẩm thấp, nhiễm lạnh hoặc ngấm nước mưa đều có thể nhiễm hàn tà, phong tà, thấp tà Phong hàn thấp tà thừa lúc tấu lý sơ hở xâm nhập vào kinh Túc thái dương Bàng quang và kinh Túc Thiếu dương Đởm làm cho kinh mạch vận hành trở trệ, khí huyết vận hành không thông đạt mà dẫn tới yêu thống Mặt khác, nhiệt tà xâm nhập lúc giao thời hoặc do phong hàn thấp nội kết lâu ngày uất mà hoá nhiệt chuyển thành nhiệt tí… đều có thể gây bít tắc kinh mạch làm cho kinh mạch vận hành trở trệ, khí huyết vận hành không thông đạt mà dẫn đến yêu thống Bệnh thường mang tính cấp

- Do lao động quá sức như bê vác nặng hoặc do bị chấn thương, vận động sai tư thế: vùng lưng thường chịu lực quá sức gây tổn thương cân cơ, đốt sống vùng lưng dẫn đến khí huyết của kinh mạch vận hành trở trệ Ứ huyết là

sự vận hành khí huyết không thông, biểu hiện sung huyết ở mạch cục bộ hay chảy máu ứ lại ở cục bộ Tính chất đau của ứ huyết là đau cố định một chỗ, gây cự án, chất lưới tím, mạch tế sáp Khí trệ huyết ứ làm cho kinh mạch vận hành trở trệ, khí huyết vận hành không thông đạt mà dẫn đến yêu thống Yêu thống do bất nội ngoại nhân thường có biểu hiện tương đối cấp tính

1.3.3.3 Phân thể lâm sàng

Xuất phát từ biện chứng luận trị như trên, yêu thống được chia thành các thể sau: + Thể thận hư

+ Thể phong hàn thấp + Thể thấp nhiệt + Thể huyết ứ

1.3.4 Liên hệ giữa bệnh danh, nguyên nhân, phân thể lâm sàng chứng yêu thống của y học cổ truyền với y học hiện đại

Theo YHCT, “Yêu thống” là từ dùng để chỉ chứng trạng đau nhức, tê

bì, hạn chế vận động vùng thắt lưng Nguyên nhân đa phần do thận hư bất túc, cảm nhiễm ngoại tà, khí huyết kinh mạch ứ trệ không thông gây nên

Trang 34

Đau thắt lưng theo YHHĐ là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng từ ngang đốt sống L1 đến ngang đĩa đệm L5 – S1( bao gồm cột sống thắt lưng và các tổ chức xung quanh) do nhiều nguyên nhân (bệnh lí đĩa đệm, cột sống, thần kinh, nội tạng ), được xếp vào mục các bệnh lý của cột sống

ở lứa tuổi 45 - 64 và 60 - 90% ở người trên 65 tuổi Về các vị trí thường bị thoái hóa thì CSTL chiếm tỷ lệ cao nhất (31,12%) Thoái hóa khớp là bệnh lý

do hậu quả của quá trình lão hóa và sự chịu lực tác động thường xuyên lên khớp với các biểu hiện là đau và hạn chế vận động Đau ở vị trí cột sống bị thoái hóa, đau có tính chất âm ỉ, đau tại chỗ ít khi lan, thỉnh thoảng có thể có cơn đau cấp Đau tăng khi vận động hay khi thay đổi tư thế Thường xuất hiện từng đợt kéo dài rồi giảm và hết, sau đó lại xuất hiện đợt khác [1], [77], [80], [83]

Với mô tả về triệu chứng học trên, thì đau thắt lưng do thoái hóa khớp cột sống thắt lưng nằm trong phạm trù Yêu thống thể thận hư của YHCT

1.3.5 Yêu thống thể thận hư

1.3.5.1 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh

Theo học thuyết tạng phủ, lưng là phủ của thận Tạng thận có chức năng chủ cốt sinh tuỷ, thận khí thịnh làm cho cơ thể cường tráng, thận hư sẽ làm cho lưng không được nuôi dưỡng dẫn đến lưng đau, gối mỏi vô lực, đau

âm ỉ thích xoa bóp, nên khi nghỉ ngơi thì cảm thấy bệnh giảm

Dương hư không thể ôn dưỡng được cân cơ, tứ chi nên chân tay lạnh, sắc nhợt nhạt mà dẫn đến các triệu chứng của yêu thống thể thận dương hư

Âm hư thì âm không thu liễm được dương, hư hoả của thận âm hư kết

Trang 35

hợp với hư hỏa của tâm âm hư gây tâm phiền mất ngủ, môi khô họng khát, dẫn đến yêu thống thể thận âm hư [3], [25], [89]

1.3.5.2 Triệu chứng

- Đau lưng, đau tăng lên khi thay đổi thời tiết hoặc khi lao động nhiều, nghỉ ngơi đau giảm

Nếu do thận dương hư có thêm các triệu chứng:

+ Sắc mặt nhợt nhạt, chân tay lạnh, lạnh vùng bụng dưới;

+ Chất lưỡi nhợt;

+ Mạch trầm tế

Nếu do thận âm hư có thêm các triệu chứng:

+ Tâm phiền mất ngủ, miệng ráo, họng khô;

+ Sắc mặt đỏ, lòng bàn chân bàn tay nóng;

+ Chất lưỡi đỏ;

+ Mạch tế sác

1.3.5.3 Pháp điều trị

+ Ôn thận trợ dương (nếu là thận dương hư)

+ Tư bổ thận âm (nếu là thận âm hư)

1.3.5.4 Phương pháp điều trị

- Điện châm: Châm tả các huyệt: Giáp tích L2- L5, Đại trường du, Mệnh

môn, Thứ liêu, Uỷ trung, Dương lăng tuyền

Châm bổ các huyệt: Thận du, Phục lưu (đối với thận dương hư);

Thận du, Thái khê (đối với thận âm hư)

- Nhĩ châm: Thần môn, Thận, Nội tiết (đối với thể thận dương hư) Thần môn, Thận, Tuyến thượng thận (đối với thể thận âm hư)

- Dùng thuốc: Yêu thống thể thận dương hư, dùng bài Hữu quy hoàn gia giảm, yêu thống thể thận âm hư,dùng bài Tả quy hoàn (Cảnh Nhạc toàn thư)

- Các phương pháp khác: Cứu, xoa bóp bấm huyệt, thuốc dùng ngoài

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu bao gồm người khỏe mạnh và bệnh nhân đau thắt lưng thể thận hư (phụ lục 1) tự nguyện điều trị tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương từ tháng 5/2011 đến tháng 12/2012

2.1.1 Người khỏe mạnh

Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đặc điểm sinh lý của huyệt Thận du, lựa chọn 270 người khỏe mạnh, đang học tập, lao động và sinh hoạt bình thường Dựa vào các giai đoạn phát triển của cơ thể theo lý luận Y học cổ truyền [26], chia đối tượng nghiên cứu vào ba nhóm tuổi:

- Nhóm tuổi từ 18 đến 29, là giai đoạn khí huyết đã thịnh, cơ nhục nở nang:

- Loại trừ những người có tổn thương da hoặc sẹo cũ vùng thắt lưng L2-L5

2.1.2 Bệnh nhân đau thắt lưng thể thận hư

2.1.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu: được tính theo công thức:

( Zα/2√2p(1-p) + Zβ√p1(1-p1) +p2(1-p2))2

Δ2

Trong đó:

n1, n2: Số bệnh nhân của hai nhóm nghiên cứu

p1, p2: Tỷ lệ giảm đau trong các nghiên cứu trước đó (100% và 92%) p= (p1+p2)/2

n1 =n2=

Trang 37

Zα/2, Zβ: Giá trị phân phối chuẩn cho xác suất α/2, β (α= 0,05,

2.1.2.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y học hiện đại

Các bệnh nhân tuổi từ 30 trở lên, được chẩn đoán ĐTL với biểu hiện lâm sàng sau:

- Đau vùng thắt lưng;

- Điểm VAS ≥ 5;

- Dấu hiệu Schober tư thế đứng ≤ 13/10 cm

- Phim chụp X quang thường quy tư thế thẳng, nghiêng có hình ảnh thoái hóa cột sống (gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, )

2.1.2.3 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo y học cổ truyền

Bệnh nhân đau thắt lưng được lựa chọn theo tiêu chuẩn y học hiện đại, đồng thời có các chứng trạng phù hợp với tiêu chuẩn của chứng yêu thống thể thận hư theo y học cổ truyền như sau:

- Đau vùng thắt lưng, đau mạn tính lâu ngày, đau ê ẩm, kèm theo cảm giác mỏi ngang thắt lưng Đau tăng khi thay đổi thời tiết và khi vận động, nằm nghỉ đỡ đau, bệnh nhân thích xoa bóp, ngại vận động

- Thiên về âm hư thì tâm phiền mất ngủ, miệng ráo, họng khô, sắc mặt hồng, chất lưỡi đỏ, mạch trầm tế sác

- Thiên về dương hư thì sắc nhợt, chân tay lạnh, đại tiện phân nát, lỏng, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế

2.1.2.4 Tiêu chuẩn loại trừ ra khỏi diện nghiên cứu

- Bệnh nhân không thuộc thể thận hư theo các tiêu chuẩn của y học hiện đại và y học cổ truyền, ĐTL do lao, do viêm nhiễm, do chấn thương ), đau thắt lưng kèm theo đau thần kinh tọa

Trang 38

- Bệnh nhân đau lưng có kèm theo các bệnh khác như: suy tim, bệnh tâm thần, sa sút trí tuệ

- Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật vùng thắt lưng, có tổn thương da hoặc sẹo cũ vùng thắt lưng L2- L5, có rối loạn đông máu hoặc đang dùng thuốc chống đông máu, phụ nữ có thai

- Bệnh nhân có các chống chỉ định dùng thuốc giảm đau, chống viêm

- Bệnh nhân dùng thêm các phương pháp điều trị khác

- Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu hoặc không tuân thủ theo quy trình điều trị

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

2.2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm huyệt Thận du

- Nghiên cứu đặc điểm huyệt Thận du ở người bình thường khỏe mạnh:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang các đặc điểm của huyệt Thận du ở 270 người bình thường khỏe mạnh, trong đó 90 người tuổi từ 18 đến 29, 90 người tuổi

từ 30 đến 39 và 90 người tuổi từ 40 trở lên

- Nghiên cứu đặc điểm huyệt Thận du ở người bệnh nhân ĐTL thể thận hư:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang các đặc điểm của huyệt Thận du ở 90 bệnh nhân ĐTL thể thận hư được lựa chọn vào nghiên cứu lâm sàng điều trị bằng điện châm huyệt Thận du kết hợp với các huyệt Giáp tích L2-L5, Thứ liêu, Ủy trung, Dương lăng tuyền

2.2.1.2 Nghiên cứu lâm sàng

Thử nghiệm lâm sàng tiến cứu so sánh trước sau và so sánh với nhóm chứng tiến hành trên 180 bệnh nhân được chẩn đoán xác định đau thắt lưng

do thoái hóa cột sống theo YHHĐ, có triệu chứng của thể thận hư theo YHCT

đủ tiêu chuẩn đưa vào diện nghiên cứu, chia ngẫu nhiên làm hai nhóm:

- Nhóm I: gồm 90 BN ĐTL điều trị bằng phương pháp điện châm

* Phác đồ huyệt châm: Châm bổ huyệt Thận du;

Trang 39

Châm tả các huyệt: Giáp tích L2- L5, Thứ liêu, Uỷ trung, Dương lăng tuyền

Vị trí các huyệt trên các đường kinh, sự liên quan giữa các huyệt với giải phẫu thần kinh được trình bày trên bảng 2.1 và hình 2.2

* Kỹ thuật châm

- Tư thế bệnh nhân: Bệnh nhân nằm sấp trên giường, hai tay để thoải mái, song song với thân mình

- Tiến hành châm:

+ Tay thuận cầm kim, tay còn lại căng da vùng huyệt để tán vệ khí

+ Châm kim thật nhanh qua da và đẩy kim từ từ tới huyệt cho đến khi

“Đắc khí”, người bệnh có cảm giác căng, tức nặng vùng huyệt được châm, thầy thuốc dùng ngón tay lay nhẹ vào đốc kim thì thấy cảm giác chặt như kim

bị mút xuống huyệt

Châm tả là châm kim theo hướng ngược chiều hoặc chếch với hướng đi của đường kinh

Châm bổ là châm xuôi theo hướng đi của đường kinh

Độ sâu của kim châm vào các huyệt như sau:

Huyệt Thận du: dùng kim dài 6 cm, châm thẳng, sâu 1,5- 2 thốn (3- 4cm) Huyệt Thứ liêu: dùng kim dài 6 cm, châm thẳng, sâu 1- 1,5 thốn (2- 3cm) Huyệt Ủy trung: dùng kim dài 5 cm, châm thẳng, sâu 0,5- 1 thốn (1- 2cm) Huyệt Dương lăng tuyền: dùng kim dài 6-8 cm, châm thẳng, sâu 1,5- 2 thốn (3- 4cm) Huyệt Giáp tích L2- L5: Dùng kim dài 8- 10 cm, châm chếch kim so với mặt

do một góc 150- 200, xuyên từ Giáp tích L2 đến L5

Các huyệt trên được châm cả hai bên

* Kỹ thuật vận hành máy điện châm: sử dụng máy điện châm M8 (phụ lục 2)

với kích thích là xung điện

- Bật công tắc nguồn, kiểm tra sự kết nối đầu ra của các giắc cắm

- Nối kim với máy bằng các giắc cắm theo các cặp huyệt tương ứng

- Điều chỉnh tần số kích thích:

Trang 40

Vặn núm tần số kích thích bổ đến vị trí số 2 của máy (tương đương với tần số kích thích từ 1- 3 Hz)

Vặn núm tần số kích thích tả đến vị trí số 2 của máy (tương đương với tần số kích thích từ 5- 10 Hz)

- Điều chỉnh cường độ kích thích: Vặn núm cường độ kích thích của từng cặp huyệt đã được nối với máy điện châm, cường độ kích thích được tăng dần từ khi người bệnh cảm thấy cơ rung theo tần số xung kích thích của máy điện châm tới ngưỡng bệnh nhân chịu đựng được (người bệnh cơ rung

mà không thấy đau tại vị trí huyệt châm)

* Liệu trình điều trị: 30 phút/lần điều trị x 1 lần/ngày x 7 ngày

* Theo dõi người bệnh: Theo dõi toàn trạng của người bệnh trong thời gian

kích thích huyệt Nếu người bệnh có biểu hiện vựng châm (hoa mắt, chóng mặt, vã mồ hôi, da xanh nhợt) thì ngay lập tức tắt máy, rút kim, cho bệnh nhân nằm đầu thấp hơn chân, nghiêng về một bên Lau mồ hôi, ủ ấm, cho

uống nước chè nóng, nằm nghỉ tại chỗ, Theo dõi mạch, huyết áp

* Rút kim, kết thúc điều trị:

- Tắt máy, vặn các nút cường độ của máy điện châm về mức 0, tháo các giắc của máy điện châm ra khỏi đốc kim

- Rút kim từ từ ra khỏi cơ thể BN, sát khuẩn chỗ vừa châm

- Nếu sau khi rút kim có chảy máu thì dùng bông khô vô khuẩn ấn tại chỗ, không day

- Nhóm II: gồm 90 BN được điều trị bằng uống thuốc theo phác đồ của khoa Nội Cơ- Xương- Khớp, Bệnh viện Bạch Mai là nhóm đối chứng để đánh giá hiệu quả điều trị của phương pháp điện châm

* Thuốc sử dụng trong nghiên cứu:

+ Mobic viên nén 7,5 mg

Nơi sản xuất: Boehringer Ingelheim Pharma GmbH &Co.KG Binger Str.173,55216 Ingelheim am Rhein- Germany

Ngày đăng: 24/09/2014, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Ân (2002), Đau thắt lưng. Bệnh thấp khớp. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: tr. 374 - 395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đau thắt lưng
Tác giả: Trần Ngọc Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
2. Vũ Quang Bích (2001), Phòng và chữa các chứng bệnh đau lưng. Nhà xuất bản Y học: tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và chữa các chứng bệnh đau lưng
Tác giả: Vũ Quang Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học: tr. 11
Năm: 2001
3. Viện Y học cổ truyền Việt Nam (1984), Châm cứu học. Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu học
Tác giả: Viện Y học cổ truyền Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1984
4. Hoàng Bảo Châu (2010), Châm cứu học trong Nội kinh, Nạn kinh và sự tương đồng với Y học hiện đại. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu học trong Nội kinh, Nạn kinh và sự tương đồng với Y học hiện đại
Tác giả: Hoàng Bảo Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2010
5. Nguyễn Tử Siêu (biên dịch) (1994), Hoàng đế Nội kinh Tố vấn. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng đế Nội kinh Tố vấn
Tác giả: Nguyễn Tử Siêu (biên dịch)
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
6. Bộ môn Đông y trường Đại học Y Hà Nội (2005), Bài giảng y học cổ truyền, tập 2. Nhà xuất bản y học, Hà Nội: tr. 166- 169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng y học cổ truyền, tập 2
Tác giả: Bộ môn Đông y trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2005
7. Bùi Mỹ Hạnh (2003), Nghiên cứu đặc điểm của huyệt nội quan và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên một số chỉ số sinh học. Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm của huyệt nội quan và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên một số chỉ số sinh học
Tác giả: Bùi Mỹ Hạnh
Năm: 2003
8. Hoàng Khánh Hằng (2001), Nghiên cứu đặc điểm huyệt Hợp cốc và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên một số chỉ số sinh học. Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm huyệt Hợp cốc và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên một số chỉ số sinh học
Tác giả: Hoàng Khánh Hằng
Năm: 2001
9. Đỗ Công Huỳnh và CS (1994), Đặc điểm và tác dụng sinh lý của các huyệt châm cứu. Tạp chí Sinh học Việt Nam, số đặc biệt: tr. 56 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm và tác dụng sinh lý của các huyệt châm cứu
Tác giả: Đỗ Công Huỳnh và CS
Năm: 1994
10. Vũ Văn Lạp (1996), Nghiên cứu đặc điểm huyệt Túc tam lý và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên chức năng một số cơ quan trong cơ thể. Tóm tắt luận án PTS khoa học Y-Dược, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm huyệt Túc tam lý và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên chức năng một số cơ quan trong cơ thể
Tác giả: Vũ Văn Lạp
Năm: 1996
11. Hsiu H., Huang S.M., Chao P.T. et al (2007), Microcirculatory characteristics of acupuncture points obtained by laser Doppler flowmetry.Physiol Meas. 28(10): p. 77-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microcirculatory characteristics of acupuncture points obtained by laser Doppler flowmetry
Tác giả: Hsiu H., Huang S.M., Chao P.T. et al
Năm: 2007
12. Yan X.H., Zhang X.Y. et al (2009), Imaging study on acupuncture points. J-Phys:Conf. Ser. 186 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Imaging study on acupuncture points
Tác giả: Yan X.H., Zhang X.Y. et al
Năm: 2009
13. Burklein M., Banzer W. (2007), Noninvasive blood flow measurement over acupuncture points (Gb21): a pilot study. J Altern Complement Med.13(1): p. 33-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Noninvasive blood flow measurement over acupuncture points (Gb21): a pilot study
Tác giả: Burklein M., Banzer W
Năm: 2007
14. Huang Y.; Yang H.; Wang Y. et al (2011), In vivo experimental study of optical characteristics of human acupuncture points. Fron. Optoelectron China. 4(2): p. 223-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vivo experimental study of optical characteristics of human acupuncture points
Tác giả: Huang Y.; Yang H.; Wang Y. et al
Năm: 2011
15. Darras J.C., Pierre de V.B, Pierre A., A Study on the Migration of Radioactive Tracers after Injection at Acupoints. American Journal of Acupuncture. Vol. 20( No. 3): p. 244-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Study on the Migration of Radioactive Tracers after Injection at Acupoints
16. Xu Y.X., Chen G.Z., Li L.J., Liu S.H. (2012), Research on the effect of light and heat sensing along meridian of Chinese medicine. J Lasers Med Sci 3(1): p. 6-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research on the effect of light and heat sensing along meridian of Chinese medicine
Tác giả: Xu Y.X., Chen G.Z., Li L.J., Liu S.H
Năm: 2012
17. Nguyễn Thị Vân Anh; Phạm Thị Minh Đức; Hoàng Bảo Châu (2003), Nghiên cứu đặc điểm nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên ở người trưởng thành.Tạp chí Nghiên cứu Y học. 25(5): tr. 39- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm nhiệt độ 12 cặp huyệt Nguyên ở người trưởng thành
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh; Phạm Thị Minh Đức; Hoàng Bảo Châu
Năm: 2003
18. Phạm Hữu Lợi (2003), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học tại huyệt nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não nhật bản, đánh giá hiệu quả phục hồi vận động bằng điện châm. Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học tại huyệt nguyên ở trẻ bình thường và bệnh nhi viêm não nhật bản, đánh giá hiệu quả phục hồi vận động bằng điện châm
Tác giả: Phạm Hữu Lợi
Năm: 2003
21. Phạm Thị Xuân Vân (1985), Kết quả nghiên cứu châm tê trong phẫu thuật gia súc. Tạp chí Y học cổ truyền Việt Nam (164): tr. 7-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu châm tê trong phẫu thuật gia súc
Tác giả: Phạm Thị Xuân Vân
Năm: 1985
23. Nguyễn Tài Thu (2004), Mãng châm chữa bệnh. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: tr. 29-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãng châm chữa bệnh
Tác giả: Nguyễn Tài Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các đốt sống thắt lưng [78] - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 1.1. Các đốt sống thắt lưng [78] (Trang 25)
Hình 2.1. Máy Thermo- Finer type N-1 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 2.1. Máy Thermo- Finer type N-1 (Trang 43)
Hình 2.2. Máy Neurometer type RB-65 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 2.2. Máy Neurometer type RB-65 (Trang 44)
Hình 2.3. Máy Electrodermometer PD-1 type MR W-52 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 2.3. Máy Electrodermometer PD-1 type MR W-52 (Trang 44)
Hình 2.4. Thước đo độ đau VAS (Visual Analog Scales) - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 2.4. Thước đo độ đau VAS (Visual Analog Scales) (Trang 46)
Hình 2.5. Giao diện module Peak Analysis trong phân tích điện cơ - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 2.5. Giao diện module Peak Analysis trong phân tích điện cơ (Trang 50)
Hình 2.6. Vị trí các huyệt trong phác đồ điều trị [22], [23]. - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Hình 2.6. Vị trí các huyệt trong phác đồ điều trị [22], [23] (Trang 55)
Bảng 3.2. Diện tích huyệt Thận du (mm 2 ) - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.2. Diện tích huyệt Thận du (mm 2 ) (Trang 60)
Bảng 3.3. Nhiệt độ da ( 0 C) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi 18- 29 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.3. Nhiệt độ da ( 0 C) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi 18- 29 (Trang 61)
Bảng 3.4. Nhiệt độ da ( 0 C) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi 30-39 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.4. Nhiệt độ da ( 0 C) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi 30-39 (Trang 61)
Bảng 3.5. Nhiệt độ da ( 0 C) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi trên 40 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.5. Nhiệt độ da ( 0 C) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi trên 40 (Trang 62)
Bảng 3.7. Cường độ dòng điện ( μ A) qua da trong và ngoài huyệt Thận du ở   nhóm tuổi 18-29 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.7. Cường độ dòng điện ( μ A) qua da trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi 18-29 (Trang 63)
Bảng 3.8. Cường độ dòng điện qua da ( μ A) trong và ngoài huyệt Thận du ở   nhóm tuổi 30-39 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.8. Cường độ dòng điện qua da ( μ A) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi 30-39 (Trang 63)
Bảng 3.9. Cường độ dòng điện qua da ( μ A) trong và ngoài huyệt Thận du ở   nhóm tuổi trên 40 - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.9. Cường độ dòng điện qua da ( μ A) trong và ngoài huyệt Thận du ở nhóm tuổi trên 40 (Trang 64)
Bảng 3.10. So sánh cường  độ dòng điện qua da ( μ A) trong và ngoài huyệt  Thận du  giữa các nhóm tuổi - Nghiên cứu đặc điểm của huyệt thận du và hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng thể thận hư
Bảng 3.10. So sánh cường độ dòng điện qua da ( μ A) trong và ngoài huyệt Thận du giữa các nhóm tuổi (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w