Kết cấu đề tài Từ những kiến thức đã tiếp thu được trên giảng đường Đại học và những tìm hiểu từ các nguồn tư liệu như sách, báo, tạp chi và Internet, người viết trình bay dé tai luận v
Trang 1TRUONG DAI HOC CAN THO
KHOA LUAT
LUAN VAN TOT NGHIEP
CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHÓA 2009-2013
Đề tài:
WTO VA CAC QUOC GIA DANG PHAT TRIEN
- THUC TE THI TRUONG DICH VU PHAN PHOI
TAI VIET NAM
Z7 WORLD TRADE
/ ORGANIZATION
—F,
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS Cao Nhất Linh Phạm Tuấn Kiệt
Bộ môn Luật Thương mại MSSV: 5095524
Lớp: Luật Thương mại 3-K35
Cần Thơ, tháng 4/2013
Trang 2Đầu tiên, người viết xin được gửi đến tất cả các Thầy Cô trong Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ những tình cảm và sự trân trọng sâu sắc nhất
Thầy Cô đã tận tình truyền dạy những bài học cùng kinh nghiệm quý báu để người viết tiếp thu và hoàn thành được luận văn tốt nghiệp Và hơn hết, người viết xin gửi đến thầy Cao Nhất Linh lời cảm ơn chân thành bởi những góp ý
cùng sự động viên của thầy trong suốt quá trình người viết thực hiện luận văn Xin gửi đến gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh và ủng hộ trong những lúc khó khăn Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, việc hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, người viết còn phải gửi lời cám ơn đến tất cả những tác giả của các sách, báo, tạp chí mà người viết đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu
Bằng những nổ lực và kiến thức tiếp thu được, người viết đã cố gắng
hoàn thiện luận văn tốt nghiệp nhưng việc thiếu sót là điều không thể tránh
khỏi Rất mong nhận được sự góp ý từ phía Thầy Cô và các bạn!
Sinh viên thực hiện
Phạm Tuấn Kiệt
Trang 3NHAN XET CUA GIANG VIEN HUONG DAN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giảng viên hướng dẫn
ii
Trang 4Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giảng viên phản biện
Trang 51.1.3.1 Nguyên tắc hoạt động
1.1.3.2 Cơ chế hoạt động
1.1.4 Những hiệp định của WTO HH
1.2 Các quốc gia đang phát triển trong WTO
1.2.1 Khái niệm
1.2.2 Lịch sử ra đời của nhóm các quôc gia đang phát triên trong WTO
1.2.3 Ảnh hưởng của WTO đến các quốc gia đang phát triển
1.3 Thương mại dịch vụ trong WTO
1.3.1 Khái niệm
1.3.2 Tổng quan về thương mại dịch vụ trong WTO
1.4 Dịch vụ phân phối và xu hướng phát triển của dịch vụ phân phối tại
CHƯƠNG 2: WTO VÀ VIỆT NAM VE THUONG MẠI DỊCH VỤ 28
2.1 Chính sách về thương mại dịch vụ của WTO và Việt Nam
2.1.1 Chính sách của WTO
iv
Trang 62.1.2 Chính sách của Việt Nam - - c1 1S *S S111 11111111111 11 11H Hy tr
2.2 Cam kết cúa Việt Nam khi gia nhập WTO về thương mại dịch vụ
2.3 Dịch vụ phân phối tại Việt Nam
2.3.1 Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ phân
2.3.2.1 Đại lý thương mại
2.3.2.2 Dich vu ban buôn
2.3.2.3 Dich vu ban lé
2.3.2.4 Nhuwong quyén thwong mai
CHUONG 3: THUC TE WTO VA VIET NAM TREN THI TRUONG DICH VU PHAN PHOI —- HUONG HOAN THIEN VE
3.1 Tác động của các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO về dịch vụ
phân phối
3.2 So sánh cam kết dịch vụ phân phôi tại Việt Nam và các quôc gia
3.2.1 Campuchia - c1 1191111 11 1 11 111 H1 Hàn TH nh Hà TH TH nh chết 55 3.2.2 Trung Quốc . :2-+©2++22E111221127111121111211171112011.T11 T1 1e eerrey 57 3.3 Thực trạng và giải pháp về hoạt động phân phối tại Việt Nam sau khi Bia MAP WTO oon 444 58 3.3.1 Dai ly throng mat oe cố 58 3.3.2 Ban buôn, bán lẻ
3.3.2.1 Hoạt động tại Việt Nam
3.3.2.2 So sánh với hoạt động tại nước Cộng hòa Pháp
3.3.3 Nhượng quyền thương mạii 2-22 ©++SE+E£2EEESEELetEEkerrrkrrrrkx 65
KẾT LUẬN .2 252-222 2EE222152271112211122111 02 11021121 E2 xe 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MUC CAC TU VIET TAT
WTO Tô chức thương mại thê giới
GATT Hiệp định chung về thuê quan và thương mại
GATS Hiệp định vê thương mại và dịch vụ
MEN Nguyên tặc tôi huệ quốc
NT Nguyên tắc đôi xử quốc gia
BLDS Bộ luật dân sự
LTM Luật thương mại
vi
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi Việt Nam chưa gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, vấn đề trăn trở là
làm sao nước ta có thể trở thành thành viên chính thức của tổ chức này đề được thừa
hưởng những thành tựu và cơ hội mà tổ chức này mang lại Và khi chúng ta đã ghi tên
mình và danh sách thành viên chính thức của tổ chức này rồi, vấn đề khác nổi lên là
làm sao chúng ta có thể tận dụng được vị thé là thành viên của Tổ chức Thương mại
thế giới để đưa nền kinh tế đất nước đi lên Để không phải lãng phí những vòng đàm phán kéo dài, tiêu tốn cả vật chất lẫn tinh thần và nhất là không làm mắt đi sự kỳ vọng
của nhân dân vào Nhà nước, cần thiết nhìn nhận những thành tựu cũng như những
thách thức trước mắt là điều cần thiết phải làm
Nhìn tổng quan vào nền thương mại toàn cầu, cùng với thương mại hàng hóa,
thương mại dịch vụ cũng có sự tăng trường không kém Thương mại dịch vụ đa dạng
về các phân ngành nhỏ và có xu hướng xuất hiện thêm những phân ngành mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Trong đấy phái kế đến sự góp phần thúc đây thương mại dịch vụ phát triền nói riêng và thúc đẩy sự đi lên của hoạt động
thương mại nói chung của ngành địch vụ phân phối Phân phối là cầu nói, là mối liên
hệ với sự tăng trưởng của nền kinh tế và phản ánh được phần nào sự tăng trưởng kinh tế; phân phối còn liên hệ trực tiếp đến cả đời sống của nhân đân và ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu dùng trong nhân dân Ngành dịch vụ phân phối có sức ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế, đến đời sống nhân dân nên cần thiết có sự nhìn nhận đa chiều vào ngành dịch vụ này Pháp luật hiện hành của Việt Nam quy định về ngành dịch vụ này
là có nhưng chưa đủ, thiếu tính hoàn thiện và cập nhật Trong khi đó, dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu thay đổi liên tục trong nhân dân Một khoảng cách xa giữa thực tế và quy định trong văn bản là điều gây trở ngại trong áp dụng pháp luật Việt Nam chính thức
trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới vào ngày 11 thang 1
năm 2007 và đã sáu năm trôi qua, nước ta có những biến chuyền lẫn cả về tích cực và tiêu cực Với vị thế là một quốc gia đang phát triển, được thừa hưởng những đãi ngộ nhưng kèm theo đấy là những ràng buộc, cam kết mà chính chúng ta đã khó khăn đàm phán được Xét riêng về ngành dịch vụ phân phối, khi mà chúng ta phải chấp nhận mở cửa thị trường và tự do hóa thì rất nhiều thách thức cần phải đối mặt Từ sự tham gia mới của các doanh nghiệp trong nước đến sự thâm nhập của các doanh nghiệp nước
ngoài và kèm theo đó là cần có cơ chế để quản lý phù hợp Từ những lý do nêu trên,
người viết chọn đề tài “WTO và các quốc gia đang phát triển — Thực tế thị trường
dịch vụ phân phối tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cử
nhân Luật
Trang 9'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Người viết chon dé tai “WTO và các quốc gia đang phát triển — Thực tế thị
trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp chuyên ngành Luật với mong muốn trước tiên là giới thiệu sơ lược về các quốc
gia đang phát triển trong Tổ chức thương mại thế giới cùng vai trò, vị trí của Việt Nam trong WTO Tiếp sau, đưới góc nhìn của một sinh viên Luật, người viết mong muốn giới thiệu ngành dịch vụ phân phối với tư cách là một ngành nhỏ trong thương mại
dịch theo Tổ chức Thương mại thế giới, với những quy định của Tổ chức thương mại
thế giới cùng so sánh và gắn trực tiếp với những quy định hiện hành tại Việt Nam Việt Nam với tư cách là một thành viên đang phát triển trong WTO có những thuận lợi, khó khăn gì trong ảnh hưởng riêng của ngành dịch vụ phân phối Qua đó, người viết mong được góp một ít công sức để làm rõ thêm những quy định về ngành dịch vụ trong hệ
thống pháp lý tại Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, dựa trên luật lệ của WTO, người viết trình
bày quy định về WTO cùng những quy định chung dành cho các quốc gia đang phát
triển Tiếp theo, người viết chỉ tập trung giới thiệu và phân tích quy định về địch vụ
phân phối dựa trên những quy định của Tổ chức thương mại thế giới, trên cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới của Việt Nam, các quy định của Luật thương mại
2005 và các văn bản có liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như phân tích và tổng hợp luật viết để làm rõ các nội dung được trình bày
Người viết còn so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với quy định theo luật pháp quốc tế và một số quốc gia khác Ngoài ra, người viết còn tổng hợp, thống kê dan chứng và phân tích các số liệu thực tế thu thập từ các nguồn khác nhau để làm ví dụ
minh họa
5 Kết cấu đề tài
Từ những kiến thức đã tiếp thu được trên giảng đường Đại học và những tìm hiểu từ các nguồn tư liệu như sách, báo, tạp chi và Internet, người viết trình bay dé tai luận văn với các nội dung sau:
Chương 1: Khái quát về WTO và các quốc gia đang phát triển trong WTO
Chương 2: WTO và Việt Nam về thương mại dịch vụ
Chương 3: Thực tế WTO và Việt nam trên thị trường dịch vụ phân phối - Hướng hoàn
thiện về pháp lý
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 2 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VE WTO
VA CAC QUOC GIA DANG PHAT TRIEN TRONG WTO
Hoạt động thương mại quốc tế phát triển vượt bật trong giai đoạn từ năm 1945 đến nay Một mặt, hoạt động thương mại có những bước tiến dài nhờ vào sự phát triển
của các phương tiện phục vụ, mặt khác chính do sự xuất hiện của GATT và WTO
cùng những nguyên tắc trong hoạt động của chúng Các quốc gia có một diễn đàn thương mại toàn cầu đề thảo luận cũng như cơ hội để trình bày quan điểm Chính vì vậy, không còn tình trạng các cường quốc bắt nạt và áp đặt các chính sách thương mại đối với các nước nhỏ mà cơ hội để cạnh tranh và phát triển được chia đều cho nhau
Vấn đề còn lại là các quốc gia có biết tận dụng cơ hội để phát triển hay không Đặc
biệt trong WTO, nhóm thành viên các quốc gia đang phát triển đang là nhóm có những đóng góp tích cực và những hoạt động nỗi bật đề thúc đây thương mại toàn cầu đi lên
1.1 KHÁI QUÁT VẺ WTO
doi cua GATT 1947 và sau này là WTO
GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) — Hiép dinh chung vé thué quan và thương mại là kết quả của cuộc đàm phán tại Bretton Woods vào năm 1947
của 23' quốc gia và có hiệu lực chính thức vào tháng 1-1948 GATT không phải là
một tổ chức quốc tế dựa trên cở sở pháp lý quốc tế, mà chí là một hiệp định tạm thời sau sự thất bại của việc phê chuẩn việc hình thành Tổ chức thương mại quốc tế (ITO — International Trade Organisation) voi tu cach 1a co quan chuyén mon cua Lién Hop
! Các thành viên ban đầu của GATT là Australia, Bi, Brazil, Myanmar, Canada, Ceylon (Sri Lanka), Chile,
Trung Quốc (rút ra năm 1950), Cu Ba, Tiệp Khắc, Pháp, Anh, Ấn Độ, Lebanon, Luxembourg, Hà Lan, New
Zealand, Nauy, Pakistan, Nam Rhodesia (Zimbabwe), Syria, Nam Phi va My
Trang 11'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
Quốc” Năm 1947, tại La Havane (Cuba), trong khuôn khổ Hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và việc làm, hơn 50 quốc gia đã tham gia vào việc đàm phán để xây dựng nên Tổ chức thương mại quốc tế nhưng có thể vì sự quá cầu toàn cho định
chế này mà việc thiết lập nên nó đã không được các nước đồng thuận” Cụ thể là các
quốc gia đã quá tham vọng xây dựng một tổ chức phải “hoàn mỹ” về nhiều mặt như các quy tắc về việc làm, các thỏa ước về sản phẩm, đầu tư quốc tế, dịch vụ Sự ra đời
của Hiệp định GATT 1947 đóng một vai trò lớn nhằm nâng cao cách nhìn nhận của
các quốc gia về hoạt động thương mại quốc tế Từ khi ra đời đến nay, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán nhưng chủ yếu là về thuế quan Về sau, nội dung được tranh luận đã được mở rộng và điển hình là tại vòng đàm phán Uruguay thứ tám!, Vòng đàm phán này được thảo luận trên các lĩnh vực như thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, dệt may, nông nghiệp
Cùng với sự ra đời của GATT, hai thiết chế toàn cầu là Ngân hàng Thế giới
(World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund) cũng ra đời sau hội nghị tại Bretton Woods Nhung ca GATT va hai thiết chế mới này dường như chưa phát huy được tác dụng trên phạm vi toàn thế giới” GATT nhiều lần thực hiện cải cách hệ thống của mình bằng nhiều vòng đàm phán, nhưng cuối cùng không thành công Trong suốt 47 năm tồn tại, mặc du hạn chế là có nhưng không thê nào phủ nhận
được đóng góp của GATT cũng như Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào
thúc đây kinh tế thế giới phát triển Điễn hình là GATT, mặc dù chỉ là một Hiệp định
nhưng nó hoạt động như một cơ chế quản lý thương mại quốc tế Đấy là những hạt nhân sơ khai, là mầm móng để tạo đà cho Tổ chức thương mại thế giới hình thành sau này Ngày 15 tháng 4 năm 1994, tại Marrakech (Maroc), Định ước cuối cùng của Vòng đàm phán Uruguay đã được ký Các văn bản này có ý nghĩa hết sức quan trọng,
một là các hiện định kết thúc cho tắm năm (1986 — 1994) của Vòng dam phan
Uruguay và một là Hiệp định về thành lập Tổ chức thương mại thế giới (hay còn gọi là Hiệp định Marrakech)
Đến nay, WTO đã có 158 thành viên và các thành viên mới nhất gồm Nga (thành viên chính thức từ 22-8-2012), Vanuatu (thành viên chính thức từ 24-8-2012),
Lào (thành viên chính thức từ 2-2-2013) Gần đây nhất, WTO vừa chấp nhận đề xuất
của Tajikistan trở thành thành viên thứ 159 của tổ chức này Dự kiến quốc gia Trung Á
? Hội đồng lý luận trung ương, Ban thư ký khoa học: Khi Việt Nam đã vào WTO, Nxb Chính trị quốc gia, 2007,
tr 14
> L’Organisation mondiale du commerce, Division de l’information et les relations extérieures: Comprendre
TOMC, 2011, tr 15
‘ OMC E-learning: Les accords commerciaux multilateral de l’OMC, thang 4-2012, tr 18
Ÿ Hội đồng lý luận trung ương, Ban thư ký khoa học: Khi Việt Nam đã vào WTO, Nxb Chính trị quốc gia, 2007,
tr 15
GVHD: TS Cao Nhat Linh Trang 4 SVTH: Pham Tuấn Kiệt
Trang 12này sẽ trở thành thành viên chính thức sau 30 ngày kế từ khi WTO phê chuẩn thỏa
thuận (dự kiến vào ngày 7 tháng 6 năm 2013)/
1.1.2 Mục tiêu
Sự hình thành Tổ chức thương mại thế giới với mục tiêu hoạt động được xem là không quá khác so với GATT 1947 Tại lời mở đầu của Hiệp định Marrakech, những mục tiêu hoạt động của tổ chức đã được nêu ra gồm: “nâng cao mức sống, bảo đảm đây đủ việc làm, bảo đảm thu nhập tăng trưởng và nhu cầu thực tế, mở rộng sản xuất,
thương mại hàng hóa và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối tru nguôn
lực của thê giới theo đúng mục tiêu phát triển bên vững để bảo vệ và duy trì môi trường; nâng cao các biện pháp để thực hiện các mục tiêu theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mỗi quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau ”
Và để thực hiện được những yêu cầu đấy, WTO yêu cầu các thành viên phải tham gia thỏa thuận tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế va các hàng rào cản trở thương mại khác, loại bỏ các phân biệt đối xử trong các mối quan hệ
quốc tế Tuy nhiên, nếu so sánh với GATT 1947 thì Hiệp định thành lập WTO vẫn có
những bước đôi mới nhằm nâng cao hơn tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của tô chức này đến các quốc gia thành viên” Cụ thé:
- Thứ nhất, WTO đề ra mục tiêu nhằm mở rộng hơn cả về hoạt động thương mại hàng hóa lẫn thương mại dịch vụ Tại Hiệp định GATT, thương mại hàng hóa là vấn đề chính được bàn luận; nổi trội nhất là vấn dé cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Tuy nhiên, với tầm nhìn xa hơn và thấy được những ưu thế của thương mại dịch vụ, WTO đã đưa loại hình thương mại này trong mục tiêu chung của mình
- Thứ hai, mục tiêu được WTO đặt ra là phải phát triển bền vững, kết hợp bảo
vệ môi trường, nâng cao các biện pháp để thực hiện mục tiêu để ra sao cho phù hợp với trình độ phát triển khác nhau của mỗi thành viên Mục tiêu này cho thấy rằng
WTO đã nhận thấy rõ sự hợp tác bền vững, có lợi của tất cả các thành viên là điều hết
sức cần thiết Một tổ chức có quy mô toàn cầu, với sứ mệnh không chỉ thúc đây sự phát triển của một số thành viên riêng lẻ nào mà là của tất cả các thành viên, và rộng hơn và thúc đây cả những quốc gia chưa phải là thành viên cùng phát triển
- Thứ ba, các thành viên trong WTO nhận thấy rằng trình độ phát triển của các
nền kinh tế trong tổ chức là không đồng đều, thậm chí là có sự chênh lệch lớn về quy
5 Anh Quân: WTO có thêm thành viên mới, Báo Tìn tức online, 2012, http:/fbaotintuc.vn/the-gioi/wto-co-them-
thanh-vien-moi-2012121 11426023 10.htm, [ngày truy cập 10-1-2013]
” OMC E-learning: Les accords commerciaux multilatéral de l'OMC, thang 4-2012, tr 20
Trang 13'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
mô, tốc độ phát triển Do đó, một đề xuất là phải có những ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt dành
cho những nước đang hoặc kém phát triển Mục tiêu này được xem là nổi bật của Tổ chức Thương mại thế giới
1.1.2.2 Chức năng
Một tổ chức nào ra đời cũng đều gắn với những chức năng nhất định Đối với
Tổ chức thương mại thế giới, năm chức năng của mình được thé hiện rõ tại Điều 3 của
Hiệp định thành lập
- Thứ nhất, WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều
hành cũng như giám sát, trợ giúp kỹ thuật cho các quốc gia thành viên trong việc thực hiện nghĩa vụ của các hiệp định, các thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên
- Thứ hai, WTO là khuôn khổ thể chế để các quốc gia thành viên tiến hành các
cuộc đàm phán liên quan đến vấn đề thương mại đa phương trong khuôn khổ của 'WTO, thực thi kết quả tử các cuộc đàm phán, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng
- Thứ ba, WTO quản lý và diễn giải các hiệp định của WTO, các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên
- Thứ tư, WTO theo dõi Cơ chế rà soát các chính sách thương mại của các nước thành viên để đảm bảo việc tuân thủ đúng các quy định
- Thứ năm, WTO thực hiện việc hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế
giới cùng các cơ quan trực thuộc nhằm hoạch định những chính sách và dự báo xu
hướng phát triển của kinh tế thế giới
1.1.3 Hoạt động
1.1.3.1 Nguyên tắc hoạt động
Hệ thống văn bản trong WTO rất nhiều và bao trùm lên các lĩnh vực như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư Nhưng nhìn chung, các văn bản này đều được xây dựng trên năm nguyên tắc chính gồm:
- Thứ nhất, Thương mại không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này được thể hiện
cu thé qua hai nguyên tắc nhỏ là nguyên tắc Đối xử tối hué quéc (MEN — Most favoured nation) và Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT — National treatment)
* Nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (nguyên tắc được hiểu là bình đắng trong đối xử với các quốc gia khác): nội dung của nguyên tắc này là các quốc gia không được phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại của mình Hay cụ thể hơn là nếu một quốc gia dành cho một quốc gia khác sự ưu đãi đặc biệt trong một lĩnh vực cụ thể
thì cũng phải đối xử với tất cả các thành viên khác trong WTO như vậy Tiền thân của
nguyên tắc này được bắt nguồn từ GATT 1947 nhưng chỉ áp dụng đối với hàng hóa thì trong WTO, quy tắc này đã được mở rộng sang thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ Thể hiện cụ thể của nguyên tắc MEN như tại Điều 2 của Hiệp định về thương mại dịch
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 6 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 14vụ (GATS) hay Điều 4 của Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (TRIPs) Mặc đù được tất cả các nước trong GATT và sau này là WTO công nhận quy chế nền táng, nhưng thực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển không phải lúc nào cũng tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MEN và đã có rất nhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này” Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ Ví dụ như về ưu đãi đối với các quốc gia đang phát triển, nếu một quốc gia tự nguyện giảm mức thuế cho một quốc gia đang phát triển thì phải áp dụng việc giảm thuế đó đối các quốc gia đang phát triển khác Hoặc ngoại lệ
áp dụng trong trường hợp các quốc gia thuộc khu vực mậu dịch tự đo hay đồng minh
về thuế quan
s Nguyên tắc đối xử quốc gia (nguyên tắc này được hiểu là sử đối xử bình đẳng giữa sản phẩm trong nước và sản phẩm ngoài nước): nội dung của nguyên tắc này là hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài và hàng hóa, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ trong nước nếu có đặc tính tương tự thì phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau Nguyên tắc này được quy định tại Điều 3 của Hiệp định
GATT, Điều 17 của Hiệp định GATS và Điều 3 của Hiệp định TRIPs Nếu như
nguyên tắc MEN với mục đích là tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các nhà sản xuất khi các nhà sản xuất này cùng thâm nhập vào thị trường của một quốc gia, thì nguyên tắc NT lại thể hiện sự công bằng, bình đẳng giữa các nhà nhập khẩu và các doanh nghiệp trong nước nếu sản phẩm, dịch vụ hoặc quyền sở hữu trí tuệ có đặc tính giống nhau WTO ra đời với mục tiêu là tổ chức toàn cầu phải cân bằng lợi ích, đảm bảo sự đối xử như nhau giữa các quốc gia dé thúc đây thương mại thế giới phát triển nên hai nguyên tắc này là thiết yếu Sự cần thiết là các quốc gia nhỏ, kém phát triển phải được đối xử công bằng với các nước lớn trên phương diện thương mại quốc tế Tuy nhiên, đây cũng chỉ là hai nguyên tắc cơ bản nên trong một số trường hợp, ngoại lệ đôi khi cũng được áp dụng
- Thứ hai, Tự do hóa thương mại, từng bước và thông qua đàm phán: Đây được xem như là phương tiện thiết thực để đẩy mạnh sự giao thương quốc tế Những hàng rào về thuế quan, những quy định về hạn ngạch nhập khẩu dần dần sẽ được gỡ bỏ
Việc mở cửa thị trường là cần thiết và mang lại lợi nhiều lợi ích Lịch sử của quá trình
đàm phán bắt đầu từ cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán gỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, thực hiện việc tự do trong thương mại phải từng bước và có lộ trình rõ ràng Không thể nào mở cửa giao lưu một cách nhanh
® Nguyễn Anh Tuấn: Giáo trình Tổ chức Thương mai thế giới (WTO — OMC), Nxb Chính trị quốc gia, 2008, tr
31
Trang 15'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
chóng mà mang lại hiệu quá Việc hấp tấp đấy có thể dẫn đến sự thâm nhập mà không kiểm soát được của các doanh nghiệp nước ngoài và hậu quá có thé là cạnh tranh khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước, quy định pháp luật chưa kịp đáp ứng đề điều chỉnh hoạt động trong một môi trường đông đúc như vậy
- Thứ ba, Xây dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán, nhờ vào cam kết, ràng buộc, ôn định và minh bạch: Nguyên tắc này được xây dựng nhằm để các quốc gia
dam bao tinh 6n định và có thể đự đoán trước của các cơ chế, chính sách, quy định
thương mại của mình Rất là khó khăn cho các nhà đầu tư muốn hoạch định một chiến lược lâu đài tại một quốc gia mà luật pháp cứ thay đổi liên tục, chính sách không rõ
ràng và tất ca các quy định đấy không biết sẽ thay đổi theo hướng có lợi hay bat lợi
cho các nhà đầu tư WTO nhìn thấy được sự ái ngại và lo sợ của các nhà đầu tư nên đã đưa nguyên tắc này vào hoạt động của mình Lợi ích từ nguyên tắc nay thé hiện ở việc thu hút được các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào, thúc đấy cạnh tranh để các doanh nghiệp trong nước không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm tạo điều kiện cho người tiêu ding sé có nhiều sự lựa chọn Xét về phương diện pháp lý, thể hiện của nguyên tắc này ở việc ràng buộc của các quốc gia đối với các cam kết của mình về mở cửa thị trường khi quốc gia đàm phán gia nhập WTO
- Thứ tư, Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng: Có thể nói rằng WTO là một tổ
chức “ương mại tự do”, nhưng đôi khi điều này không hoàn toàn chính xác Hệ thống quản lý chặt chẽ việc áp dụng thuế quan, nhưng trong một vài trường hợp cụ thể
thì có thể áp dụng một số biện pháp bảo hộ Sẽ là chính xác hơn nếu nói WTO gồm hệ
thống các quy tắc nhằm tạo môi trường cạnh tranh công khai, công bằng và không biến dạng” WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hoặc các biện pháp bảo hộ khác Và để thực hiện việc tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, WTO đưa ra một số biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá
- Thứ năm, Thúc đây sự phát triển và cải cách kinh tế bằng cách ưu đãi hơn cho các quốc gia kém phát triển: Trình độ phát triển của mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau Dù mục tiêu lớn nhất của WTO vẫn là tạo môi trường cạnh tranh công bằng để thúc đây thương mại phát triển nhưng suy cho cùng việc này rất khó xảy ra WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển, kém phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa phương Hơn 3/4 của các
9 L’Organisation mondiale du commerce, Division de |’information et les relations extérieures: Comprendre TOMC, 2011 tr 12
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 8 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 16thành viên WTO được các nước đang phát triển và các quốc gia trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Trong bảy năm rưỡi kéo đài của vòng đàm phán Uruguay, hon 60 quéc gia thuộc nhóm này đã triển khai thực hiện các chương trình tự chủ trong tự do hóa thương mại'” Đồng thời, các nước đang phát triển và các quốc gia trong quá trình chuyên đổi đã đóng vai trò chủ động hơn và có ảnh hưởng hơn trong các cuộc đàm phán của Vòng đàm phán Uruguay, và vai trò này là tiếp tục tăng cường thông qua chương trình phát triển Doha Nhận thấy được số lượng và tầm quan trọng của các quốc gia này nên việc WTO đưa nguyên tắc này vào hoạt động của mình là
điều dễ hiểu
1.1.3.2 Cơ chế hoạt động
Tổ chức thương mại thế giới họp mỗi năm hai lần dưới hình thức của các Hội
nghị Bộ trưởng Ngoài ra còn có kỳ họp của các Đại hội đồng Hình thức thông qua
các vấn đề được WTO sử dụng là hình thức “đồng thuận” Đây là hình thức khác với
hình thức biểu quyết (biểu quyền bằng giơ tay, bằng bỏ phiếu ) Hình thức đồng
thuận được hiểu là tại thời điểm thông quan quyết định đó, không có thành viên nào có mặt tại phiên họp chính thức phán đối quyết định dự kiến Nếu không đạt được sự
đồng thuận thì quyết định sẽ đưa ra bằng cách bỏ phiếu Mỗi thành viên chỉ có một
phiếu, giá trị mỗi phiếu là như nhau và quyết định được thông qua trên cơ sở đa số
phiếu Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hình thức thông qua bằng cách đồng thuận không được sử đụng mà áp dụng ngay hình thức bỏ phiếu"
Tổng Giám đốc phải trình lên Uỷ ban Ngân sách, Tài chính và Quản trị báo cáo tài chính và dự toán ngân sách hàng năm của WTO Uỷ ban Ngân sách, Tài chính và Quản trị sẽ xem xét báo cáo này và đưa ra các khuyến nghị, đề xuất lên Đại Hội đồng
Dự toán ngân sách và Quy chế tài chính và dự toán ngân sách hàng năm phải được Đại Hội đồng thông qua bởi 2/3 số phiếu của trên một nửa số Thành viên WTO Ngân sách của WTO được hình thành dựa trên đóng góp của các thành viên của mình theo tỷ
lệ trong số hoạt động thương mại của thành viên đó '” WTO cũng quán lý một số quỹ
ủy thác, đã được đóng góp bởi các thành viên Chúng được sử dụng đề hỗ trợ các hoạt động đặc biệt cho hợp tác kỹ thuật và đào tạo nhằm hỗ trợ các nước kém phát triển và
'° L’Organisation mondiale du commerce, Division de l’information et les relations extérieures: Comprendre
TOMC, 2011, tr 13
! Như tại Điều 9 khoản 2 Hiệp định Marrakech: Hội nghị Bộ trưởng và Đại Hội đồng có thâm quyền chuyên
biệt đề thông qua việc giải thích của Hiệp định này và của các Hiệp định Thương mại Đa biên Trong trường hợp giải thích một Hiệp định Thương mại Đa biên trong Phụ lục 1, Hội nghị Bộ trưởng và Đại Hội đồng sẽ thực thi thầm quyền của họ trên cơ sở đề xuất của Hội đồng giám sát chức năng của hiệp định đó Quyết định thông qua
sẽ được chấp nhận bởi 3/4 số Thành viên
!2 Điều 7 Hiệp định Marrackech
Trang 17'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
đang phát triển để sử dụng tốt hơn trong WTO, hưởng lợi từ hệ thống thương mại đa
phương Tính đến hết năm 2012, ngân sách của WTO là 196.003.900 franc Thụy Sĩ”
1.1.4 Những hiệp định của WTO
Tổ chức thương mại thế giới thực hiện việc quản lý thông qua các hiệp định, do
đó hệ thống các hiệp định trong WTO rất đa dang và bao trùm lên nhiều lĩnh vực Một
số hiệp định quan trọng bao gồm:
- Thứ nhất, Hiệp định về thương mại hàng hóa
» Hiệp định chung về thuế quan va thuong mai (GATT — General Agreement on Tariffs 1994)
Hiệp định được xây dựng trên cơ sở của GATT 1947, theo nguyên tắc của mô hình ba cấp: () GATT 1994 được bắt đầu bằng nguyên tắc cơ bản: thương mại không
phân biệt đối xử; (ii) các hiệp định bổ sung và các phụ lục bao gồm các điều khoán
đặc biệt liên quan đến những ngành hoặc những vấn đề chuyên biệt; (iii) đanh mục và chi tiết nêu cam kết của mỗi nước mở cửa thị trường nội địa của mình cho các nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài Các danh mục ở phần phụ lục của GATT bao gồm các cam kết có tính rằng buộc về thuế quan đối với thương mại hàng hóa nói chung, về thuế quan và hạn ngạch thuế quan đối với thương mại một số sản phẩm nông nghiệp '
* Hiệp định Nông nghiệp (AOA — Agreement of Agriculture)
Nội dung của hiệp định quy định về cách tiếp cận thị trường, cũng như hỗ trợ trong nước và những trợ cấp xuất khẩu cho các sản phẩm nông nghiệp được liệt kê trong Phụ lục I của hiệp định Việc thực hiện hiệp định này đang được các quốc gia thành viên tuân thủ Tuy nhiên, trong vòng đàm phán Doha, các quốc gia vẫn còn đang bàn luận để đưa những nội dung mới vào hiệp định này
* Hiệp định về hang dét may (ATC — Agreement on Textiles and Clothing) Hiệp định ATC ra đời thay thế cho Hiép dinh hang da soi MFA (Multi Fibre Arrangement) được xây dựng năm 1974 để quản lý thương mại quốc tế trong lĩnh vực hàng dệt may, một lĩnh vực khá nhạy cảm vì mặt hàng này được rất nhiều quốc gia quan tâm Điều đặc biệt ở Hiệp định này chính ở việc nó có quy định điều khoản tự
hủy Cụ thé là Hiệp định ATC chính thức chấm dút hiệu lực kế từ ngày I tháng 1 năm
2005, và thương mại về hàng dệt may sẽ quay về áp dụng các nguyên tắc của GATT
1994 Do đó, chế độ hạn ngạch về hàng dệt mau sẽ bị chấm đứt và các nước nhập khẩu
mặt hàng này không được đề ra các biện pháp phân biệt đối xử với các quốc gia xuất khẩu khác nhau
'3 World Trade Organisation: WTO Secretariat budget for 2012,
http://www.wto.org/english/thewto_e/secre_e/budget_e.htm [truy cập ngày 20-1-2013]
'* Nguyễn Anh Tuấn: Giáo trình Tổ chức Thương mại thế giới (WTO — OMC), Nxb Chính trị quốc gia, 2008, tr
50
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 10 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 18* Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS — Sanitary and Phyto-Sanitary)
Mục tiêu xây dựng hiệp định này nhằm đề ra các biện pháp cần thiết nhằm mục tiêu bảo vệ sức khỏe và đời sống của người dân, bảo vệ các loài động thực vật Hiệp định này được xây dựng gồm 14 điều và ba phụ lục
* Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT - Technical Barierrs to Trade)
Hiệp định TBT công nhận quyền của các quốc gia trong việc áp dụng các quy
định, tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng với điều kiện là các quy định, tiêu chuẩn đó không
được tạo ra các rào cản không cần thiết trong thương mại nhằm gây khó khăn cho các nhà sản xuất và xuất khẩu Mục tiêu của hiệp định này cũng nhằm kiểm soát việc đặt
ra quá nhiều luật lệ “vô lý” để cản trở sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu
» Hiệp định về các thủ tục cấp phép nhập khẩu (IPL — Import Licensing
Procedures)
Theo như quy định tại hiệp định này, các thủ tục cấp phép nhập khâu phải đơn giản, minh bạch và có thể dự đoán được nhằm không tạo ra một rào cản trong thương mại Các quốc gia phải công bố rõ ràng và đầy đủ những thông tin liên quan đến việc xin giấy phép và sửa đổi các thủ tục hiện hành sao cho phù hợp và đơn giản hóa
» Hiệp định về kiểm hóa trước khi xuất khẩu (PSI — Pre-Shipment
Inspection)
Hiệp định quy định về các nguyên tắc và nghĩa vụ áp đụng cho các cơ quan giám định đề xác định thông tin chủ yếu về giá cả, chất lượng và số lượng do các quốc
gia nhập khâu đặt ra trước khi nhập khâu hàng vào quốc gia đó Mục đích xây dựng
hiệp định này để bảo vệ lợi ích tài chính quốc gia và bù đắp cho những khiếm khuyết trong cơ cầu hành chính Hiệp định này được các quốc gia đang phát triển quan tâm sử dụng nhiều
* Hiệp định về quy tắc xuất xứ (ROO — Rule Of Origin)
Việc xây dựng Hiệp định ROO với mục tiêu làm hài hòa các quy tắc xuất xứ và
ồn định thương mại thế giới Các quy tắc xuất xứ phải rõ ràng và đự đoán được cũng như không tạo nên trở ngại không cần thiết cho thương mại; phải đảm bảo rằng các quy tắc xuất xứ không vô hiệu hóa hay ảnh hưởng đến quyền của các thành viên được quy định trong GATT 1994 Ngoài ra, các quy tắc này còn phải còn phải được chuẩn
bị và áp dụng một cách vô tư, công khai, có thể dự đoán trước, nhất quán và trung lập
* Hiệp định trị giá hải quan (ACV — Agreement on Customs Valuation) hay
còn gọi là Hiệp định thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan GATT
Trang 19'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
Hiệp định này được xem như phần làm rõ những quy định của GATT 1994 về trị giá hải quan Hệ thống định giá của hiệp định đựa trên các tiểu chuẩn đơn giản và công bằng có xem xét đến các tập quán thương mại “Sự khác biệt chủ yếu giữa Bộ luật về trị giá hải quan và Hiệp định ACV là việc bắt buộc tắt cả các nước thành viên của WTO phải tham gia”
* Hiệp định về các biện pháp tự vé (ASG — Agreement on Safeguards) Trước kia, các biện pháp tự vệ được quy định tại Điều XIX của GATT 1947, nhưng từ sau năm 1994, vẫn đề này được xây dựng thành Hiệp định về các biện pháp
tự vệ mà tất cả các nước thành viên phải tham gia Hiệp định cho phép một nước thành
viên của WTO có thể tạm thời hạn chế nhập khâu một sản phẩm nếu việc gia tăng
nhập khẩu sản phẩm này (có thể là tăng tuyệt đối hay tăng tương đối) gây ra hay đe dọa gây ra thiệt hại cho việc sản xuất mặt hàng tương tự tại nước nhập nhấu đó (gây thiệt hại nghiêm trọng) ASG quy định các biện pháp tự vệ không được mang tính
phân biệt đối xử, tức là không được sử dụng để đánh vào hàng xuất khâu của một nước
cụ thể nào!®,
* Hiệp định về trợ cấp (ASCM - Agreement on Subsidiesand Countervailing Messures)
Hiệp định bao gồm các nguyên tắc chung có liên quan đến trợ cấp và các biện
pháp đối kháng (biện pháp chống trợ cấp) mà tất cả thành viên WTO phải tuân thủ
Hiệp định có quy định những trợ cấp bị cắm và các chế tài, những trợ cấp nào có thé
đối khác và những trợ cấp nào không thê đối kháng
s Hiệp định về bán phá giá (AAD) hay còn gọi là Hiệp định về thực hiện
Điều VI của WTO
Vấn đề chống bán phá giá là một vấn đề được rất nhiều quốc gia thành viên của WTO quan tâm Hiệp định quy định cụ thể về các vấn đề như xác định việc bán phá giá, bằng chứng, các biện pháp tạm thời đánh thuế và thu thuế chống bán phá giá, tham vấn và giải quyết tranh chấp Hiện nay, bảy thị trường xuất khẩu tập trung của hàng hóa Việt Nam gồm Hoa Kỳ, Nhật, Trung Quốc, Uc, Singapore, Đức và Anh Việt Nam dang tập trung xuất khâu vào 9 mặt hàng được đánh giá là chủ lực có tốc độ tăng trưởng nhanh và gần chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đứng hàng
thứ 39/260 nước có tổng thương mại xuất khẩu lớn nhất thế giới Tốc độ tăng trưởng
'S Sweden National Board, Consequence of WTO to developing countries, 2004, Stockholm, Sweden
'® Nguyễn Anh Tuấn: Giáo trình Tổ chức Thương mại thé giới (WTO — OMC), Nxb Chính trị quốc gia, 2008, tr
142
! Điều 2 của Hiệp định chống bán phá giá quy định: một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu
thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thếp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 12 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 20về xuất khẩu của Việt Nam rất cao tới 20% trên năm, trong khi tốc độ tăng trưởng bình quân trên thế giới khoảng 6%-8% trên năm Các mặt hàng Việt Nam bị kiên như cá ba-sa, tôm (với Hoa kỳ), giày da, xe đạp (với EU), giày không thắm nước (với Canada) Về phía mình, doanh nghiệp Việt Nam không có thói quen đi kiện tụng Do vậy, tính đến tháng 7/2009, Việt Nam đã bị kiện 39 vụ nhưng chưa diễn ra vụ kiện nào liên quan đến việc bán phá giá của hàng hóa của các nước nhập khẩu vào thị trường được thực hiện Việt Nam đang nằm ở trong danh sách 100 nước đã phải đối mặt với
việc bị kiện bán phá giá'Š
s Hiệp định về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại (TRIMs - The Agreement on Trade-Related Investment Measures)
Hiệp định TRIMs chỉ áp dụng đối với các biện pháp đầu tư liên quan đến
thương mại hàng hoá (Điều 1, Hiệp định TRIMs) Nội dung hiệp định xoay quanh các vấn đề như đối xử quốc gia và hạn chế số lượng, việc minh bạch hóa chính sách đầu
tư, tham vấn và giải quyết tranh chấp, ưu đãi cho các quốc gia đang phát triển
- Thứ hai, Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại
(TRIPs)
WTO xây dựng Hiệp định TRIPs nhằm mục đích giảm bớt sai lệch và cản trợ
đối với thương mại quốc tế, thúc đây bảo vệ tích cực và hiệu quả các quyền về sở hữu trí tuệ cũng đảm bảo các biện pháp và thủ tục thực thi không tạo rào cản đối với thương mại Việc bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ góp phần đổi mới và chuyền giao công nghệ với mục tiêu sau cùng là mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất
và người sử dụng Hiệp định này là bắt buộc đối với tất cả thành viên”
- Thứ ba, Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS — General Agreement on
!8 Á¡ Vân: Để tránh bị kiện bán phá giá, VNEconomy, 2009,
http://vneconomy.vn/20090813 100137436P19C993 1/de-tranh-bi-kien-ban-pha-gia.htm, [ngày truy cập 25-I- 2013]
!' OMC E-learning: Les accords commerciaux multilatéral de l’OMC, thang 4/2012, tr 49
?°N6i dung nay sẽ được trình bay trong chương 2 về Thương mại dịch vu
Trang 21
'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
tham gia vào các quyết định của DSB liên quan đến hiệp định DSB ra quyết định thông qua sự đồng thuận, có thâm quyền và họp thường xuyên khi cần thiết để thực hiện các chức năng của mình trong khuôn khổ thời gian do DSU qui định DSB phải thông báo cho các ủy ban và hội đồng WTO liên quan về bất cứ tiến triển nào trong tranh chấp liên quan tới các điều khoán của các hiệp định” Nội dung của DSU quy định về môi giới, trung gian, hòa giải, thành lập ban hội thấm, xét xử, ra quyết định giải quyết tranh chấp, trọng tài
1.2 CAC QUOC GIA DANG PHAT TRIEN TRONG WTO
1.2.1 Khai niém
Việc phân loại các quốc gia thành các nhóm nước phát triển, nhóm nước đang phát triển đã được các tổ chức quốc tế thực hiện như Liên Hợp Quốc, Quỹ tiền tệ quốc
tế, Ngân hàng thế giới thực hiện từ khá lâu Ví dụ như năm 1971, Đại hội đồng của
Liên Hợp Quốc đã xếp 49 quốc gia vào nhóm các nước kém phát triển để được nhận những hỗ trợ đặc biệt trong khi thực thi chương trình phát triển mười năm lần thứ hai
từ năm 1970 Tuy nhiên, Đại hội đồng đã chưa thiết lập được nguyên tắc phân loại sự
phát triển chung cho tất cả các thành viên Trong khi đó, các tổ chức quốc tế đã lập
đưa ra những nguyên tắc phân loại để xếp loại sự phát triển của các quốc gia gồm
UNDP”, Ngan hang thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế””
Về việc phân loại các thành viên trong WTO, hiện vẫn chưa có một khái niệm
nao là rõ ràng để định nghĩa như thế nào là “zuốc gia dang phát triển” Việc một quốc
gia được xem có phải là một quốc gia thuộc nhóm phát triển hay đang phát triển hay không tùy thuộc vào tuyên bố của chính quốc gia đó” Điều này cũng có nghĩa rằng
địa vị của mỗi quốc gia là do chính quốc gia đó định đoạt Chính quốc gia đấy hiểu rõ
và thấy rõ tiềm lực và khả năng của mình đến đâu trong hơn 150 thành viên của WTO
mà quyết định cho mình một chỗ đứng phù hợp Và điều này cũng có nghĩa rằng trong mỗi hiệp định khác nhau của WTO, cũng từ cách nhìn nhận từ phía quốc gia đó mà
mỗi quốc gia đặt mình ở thứ bậc nảo Sẽ có hiệp định quốc gia này đứng ở vị trí là
quốc gia phát triển, nhưng sẽ có hiệp định quốc gia đây lại đứng ở vị thế của quốc gia đang phát triển Do đó, việc xem xét các nước đang phát triển trong WTO thuộc một
?! Minh Quang, Với DSU, giái quyết tranh chấp trong WTO nhanh hơn, 2007,
http://vneconomy.vn/ó9860P 19C993 I/voi-dsu-giai-quyet-tranh-chap-trong-wto-nhanh-hon.htm, [ngày truy cập 25- 1-2013]
® UNDP: chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc với nhiệm vụ giúp đỡ các quốc gia trong đổi mới , là cầu nối giữa các quốc gia với tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực dé giúp đỡ người dân cải thiện cuộc sống tốt hơn
°3 IMF Working Paper: Classifications of Countries Based on Their Level of Development: How it is Done and How it Could be Done, 2-2011
*4 World Trade Organisation: What are the developing countries in the WTO?
http://www.wto.org/english/tratop_e/devel_e/d1who_e.htm, [truy cập ngày 15-1-2012]
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 14 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 22nhóm đồng nhất là điều khập khiễng vì có thể các quốc gia cùng một nhóm trong hiệp định này nhưng chính các quốc gia đấy lại chia thành hai nhóm khác nhau trong một hiệp định khác Và trên hết là do các quốc gia này không nằm trong một nhóm đồng nhất, nên chắc chắn rằng mức độ phát triển, mức độ thu nhập, đặc điểm thương mại
là khác nhau Theo thống kê của WTO thì con số các nước thuộc nhóm thành viên
thành đang phát triển chiếm khoảng 3/4 các nước thành viên Điều này có nghĩa rằng một số lượng rất lớn các quốc gia đang nhận thức được vai trò cũng nhu tầm quan trọng của WTO nên đã gia nhập WTO và xếp mình và nhóm quốc gia đang phát triển
để được hưởng những lợi ích từ tổ chức này Tuy nhiên, WTO cũng đang mang phải
một gánh nặng trong việc đảm bảo làm sao để cân bằng được hoạt động thương mại thế giới trong khi vẫn đám bảo lợi ích các thành viên
Riêng quy định về các quốc gia kém phát triển nhất (LDCs — Least-developed countries) WTO lại căn cứ vào danh sách xếp hạng của Liên Hợp Quốc Cụ thể có 49 quốc gia bị xếp hạng là quốc gia kém phát triển theo Liên Hợp quốc và trong số đó có
34 quốc gia là thành viên của WTO” Cũng như nhóm các nước đang phát triển, các nước kém phát triển cũng muốn tham gia WTO để thúc đây thương mại trong nước hoạt động tốt hơn
1.2.2 Lịch sử ra đời của nhóm các quốc gia đang phát triển trong WTO
Nguồn gốc của việc phân loại vị thế của các quốc gia trong WTO có thể được
xem là bắt nguồn từ việc thực thi Hiệp định GATT 1947, tiền thân của WTO Lúc đầu,
GATT không có sự phân biệt đối xử giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển Thế nhưng dần dần thực tế, các quốc gia đang phát triển cần có những ưu đãi hơn các
quốc gia khác Việc ký kết Hiệp định GATT lúc đầu được thực hiện bởi 23 quốc gia
Hiệp định đã thực hiện nghiêm khắc các cam kết để đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc được đưa ra và không nhằm tạo sự có lợi hơn cho bất cứ quốc gia nào Tuy nhiên,
trong số các quốc gia tham gia GATT 1947, có đến I1” nước là các quốc gia đang
phát triển Trong những năm đầu của Hiệp định GATT (1948-1955), các nước đang phát triển đã tham gia vào các cuộc đàm phán về vấn đề thuế quan cũng như các khía cạnh khác trong công việc của tổ chức như là các đối tác bình đẳng Họ đã bắt buộc
? LDCs trong WTO gồm: Angola, Bangladesh, Benin, Burkina Faso, Burundi, Campuchia, Cộng hòa Trung phi,
Chad, Congo, Djibouti, Gambia, Guiné, Guiné Bissau, Haiti, Lào, Leyhoso, Madagascar, Malawi Mauritania, Mozambique, Myanmar, Nepal, Niger, Rwanda, Samoa, Senegal, Sierra Leon, Solomom, Tanzania, Togo, Uganda, Vanuatu, Zambia
6 Bao gồm các nước: Brazil, Miến Điện (Myanmar), Trung Quốc, Tích Lan (Sri Lanka), Chile, Cu Ba, Án Độ, Lebanon, Pakistan, Nam Rhodesia (Zimbabwe) và Syria
Trang 23'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
phải tuân thủ các quy tắc tương tự như các đối tác là quốc gia phát triển và phải chứng minh cho việc thêm vào các biện pháp hạn chế thương mại””
Trong 25 năm đầu tiên thực thi Hiệp định GATTT, các cuộc đàm phán đã làm cho hàng rào thuế quan quan đối với hàng hóa công nghiệp của các nước đang phát triển giảm từ mức trung bình 40% xuống còn xấp xỉ 4% Tuy nhiên các sản phẩm quan trọng theo quan điểm của các nước đang phát triển (như hàng nông sản và dệt may) phần lớn không nằm trong các cuộc đàm phán này Về sau, trọng tâm đã chuyên từ thuế quan sang các hàng rào thương mại phi thuế quan Nhiều nước đang phát triển đã chọn hướng không tham gia vào các hiệp định này mà thay vào đó là tham gia dưới hình thức hiệp định phụ tự nguyện Đến Vòng đàm phán Uruguay, một yêu cầu đặt ra
là các nước là thành viên của WTO phải tham gia tất cả các hiệp định đù là trình độ phát triển chênh lệch nhau Ngay tại lời mở đầu của Tuyên bố Marrakesh 1994 về thành lập tổ chức Thương mại thế giới cũng thể hiện rõ điều này: “Thừa nhận thêm rằng cân phải có nỗ lực tích cực đề đảm bảo rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ lệ phan tang trưởng trong thương mại quốc té tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia đó””
Năm Nội dung
1947 GATT được thành lập với tiêu chuẩn nhân nhượng lẫn nhau nghiêm
ngặt (nghĩa là kỳ vọng tất cả các nước phải cho phép tiếp cận thị
trường đề đổi lại điều gì đó)
1954-1955 Rà soát lại GATT Lần đầu tiên không thực hiện tiêu chuẩn nhân
nhượng lẫn nhau cùng với các quy định đặc biệt cho các nước đang
phát triển
1964 Địa vị của các nước đang phát triển được tăng cường ở bên ngoài
thông qua việc thành lập UNCTAD (Cơ quan của Liên Hợp Quốc nhằm thúc đẩy thương mại và lợi ích phát triển của các nước đang phát triển) và bên trong thông quan Ủy ban Thương mại và Phát
triển của GATT
1965 Doan bé sung trong GATT (Phan IV) vé Thuong mai và Phát triển 1973-1979 Vòng đàm phán Tokyo: nguyên tắc GATT à la carte được đặt ra với
sự tham gia tự nguyện vào các hiệp định mới
Trang 24
1979 Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt được thê chế hóa thông qua
Điều khoản thi hành
1986-1994 Vòng đàm phán Uruguay: Quay lại tiêu chuẩn nhân nhượng lẫn
nhau thông qua việc tất cả các thành viên đều tham gia vào tất cả các hiệp định Tính linh hoạt động được duy trì thông qua đối xử
đặc biệt và khác biệt trong khuôn khổ từng hiệp định,
Sự hình thành các quy định đặc biệt đối với các nước đang phát triển”
1.2.3 Ánh hưởng của WTO đến các quốc gia đang phát triển
Tham gia vào WTO mang đến cho tất cả các thành viên cả những tác động tích
cực và tiêu cực Việc gia nhập này của tất cả các nước nói chung và các nước đang
phát triển nói riêng đều mang đến những thuận lợi nhất định Có thể liệt kê mười thuận
lợi cho các quốc gia khi gia nhập WTO như”?:
- WTO góp phần vào gìn giữ hòa bình
- Các tranh chấp được giải quyết bằng cách xây dựng
- Đơn giản hóa các quy tắc
- Tự đo hóa thương mại nhằm giảm chỉ phí sinh hoạt
- Cung cấp sự lựa chọn rộng hơn dựa trên sự đa dạng của sản phẩm
- Thương mại thúc đây tăng trưởng thu nhập
- Thương mại thúc đây tắng trưởng kinh tế
- Những nguyên tắc cơ bản mang đến một hệ thống hoạt động hiệu quả hơn
- Các chính phủ không bị cản trở bởi các áp lực
- Thúc đây quản lý tốt thương mại công
Là thành viên của WTO cũng đồng nghĩa với việc phải tuân thủ các nguyên tắc được đặt ra, đặc biệt là hai nguyên tắc Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia rất được các thành viên WTO quan tâm Về mặt tích cực, hai nguyên tắc này tạo nên sự bình đẳng giúp các quốc gia đang phát triển không bị phân biệt với các nước phát triển về hàng hóa, dịch vụ Trên hết, các doanh nghiệp đến từ các nước đang phát triển sẽ có cơ hội để thâm nhập thị trường rộng lớn của các nước phát triển từ việc gỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan Hơn nữa từ việc thâm nhập thị trường được đơn giản hóa này, sẽ buộc các doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển phải tìm tòi, khắc phục những hạn chế của mình đồng thời áp dụng công nghệ mới để phát triển hoạt
” Kommerskollegium: Tác động của các hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển, Ủy ban quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tê, 2005, tr 31, 32
39 Organisation mondiale du commerce: 10 avantages du système commercial de I*OMC, 2008, tr 1
Trang 25'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
động sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Một điểm tích cực phải đề cập chính là tạo được việc làm cho rất nhiều lao động trong nước khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ cần nâng cao chất lượng lực lượng lao động này để đáp ứng được các chỉ tiêu gắt gao của các công ty đa quốc gia
Xét về bất lợi, phải khẳng định rằng tham gia WTO đồng nghĩa với việc quốc gia thành viên phải chấp nhận những cam kết đã đàm phán, những hiệp định đa
phương bắt buộc và những hiệp định nhiều bên đã ký Thành viên WTO không thể
muốn thực hiện hay không thì tùy vào ý chí thành viên đó mà phải tận tâm thực hiện
chúng Trong trường hợp thành viên không tuân thủ đúng thì chắc chắn rằng chế tài sẽ
được áp dụng, điển hình như việc áp đặt các biện pháp đối kháng Nguyên tắc MEN và
NT đảm bảo cho việc đối xử công bằng giữa các quốc gia thành viên, do đó ở khía cạnh tiêu cực, đây là rào cán để các quốc gia áp dụng các biện pháp hỗ trợ Sẽ khó cho chính phủ các nước nước xuất khẩu trợ cấp cho những mặt hàng thiết yếu để xuất khẩu chúng sang các nước thành viên WTO trong trường hợp này Mặt khác, một yêu cầu gắt gao về hành lang pháp lý cũng cần được thiết lập khi mở cửa thị trường Rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài sẽ đầu tư Do đó, việc quản lý, điều hành sao cho vừa tận dụng được ưu thế của mở cửa cạnh tranh, vừa bảo vệ được các doanh nghiệp trong nước trước sự thâm nhập đấy cũng rất cần được quan tâm Những tiêu cực đấy là khó lòng tránh khỏi, tuy nhiên cũng không thể nào phủ nhận rất nhiều ảnh hưởng tích cực
từ việc gia nhập WTO Nhìn chung, những nghiên cứu đã chứng minh rằng trong nửa cuối của thế kỷ trước, tác động của toàn cầu hóa đã góp phần giảm bớt sự bất bình đẳng giữa các quốc gia Trên thực tế, toàn cầu hóa đã được thực hiện trên toàn thế giới
từ những năm 50, sau thế chiến thứ hai, nhưng các quốc gia đang phát triển vẫn còn chịu ảnh hưởng của chính sách bảo hộ và không mở cửa thương mại Kẻ từ thập niên
60, các quốc gia đang phát triển nhận thức được ý nghĩa to lớn của việc mở cửa nên đã theo đuổi chính sách này Tuy nhiên, ưu tiên của các quốc gia đang phát triển không chỉ nằm trong việc hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại mà còn ở việc
theo đuôi các giá trị và đặc thù riêng về kinh tế của họ”"
1.3 THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG WTO
Trang 26Hiệp định GATS cũng không có bất kỳ định nghĩa nào về dịch vụ được đưa ra Tại
Điều 1, khoản 3, điểm c của hiệp định chỉ nêu rằng: “địch vụ bao gỗm bắt kỳ dịch vụ
nào trong bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ dịch vụ được cung cấp trong thi hành thẩm
quyên của chính phử” Thêm vào đó, điểm c tiếp tục giải thích thế nào là “địch vụ
được cung cấp trong thi hành thấm quyên của chính phú””” Lý do GATS không đưa
ra được định nghĩa thế nào là “đ;ch vụ” một phần là đo các quốc gia đã không thỏa thuận được trong quá trình đàm phán thông qua hiệp định, một phân là vì tính trừu tượng và mơ hồ của cụm từ này Do đó, khái niệm “đ/eh vự” được định nghĩa thông qua các đặc điểm cụ thể của nó sẽ phù hợp hơn Các tiêu chuẩn trừu tượng, ví đụ như
tính phi vật chất, phi vật thê và tính vô hình chỉ có thể được xem như là những hướng
dẫn mở, trong quá trình đàm phán về GATS
Đề phân biệt với hàng hóa, dịch vụ có những điểm khác biệt nhất định Tuy
nhiên cần phải thấy rằng sẽ không tồn tại một sự phân biệt tuyệt đối giữa hai khái niệm hàng hóa và dịch vụ Những đặc điểm của dịch vụ có thể kể đến như”:
- Thứ nhất, dịch vụ là vô hình và khó xác định được Khác với hàng hóa là những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa học , dịch vụ không tồn tại ở dạng vật chất bằng những sản phẩm cụ thể, không cầm nắm và nhìn thấy được Hơn nữa, vì những tính chất trên nên không để xác định chất lượng trực tiếp dịch vụ bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa Do đó, công tác thống kê, đánh giá chất lượng cũng như quy mô dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với hàng hóa thông thường
- Thứ hai, quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ và tiêu dùng thường xảy ra
đồng thời Khác với hàng hóa có thể được lưu kho đề dự trữ, có thể vận chuyền đi nơi
khác theo cung cầu của thị trường thì quá trình cung cấp dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ Việc cung cấp dịch vụ thường đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ Ví dụ, với dịch vụ tư vấn đầu tư, khi chuyên gia về đầu tư cung cấp dịch vụ tư vấn cũng là lúc người sử dụng dịch vụ tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tư vấn do người chuyên gia này cung cấp
- Thứ ba, dịch vụ không thể lưu trữ được Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ
diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu đùng Với cách hiểu đó, dịch vụ là sản phẩm không lưu trữ được và trong cung cấp dịch vụ không có khái nệm tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dịch vụ
Năm 1991, Ban Thư ký GATT đã giới thiệu “Danh sách phân loại dịch vụ theo ngành” và danh sách này được xây dựng theo “Phân loại sản phẩm trung tâm tạm
? “Dich vu được cung cấp trong thì hành thẩm quyền của chính phú”: là bắt kỳ dịch vụ nào được cung cấp
không trên cơ sở thương mại, cũng như không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiêu người cung cập dịch vụ
* Phạm Văn Giáp: Vị 0í, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới trong hệ thông thương mại đa phương, dự án Eu — Việt Nam MUTRAP II, Nxb Lao động — Xã hội, 2007, tr 142,143
Trang 27'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
thời” của Liên Hiệp Quốc (CPC — Central Product Classification) Danh sách này đã được dùng để hướng dẫn cho việc phân loại các dịch vụ của hầu hết các nước thành viên WTO vì nó bao gồm một số lượng lớn các dịch vụ tổng hợp” Theo đó 12 phân ngành dịch vụ gồm: dịch vụ nghề nghiệp và dịch vụ kinh doanh; dịch vụ viễn thông;
dịch vụ xây dựng; dịch vụ phân phối; dịch vụ giáo dục; dịch vụ môi trường; dịch vụ tài chính; dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội; dịch vụ du lịch và dịch vụ
liên quan đến du lịch; dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao, văn hóa; dịch vụ vận tải và các
dich vụ khác Việc phân loại các ngành dịch vụ chắc chắn không thể tránh khỏi những
hạn chế và nhất là không thể nào bao quát được tắt cả các hoạt động thương mại dịch
vụ, nhưng việc làm này phần nào đánh dấu được một bước chuyền đáng kế trong cách nhìn nhận của các quốc gia về thương mại địch vụ Từ 12 ngành dịch vụ, mỗi ngành sẽ được chia nhỏ thành các phân ngành nhỏ hơn Cụ thể là có 155 tiểu phân ngành dịch vụ”
Một khái niệm khác cần phải nhắc đến là thương mại dịch vụ Nếu như thương mại hàng hóa có đối tượng mua bán là hàng hóa thì trong thương mại dịch vụ, đối tượng được mua bán là dịch vụ Thương mại dịch vụ là khái niệm rộng dùng để chỉ tất
cả các hành vi cung cấp các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận (chỉ các dịch vụ được đem ra mua bán, trao đổi nhằm thu lợi nhuận thì các hành vi trao đổi
đó mới được coi là mang tính chất thương mại và nằm trong khái niệm thương mại dich vụ) Ngày nay, mặc dù ở một số nước đang phát triển, tỷ trọng đóng góp của các ngành dịch vụ trong GDP đã tăng đáng kể (ví dụ, ở Hàn Quốc là 60%, ở Braxin: 60%,
ở Zambia: 50%, ở Uganda: 40% )*“ nhưng các nước này cũng đang rất thận trọng với VIỆC phổ cập quan điểm thương mại hóa các ngành dịch vụ, kể cả các dịch vụ được coi
là lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển như dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch
vụ du lịch Do có truyền thống là các địch vụ này được Chính phủ cung cấp phi
thương, cho nên, việc thương mại hóa các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục ở các nước
đang phát triển, các nước có nền kinh tế chuyển đổi hiện đang bị chỉ trích mạnh mẽ cả
về lý luận lẫn thực tế Nhận thức về vấn đề này cũng chưa phát triển, kế cá ở các cấp chính quyền lãnh đạo Đây chính là một trong những đặc điểm về phương pháp tiếp cận đến khía cạnh thương mại trong việc cung cấp địch vụ của các nước đang phát triển mà hiện nay, thực tế này vẫn là phổ biến””
* Báo cáo Phân loại dịch vụ trong nên kinh tế số và những tác động đến quản lý nhà nước và đàm phán hiệp định thương mại tự do, dự án EU — Việt Nam MUTRAP II, tr 8
35 Tham khảo thêm Phụ lục về Bảng phân loại các ngành dich vụ trong WTO
*% Dự án VIE 97/016 của UNDP và CIEM: Gia nhập WTO — thách thức và tác động đến khung pháp lý của Việt
Trang 281.3.2 Tông quan về thương mại dịch vụ trong WTO
Hiệp định GATS được xem là văn bản khung cho hoạt động thương mại dịch
vụ trong WTO Về cấu trúc, Hiệp định GATS gồm sáu phần và 32 điều quy định từ các nghĩa vụ, nguyên tắc chung nhất đến các cam kết cụ thể và phụ lục về một số phân ngành dịch vụ Dù sao đi nữa thì Hiệp định GATS cũng chỉ là khung, là nền tảng đưa
ra các quy định mang tính định hướng, quy tắc để mỗi quốc gia có thể xây đựng một bảng cam kết về thương mại dịch vụ cho mình trong WTO Điểm chính yếu nằm ở cam kết về thương mại dịch vụ của các thành viên Mỗi thành viên căn cứ vào tình
hình kinh tế, khả năng mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của mình để đưa ra những
cam kết sao cho phù hợp với thực trạng trong nước và thỏa đáng yêu cầu các thành viên khác Việc làm này hoàn toàn không hề đơn giản Ví dụ đơn cử như Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO từ năm 1995 nhưng đến tận năm 2007 mới trở thành thành viên chính thức, và lý do trì trệ này cũng phần nào được giải thích vì sự kéo dài của
các vòng đàm phán về thương mại dịch vụ với các thành viên của WTO Do đó, có thể
đánh giá rằng chính quốc gia xin gia nhập và các quốc gia thành viên quan tâm đến việc mở cửa thị trường này như thé nao
Một điểm khá quan trọng mà hiệp định GATS đã quy định là về các phương thức cung cấp dịch vụ trong thương mại quốc tế Các thương nhân lựa chọn phương thức cung cấp dựa trên tính khả thi về công nghệ và những hàng rào thương mại ở mỗi phương thức để tiến hành cung cấp địch vụ Nhìn vào các phương thức cung cấp dịch
vụ có thể thấy được các quan hệ thương mại dịch vụ mà pháp luật cần điều chỉnh Phương thức cung cấp dịch vụ là trật tự mà pháp luật quy định cho thương nhân được thực hiện để cung cấp dịch vụ đến người tiêu dùng”” Hay theo quan điểm của Ngân hàng thế giới thì đây được xem như các rào cán thương mại, là các biện pháp, chính
sách, luật lệ do Nhà nước đặt ra dé bao hộ các nhà sản xuất và thị trường trong nước”
Các phương thức cung ứng dịch vụ bao gồm”:
- Phương thức 1 (cung cấp dịch vụ qua biên giới): Nhà cung cấp dịch vụ từ một quốc gia thành viên WTO cung cấp dịch vụ cho một khách hàng cư trú trong một
quốc gia thành viên WTO khác, có cam kết tự do hóa thương mại đối với địch vụ đó
Như vậy, dịch vụ đó, chứ không phải nhà cung cấp dịch vụ hoặc người sử đụng dịch
vụ đi qua biên giới
38 Nguyễn Như Phát, Phan Thảo Nguyên: Pháp Luật thương mại dịch vụ Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế,
* Ngân hàng thế giới (WB), “Số /ay về phát triển Thương mại và WTO”, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, tr 270
*® Báo cáo Phân loại dịch vụ trong nên kinh tế số và những tác động đến quản lý nhà nước và đàm phán hiệp định thương mại tự do, dự án EU — Việt Nam MUTRAP IIL tr 9, 10
Trang 29'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
- Phương thức 2 (tiêu dùng ngoài lãnh thổ): Dịch vụ được một khách hàng sử dụng ở quốc gia xuất xứ của nhà cung cấp dịch vụ, nhưng khách hàng sử đụng địch vụ đến từ một quốc gia khác Như vậy, phương thức này dẫn đến sự di chuyển quốc tế của người sử dụng dịch vụ
- Phương thức 3 (hiện diện thương mại): Nhà cung cấp dịch vụ thiết lập một cơ
Sở trong lãnh thô của một nước thành viên WTO có cam kết tự do hóa thương mại các dịch vụ tương ứng và dịch vụ được phân phối bởi đại diện thương mại này cho khách hàng trong lãnh thổ quốc gia đó Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ di chuyển qua biên giới vào lãnh thổ của người sử dụng dich vu
- Phương thức 4 (hiện diện thể nhân): Nhà cung cấp dịch vụ hiện diện trong lãnh thổ của một nước thành viên WTO cam kết tự do hóa thương mại các dịch vụ tương ứng và dịch vụ được cung cấp cho khách hàng trong phạm vi lãnh thổ của nước
thành viên WTO đó Vì vậy, thể nhân đi qua biên giới để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ nước khác; như thé, thời gian ở lại nước đó của thế nhân bị giới hạn trong thời gian
cung cấp dịch vụ
Tổ chức thương mại thế giới ra đời góp phần thúc đây hoạt động thương mại quốc tế phát triển và lý do chính là nhờ vào các nguyên tắc của nó Từ các nguyên tắc chung của WTO, GATS đã xây dựng những nguyên tắc trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Có thể phân thành hai nhóm như sau:
- Thứ nhất, nhóm nguyên tắc chung: nhóm này gồm có Đãi ngộ Tối huệ quốc (MEN) và Tính minh bạch
s Đãi ngộ Tối huệ quốc: quy định tương tự nguyên tắc Tối huệ quốc của Hiệp định Marrakech Nhung tai Hiép dinh GATS, nguyén tac MEN cho phép các thành viên có thể duy trì một biện pháp trái với quy định của nguyên tắc MFN gốc (không phân biệt đối xử giữa các quốc gia) miễn là biện pháp đó được liệt kê và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các miễn trừ của Điều II Hơn nữa, GATS không ngăn cản bất kỳ một thành viên nào dành cho các nước lân cận những thuận lợi nhằm thúc đây sự trao đổi dịch vụ được cung cấp và tiêu thụ trong phạm vi giới hạn của vùng cận biên
s Tính minh bạch: nội đung của quy tắc này được quy định cụ thé tại Điều
II của Hiệp định GATS Điền hình như các thành viên phải khẩn trương công bố mọi
biện pháp liên quan có tính chất áp dụng gắn với hoặc tác động đến việc thi hành Hiệp
định, chậm nhất là trước khi các biện pháp đó có hiệu lực thi hành, trừ những trường
hợp khẩn cấp Hoặc các thành viên phải ít nhất là mỗi năm một lần thông báo cho Hội
đồng Thương mại dịch vụ về ban hành và sửa đổi các luật, quy chế hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến các cam kết về thương mại dịch vụ
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 22 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt
Trang 30- Thứ hai, nhóm nguyên tắc về cam kết cụ thể: nhóm này gồm có Đãi ngộ quốc gia (NT) và Tiếp cận thị trường
s Đãi ngộ quốc gia: mỗi thành viên phái dành cho dịch vụ và người cung
cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn
sự đãi ngộ được thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của chính
mình trong những lĩnh vực được cam kết và tùy thuộc vào các điều kiện và tiêu chuẩn được cam kết Tuy nhiên, các cam kết cụ thể được quy định trong nguyên tắc này sẽ
không được hiểu là yêu cầu đối với bất kỳ thành viên nào bồi thường các bắt lợi cạnh
tranh cố hữu do đặc tính nước ngoài của các dịch vụ hoặc người cung cấp dich vụ liên quan xảy ra””
° Tiếp cận thị trường: mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự
đãi ngộ theo những điều kiện, điều khoản và hạn chế đã được thỏa thuận và quy định
tại Cam kết cụ thể Trong những lĩnh vực có cam kết mở cửa thị trường, các thành viên không được duy trì hoặc ban hành những biện pháp dù là ở quy mô vùng hoặc trên toàn lãnh thồ như (trừ trường hợp có quy định khác trong cam kết) quy định tại Điều
XVI, khoản Hiép dinh GATS”
1.4 DICH VU PHAN PHOI VA XU HUONG PHAT TRIEN CUA DICH VU PHAN PHOI TAI VIET NAM
1.4.1 Khai niém
Ngành phân phối đóng một vai trò quan trong trong việc kết nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng Hiệu quả của ngành này đóng một vai trò quan trong dé dam báo cho người tiêu dùng có thể tiếp cận được những sản phẩm đa dạng với giá cá cạnh tranh Tuy nhiên, ngành này sẽ khó thé phát triển bởi những chính sách hạn chế cạnh tranh của chính phủ, từ đây dẫn đến lãng phí các nguồn tài nguyên và các chỉ phí kinh
*' Nguyễn Như Phát, Phan Thảo Nguyên: Pháp Luật thương mại dịch vụ Việt Nam và hội nhập kinh tế quốc tế,
Nxb Bưu điện, 2006, tr 224
® Điều XVI, khoản 2 Hiệp định GATS:
(a) Hạn chế số lượng người cung cấp dịch vụ dù dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu ‹ cầu kinh tế;
(b) Hạn chế về tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế;
(c) Hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụ đầu ra tính theo số lượng dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế;
(d) Hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thể hoặc một người cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu câu về nhu cau kinh té;
(e) Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua đó người
cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ;
(0 Hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài bằng việc quy định giới hạn phan trăm tối đa cổ phần của bên nước ngoài hoặc tổng trị giá đầu tư nước ngoài tính đơn hoặc tính gộp
Trang 31'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
tế” Đấy là quan điểm của WTO về ngành dịch vụ phân phối Nhận thấy được tính quan trọng của ngành này và trên hết là căn cứ vào hệ thống phân loại sản phẩm của
Liên Hợp Quốc (CPC), hiệp định GATS cũng đã ghi nhận dịch vụ phân phối vào cam
kết của các thành viên của WTO Còn tại Việt Nam, mặc dù đây là một ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước nhưng hiện pháp luật nước ta vẫn chưa có một khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ cho lĩnh vực này Mặc dù ngành này thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thương mại nhưng trong Luật Thương mại 1997 không tìm thấy được quy định cụ thể nào trong các hành vi thương mại có hành vi
phân phối Có thể các nhà làm luật đã đánh đồng “hành vi phân phối” và hành vi mua bán” Đến Luật Thương mại 2005, vẫn không tìm thấy quy định riêng biệt nào về phân phối và quy định phân phối là gì Nhưng có một điểm đáng chú ý là tại Bộ luật Tố
tụng dân sự 2004, Điều 29, khoản 1, điểm c lại quy định tách biệt phân phối với mua
bán hàng hóa (Điều 29, khoản 1, điểm a) và cung ứng dịch vụ (Điều 29, khoản 1, điểm
b) Việc ghi nhận như trên tại Bộ luật tố tụng dân sự là điều rất tiến bộ nhưng suy cho
cùng thì việc ghi nhận đấy cũng chỉ đừng lại ở việc luật định chung chung mà không
có bất kỳ sự giải thích nào rõ ràng Việt Nam nhận thức được vị trí của ngành dịch vụ phân phối trong nền kinh tế quốc gia nhưng vẫn còn nhập nhằng trong phân biệt ngành dịch vụ này với các ngành dịch vụ khác Đến khi Nghị định 23/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy định chỉ tiết LTM về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là Nghị định 23/2007/NĐ-CP) được ban hành, phân phối được xem như có một chỗ đứng rõ ràng trong hệ thống pháp lý Việt Nam Điều 3, khoản 5 của Nghị định giải thích: “Phân phối là các hoạt động bán buôn, bán lẻ, đại lý thương mại và nhượng quyên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam” Điều 3, khoản 6 Nghị định còn quy định thêm “Quyên phân phối là quyên thực hiện trực tiếp các hoạt động phân phối” Quy định nói trên là tương thích với quy định của WTO về dịch vụ phân phối va dé cho ngành dịch vụ này có một hành lang pháp lý cụ thể ở Việt Nam Ngành phân phối được phân ngành bốn phân ngành nhỏ gồm: dịch vụ đại lý thương mại, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại
- Thứ nhất, Đại lý thương mại còn gọi là đại lý mua bán hàng hóa, đại lý ủy quyền, đại lý hoa hồng là tiểu phân ngành trong địch vụ phân phối được quy định cụ thể nhất trong LTM 2005 Dai lý thương mại được quy định cụ thể tại Mục 4 của Chương V về các hoạt động trung gian thương mại Điều 166 định nghĩa: “Đại jÿ thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lÿ và bên đại lÿ thỏa thuận
* Distribution services
www.wto.org/english/tratop_e/serv_e/distribution_e/distribution_e.htm , [truy cap ngay 29-2-2013]
GVHD: TS Cao Nhat Linh Trang 24 SVTH: Pham Tuấn Kiệt
Trang 32việc bên đại lỷ nhân danh chính mình mua, bản hàng hóa cho bên giao đại lỷ hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hướng thù lao” Ngược lại với sự phân biệt hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và hoạt động đại lý thương mại
như pháp luật Việt Nam, Tổ chức Thương mại Thế giới chỉ quy định một hình thức
dịch vụ đại lý ủy quyền; theo đó, bên đại lý tiến hành các giao dịch theo sự ủy nhiệm của (thay mặt cho) người khác Ví dụ: họ bán những mặt hàng được cung cấp,
và thông thường những mặt hàng này thuộc sở hữu của người khác, cho những người bán buôn, bán lẻ hoặc các cá nhân
- Thứ hai, Dịch vụ bán buôn được định nghĩa theo Điều 3, khoản 7 Nghị định 23/2007/NĐ-CP: “Bán buôn là hoạt động bán hàng hoá cho thương nhân, tổ chức khác; không bao gồm hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng”
Định nghĩa này còn khá mơ hồ nên để quy định cụ thể hơn, Quyết định 337/QĐ-BKH
ngày 10 tháng 4 năm 2007 về ban hành quy định hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam
của Bộ Kế hoạch và đầu tư (sau đây gọi là Quyết định 337/QĐ-BKH) đã làm rõ thêm:
“Bán buôn là hoạt động bán (không làm biến đối hàng hoá) hàng hoá loại mới, loại đã qua sử dụng cho người bán lẻ, người sản xuất, kinh doanh, cơ quan, tổ chức hoặc những người sử dụng mang tính chuyên môn, người bản buôn khác, hoặc liên quan đến hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa cho các cá nhân hoặc công ty đó.”
- Thứ ba, Dịch vụ bán lẻ được định nghĩa là “hoạt động bản hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng” tại Nghị định 23/2007/NĐ-CP và quy định chỉ tiết hơn tại Quyết định 337/2007/QĐ-BKH.“Hoạ¿ động bán lẻ gồm: hoạt động bán lại (không làm biến đổi hàng hoá) hàng hoá loại mới và loại đã qua sử dụng cho cộng đẳng, cho tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hoặc tiêu dùng xã hội, được thực hiện ở các cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tổng hợp, trung tâm thương mại, quay hang, sap ban hàng, cửa hàng nhận đặt và trả hàng qua bưu điện, hợp tác xã mua ban, ban hàng lưu
động hoặc tại chợ”
- Thir tw, Nhuong quyén thương mại được định nghĩa tại Diéu 284 LTM 2005
“Nhượng quyên thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyên cho phép và yêu cầu bên nhận quyên tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung tứng dịch vụ theo các kiểu sau đây:
1 Việc mua bản hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyên quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyên;
2 Bên nhượng quyên có quyên kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyên trong việc điều hành công việc kinh doanh”
Trang 33'WTO và các quốc gia đang phát trién - Thực tế thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam
LTM năm 2005 đã xây dựng rõ một khái niệm hoàn chỉnh về nhượng quyền thương mại vừa là một hoạt động thương mại, vừa là một quan hệ pháp luật giữa bên nhận quyền và bên nhượng quyền
1.4.2 Xu hướng phát triển của ngành dịch vụ phân phối
Trong định hướng chung về phát triển thương mại dịch vụ, mục tiêu cụ thể
trong giai đoạn 2011 — 2015 là tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 7,8 — 8,5%/năm với quy mô khoảng 41% - 42% GDP toàn bộ nền kinh tế Trong giai đoạn tiếp theo từ
2016 - 2020, tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 8,0 — 8,5%/nam với quy mô
khoảng 42% — 43% GDP toàn nền kinh tế Riêng trong lĩnh vục phân phối, định hướng
cơ bản phát triển các lĩnh vực chủ yếu đến năm 2020 phải đây mạnh phát triển và tăng
cường quản lý nhà nước đối với hệ thống phân phối của các doanh nghiệp sản xuất kinh đoanh lớn được tổ chức và phân phối thông suốt trên phạm vi cả nước, đồng thời bảo đảm chiếm lĩnh tại các địa bàn thị trường then chốt và trọng yếu; có đủ các nguồn lực để giải quyết kịp thời các biến động của thị trường về quan hệ cung — cau, gid cả hàng hóa và dịch vụ Ngoài ra, cần có chính sách, cơ chế để tạo lập vị thế và sức mạnh
điều tiết thị trường của hệ thống bán lẻ Việt Nam trong hệ thống phân phối Đây mạnh
phát triển và tăng cường quản lý nhà nước đối với các hệ thống phân phối vừa và nhỏ
trên thị trường các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, trước hết và chủ yếu là thị
trường nông thôn và miền núi Ngoài ra Chiến lược tổng thể phát triển khu vực địch vụ
của Việt Nam đến năm 2020 còn định hướng phát triển hệ thống phân phối các sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây đựng thương hiệu cho sản phẩm dịch vụ Việt Nam“,
Trong thời gian tới, ngành phân phối nước ta có mục tiêu”:
- Một là, thúc đây sản xuất trong nước phát triển, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, góp phần thúc đây tăng trưởng kinh tế
- Hai là, tạo lập các kênh lưu thông ồn định, các chuỗi cung ứng, gắn kết chặt chẽ và phân phối lợi ích hợp lý giữa sản xuất, chế biến, phân phối trên thị trường trong nước và xuất khâu, bảo đảm phát triển thương mại bền vững, giảm chỉ phí lưu thông
- Ba là, phát triển đa dạng hệ thống phân phối, kết hợp các phương thức kinh
doanh hiện đại với các phương thức truyền thống được tô chức văn minh, coi trọng việc mở rộng thị trường nông thôn
* Quyết định 175/2011/ QĐ-TTg ngày 27/1/2011 về Phê duyệt Chiến lược tổng thẻ phát triển khu vực dịch vụ
của Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ
® Báo cáo Tác động của cam kết mở cửa thị trường trong WTO và các Hiệp định khu vực thương mại tự do (FTA) dén hoat động sản xuất, thương mại của Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện cơ chế điều hành xuất
nhập khẩu của Bộ Công thương giai đoạn 2011-2015, dự án EU — Việt Nam MUTRAP III, tháng 9-2011 tr 218
GVHD: TS Cao Nhất Linh Trang 26 SVTH: Phạm Tuấn Kiệt