Để có được một nông thôn mới hoàn thiện nhiều mặt, việc sắp xếp lại và củng cố hiệu quả mô hình kinh tế nông nghiệp là điều không thể thiếu được trong vùng nông thôn
Trang 1Xây Dựng Mô Hình Kinh Tế Nông Nghiệp: Trường Hợp Xã Nhơn Nghĩa-Huyện Phong Điền-Thành Phố Cần Thơ
1 Giới thiệu
Để có được một nông thôn mới hoàn thiện nhiều mặt, việc sắp xếp lại và củng cốhiệu quả mô hình kinh tế nông nghiệp là điều không thể thiếu được trong vùngnông thôn, ở đó xã Nhơn Nghĩa là một điển hình không ngoại lệ trong nghiên cứu.Người dân trong vùng đa phần sống bằng nghề nông, trong đó chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Cũng theo Pắc Chung Hy tổng thống HànQuốc, một nông thôn mới ở đó phải thể hiện năng suất cây trồng cần được nângcao, có vùng chuyên canh để đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống, đồng thờicần xây dựng mô hình phát triển chăn nuôi, cây trồng đa canh hợp lý và phải xâydựng được hợp tác sản xuất cùng với việc tiêu thụ sản phẩm hiệu quả đảm bảo đầu
ra của người nông dân
Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang ở vào cao trào rất lớn của giai đoạn hộinhập kinh tế thế giới từ Trung Ương đến địa phương, do vậy việc xây dựng mộtnông thôn mới là điều không thể phủ định, hành động này như là ngòi châm cho
sự bùng nổ phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt tạo môi trường thuận lợi để hỗtrợ nông dân vững tin hướng vào con đường phát triển sản xuất liên thông với xuhướng vận động của tổ thức thương mại thế giới WTO
Xuất phát từ thực tiễn trên, xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp hướng đếnhoàn thiện một nông thôn mới của xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Thành PhốCần Thơ là điều hết sức thiết thực, đặc biệt đối với xây dựng mô hình kinh tế nôngnghiệp Nhưng vấn đề ở đây cách thức được thực hiện như thế nào?, nhu cầu đốivới vấn đề này ra sao? Nếu tiến hành thực hiện thì người dân sẽ gặp những cản trở
và khó khăn gì? Như thế giải pháp gì cần được quan tâm để tháo gỡ những khókhăn đó Tất cả những câu hỏi này sẽ được bài viết làm rõ trong phần tiếp theo
2 Phương pháp và công cụ nghiên cứu
Để trả lời những câu hỏi vừa được nêu trên trên, nhóm nghiên cứu “xây dựng môhình kinh tế nông nghiệp” tiến hành thu khảo sát thực địa để thu thập thông tinthông qua
- phương pháp PRA nhóm KIP xã: đại diện các mặt trận đoàn thể, hợp tác xã,
Trang 2- phỏng vấn bán cấu trúc: cơ sở bán VTNN, thức ăn và thuốc thủy sản-giasúc, cơ sở thu mua đầu ra nông dân
- đánh giá chuyên gia cán bộ có liên quan như khuyến nông (cấp tỉnh vàhuyện), chi cục hợp tác xã, chi cục thú y
3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp tại xã Nhơn Nghĩa
3.1. Tình hình chung
Nhơn Nghĩa là một xã mới thuộc huyện Phong Điền, TP Cần Thơ, được thành lậpvào đầu năm 2004 (báo cáo, 2004) Xã có 7 ấp, tổng số hộ trong vùng là 3.509 hộvới 17.848 nhân khẩu (xem bảng 1) Phần lớn diện tích đất trong vùng phục vụ sảnxuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, hộ sản xuất nông nghiệp phần lớn tậptrung ở xã Nhơn Hưng, Nhơn Thành, Nhơn Khánh, Nhơn Thuận 2 và Thị Tứ
Bảng 1: Số hộ và nguồn lực lao động theo ấp trong xã Nhơn Nghĩa năm 2006
Toàn xã
Nhơn Hưng
Nhơn Khánh
Nhơn Thành
Nhơn Phú
Nhơn Thuận
Nhơn Thuận2
Thị Tứ
Nguồn: Số liệu điều tra xã Nhơn Nghĩa tháng 7 năm 2006
Theo định hướng phát triển kinh tế-xã hội năm 2007 thì xã chia thành 2 vùng sinhthái như sau:
Vùng 1: Gồm 5 ấp (Nhơn Hưng, Nhơn Khánh, Nhơn Thành, Nhơn Phú và Thị Tứ
Vàm Xáng) phát triển cây ăn trái, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ dulịch sinh thái Đặc biệt chuyển dịch cơ cấu cây trồng tuyến lộ Rạch Sung-BàoMương Khai thành vườn cây ăn trái gắn với du lịch sinh thái
Vùng 2: Gồm ấp Nhơn Thuận và Nhơn Thuận 2 phát triển cây ăn trái, lúa chất
lượng cao, màu và nuôi thuỷ sản
Tình hình đất sản xuất được mô phỏng ở bản đồ hiện trạng sử dụng đất dưới đây
Trang 3Biểu đồ 1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Theo kết quả khảo sát, hiện xã có các mô hình sản xuất nông nghiệp: (1) sản xuấtlúa; (2) cây ăn trái; (3) nuôi trồng thủy sản; (4) chăn nuôi gia súc và các mô hìnhkết hợp (5) lúa – màu; (6) cây ăn trái - thủy sản (cá); (7) lúa – chăn nuôi gia súc-thủy sản Lịch thời vụ của các mô hình này như được chỉ ra ở biểu đồ 2, hiện trạngphát triển các mô hình như cây ăn trái, màu, thuỷ sản và chăn nuôi được phân phốitrong vùng như được chỉ ra ở biểm đồ 3
Biểu đồ 2 Lịch thời vụ của các mô hình sản xuất nông nghiệp
Trang 4Thủy sản Chăn nuôi Màu
Biểu đồ 3: Hiện trạng phát triển các mô hình được phân bố trong vùng
Ấp
Các dự án sản xuất nông nghiệp Cây ăn trái Màu (ít phát triển) Thuỷ sản Chăn nuôi
Nhơn Khánh +++ (Ổi, chanh) + (cải xanh, bí
Ngu ồn:
Ghi chú
+++ : Rất ưu thế ++ : ưu thế + : Trung bình 0 : Không ưu thế
3.2. Sản xuất lúa và lúa chất lượng cao
Nhìn chung diện tích canh tác lúa trong những năm qua không có thay đổi đáng kể(bảng 2) Một trong những nguyên nhân, do chính quyền địa phương tiếp tục giữvững diện tích sản xuất lúa, thông qua việc qui hoạch lại vùng lúa cao sản chấtlượng cao, tập trung ở ấp Nhơn Thuận 2 Mặt dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi đểsản xuất lúa 3 vụ, tuy nhiên đối với người dân trong vùng vụ lúa đông xuân và hèthu vẫn luôn là chủ lực để duy trì và mở rộng, nâng cao năng suất sản lượng Theođánh giá của cán bộ xã, do điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm và giá cả thịtrường vật tư nông nghiệp luôn biến động tăng Hiện nay xu hướng người dân đãthu dần diện tích sản xuất lúa 3 vụ, đặc biệt là giảm vụ xuân hè để tập trung vàohai vụ còn lại Hoặc họ xen vào đó vụ màu thay thế vụ xuân hè Minh chứng chovấn đề này từ năm 2005 đến năm 2006 diện tích canh tác cho vụ mùa xuân hègiảm 131 ha
Trang 5Bảng 2 Diện tích lúa và năng suất theo vụ mùa từ 2004-2006
Diện tích(ha)
Năngsuất (tấn/
ha)
Diện tích(ha)
Năngsuất(tấn/ha)
Diện tích(ha)
Năng suất(tấn/ha)
Nguồn: Các Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh các năm 2004,
2005, 2006 và phương hướng nhiệm vụ các năm 2004, 2005, 2006
Kênh cung cấp giống lúa cho nông dân
Có thể nói rằng, Hợp tác xã (HTX) Nhơn Thuận 2 là nguồn cung ứng chính giốnglúa nguyên chủng (OM 2395) cho người dân trong vùng HTX dành riêng 1 ha đểchuyên về sản xuất giống nguyên chủng, và hợp tác với Viện lúa ĐBSCL Nhìnchung, thời gian qua nông dân sản xuất lúa tiếp cận từ nhiều nguồn giống khácnhau (xem sơ đồ 1), trong đó nguồn giống do tự nông dân sản xuất chiếm 15%,còn lại là tiếp nhận từ các đối tượng khác
Sơ đồ 1: Kênh giống lúa mà nông dân trong vùng được tiếp cận
Nguồn: Điều tra PRA; Đánh giá chuyên gia
Tổ nhân giống lúa địa phương: Thành viên trong tổ này khoảng 10 hộ, chịu trách
nhiệm nhân giống lúa chất lượng cao để cung cấp cho nhu cầu phát triển sản phẩmchất lượng cao trong vùng theo kế hoạch đề ra của xã.Tuy nhiên sản lượng giốngnày chỉ dừng lại đáp ứng 50% nhu cầu của nông dân trong xã
Trạm khuyến nông – Trung tâm giống: Hai tổ chức này đều trực thuộc Sở Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, kênh này được xem như là kênh từ các banngành thuộc Nhà nước Kết quả khảo sát cho thấy kênh Nhà nước mới chỉ đáp ứng
Nông dân sản xuất lúa (tự sản xuất 15%)
Tổ nhân giống
lúa địa phương
Viện (cung 3%) -Trường ĐạiHọc Cần Thơ (cung 2%)Trạm khuyến nông (cung 25%)-Trung tâm giống (cung 4,5%)
Trang 630% nhu cầu người dân sản xuất lúa, trong đó Trạm khuyến nông đóng vay tròchính Sự cung cấp này cũng bao gồm các hình thức cung cấp giống trợ giá tỷ lệ60:40, tức là phía Nông dân chi trả 60%, còn lại 40% là Nhà nước sẽ đảm nhận.Tuy nhiên số lượng nông dân được tham gia chương trình này có giới hạn, nôngdân được chọn lọc là những người sản xuất giỏi, là thành viên trong các mặt trậnđoàn thể như hội nông dân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ
Viện-Trường: Viện Lúa ĐBSCL và Đại Học Cần Thơ, đây là kênh cung cấp giống
đại diện từ phía các Nhà khoa học mà thời gian qua chỉ có 5% nhu cầu người dântrực tiếp được tiếp cận trực tiếp Mặt dù tỷ lệ ở mức thấp, nhưng nguồn giống từkênh này có độ tin cậy rất lớn, có nguồn gốc và đảm bảo chất lượng
Công ty lương thực: Để thực hiện hợp đồng tiêu thụ, đảm bảo nguồn nguyên liệu
đầu vào ổn định cho tiến trình chế biến, một số công ty lương thực trong vùng nhưCông ty Mekong đã cung ứng giống lúa chất lượng cao như CS200, Jasmin nhưngkhông hỗ trợ kỹ thuật, đến một số nông dân có chọn lọc Sau khi thu hoạch thìnhững người nông dân này phải bán đầu ra cho công ty theo giá cả đã được thỏathuận trước Tuy nhiên chương trình này vẫn chưa được thực hiện nhiều ở địaphương Theo công ty, phần lớn diện tích canh tác của người dân chưa tập trungtheo vùng, kéo theo sự đồng nhất về chất lượng sau thu hoạch còn hạn chế, ảnhhưởng đến tiêu chuẩn xuất khẩu
Hệ thống khuyến nông
Sơ đồ 2 cho thấy, có ba kênh khuyến nông chính Nhà nước, Nhà khoa học và Nhàdoanh nghiệp thực hiện thông tin và chuyển tải khoa học kỹ thuật trực tiếp đếnnông dân trong vùng Bên cạnh các hoạt động riêng biệt, ba Nhà nói trên còn có sựhợp tác nhau để trực tuyến qua hệ thống phương tiện truyền thanh đại chúng nhằmthông tin và hướng dẫn nông dân kỹ thuật canh tác, phổ biến nhất là chương trình
“Nhịp cầu nhà nông”
Sơ đồ 2 Hệ thống khuyến nông
Nông dân sản xuất lúa
Nhà khoa học (Viện - Trường)
Nhà nước (Sở NN)
Cơ sở kinh
Thông tin
đại chúng
Trang 7Nhà nước: Đại diện trực tiếp cho các tổ chức Nhà nước, Trung tâm khuyến nông
và Chi cục bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ đóng vai trò chính và thường xuyên
để chuyển tải thông tin và khoa học kỹ thuật canh tác đến người dân Thông quakênh này, đã có khoảng 1200 hộ1 trong xã được dự các lớp học chương trình IPM,quản lý bệnh, cách phòng chống rầy nâu trước khi sạ Riêng năm 2005 có 52 hađược áp dụng chương trình IPM, kết quả sản lượng lúa xuất khẩu đạt 92% (báocáo, 2005) Ngoài ra, nông dân còn học hỏi cách thức vận dụng chương trình “bagiảm-ba tăng” vào đồng ruộng, đồng thời còn được học hỏi từ các mô hình trìnhdiễn sản xuất lúa chất lượng cao, cách sản xuất giống lúa nguyên chủng
Viện-Trường: Kênh này đại diện cho kênh chuyển giao những kiến thức khoa học
tiên tiến đến các tổ chức Nhà nước và nông dân Hình thức thực hiện trực tiếpthông qua các lớp huấn luyện như cách nhân giống lúa nguyên chủng, gián tiếpthông qua các chương trình được phát trên phương tiện thông tin đại chúng như
“Nhịp cầu nhà nông”
Cơ sở kinh doanh Vật tư nông nghiệp (VTNN): Đây cũng là một trong những kênh
khuyến nông để hỗ trợ nông dân trong tiến trình sản, vấn đề ở đây là kinh nghiệm,kiến thức và trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở là không thể thiếu được, điềunày lâu dài sẽ ảnh hưởng đến cả một hệ thống chất lượng từ sản xuất đến chế biến.Theo các các chủ cơ sở kinh doanh, hàng năm họ đều có dự các lớp tập huấn doChi cục bảo vệ thực vật Thành Phố, công ty như Bayer tổ chức Nội dung phần lớnxây quanh cách sử dụng thuốc nông dược, danh mục các hóa chất được phép sửdụng và hóa chất cấm sử dụng
Công ty: Mặt dù các thông tin từ công ty đến nông dân và cơ sở kinh doanh mang
tính quảng bá sản phẩm, nhưng chúng ta không thể phủ định một điều là các thôngtin này sẽ góp phần không nhỏ vào tăng kiến thức kỹ thuật sản xuất của nông dân.Hình thức thực hiện của các công ty (Bayer và Công ty Bảo vệ thực vật An Giang)
tổ chức hội thảo thuốc, giới thiệu loại thuốc mới
3.3. Cây ăn trái
Cây ăn trái là một trong những cây trồng có lợi ích kinh tế rất lớn, đóng vai trò rấtquan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn
xã đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi theo chỉ đạochung của huyện (Chỉ tiêu kế hoạch, 2006)
Theo bảng 3, diện tích đất trồng cây ăn trái có sự thay đổi tăng trong những nămgần đây Những loại cây trồng có diện tích lớn là sầu riêng, dâu, cây có múi (cam,chanh) Nếu so về tốc độ gia tăng diện tích canh tác từ năm 2002 đến năm 2006,
1 PRA nhóm KIP xã
Trang 8tốc độ tăng của cây dâu và cây cam là lớn nhất với tỷ lệ bình quân là 41%/năm tậptrung ở ấp Nhơn Thuận và Nhơn Thuận 2, trong khi đó các cây còn lại tỷ lệ chỉ đạttrong khoảng 12-16%/năm
Theo nguồn báo cáo của xã, cây ăn trái góp phần gia tăng tốc độ thu nhập củanông dân rất lớn Thay vì chỉ có vài hộ có thu nhập từ cây ăn trái trên 50 triệuđồng/năm trong năm 2004, nhưng số hộ này đã lên đến 160 hộ trong năm 2005, vàđến năm 2006 số hộ này là 400 hộ, chiếm tỷ lệ 16,2% trong tổng số 2.472 hộ sảnxuất nông nghiệp Điều này cho thấy thành quả chuyển đổi loại cây trổng tronglĩnh vực sản xuất cây ăn trái có xu hướng vận động tích cực Đây cũng là bài họckinh nghiệm đáng lưu tâm để xã định hướng cho các hộ còn lại về lâu dài cải tiếnhoạt động sản xuất theo nhu cầu thị trường một cách hiệu quả trong giai đoạn hộinhập
Bảng 3: Diện tích và sản lượng cây ăn trái những năm qua theo ấp
Ấp Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Nhơn Hưng (Cốc, sầu riêng)
Nguồn: Cán bộ phụ trách nông nghiệp xã, 2006
Mạng lưới cung ứng giống cây ăn trái đến nông dân
Sơ đồ 3 cho thấy, mặt dù nông dân cây ăn trái tiếp cận từ nhiều nguồn giống khácnhau, nhưng kiến thức và kinh nghiệm của nông dân tự tạo giống không phải là ítchiếm đến 20% Theo sơ đồ, những người nông dân mua nguồn giống từ những
Trang 9nông dân khác trong vùng là 10%, như vậy vô hình chung có thể thấy rằng, bảnthân nông dân tự chiết giống cho mình chiếm 30%.
Sơ đồ 3: Mạng lưới nguồn giống cung đên nông dân
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
Trung tâm khuyến nông: Mặt dù trung tâm là đại diện tổ chức Nhà nước, nhưng
theo khảo sát, kênh này chỉ dừng lại 3% đáp ứng nhu cầu nông dân Phần lớn việclàm của Trung tâm mang tính xã hội, như thực hiện cung cấp giống cho nông dântheo chương trình trợ giá 40:60, trong đó 40% do nông dân chi trả, 60% còn lại dophía Nhà nước đảm nhận
Viện - Trường: Viện cây ăn quả Miền Nam và Đại Học Cần Thơ là hai tổ chức đại
viện từ phía Nhà nước để đưa các nguồn giống cây ăn trái đến địa phương, mụcđích nhằm giới thiệu và tạo điều kiện để nông dân trong vùng tiếp cận với nhữnggiống cây trồng mới Mặt dù kênh này chỉ là 3%, nhưng đã cho thấy phần nàonông dân vùng cũng quan tâm đến xu hướng thị trường, nhu cầu người tiêu dùnghướng đến những loại cây ăn trái lạ và có chất lượng
Trại giống tư nhân: Những trại giống tư nhân đã trở thành nhà cung ứng trung
thành của người dân thời gian qua chiếm 50% Có 40% nông dân thực hiện cácgiao dịch trực tiếp để mua giống cây tại trại giống địa phương, 10% còn lại lànông dân tự tìm đến mua trực tiếp các trại giống ở Tiền Giang và Vĩnh Long Mặt
dù các trại giống tư nhân nhìn chung chưa có một thương hiệu hẳn hoi, nhưng ítnhiều cho họ một sự an tâm về nơi chốn cố định và thời gian thâm niên của ngườibán
Nông dân cây ăn trái (tự chiết 20%)
Trạm giống tư
(5%)
Mua trôinổi (12%)
Các Nông dân kháctrong vùng (10%)
Trại giống
tư nhân Tiền Giang, Vĩnh Long (10%)
Trang 10Những người cung cấp giống trôi nổi: Thật ra người bán giống trôi nổi cũng là các
thành phần tư nhân, nhưng phương thức kinh doanh của họ có khác, phần lớn họ lànhững người mua đi bán lại, vận chuyển trực tiếp đến nhà người dân để giao dịchbuôn bán, phần lớn nhóm kinh doanh này đến từ tỉnh Bến Tre Tuy nhiên so vớicác Trại giống tư nhân nói trên, thì đối tượng này bị nông dân vẫn xem là nguồncung cấp giống chưa rõ nguồn gốc, do vậy niềm tin của nông dân cũng bị thiêngiảm
Nguồn giống do nông dân cung cấp: Nông dân trong vùng đã từ lâu sản xuất cây
ăn trái, thời gian thâm niên đã làm họ tăng dần bề dày kinh nghiệm và kiến thức tựmình chọn lọc những cây trồng có hiệu quả kinh tế, hoặc tận dụng các nguồngiống mới được cung cấp từ Viện-Trường, sau đó tự chiết và nhân giống phục vụcho tiến trình sản xuất chủ động
Mạng lưới khuyến nông cây ăn trái
Tương tự như lúa, nông dân trồng cây ăn trái thường xuyên tiếp nhận kênh khuyếnnông chính là từ Nhà khoa học, Nhà nước và Nhà doanh nghiệp Bên cạnh cáchoạt động riêng biệt, ba Nhà nói trên còn có sự hợp tác nhau để trực tuyến qua hệthống phương tiện truyền thanh nhằm thông tin và hướng dẫn nông dân kỹ thuậtsản xuất cây ăn trái, chẳng hạn chương trình “Nhịp cầu nhà nông”, “Bạn nhànông”
Sơ đồ 4 Hệ thống khuyến nông cây ăn trái
Nhà nước: Trung tâm khuyến nông thường mở các lớp tập huấn, chẳng hạn lớp tập
huấn kỹ thuật trồng cây ăn trái có múi Một số chương trình thực hiện còn đượccác tổ chức nước ngoài DANIA, FAO, WB đứng ra tài trợ
Viện-Trường: Đây là kênh khuyến nông đại diện cho việc chuyển giao kiến thức
khoa học tiên tiến từ các Nhà khoa học đến các tổ chức Nhà nước và Nhà nông.Đặc biệt mỗi khi Viện-Trường có những giống mới được tạo ra Mục tiêu của
Nông dân sản xuất lúa
Nhà khoa học (Viện - Trường)
Nhà nước (TTKN)
Cơ sở kinh doanh VTNN Công ty và Siêuthị Metro
Thông tin
đại chúng
Trang 11chương trình nhằm nâng cao năng lực cán bộ khuyến nông và nông dân trongvùng, góp phần phát huy xã hội hóa công tác giống địa phương
Cơ sở kinh doanh Vật tư nông nghiệp (VTNN): Tương tự như cây lúa, kênh
khuyến nông này tiến đến hỗ trợ nông dân trong tiến trình sản, vấn đề ở đây làkinh nghiệm, kiến thức và trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở là không thểthiếu được, điều này lâu dài sẽ ảnh hưởng đến cả một hệ thống chất lượng từ sảnxuất đến chế biến Theo các các chủ cơ sở kinh doanh, hàng năm họ đều có dự cáclớp tập huấn do Chi cục bảo vệ thực vật Thành Phố, công ty như Bayer tổ chức.Nội dung phần lớn xây quanh cách sử dụng thuốc nông dược, danh mục các hóachất được phép sử dụng và hóa chất cấm sử dụng
Công ty và siêu thị: Mặt dù các thông tin từ công ty đến nông dân và cơ sở kinh
doanh mang tính quảng bá sản phẩm, nhưng chúng ta không thể phủ định một điều
là các thông tin này sẽ góp phần không nhỏ vào tăng kiến thức kỹ thuật sản xuấtcủa nông dân Hình thức thực hiện thường là hội thảo về chủ đề thuốc bảo vệ thựcvật Khác với cây lúa, Siêu thị Metro Cần Thơ đã đến liên hệ với địa phương đểngỏ lời tìm các đối tác nông dân có khả năng, đảm bảo yêu cầu của Siêu Thị đểlàm vệ tinh cung ứng sản phẩm cây ăn trái trong tương lai Để làm được điều nàyMetro đã có tổ chức chương trình thông tin và tập huấn riêng cho một vài nôngdân có chọn lọc nhằm tạo nguồn nguyên liệu đầu vào của siêu thị có chất lượng và
Nhìn chung phương thức chăn nuôi của nông dân trong vùng còn mang tính truyềnthống, sản xuất thiếu tính tập trung, chủ yếu lấy công làm lời, đặc biệt đối với heo.Tương tự bò cũng vậy, phần lớn phương thức nuôi của nông dân theo dạng giađình, thị trường tiêu thụ chính là địa phương
Bảng 4: Tình hình chăn nuôi những năm qua phân theo ấp
Trang 12Ấp Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Trang 14Nguồn: Số liệu thống kê xã; (*) Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng năm 2004, 2005.
b Tình hình nuôi trồng thủy sản
Những năm qua diện tích nuôi trồng thủy sản của xã có chiều hướng tăng (xembảng 5) Các loài thủy sản ở đây là thủy sản nước ngọt, điển hình như cá rô phi,điêu hồng, tai tượng, cá lóc, sặc rằn, cá trê, cá tra Diện tích mặt nước nuôi thủysản được tập trung nhiều nhất ở hai ấp, Nhơn Phú (14 ha) và Nhơn Thành (12ha).Hình thức nuôi chủ yếu qui mô nhỏ, phục vụ hỗ trợ thu nhập kinh tế gia đình Thịtrường tiêu thụ chính là tiêu dùng nội địa Theo kết quả điều tra, khoảng 60% hộthủy sản cho biết xu hướng tới họ sẽ mở mộng qui mô sản xuất, 40% hộ còn lại sẽduy trì diện tích sản xuất Mặt dù đây là định hướng cá nhân, nhưng là một tín hiệuquan trọng không thể phủ nhận cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản của địaphương trong thời gian tới
Bảng 5: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản các năm qua theo ấp
Ấp Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Nhơn Hưng
Trang 15Nguồn: Số liệu thống kê của xã
c Tình hình con giống và khuyến nông/ngư đối với mô hình chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
Chăn nuôi heo: Từ sơ đồ 5 có thể rút ra nhận định, nông dân trong vùng có đủ
khả năng và kỹ thuật tạo giống, điều này giúp cho việc chủ động về nguồn giốngtrong sản xuất Riêng đối với kênh giống từ phía Nhà nước như Viện/Trường,Trung tâm giống/Trạm khuyến nông và Nhà doanh nghiệp như công ty giống,phần lớn giống nông dân tiếp nhận ở đây là loại giống heo ngoại, mới lạ Kênhgiống từ phía Nhà nước còn có những chương trình trợ giá 40% giá giống chonông dân
Phần lớn các lớp tập huấn cho nông dân đều do Nhà nước thực hiện Điển hìnhnhư Trạm khuyến nông thời gian qua đã tổ chức các lớp tập huấn: Xây dựngchuồng trại; Xử lý bệnh; Cách chọn con giống; Thức ăn và cách cho ăn Ngoài rangười nuôi còn nhận được sự hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn từ các cửa hàng thuốcthú y địa phương, chẳng hạn cách điều trị bệnh; chăm sóc điều dưỡng gia súc-giacầm
Sơ đồ 5: Nguồn giống heo mà nông dân tiếp cận
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
Chăn nuôi bò: Tương tự chăn nuôi heo, nông dân trong vùng cũng có thể tự tạo
giống bò cho mình (chiếm 86%) Nguồn giống từ Viện-Trường, Trung tâm giống/Tram khuyến nông phần lớn là những loại giống ngoại và mới Đối với kênh giống
từ tổ chức Nhà nước người dân còn có thể mua giống thông qua chương trình hỗtrợ giá, điển hình trợ giá bò 800.000đồng/con do Trạm khuyến nông đã thực hiện,đặc biệt hỗ trợ bò đực giống chuẩn để lai tạo giống Tuy nhiên chương trình nàygiới hạn về lượng người tham gia
Nông dân (tự sản xuất 30%)
Công ty/Trại
(2%) Nông dân khác (56%)
Trung tâm giống/Trạmkhuyến nông (10%)
Trang 16Người nuôi ngoài ra còn có cơ hội được tập huấn các lớp: Kỹ thuật chăn nuôi đểđảm bảo bò chất lượng, có khả năng sinh sản tốt; Nhận dạng và xử lý bệnh; Chu
kỳ lên giống bò sinh sản
Sơ đồ 6: Nguồn giống bò mà nông dân tiếp cận
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
Chăn nuôi gia cầm:
Chăn nuôi dê: Phần lớn nông dân trong vùng tự tạo giống (xem sơ đồ 7), còn lại
10% nguồn giống là do Trung tâm giống/Trạm khuyến nông cung cấp Để hỗ trợnông dân sản xuất loại hình này, thời gian qua Trung tâm khuyến nông cũng đã tổchức một số lớp tập huấn như: Tập huấn chuồng trại; cách chăm sóc và cho ăn
Sơ đồ 7: Nguồn cung giống dê cho nông dân
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
Thủy sản: Do hình thức nuôi của người dân mang tính gia đình, nên nguồn giống
nuôi của họ phần lớn là mua từ các trại giống địa phương (80%) Nguồn giống người nuôi tiếp cận từ phía Nhà nước 10%, bao gồm cả chương trình trợ giá giống 40% do Trung tâm giống trực tiếp thực hiện
Sơ đồ 8: Nguồn giống thủy sản mà nông dân tiếp cận
Nông dân (tự sản xuất 5%)
Hợp tác xã chăn
(2%) Nông dân khác (81%)
Trung tâm giống/Trạmkhuyến nông (10%)
Nông dân (tự sản xuất 10%)
Cơ sở /Trại
giống (80%)
Nông dân khác (5%)
Trung tâmgiống/Trạm khuyếnnông (10%)
Trang 17Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
3.5. Mô hình ươm cây giống và hoa kiểng
Cây giống rau màu được ươm gồm đa dạng chủng loại như: cải xanh, bí đao, càphổi, cà chua, ớt,….nhưng loại rau và cải được ươm phổ biến nhất là: cải xanh, cảibắp, cà phổi (cà xanh) và cà tím Các giống cây ăn trái được ươm chủ yếu là cammật, quýt, vú sữa và dâu bòn bon Ngoài ra, các loại hoa như cúc Đà Lạt và bôngVạn Thọ cũng được người dân ươm để bán vào dịp Tết
Việc sản xuất cây giống là quanh năm, tuy nhiên phụ thuộc thời vụ và nhu cầu thịtrường mà từng loại giống hoa màu có được sản xuất ra nhiều hat ít Trong đó, cảixanh được thường được sản xuất trung quanh năm, đồng thời còn có bí đao và cà,nhưng hai loại này thường tập trung vào những tháng mùa nắng Ớt là cây ươmquanh năm, nhưng với số lượng ít hơn (Bảng 7)
Bảng 7: Lịch thời vụ từng loại rau màu được ươm tại HTX Nhơn Hưng
Trang 18Tuỳ theo từng loại rau màu mà thời gian ươm cây (tính từ khi gieo hạt đến bán câycon) có sự khác nhau Bình quân thời gian ươm từ 10 – 15 ngày là có thể bánđược, chỉ có cà xanh (cà phổi), cà tím và ớt có thời gian ươm lâu hơn đạt 20 ngày(Bảng 8) Trong khi đó, đối với cây ăn trái (tuỳ thuộc vào kích cỡ cây con lớn haynhỏ) thì thời gian ươm sẽ khác nhau, dao đồgn từ 3 đến 6 tháng Vú sữa là cây cóthời gian ươm dài hơn trung bình mất khoảng 6 tháng Thời gian ươm được tậptrung nhiều nhất là mùa mưa (bảng 9).
Bảng 8: Thời gian ươm và số vụ/năm của từng loại rau màu
(Nguồn: Kết quả PRA HTX vườn ươm cây giống Bà Hiệp, 2006)
Bảng 9: Thời gian ươm các loại cây ăn trái
Loại cây ăn trái Thời gian ươm
Cam mật và cam sành Cây to (5 tháng); Cây nhỏ (3 tháng)
Xoài
Vú sữa
(Nguồn: Kết quả PRA HTX vườn ươm cây giống Bà Hiệp, 2006 )
Với diện tích vườn 600 ha và trồng rau màu 525,3 ha, dẫn đến nhu cầu thực tế vềcây giống thời gian qua chưa được đáp ứng kịp thời, trong khi đó chỉ một HTXvườn ươm Bà Hiệp đảm nhận việc cung cấp giống Bình quân HTX trong thángchỉ cung cấp cây giống rau màu các loại 600 thiêng/tháng2 Mạng lưới phân phốicủa HTX giống không những cho bà con địa phương (chiếm 20%) mà còn chovùng lân cận (Vĩnh Thuận, Kiên Giang) chiếm 70% Trong khi đó phần 10% cònlại là do nông dân tự sản xuất (xem sơ đồ 9)
Sơ đồ 9: Mạng lưới tiếp cận cây giống của nông dân.
2 Kết quả khảo sát từ PRA tại HTX Bà Hiệp, 2007
Nông dân địaphương khác(70%)
HTX vườn ươmcây giống
Nông dân tại xã
(20%)
Nông dân tự sản xuất
(10%)
Trang 19Để có được nguồn đầu ra phân phối, HTX Bà Hiệp xây dựng mối quan hệ hợp tácvới công ty chuyên cung cấp nguồn hạt giống rau màu, điển hình công ty PhươngHùng (chiếm 70%) và một số đại lý lớn cung cấp hạt giống có chất lượng cao tạithành phố Cần Thơ và tài quận Cái Răng (chiếm 30%).
4 Một vài kết luận rút ra từ đánh giá thực trạng vùng nghiên cứu
- Nền sản xuất nông nghiệp địa phương đã được hình thành từ lâu đời, dovậy hầu như người dân có được bề dày kinh nghiệm trong kỹ thuật và laitạo giống, điều này góp phần vào sản xuất chủ động trong nông dân đối vớinguồn giống Tuy nhiên vấn đề để có được con giống như thế nào đáp ứngnhu cầu thị trường vẫn còn là câu hỏi đang đặt ra phía trước không chỉ choNhà nông mà cho các Nhà khoa học và Nhà nước
- Do điều kiện sinh thái của vùng, có nhiều mô hình đa dạng được người dân
áp dụng trong vùng và sản xuất quanh năm, đồng thời thích hợp cho nhiềuloại cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao
- Nông dân được tiếp cận từ nhiều phía về thông tin và kỹ thuật khuyếnnông Trong đó Nhà nước và Nhà khoa học đóng vai trò thông tin và xâydựng các chương trình mô phỏng và điển hình để nông dân học hỏi Trongkhi đó Nhà doanh nghiệp thì lại thực tế hơn, đi vào vấn đề cụ thể, thặm chí
có thể thường xuyên hơn, bởi vì mục tiêu của họ là mưu cầu về kinh doanh
và lợi nhuận
- Sự liên kết bốn Nhà (Nhà nông, Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà doanhnghiệp) chưa có một mô hình rõ nét, để hướng đến góp phần thông tin và
hỗ trợ nông dân trong ứng dụng các mô hình kinh tế nông nghiệp
- Chủ trương và chính sách chuyển dịch kinh tế nông nghiệp còn rất nặng nề
và ì ạch, đặc biệt là ở cây lúa
5 Đánh giá hiệu suất các mô hình sản xuất nông nghiệp
- Để đánh giá hiệu quả kỹ thuật (TE) của các mô hình sản xuất nông nghiệp,hàm sản xuất Translog tuyến biên (stochastic frontier translog productionfunction) của Christen, Jorgenson and Lau (1973) được ứng dụng trongtrường hợp này thể hiện ở phương trình (1), cùng với việc vận dụng môhình không hiệu quả kỹ thuật “technical inefficiency” ở phương trình (2)ứng dụng từ Ngwenya, Battese and Fleming (1997) Số liệu được sử dụng
là số mẫư khảo sát trực tiếp từ 62 nông dân sản xuất cho các mô hình đơn,
Trang 20mô hình kết hợp: Chuyên canh sản xuất lúa; Cây ăn trái; Thủy sản; Chănnuôi; Lúa-màu; Cây ăn trái-Chăn nuôi; Cây ăn trái-thuỷ sản
LnM LnS
LnL LnD
LnQ O D L S M
LnMLnM LnSLnS
Q: Giá trị thu hoạch của hộ (đồng)
D: Diện tích canh tác của hộ (ha)
L: Ngày công lao động của gia đình và thuê (ngày)
S: Chi phí sinh học trong quá trình sản xuất (giống, phân, thuốc trừ sâu, thuốc thuỷsản và chăn nuôi, thức ăn) (đồng)
M: Chi phí Marketing (giao lưu trong tiến giao lưu quan hệ mua bán, điện thoạiliên lạc, nắm băt thông tin thị trường)
Ln: Log tự nhiên (natural logarithm)
: Thông số chưa được biết
Kết quả ước lượng như được chỉ ra ở bảng 9 cho thấy, giá trị thu hoạch của hộ sảnxuất mô hình kinh tế nông nghiệp tăng khi diện tích đất canh tác, ngày công laođộng, chi phí sinh học và chi phí marketing tăng lên, vì dấu của các hệ số này làdương (+) Tuy nhiên biến số diện tích canh tác và chi phí marketing tồn tại ýnghĩa tác động tích cực đến sự gia tăng giá trị thu hoạch của nông dân sản xuất
Bảng 9 : Kết quả ước lượng hàm sản xuất tuyến biên Translog
Trang 21Ghi chú : Những chữ in đậm trong bảng thể hiện tồn tại ý nghĩa
Theo Battese và Coelli (1995), tham số phân phối không hiệu quả kỹ thuật, i,được xác định như sau
i 0 T T i V V i G G i K K i C C i (2)
Với
T : Tuổi của chủ hộ quản lý và điều hành sản xuất (tuổi)
V: Số thành viên gia đình tham gia lao động trực tiếp mô hình nông nghiệp(người)
G : Phần trăm giống có nguồn gốc được nông hộ tiếp cận sử dụng (%)
K : Mức độ tiếp cận thông tin khoa học, kỹ thuật khuyến nông của nông dân thông
qua lớp tập huấn từ các kênh khuyến nông khác nhau (giờ/năm),
C : Hộ tham gia vào tổ hoặc nhóm hoặc câu lạc bộ, hợp tác xã sản xuất tại địa
phương (1= có, 0= không có)
: Thông số chưa được biết sẽ được ước lượng
Kết quả ước lượng chỉ ra ở bảng 10 cho thấy rằng :
- Tuổi đời của chủ hộ càng trẻ tuổi sẽ tác động rất ý nghĩa đến hiệu năng sảnxuất, điều này nói lên tính linh động và trình độ trong việc vận dụng kiếnthức khuyến nông, khuyến ngư vào thực tế sản xuất,
- Số thành viên lao động trực tiếp gia đình càng nhiều tham gia vào sản xuấtnông nghiệp càng tác động đến hiệu quả sản xuất,
- Phần trăm giống có nguồn gốc được sử dụng của nông dân sẽ tác động rất ýnghĩa đến hiệu quả kỹ thuật trong tiến trình sản xuất, Tức là phần trămnguồn giống có nguồn gốc càng tăng, càng làm giảm tính không hiệu quả
Bảng 10 : Kết quả ước lượng hàm