Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 3
1.1.Nguồn nhân lực 3
1.1.1.Khái niệm 3
1.1.2.Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội 4
1.1.3.Phân loại nguồn nhân lực 5
1.2.Chất lượng nguồn nhân lực 6
1.2.1.Khái niệm 6
1.2.2.Vai trò 7
1.2.3.Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 7
1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực 9
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC HIỆN NAY 12
2.1.Thực trạng nguồn nhân lực 12
2.1.1.Số lượng(quy mô) nguồn nhân lực 12
2.1.2.Cơ cấu nguồn nhân lực 15
2.1.3.Chất lượng nguồn nhân lực 16
2.1.4 Đánh giá chung chất lượng nguồn nhân lực nước ta hiện nay 21
2.2.Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực 22 2.2.1.Tuyển dụng 22
2.2.2.Đào tạo 23
2.2.3.Đãi ngộ 24
2.2.4.Đánh giá 24
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 26
3.1.Phương hướng và những quan điểm chỉ đạo 26
3.2.Các nhóm giải pháp cơ bản 28
3.2.1.Đào tạo 28
3.2.2.Đãi ngộ 32
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong quan niệm trước đây ở nước ta về quá trình công nghiệp hóa,vaitrò của con người mặc dù đã được đề cao ở mức độ đáng kể,song con ngườivới tất cả tiềm năng,hiện trạng và sức mạnh của mình thì lại chưa đượcnhìn nhận như là một nguồn lực của bản thân quá trình công nghiệp.Dovậy,trên thực tế trong một thời gian tương đối dài con người đã vô tình bịđặt ra ngoài hệ thống các nguồn lực nội tại của sự phát triển.Đây là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu làm cho quá trình phát triển kinh tế xãhội nước ta trước đây thiếu động lực và đạt kết quả rất hạn chế
Ngày nay,do sự tác động chi phối bởi những đặc điểm mới của thời đại
và do những nhu cầu của sự phát triển đất nước,cũng với những bài học rút
ra từ thực tiễn và qua kinh nghiệm của nhiều nước,trong thực tiễn cũng nhưtrong lý luận,đã có sự thay đổi đáng kể về nội dung và giải pháp.Vị trí vàđặc điểm của nguồn nhân lực cũng được nhìn nhận lại,trong đó con ngườiđược coi vừa là nguồn lực nội tại,cơ bản,quyết định sự nghiệp phát triển đấtnước.Mặt khác,với thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay,việc khaithác sử dụng và phát triển nguồn lực đó sao cho có hiệu quả nhất,đáp ứngđược các yêu cầu phát triển cũng đang là những vấn đề bức xúc mà sự nhậnthức và giải quyết tốt những vấn đề đó sẽ là điều kiện tiên quyết,bảo đảmcho sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế Việt Nam
Nhằm góp phần vào việc phát huy yếu tố con người và đặc biệt quan
tâm đến chất lượng nguồn nhân lực,em đã lựa chọn đề tài:" Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội"
Mục đích nghiên cứu là làm rõ thực trạng chất lượng nguồn nhân lựchiện nay và đưa ra những quan điểm và biện pháp nhằm nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.Tuy nhiênchất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có nội dung rộng lớn,phức tạp và liênquan đến nhiều ngành,nhiều lĩnh vực khác nhau,do vậy đề tài không tránhkhỏi thiếu sót hạn chế,em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
cô giáo để đề án được hoàn thiện hơn.Em xin trân thành cảm ơn đến Thầy Mai Văn Bưu đã hướng dẫn em thực hiện tốt đề án này.
Trang 3CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN
Lịch sử loài người trước hết là lịch sử lao động sản xuất,vì vậy
nguồn nhân lực trước hết cũng được biểu hiện ra là người lao động, là lựclượng lao động(số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động),lànguồn lao động(đội ngũ lao động hiện có và sẽ có trong tương lai gần).Từkhía cạnh này,có thể hiểu rằng khai thác,sử dụng có hiệu quả nguồn nhânlực trước tiên là tạo việc làm và khai thác hợp lý nguồn lao động Đồngthời,khái niệm nguồn nhân lực cũng phản ánh quy mô dân số thông qua sốlượng dân cư và tốc độ tăng dân số của một nước trong một thời kỳ nhâtđịnh
Nguồn nhân lực phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu laođộng trong các ngành,các vùng,cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong cáclĩnh vực và khu vực kinh tế,cơ cấu trình độ lao động,cơ cấu độ tuổi tronglực lượng lao động,cơ cấu nguồn lao động dự trữ Cơ cấu và lao động ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực chủ yếu phản ánh phương diện chất lượngdân số, đặc biệt là chất lượng lực lượng lao động trong hiện tại và trongtương lai gần,thể hiện qua hàng loạt yếu tố Đó là sức khỏe cơ thể và sứckhỏe tâm thần,mức sống tuổi thọ,trình độ giáo dục đào tạo về văn hóa vàchuyên môn nghiệp vụ,trình độ học vấn,trình độ phát triển trí tuệ,năng lựcsáng tạo,khả năng thích nghi,kỹ năng lao động,văn hóa lao động,các khíacạnh tâm lý,ý thức, đạo đức,tư tưởng tình cảm,tính cách,lối sống trong đótrí lực,thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng nhất,quyết định chấtlượng và sức mạnh của nguồn lực con người
Có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố nội tại trong nguồnnhân lực,sự tác động qua lại giữa con người và tự nhiên,môi trường sống vàcác nguồn lực khác.Mặt khác,nó cũng nói lên sự biến đổi về số lượng,chấtlượng,cơ cấu dân cư và lực lượng lao động
Con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực,nguồn lực nộitại,cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội.Mặtkhác,không chỉ là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển của xã
Trang 4hội,mà còn là khách thể của các quá trình kinh tế-xã hội,là đối tượng màchính sự phát triển xã hội phải hướng vào phục vụ.
Vì vậy,khi xem xét nguồn nhân lực đòi hỏi phải có quan điểm toàndiện,phải nhìn nhận con người với tất cả hiện trạng,tiềm năng, đặc điểm vàsức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội ở cả phương diên chủ thể lẫnphương diện khách thể
1.1.2.Vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội
a) Con người là động lực của sự phát triển
Từ thời kỳ xa xưa con người bằng công cụ lao động thủ công và nguồnlực do chính bản thân mình tạo ra để sản xuất ra sản phẩm thỏa mãn nhucầu của bản thân.Sản xuất ngày càng phát triển,phân công lao động ngỳacàng chi tiết,hợp tác ngày càng chặt chẽ tạo cơ hội để chuyển dần hoạtđộng cuả con người cho máy móc thiết bị thực hiện(các động cơ phátlực),làm thay đổi tính chất của lao động từ lao động thủ công sang lao động
cơ khí và lao động trí tuệ.Nhưng ngay cả trong điều kiện đạt được khoa học
kỹ thuật hiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực conngười bởi lẽ:
-Chính con người đã tạo ra máy móc thiết bị hiện đại đó, điều đó thểhiện mức độ hiểu biết và chế ngự tự nhiên của con người
-Ngay cả đối với máy móc hiện đại,nếu thiếu sự điều khiển,kiểm tra củacon người thì chúng chỉ là vật chất.Chỉ khi có sự tác động của con ngườimới phát động chúng và đưa chúng vào sản xuất
Trong phạm vi xã hội,nguồn lực con người là một trong những nguồnnội lực quan trọng cho sự phát triển Đặc biệt đối với những nước có nềnkinh tế đang phát triển như nước ta dân số đông,nguồn nhân lực dồi dào đãtrở thành một nguồn nội lực quan trọng nhất.Nếu biết khai thác nó sẽ tạonên một động lực to lón cho sự phát triển
b) Con người là mục tiêu của sự phát triển
Con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xãhội và như vậy nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêudùng.Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêudùng,song nhu cầu tiêu dùng của con người lại tác đông mạnh mẽ tới sảnxuất, đinh hướng phát triển sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hóatrên thị trường.Nếu trên thị trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hóanào tăng lên,lập tức thu hút lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó
và ngược lại
Nhu cầu của con người là vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyêntăng lên,nó bao gồm nhu cầu vật chất,nhu cầu tinh thần,về số lượng vàchủng loại hàng hóa càng ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tácđộng tới quá trình phát triển kinh tế xã hội
Trang 5c) Yếu tố con người trong phát triển kinh tế-xã hội.
Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển,thể hiệnmức độ chế ngự thiên nhiên,bắt thiên nhiên phục vụ cho con người,mà còntạo ra những điều kiện để hoàn thiện chính bản thân con người
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trìnhlao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quátrình đó,mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnhchế ngự tự nhiên,tăng thêm động lực cho sự phát triển
Như vậy động lực.mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự pháttriển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người.Điều đó lý giải tại sao con người được coi là nhân tố năng động nhất,quyếtđịnh nhất của sự phát triển
1.1.3.Phân loại nguồn nhân lực
a) Nguồn nhân lực sẵn có trong dân số
Bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động,có khả nănglao động,không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể tâm lý-sinh lý xãhội mà con người tham gia vào quá trình lao động.Giới hạn độ tuổi laođộng được quy định tùy thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội của từng nước
và trong từng thời kỳ.Giới hạn độ tuổi lao động bao gồm:
-Giới hạn dưới: quy định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao động,
ơ nước ta hiện nay là 15 tuổi
-Giới hạn trên: quy định độ tuổi về hưu, ở nước ta quy định độ tuổi này
là 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trongdân số,thường từ 50% hoặc hơn nữa,tùy theo đặc điểm dân số và nhân lựccủa từng nước
b) Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế
Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân sốhoạt động kinh tế Đây là lực lượng bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trởlên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việclàm.Như vậy giữa nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và dân số hoạt độngkinh tế có sự khác nhau.Sự khác nhau này là do có một bộ phận nhữngngười trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,nhưng vì nhiều nguyênnhân khác nhau,chưa tham gia vào hoạt động kinh tế(thất nghiệp,có việclàm nhưng không muốn làm việc,còn đang học tập,có nguồn thu nhập kháckhông cần đi làm, )Năm 2003 số người không có việc làm ở nước tachiếm 5,78% dân số hoạt động kinh tế
Trang 6c) Nguồn nhân lực dự trữ.
Các nguồn nhân lực dự trữ trong nền kinh tế bao gồm những ngườitrong độ tuổi lao động,nhưng vì các lý do khác nhau,họ chưa có công việclàm ngoài xã hội.Số người này đóng vai trò của một nguồn dự trữ về nhânlực gồm có:
-Những người làm công việc nội trợ trong gia đình:khi điều kiện kinh tế
xã hội thuận lợi,nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội,họ
có thể nhanh chóng rời bỏ công việc nội trợ để làm công việc thích hợpngoài xã hội Đây là nguồn nhân lực đáng kể và đại bộ phận là phụ nữ,hàngngày vẫn đảm nhiệm chức năng duy trì,bảo vệ và phát triển gia đình vềnhiều mặt, đó là những hoạt động có ích và cần thiết.Công việc nội trợ giađình đa dạng,vất vả đối với phụ nữ ở các nước chậm phát triển(do chủ yếu
là lao động chân tay),dẫn đến năng suất lao động thấp so với những côngviệc tương tự được tổ chức ở quy mô lớn hơn,có trang bị kỹ thuật cao hơn.-Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyênnghiệp được coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lượng Đây
là nguồn nhân lực ở độ tuổi thanh niên,có học vấn,có trình độ chuyênmôn(nếu được đào tạo tại các trường dạy nghề và các trường trung cấp, đạihọc).Tuy nhiên,khi nghiên cứu nguồn nhân lực nay cần phân chia tỷ mỷhơn:
Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động,tốt nghiệp trung học phổthông,không tiếp tục học nữa,muốn tìm việc làm
Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động,chưa học hết trung học phổthông,không tiếp tục học nữa,muốn tìm việc làm
Nguồn nhân lực ở đọ tuổi lao động đã tốt nghiệp ở các trườngchuyên nghiệp(trung cấp,cao đẳng, đại học)thuộc các chuyên môn khácnhau tìm việc làm
-Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự cũng thuộc nguồn nhânlực dự trữ,có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội.Số ngườithuộc nguồn nhân lực dự trữ này cũng cần phân loại để biết rõ có nghề haykhông có nghề,trình độ văn hóa,sức khỏe, từ đó tạo công việc làm thíchhợp
-Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp(có nghề hoặckhông có nghề)muốn tìm việc làm,cũng là nguồn nhân lực dự trữ,sẵn sàngtham gia vào hoạt động kinh tế
1.2.Chất lượng nguồn nhân lực
1.2.1.Khái niệm
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lựcthể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong củanguồn nhân lực.Chất lượng nguồn nhân lực không những chỉ là chỉ tiêu
Trang 7phản ánh trình độ phát triển kinh tế,mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độphát triển về mặt đời sống xã hội,bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽtạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là một nguồn lực của
sự phát triển,mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định.1.2.2.Vai trò
Nhu cầu về lao động là nhu cầu dẫn xuất do nhu cầu sản xuất sản phẩmnhất định;nhu cầu sản xuất sản phẩm lại xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng củacon người.Cùng với sự phát triển của nền sản xuất,nhu cầu của con ngườingày càng đa dạng,sản phẩm sản xuất ra càng nhiều hơn và chất lượng càngcao hơn Điều đó chỉ có thể có được do loại lao động có trình độ cao sảnxuất ra,nên không thể không chăm lo tới việc nâng cao chất lượng nguồnnhân lực.Sự tác động qua lại giữa chất lượng nguồn nhân lực với điều kiệnphát triển kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển theo chiều hướng có lợi cho xãhội chất lượng lao động được đảm bảo nâng cao sẽ thúc đẩy khoa học kỹthuật,nâng cao tay nghề chất lượng người lao động,thúc đẩy sản xuất kinhdoanh,dẫn đến mức sống được đảm bảo
Trong quá trình phát triển đất nước không tránh khỏi việc chuyển từ laođộng thủ công sang lao động máy móc cơ khí,lao động trí tuệ.Do đó vai tròcủa chất lượng nguồn lao động phải được đảm bảo đáp ứng sự cần thiết đổimới của xã hội
Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao chứng tỏ sự quan tâm của xãhội cho giáo dục và đạo tạo,qua đó cho thấy kết quả của giáo dục đào tạo.1.2.3.Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉtiêu,trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
a)Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất và tinh thần chứ không phảiđơn thuần là không có bệnh tật.Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nêngiữa bên trong và bên ngoài,giữa thể chất và tinh thần.Có nhiều chỉ tiêubiểu hiện trạng thái về sức khỏe.Bộ y tế nước ta quy định có 3 loại:
A:Thể lực tốt loại không có bệnh tật gì
B:Trung bình
C:Yếu,không có khả năng lao động
Gần đây Bộ Y tế kết hợp với Bộ Quốc phòng căn cứ vào 8 chỉ tiêu đểđánh giá:
Chỉ tiêu thể lực chung:chiều cao,cân nặng,vòng ngực
Mắt
Tai mũi họng
Răng hàm mặt
Nội khoa
Trang 8 Tỷ lệ sinh thô,tỷ lệ chết thô,tỷ lệ tăng tự nhiên.
Tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi
Tỷ lệ sinh thấp cân ở trẻ em
Tỷ lệ dừng mức sinh
Tuổi thọ trung bình
Tỷ lệ GDP/Đầu người
Cơ cấu giới tính,tuổi tác
b) Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của người lao động
Trình độ văn hóa của người lao động là sự hiểu biết của người lao độngđối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội.Trong chừng mựcnhất định,trình độ văn hóa của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của quốcgia đó.Trình độ văn hóa được biểu hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ như:
Số lượng người biết chữ và chưa biết chữ
Số người có trình độ tiểu học
Số người có trình độ phổ thông cơ sở(cấp II)
Số người có trình độ phổ thông trung học(cấp III)
Số người có trình độ đại học và trên đại học
Trình độ văn hóa của dân số hay của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hếtsức quan trọng phản ánh chất lượng cuả nguồn nhân lực và có tác độngmạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.Trình độ văn hóa cao tạokhả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoahọc kỹ thuật vào thực tiễn
c)Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động.Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết,khả năng thực hành về chuyên mônnào đó,nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyênnghiệp,cao đẳng, đại học và sau đại học,có khả năng chỉ đạo quản lý mộtcông việc thuộc chuyên môn nhất định.Do đó trình độ chuyên môn củanguồn nhân lực được đo bằng:
Tỷ lệ cán bộ trung cấp
Tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
Tỷ lệ cán bộ trên đại học
Trang 9Trong mỗi chuyên môn có thể chia thành những chuyên môn nhỏ hơnnhư đại học:bao gồm kỹ thuật,kinh tế,ngoại ngữ thậm chí trong từngchuyên môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn nữa.
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ conngười được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhấtđịnh,những kỹ năng thực hành về công việc nhất định.Trình độ kỹ thuậtđược biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông
Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng
Trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ vớinhau,thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không đào tạo trongtừng tập thể nguồn nhân lực
d)Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua chỉ số phát triểncon người(HDI-Human Development Index)
Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu:
Tuổi thọ bình quân
Thu nhập bình quân đầu người(GDP/người)
Trình độ học vấn(tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình củadân cư)
Như vậy,chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặtkinh tế,mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng tiến
bộ xã hội
e)Ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa được như trên người ta cònxem xét chỉ tiêu năng lực phẩm chất của người lao động.Chỉ tiêu này phảnánh mặt định tính mà khó có thể định lượng được.Nội dung của chỉ tiêu nàyđược xem xét thông qua các mặt:
Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ quốc
Truyền thống về văn hóa văn minh dân tộc
Trang 10tuyển dụng chỉ nên tập trung vào những người nộp đơn xin việc có nhữngđiều kiện cơ bản tối thiểu.Các điều kiện cơ bản này phải được xác địn nhờvào kỹ thuật phân tích xác định các yêu cầu và đặc điểm công việc cầntuyển dụng.
Tuyển dụng đóng vai trò khá lớn trong quá trình nâng cao chất lượngđội ngũ nguồn nhân lực cho xã hội,tuyển dụng càng chặt chẽ đến đâu sẽlàm cho quá trình thực hiện kết quả sau này càng dễ dàng bấy nhiêu,chấtlượng cán bộ sẽ phù hợp với tiêu chuẩn đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đặt racủa công việc cần tuyển dụng
-Đào tạo tính sáng tạo,nội dung này giúp nhân lực có những cơ hội đểsuy nghĩ tự do,để giải quyết vấn đề theo những phương pháp mới mà không
lo ngại sự đánh giá của các nhà quản lý hay đồng nghiệp
Để đội ngũ nguồn nhân lực được nâng cao chất lượng cũng cần phải cóphương pháp đào tạo thích hợp
-Đào tạo gắn với thực hành công việc(đào tạo tại chỗ)là cách đào tạo mànhững người học thực hiện công việc thực tế dưới sự hướng dẫn của nhữngnhân lực có kinh nghiệm,những người quản lý hoặc giảng viên.Ưu điểmcủa cách đào tạo này là nội dung liên quan rõ ràng đến công việc cụthể.Tuy nhiên khi thực hiện công việc thực tế,những người được đào tạo cóthể làm hỏng và gây tổn thất cho tổ chức
-Đào tạo không gắn với thực hành công việc:như tổ chức khóa họcchính thức,đào tạo đóng kịch,đào tạo mô phỏng Cách đào tạo này ít tốnkém chi phí do học viên không được hoặc chỉ được sử dụng dụng cụ giả vàkhông gây thiệt hại tài sản cho tổ chức.Tuy nhiên phương pháp đào tạo nàykhông gắn liền với thực tế công việc do đó hiệu quả đào tạo không cao.c) Đãi ngộ
Đây là hình thức mang lại lợi ích cho người lao động,các chỉ tiêu đượcđặt ra với các mức thưởng phạt khác nhau giúp cho người lao động có được
sự say mê trong công việc.Bao gồm hình thức trả công,khen thưởng thỏađáng,các chính sách mở cho người lao động giúp họ yên tâm hơn trongcông việc,làm hết mình để đạt được hiệu quả cao nhất có thể.Công cụ làm
Trang 11việc cũng là một phần yếu tố quan trọng giúp cho việc nâng cao chấtlượng,nâng cao năng suất lao động,kể cả lao động quản lý.Chất lượng hoạtđộng không chỉ phụ thuộc vào trình độ,năng lực mà còn cả phương tiện kỹthuật.Vì vậy trang bị đủ và đúng phương tiện làm việc cho cán bộ quản lý
là một đòi hỏi để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Lợi ích luôn là động lực cho các hoạt động của con người.Hoạt độngcông vụ có đặc điểm là không vụ lợi,điều đó không có nghĩa tiềnlương,khen thưởng và kỹ luật không ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhânlực quản lý và các hoạt động của họ.Ảnh hưởng của tiền lương đến chấtlượng nguồn nhân lực là quá rõ ràng,không thể đòi hỏi cao về cả năng lực
và phẩm chất trong khi tiền lương và thu nhập lại không tương xứng.Tiềnlương phải phản ánh được hoạt động của cán bộ quản lý về cả chất lượng
và số lượng,tạo ra động lực phấn đấu vươn lên về mọi mặt đối với cán bộquản lý
d) Đánh giá
Đánh giá là quá trình so sánh,phân tích mức độ đạt được của quá trìnhphấn đấu,rèn luyện và thực hiện công việc của người cán bộ theo yêucầu,tiêu chuẩn đề ra cho công việc được giao theo chức danh.Công tácđánh giá là hết sức quan trọng vì những mục đích cũng như những ảnhhưởng của nó đến các cá nhân và tổ chức
Mục đích của việc đánh giá nhằm cung cấp các thông tin phản hồi chongười quản lý biết năng lực và việc thực hiện công việc của họ và người bịđánh giá đang ở mức nào,giúp họ phấn đấu để tự hoàn thiện mình và làmcông việc tốt hơn.Cung cấp thông tin cho công tác quản lý cán bộ,từ quyhoạch,đào tạo,bố trí sử dụng,tuyển chọn cán bộ cho đến quản lý hệ thốnglương thưởng cán bộ,công chức.Đánh giá suy cho cùng không phải chỉ biếtkết quả,mà nhằm nâng cao chất lượng,kết quả và hiệu quả công tác củangười cán bộ công nhân viên,đem lại lợi ích cho cả cá nhân,tập thể và Nhànước
Qua công việc đánh giá giúp cho hiểu được đội ngũ nguồn nhân lựcđang ở mức nào và qua đó đưa ra các giải pháp khắc phục,nâng cao hiệuquả nguồn nhân lực
Trang 12CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
HIỆN NAY
2.1.Thực trạng nguồn nhân lực
2.1.1.Số lượng(quy mô) nguồn nhân lực
Số lượng về nguồn nhân lực tiếp tục gia tăng,hệ quả của tăng trưởng dân
số thời gian trước,từ năm 1976 nước ta có hiện tượng "bùng nổ" số ngườitrong độ tuổi lao động.Nhịp độ tăng bình quân hằng năm qua các thời kỳ là:-Thời kỳ 1960-1975 : 3,2% /năm
Số người trong độ tuổi lao động
Năm
Dân số trong tuổi
lao động(ngàn người)
% so vớitổng sốdân
Mức tăng bìnhquân mỗi năm(ngàn người)
Tốc độ tăng bìnhquân /năm(%)
Đến năm 2010 sẽ có gần 57,8 triệu và 2020 sẽ có 68 triệu người trong
độ tuổi lao động,chiếm 60,9% dân số 2010 và 63,8% dân số năm 2020
Số người vào độ tuổi lao động tăng nhanh,số người ra khỏi tuổi laođộng thấp và tăng chậm nên mức gia tăng của dân số trong độ tuổi lao độngrất cao.Hằng năm có trên 1,7 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động vàchỉ có trên 3,5 vạn người ra khỏi tuổi lao động đã tạo ra áp lực rất lớn vềđào tạo nghề và giải quyết việc làm
Trang 13Mức tăng dân số trong độ tuổi lao động
Đơn vị : Ngàn ngư iờiNăm
Tổng số vàotuổi lao động(BQ mỗinăm)
Tổng số ratuổi lao động(BQ mỗinăm)
Tổng sốtrong tuổi laođộng tăngthêm
Mức gia tăngbình quânhàng năm
1991-1995 7543(1510) 1888(378) 5020 10041996-2000 8570(1715) 1780(356) 6100 12002001-2005 8800(1760) 1954(390) 6200 12402006-2010 8300(1660) 2500(500) 5300 1060
Phần lớn nguồn nhân lực của cả nước (58,5%) tập trung ở cả 3 vùng làđồng bằng sông Cửu Long (8,7 triệu người chiếm 22,3% trong cả nước),đồng bằng sông Hồng(7,8 triệu chiếm 20% cả nước) và đồng bằng NamBộ(6,3 triệu chiếm 16,2 % cả nước).Khoảng 60% của tổng mức gia tăngnguồn nhân lực cũng tập trung tại 3 vùng này.Tây Nguyên và Tây Bắc là 2vùng có diện tích lớn nhưng quy mô nguồn nhân lực lại nhỏ nhất(Tây Bắc1,1 triệu,Tây Nguyên hơn 1,1 triệu).Nguồn nhân lực tăng nhanh ở các vùngTây Nguyên, Đông Nam Bộ còn do di dân có tổ chức và di dân tự do nênngoài tác động tích cực là tăng thêm lao động cho phát triển kinh tế-xã hộinhưng cũng đang gây ra những tác động tiêu cực về xã hội và môitrường.Nhu cầu giải quyết việc làm trên các vùng đến năm 2010 đều rấtcao
Dân số trong tuổi lao động(1000 người)
Năm
Nhịptăng BQ2001-2010
Cả nước 38.954,5 45.175,0 51.607,0 57.771,8 2,50
1 Đông Bắc 5.568,2 6.480,8 7.496,0 8.352,7 2,62.Tây Bắc 1.253,3 1.253,3 1.504,5 1.753,4 3,45
Trang 14Dân số cả nước năm 1997 là 76.709 nghìn người, ước tính năm 2000 là80,5-81 triệu người.Tỷ lệ phát triển dân số kể từ năm 1990 đến nay đã giảmđáng kể từ 2,4%(1992) xuống còn 1,68%(1997) đến năm 2000 là 1,75.Vượtchỉ tiêu Đại hội VIII đề ra.Tỷ lệ sinh giảm nhanh,từ 31,3% năm 1988xuống còn khoảng 22,8%(1996).Tổn tỷ suất sinh(số con trung bình của nữtrong độ tuổi sinh đẻ)giảm từ3,88(1988),2,7 (1997) đến năm 2000 là2,55.Tỷ lệ áp dụng các biện pháp tránh thai tăng khá nhanh từ 53% năm
1988 lên 68,3 năm 1996 Điều đó tạo tiền đề cho việc tiếp tục giảm tỷ lệsinh và theo đó là tốc độ tăng dân số trong những năm tới.Tuy nhiên, điềuđáng lưu ý là tỷ lêj sinh ở các vùng nghèo và các nhóm dân cư có thu nhậpthấp còn khá cao,tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn nhiều,gây ra các tác độngtiêu cực về chất lượng dân số do phần lớn số trẻ em đó không có điều kiệnnuôi dưỡng,chăm sóc và giáo dục tốt và sự nghèo đói ngày càng trầm trọnghơn
Do đó,cùng với đầu tư lớn hơn cho công tác dân số-kế hoạch hóa giađình giảm sinh ổn định tiến tới ngừng tăng dân số,cần tập trung đầu tư vànâng cao chất lượng dân số.Khu vực nông thôn và các vùng miền núi BắcBộ,Bắc Trung Bộ,Duyên hải Nam Trung Bộ,Tây Nguyên và đồng bằngSông Cửu Long, đặc biệt là đối tượng dân cư nghèo và có hoàn cảnh khókhăn ở vùng sâu vùng xa nhằm xóa đói giảm ngheo,tạo ra những chuyểnbiến tích cực giảm nhanh tỷ lệ sinh chung,nâng cao chất lượng dân số vànguồn nhân lực
Nhịp độ tăng dân số bình quân hằng năm khác biệt giữa các vùng caonhất là Tây Nguyên (3,99%),Tây Bắc (3,3%),đồng bằng sôngCửuLong(3,08%) Riêng hai địa bàn trọng điểm Bắc và Nam bộ và TâyNguyên do có tăng cơ học nên tốc độ tăng còn nhiều
Giảm nhanh tỷ lệ sinh đã làm cho cơ cấu dân số được cải thiện.Tỷ lệdân số trong độ tuổi lao động tăng còn tỷ lệ trẻ em không ngừng giảm.Tuy
Trang 15nhiên quá trình giảm sinh khác nhau ở các vùng sẽ dẫn đến xu thế đòi hỏi
sự đầu tư khác nhau cho phát triển xã hội ở các vùng
2.1.2.Cơ cấu nguồn nhân lực
Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh qua cơ cấu dân cư,lao động trong cácnghành,cơ cấu lao động đã qua đào tạo trong các lĩnh vực và các khu vựckinh tế,cơ cấu trình độ lao động,cơ cấu độ tuổi trong lực lượng lao động,cơcấu nguồn lao động dự trữ trong các trường đai học cao đẳng,trung họcchuyên nghiệp và dạy nghề
Tình hình chuyển dịch cơ cấu lao động
Đơn v : %ị : %Ngành
Kế hoạch 2001-2005
Thực hiện Ước thực hiện
Theo số liệu thống kê ở trên,cơ cấu dân cư và lao động ở nước ta đã có
sự chuyển biến tích cực.Tỷ trọng lao động trong ngành nông-lâm-ngưnghiệp có xu hướng giảm dần,lao động trong công nghiệp xây dựng và dịch
vụ tăng,mặc dù tốc độ còn chậm.Nếu như trước đây,lao động trong sảnxuất nông nghiệp chiếm tới 73%,trong khi đó lao động trong sản xuất côngnghiệp và dịch vụ mới chỉ có 27%,thì hiện nay cơ cấu lao động đã cóchuyển biến như bảng trên.Tuy nhiên,so với chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấukinh tế mà Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra(nông -lâm-ngư nghiệp:20-21%;công nghiệp và xây dựng:38-39%;các ngành dịch vụ:41-42%)thì tốc
độ chuyển dịch cơ cấu lao động còn quá chậm,dẫn đến khoảng cách khá xagiữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế.Nhưng điều đáng lưu ý hơn là cơcấu lao động đã được đào tạo giữa các ngành,các khu vực sản xuất,cácvùng,các dạng lao động và giữa các trình độ rất bất hợp lý.Nông thônchiếm gần 75% dân số và lao động nhưng chỉ chiếm 47,38 lực lượng laođộng được đào tạo cả nước, đặc biệt trong gần 60% lao động làm việc ởlĩnh vực nông,lâm,ngư nghiệp,số được đào tạo mới chỉ chiếm 7%.Đây thực
sự là trở ngại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hóa,hiện đại hóa nôngnghiệp và nông thôn
Trang 16-Cơ cấu trình độ lực lượng động, đến cuối năm 2003 tỷ lệ lao động quađào tào dậy nghề trong lực lượng lao động là 17,5%.Cụ thể có khoảng 4,9triệu lao động có trình độ sơ cấp hoặc có chính chỉ dạy nghề,1,47 triệu laođộng có trình độ trung học chuyên nghiệp,khoảng 1,3 triệu lao động cótrình độ cao đẳng, đại học,hơn 10 ngàn thạc sỹ.Riêng tiến sỹ,phó giáo sư vàgiáo sư đến tháng 5-2002 có khoảng 13.500 người.Nghĩa là,tỷ lệ đại học-trung học chuyên nghiệp-công nhân kỹ thuật là 1-1,75-2,3.Tỷ lệ này nói lên
sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động.Chúng ta thiếu
cả cán bộ trên đại học, đại học,trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹthuật lành nghề,nhưng thiếu hụt nghiêm trọng hơn cả là chuyên gia đầunghành và công nhân lành nghề-kỹ thuật viên.Chẳng hạn,trong lĩnh vựcgiáo dục và đào tạo, đặc biệt ở các trường đại học và viện nghiên cứu cónhu cầu lớn về lực lượng cán bộ có trình độ trên đại học nhưng tỷ lệ sốngười có trình độ trên đai học trên tổng số cán bộ giảng dạy hiện mới đạt12,7%(cần đạt 30%).Hay trong khu vực kinh tế tậo thể và tư nhân hiện sửdụng 85%lao động xã hội,nhưng số cán bộ có trình độ trung học chuyênnghiêpk chỉ chiếm 9% Vì thế tăng nhanh quy mô đào tạo,nhất là đào tạodạy nghề,phải là giải pháp hàng đầu,cấp bách để tạo ra nguồn lao động có
số lượng và chất lượng phục vụ đất nước
-Cơ cấu độ tuổi của lực lượng lao động,nói chung lực lượng lao độngnước ta được xếp vào loại trẻ,54% số người trong độ tuổi lao động là thanhniên(16-35 tuổi),hàng năm có thêm 1,2 triệu người bước vào độ tuổi laođộng.Lực lượng lao động trẻ có thuận lợi về sức khỏe,tính năng động sángtạo,có trình độ văn hóa khá,khả năng tiếp thu khoa hoc-công nghệ tiên tiếnnhanh.Tuy nhiên, đội ngũ lao động trình độ cao lại đang bị già hóa rấtnhanh và đang có sự hẫng hụt lớn giữa các thế hệ.Số công nhân kỹ thuậtbậc cao đa phần xấp xĩ tuổi 50;trong số trên 10.000 cán bộ khoa học bậccao thì tuổi bình quân của tiến sĩ là 52,8;giáo sư ở độ tuổi 51-70 chiếm90%,dưới 50 tuổi chỉ có 4%,phó giáo sư độ tuổi 52-70 chiếm 82%,dưới 50chỉ có 18%
2.1.3.Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực giữ vai trò quyết định sức mạnh của nguồnnhân lực,bao gồm các yếu tố như:sức khỏe,mức sống,trình độ giáo dục đàotạo về văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp,trình độ học vấn,năng lực sángtạo,khả năng thích ứng,kỹ năng lao động,văn hóa lao động, đạo đức,tâmlý,tư tưởng,tình cảm,tính cách,lối sống song khái quát lại,gồm:thể lực,trílực và những phẩm chất đạo đức tinh thần của con người
a)Về thể lực
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX,tầm vóc và thể lực của con ngườiViệt Nam đang được cải thiện về chiều cao và cân nặng,tỷ lệ suy dinh
Trang 17dưỡng và tuổi thọ.Chiều cao trung bình của thanh niên Việt Nam đã tăng từ1,56m năm 1994 lên 1,58m năm 2000.Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổinăm 1989 lên 68,5 tuổi năm 2000.Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
đã giảm từ 44,9% năm 1995 xuống còn 33,1% năm 2000 và 30,1% năm2002,nhưng tỷ lệ như thế này là vẫn còn rất cao.Thể lực của người ViệtNam vẫn còn kém hơn nhiều so với một số nước trong khu vực và so vớiyêu cầu nguồn lực con người cần có ở nước ta.Hiện tai nước ta nằm trong
số các nước có mức sống thấp nhất thế giới(GDP tính theo đầu người là410USD năm2001).Theo số liệu thống kê năm 2002 của Chương trình pháttriển Liên hiệp quốc(UNDP),thu nhập quốc dân bình quân đầu người củanước ta đứng thứ 165/208 nước và vùng lãnh thổ.Theo phân loại của Ngânhàng thế giới,các nước có thu nhập thấp là dưới 745USD/người năm2001.Trên thế giới,dân số của các nước thu nhập thấp như vậy có tổng 2,5
ty người,bình quân thu nhập đầu người năm 2001 của những nước này là
430 USD.Vậy là chỉ số này của Việt Nam còn thấp hơn mức trung bình củacác nước có thu nhập thấp và thấp hưn 12 lần thu nhập bình quân đầungười của thế giới(5150) Đến cuối năm 2003,Việt Nam vẫn còn 29% dân
số sống dưới mức thu nhập 1USD/ngày và 50% dân số sống dưới thu nhập2USD/ngày,12% hộ nghèo và chỉ có 55% dân số nông thôn có nước sạch.Mức thu nhập thấp như vậy mà tốc độ tăng dân số vẫn còn cao,trình độhiểu biết về dinh dưỡng và sức khỏe của nhân dân lại thấp,nên đã ảnhhưởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng sống,trong đó có vấn đề giáodục,chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Điều kiện lao động trong nhiều cơ sở cácngành sản xuất cũng như ở các cơ quan hành chính sự nghiệp của nước tacòn kém,thậm chí có nơi còn rất khắc nghiệt,môi trường lao động bị ônhiễm nghiêm trọng,các yếu tố nguy hiểm và độc hại vượt quá ngưỡng giớihạn cho phép nhiều lần, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiềuhướng tăng nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân và hợp tác xã Tất cả nhữngđiều này cho thấy chất lượng dân số nói chung và người lao động nói riêng
về mặt thể lực sức khỏe cũng như điều kiện lao động,không bảo đảm,cầnphải được cải thiệ căn bản.Nói cách khác,thu nhập thấp, đời sống khókhăn,dinh dưỡng thiếu,thể lực hạn chế, đó là trạng thái chung của nguồnnhân lực nước ta hiện nay về phương diện mức sống và sức khỏe
b)Về trí lực
Chất lượng nguồn nhân lực được phản ánh chủ yếu qua sức mạnh trítuệ, đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng của nguồn laođộng, đặc biệt trong điều kiện trí tuệ hóa lao động hiện nay.Trình độ trí tuệbiểu hiện ở năng lực sáng tạo,khả năng thích nghi và kỹ năng lao độngnghề nghiệp của người lao động thông qua các chỉ số:trình độ văn hóa dântrí,học vấn trung bình của một người dân;số lao động đã qua đào tạo,trình
Trang 18độ và chất lượng đào tạo;mức độ lành nghề(kỹ năng,kỹ xảo )của lao động;trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh;năng suất,chất lượng;hiệu quảcủa lao động
Theo số liệu của UNDP,chỉ số phát triển con người HDI của Việt Nam
có xu hướng gia tăng từ xếp thứ 116/174 nước(1993) lên xếp thứ 109/177nước(2000),nhưng năm 2003 lại tụt xuống thứ 112/177 nước.Nước ta làmột trong mười nước có chỉ số xếp hạng HDI cao hơn xếp hạngGDP/người trên 20 bậc, điều này chứng tỏ nước ta đã cố gắng;gắn tăngtrưởng kinh tế với xã hội,quan tâm đến yếu tố sức khỏe,y tế,giáo dục Mặtkhác,cho đến nay đại bộ phận lao động nước ta chưa qua đào tạo đầy đủ,đến cuối năm 2003 số người được đào tạo mới chỉ chiếm 17,5% tổng số laođộng cả nước và hiện vẫn còn có3,74% lao động không biết chữ.Trong cơcấu lao động ở các cơ sở sản xuất của nước ta, đội ngũ công nhân và laođộng giản đơn chiếm 82%,đội ngũ các nhà kỹ thuật,quản lý,phát minh vàđổi mới công nghệ chỉ chiếm 18%,trong khi tỷ lệ tương ứng ở các nướcphát triển là 28% và 72%
Như vậy chưa nói đến chất lượng đào tạo và sự phù hợp giữa kiến thứcđào tạo trước đây với việc làm hiện nay ra sao,mà chỉ riêng chỉ số trên đãcho thấy tỷ lệ lao động được đào tạo ở nước ta là quá thấp,vì thế chất lượnglao động nói chung rất hạn chế Đáng chú ý là số lao động được đào tạo đãthấp mà hiện tại vẫn còn 2,2% trong tổng số lao động có trình độ chuyênmôn kỹ thuật chưa có việc làm.Thêm vào đó,chỉ khoảng 70% số người cótrình độ đại học,cao đẳng và trung học chuyên nghiệp làm việc đúng ngànhnghề đào tạo.Chẳng hạn,trong số học sinh tốt nghiệp các nghànhnông,lâm,ngư nghiệp ở các trường trung học chuyên nghiệp chỉ trên 40%làm việc đúng ngành nghề,còn trong số sinh viên tốt nghiệp đại học ở cáckhoa này thì chỉ khoảng 20% đúng ngành đào tạo.Trong số lao độngchuyển ngành nghề so với ngành nghề được đào tạo,chỉ có 42,5% được đàotạo lại,số còn lại 57,5% làm trái nghề,coi như chưa đào tạo.Ở khu vực hànhchính sự nghiệp và bộ máy sản xuất kinh doanh khu vực nhà nước hiện cókhoảng 30% cán bộ,nhân viên không đủ trình độ chuyên môn hay làmkhông đúng nghề,họ làm việc chủ yếu bằng kinh nghiệm Tình hình nàylàm cho chất lượng lao động càng hạn chế
Hiện tại có 10% công chức chưa tốt nghiệp phổ thông;60,51% côngchức tốt nghiệp đại hoc,cao đẳng;4,41% công chức có trình độ trên đạihọc;4,28% có trình độ lý luận chính trị cao cấp;28,26% có trình độ lý luậnchính trị trung cấp;37,07% có trình độ tiếng Anh(A,B,C);14,47% đã quađào tạo hành chính nhà nước;4,34% đã qua đào tạo quản lý kinhtế;227,19% được đào tạo về tin học Đội ngũ trí thức lực lượng nòng cốtchưa nhiều nhưng những năm gần đây phát triển khá nhanh.Lao động có
Trang 19trình độ cao đẳng trở lên tăng từ 800.000 năm 1995 lên 1,3 triệu người năm2000;số tiến sĩ chuyên ngành và tiến sĩ khoa học tăng từ 9.300 năm 1995lên 13.500 người năm 2000.Còn theo thống kê của Hội đồng chức danh nhànước năm 2002 thì đến cuối năm 2002,cả nước có hơn 1000 giáo sư vàkhoảng 4000 phó giáo sư.trong đó có một số chuyên gia đầu ngành về khoahọc,kỹ thuật và công nghệ đạt trình độ quốc tế.Còn theo thống kê của Bộnội vụ thì tính đến tháng 11-2004,cả nước đã có khoảng 5479 giáo sư,phógiáo sư được công nhận,trong đó số lượng giáo sư,phó giáo sư đang làmviệc là 3075,chiếm 56,1%.Tuy nhiên so với một số nước trong khu vực và
so với yêu cầu cấp bách của phát triển kinh tế trong điều kiện hiện nay thìcon số đó còn quá nhỏ nhoi
Một số chỉ tiêu về giáo dục các nước ASEAN