Xuất khẩu lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1LỜI MỞ ĐÇu
1 Sự cần thiết của nghiên cứu để tài
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tế diễn ravới quy mô ngày càng lớn, phạm vi các quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng,tính chất của chúng ngày càng phức tạp, trình độ phát triển của chúng ngày càngcao Từ khi phương thức tư bản chủ nghĩa ( TBCN) ra đời, quan hệ thương mại giữacác quốc gia ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sự phân công laođộng diễn ra ở tầm quốc tế, các doanh nghiệp tìm cách mở rộng thị trường ra nướcngoài, các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong đó có cả dichuyển quốc tế về sức lao động giữa các quốc gia hay chính là xuất khẩu lao động( XKLĐ) ngày nay Trên thế giới, đã cớ rất nhiều nước tham gia XKLĐ và đã đạtđược những thành tựu to lớn như: Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonexia,…
Ở Việt Nam, XKLĐ ra đời vào năm 1980 và ngày càng diễn ra mạnh mẽ,góp phần quan trọng vào giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, tăng thu ngoại
tệ, cải thiện cuộc sống nhân dân nhất là trong điều kiện đất nước vừa bước ra khỏichiến tranh và còn rất nhiều khó khăn Đặc biệt là những năm gần đây khi mà đấtnước đang càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì XKLĐ với những lợi ích tolớn ngày càng trở nên cần thiết và là tất yếu
Tuy nhiên do nhận thức về XKLĐ ở nước ta còn chưa đầy đủ, thống nhất,việc xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả XKLĐ còn chưa phù hợp vớithị trường lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nên hiệu quả kinh tế -
xã hội ở XKLĐ còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng về nguồn nhânlực hiện có ở Việt Nam Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của XKLĐ
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nên tôi chọn đề tài: “ XKLĐ
Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Vĩnh Giang đã hướng dẫn tân tình
để giúp em hoàn thành đề án này!
Trang 22 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng của đề án là nghiên cứu sự cần thiết,nghiên cứu vai trò và lợi ích của XKLĐ đối với Việt Nam, đặc biệt là vai trò tạoviệc làm cho người lao động trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, để từ đó cóphương hướng, mục tiêu cụ thể đúng đắn và phù hợp với chiến lược giải quyết việclàm cho người lao động
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình XKLĐ Việt Nam từ khi bắt đầuxuất hiện vào những năm 80 của thế kỉ XX, đặc biệt là trong những giai đoạn gầnđây khi tình hình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
Đề tài nghiên cứu XKLĐ bao gồm cả xuất khẩu chuyên gia, nhưng khôngnghiên cứu XKLĐ tại chỗ, không nghiên cứu XKLĐ của người cn từ nước ngoàisang nước thư 3
3 Mục đích nghiên cứu.
Qua việc nghiên cứu đề tài cho thấy vai trò và sự cần thiết phải XKLĐ, thấyđược tại sao phải đưa một bộ phận lao động ra nước ngoài để nhằm giải quyết việclàm trong nước Nghiên cứu đề tài này nhằm hệ thống hóa chính sách XKLĐ và tạoviệc làm, để đánh giá công tác xã hội lao động – việc làm trong những năm gần đây,
từ đó thấy được những mặt còn tồn tại để có giải pháp thúc đẩy XKLĐ hiệu quảnhằm tạo việc làm đầy đủ hơn cho người lao động trên con đường hội nhập kinh tếquốc tế
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đối tượng và thực hiện các nhiệm vụ của mình,
đề án áp dụng các phương pháp thống kê học, phân tích tổng hợp, so sánh, mô hìnhhóa và một số phương pháp khác
5 Tài liệu sử dụng
Đề án sử dụng các tài liệu có được từ các nguồn: báo, tạp chí, mạng internet, sáchtham khảo, giáo trình của các môn học có liên quan ( kinh tế vĩ mô, kinh tế lao động,phân tích lao động xã hội)
Trang 36 Tên đề tài và kết cấu của đề án
Tên đề tài: “XKLĐ - giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế”
Trang 4NỘI DUNG
tr×nh héi nhËp tiÕn kinh tÕ
XKLĐ là đưa người lao động ra nước ngoài bằng những hình thức thích hợpnhằm tạo ra thu nhập về ngoại tệ và giải quyết một số áp lực việc làm trong nước
Ở Việt Nam, “ XKLĐ và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội gópphần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và phát triển quan hệhợp tác giữa nước ta với các nước”
2 Nguyên nhân.
Trước hết, những biến động vệ năng suất lao động ( NSLĐ) trên phạm vi
toàn cầu do sự phát triển không đều về các yết tố đầu vào củ quá trình tái sản xuấtgiữa các quốc gia làm nảy sinh nhu cầu trao đổi quốc tế về hàng hóa sức lao động
Hai là, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các quốc gia ngày càng
tăng trở thành lực hút người lao động từ nước có thu nhập thấp sang nước có thunhập cao
Trang 5Ba là, chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên giữa các quốc gia trở thành
lực đẩy từ nước có mức tăng dân số tự nhiên cao sang nước có mức tăng dân số thấphơn
Bốn là, do sự tác động của toàn cầu hóa và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
ở mỗi quốc gia
Năm là, nhu cầu tăng thu ngoại tệ, tăng thu ngân sách, thu nhập, nâng cao
trình độ tay nghề cho người đi làm việc nước ngoài
độ chuyên môn, kĩ thuật cao; một mặt nhằm đào tạo, huấn luyện, chuyển giao chonước sở tại; mặt khác nhằm thu hồi lại chi phí đào tạo dã bỏ ra cũng như tạo điềukiện cho đội ngũ lao động ngày càng kiếm thêm được việc làm, tăng thu nhập
Các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, với đặc điểm nổi bật là dân
số đông, tăng nhanh, nhu cầu việc làm lớn, hàng năm có khoảng 1,2 triệu ngườibước vào độ tuổi lao động, trong đó khả năng giải quyết việc làm trong nước còn rấthạn chế, lao động lại chủ yếu chưa qua đào tạo, trình độ tay nghề thấp, nên XKLĐchủ yếu là lao động phổ thông và lao động tay nghề trung bình đến làm việc trongcác lĩnh vực bị thiếu hụt nhân công để tăng thu nhập và tích lũy ngoại tệ, giảm sức
ép giải quyết việc làm trong nước, đào tạo nguồn nhân lực
4 Các hình thức XKLĐ
Các hình thức XKLĐ là cách thức tổ chức đưa lao động ra nước ngoài làmviệc Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, XKLĐ được thực hiện dưới những hìnhthức chủ yếu sau:
Một là, bản thân cá nhân người lao động tự tìm việc làm ở nước ngoài Đây
là hình thức XKLĐ ra đời sớm nhất trên thế giới cói chung thông qua các kênh
Trang 6thông tin như internet, người thân hoặc qua các kênh khác, người lao động tự tìmhiều, thỏa thuận và ký kết hợp đồng lao động với chủ thể thuê lao động nước ngoài.Nhưng muốn làm việc ở nước ngoài, đòi hỏi phải có trình độ ngoại ngữ khá, có khảnăng hoạt động độc lập, hiểu biết luật pháp của các nước sở tại và thông lệ quốc tế.
Thứ hai, các doanh nghiệp XKLĐ thông qua các hình thức dịch vụ XKLĐ
của các doanh nghiệp Dưới hình thức này, các doanh nghiệp XKLĐ khai thác, tìmkiếm đối tác, chủ thể thuê lao động nước ngoài, ký kết hợp đồng cung ứng lao độngtheo quy định của pháp luật nước tiếp nhận và luật pháp nước XKLĐ; sau đó tổchức tuyển chọn, đào tạo ngoại ngữ, bổ túc tay nghề, giáo dục định hướng về luậtpháp, phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động và làm các thủ tục cần thiết
để đưa lao động đến nơi làm việc và đưa họ về nước khi hết hạn hợp đồng Với hìnhthức này, số lượng người lao động đưa đi nhiều hơn, tổ chức và quản lý chặt chẽhơn, quyền lợi người lao động cũng được bảo vệ hơn
Thứ ba, lao động đi làm việc theo trương trình thầu khoán, liên doanh, liên
kết, hợp tác trực tuyến, đầu tư ra nước ngoài Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế làquá trình toàn cầu hóa, tự do hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vựctheo các quy định của luật pháp Lao động đi theo loại hình này được tổ chức chặtchẽ, quyền lợi được bảo vệ tốt
Thứ tư, lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua các hiệp đinh, thỏa
thuận, cam kết của chính phủ Theo thỏa thuận của chính phủ nước XKLĐ với chínhphủ các nước và các tổ chức quốc tế tiếp nhận, lao động được tiếp nhận đến làm việcthông qua các tổ chức XKLĐ phi lợi nhuận
Thứ năm, lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua hợp đồng thực tập,
nâng cao tay nghề Người Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp, học sinh tạicác trường đi thực tập, tu nghiệp nâng cao tay nghề được phía tiếp nhận trả lươngtrong thời gian thực tập, tu nghiệp
5 lợi ích của XKLĐ
XKLĐ là hoạt động đã xuất hiện từ lâu và mang lại những lợi ich quan trọng:
Trang 7 Cho phộp phỏt huy lơi thế so sỏnh về nhõn cụng, khai thỏc tối đa yờỳ tố ngoạilực trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
XKLĐ là một kờnh giải quyết việc làm cho người lao động , giảm thấtnghiệp, gúp phần xoỏ đúi giảm nghốo
XKLĐ cũn là một kờnh đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho quốc gia
XKLĐ là cụng cụ chuyển giao cụng nghệ tiờn tiến từ nước ngoài
Giỳp đào tạo đội ngũ lao động cú chất lượng, nõng cao tay nghề và rốn luyệntỏc phong cụng nghiệp
XKLĐ cũng giỳp tăng cường hợp tỏc quốc tế với cỏc nước trờn thế giới
6 Cỏc yếu tố tỏc động đến XKLĐ
6.1 Cỏc yếu tố thuộc về nước nhập khẩu lao động
+Văn hoỏ, phong tục tập quỏn
+Luật phỏp
+Tỡnh hỡnh ổn định chớnh trị
6.2 Cỏc yếu tố thuộc về nứơc XKLĐ
+Chủ trương, chớnh sỏch của Đảng và nhà nước
+ Chất lượng người lao động, thể hịờn ở cỏc mặt:
* Thể lực: Bao gồm chiều cao và cõn nặng
* Trớ lực: Bao gồm trỡnh độ văn hoỏ, trỡnh độ chuyờn mụn, trỡnh độ ngoạingữ, ý thức tổ chức, kỷ luật, tỏc phong cụng nghiệp, chất lượng của doanh nghiệpXKLĐ
6.3 Cỏc yếu tố khỏc: Như thị trường lao động quốc tế ,quan hệ chớnh trị, kinh tế
giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu và cỏc yếu tố khụng thựờng xuyờn, bất khả khỏngkhỏ như chiến tranh, dịch bệnh …
II việc làm và tạo việc làm cho ngời lao động
1 Một số khỏi niệm.
1.1 Việc làm
Trang 8Trong tất cả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vốn, tài nguyên, côngnghệ), thì yếu tố con người là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự thànhcông hay thất bại của tổ chức Song con người chỉ trở thành động lực cho sự pháttriển khi và chỉ khi họ có điều kiện sử dụng sức lao động của họ để tạo ra của cải vậtchất và tinh thần cho xã hội Qúa trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sảnxuất là quá trình người lao động làm việc hay nói cách khác, là khi họ có việc làm.Vậy việc làm có ý nghĩa là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm
Khái niệm 1: Việc làm là trạng thái phù hợp của sức lao động và những điều
kiện thích hợp (vốn, tư liệu sản xuât, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó
Việc tạo việc làm phụ thuộc vào mối quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C)như nhà xưởng, máy móc, thiết bị… và chi phí lao động (V) Tỷ lệ này phải phù hợpvới trình độ công nghệ sản xuất nhất định
Hiện nay mối quan hệ giữa C và V thường xuyên biến đổi dưới nhiều dạngkhác nhau:
+ Sự phù hợp giữa C và V: Khi có mối quan hệ này chúng ta có 2 khái niệm:
Việc làm đầy đủ: Tức là sử dụng hết thời gian làm việc, mọi người có khảnăng và có nhu cầu thì đều có việc làm
Việc làm hợp lý: C và V kết hợp và đều dựa vào tiềm năng của vốn, tư liệusản xuất, lao động
+ Sự không phù hợp giữa C và V: dẫn đến thiếu việc làm và thất nghiệp.
Khái niệm 2: Theo điều 13, chương II, Bộ luật lao động của Nước
CHXHCNVN ghi rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.”
Theo như khái niệm này, việc làm cần thỏa mãn 2 điều kiện, tạo thu nhập,được pháp luật công nhận và nó được biểu hiện dưới các dạng sau:
Một là, những công việc mà người lao động nhận được tiền công, tiền lương
bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó
Trang 9Hai là, làm những công việc mà người lao động thu được lợi nhuận cho bản
thân( người lao động có quyền sử dụng, sở hữu tư liệu sản xuất và sức lao động củabản thân để sản xuất ra sản phẩm)
Ba là, làm công việc cho hộ gia đình nhưng không được trả thù lao dứới hình
thức tiền công, tiền lương cho công việc đó( do chủ gia đình làm chủ sản xuất)
Khái niệm 3: Theo tổ chức lao động quốc tế: “việc làm là hoạt động lao động
được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”
=> Từ 3 khái niệm trên thì ta có thể thấy khái niệm 1 là khái niệm chung nhất
Một quan niệm khác cho rằng: thất nghiệp là tình trạng trong khi một sốngười trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm
ở mức tiền công đang thịnh hành, còn người thất nghiệp là người trong độ tuổi laođộng, có khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo( tức tuần lễ tiến hành điều trathu thập thông tin) không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc và có đăng ký tìmviệc theo quy định
Cùng với khái niệm thất nghiệp, ta còn khái niệm thiếu việc làm
1.3 Thiếu việc làm (bán thất nghiệp, thất nghiệp trá hình): là những người làm
việc ít hơn mức mình mong muốn
Trang 10Thất nghiệp trá hình là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tếnông nghiệp, chậm phát triển Trong khu vực thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tạidưới dạng khác nhau: làm việc với năng suất thấp không góp phần tạo nên thu nhậpcho người lao động, cho xã hội mà chỉ tạo ra thu nhập đủ sống ( nhiều khi dưới mứctối thiểu) Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp vô hình.
Trong khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạngthiếu việc làm Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông nghiệp, do khu vựckinh tế phi nông thôn phát triển chậm Mức độ thiếu việc làm ở nông thôn càng trầmtrọng hơn khi chúng ta xem xét đến tính thời vụ của việc làm, tức là vào thời gianmùa vụ nhu cầu lao động lớn, người nông dân phải làm việc nhiều, không hết việctrong khi đó, ở thời kì nông dân lại không có việc làm, thời gian làm việc ít Thấtnghiệp tồn tại dưới dạng này còn gọi là bán thất nghiệp
1.4 Một số khái niệm khác
Người có việc làm: là những người làm việc trong khoảng thời gian xác địnhcuộc điều tra kể cả lao động nghề giúp việc gia đình được trả công, hoặc đang tạmthời nghỉ việc do tai nạn, bệnh tật, nghỉ lễ,…
Người thất nghiệp: là những người trong khoảng thời gian xác định của cuộcđiều tra không có việc làm, đang tích cực làm việc và có nhu cầu làm việc
Người thiếu việc làm: là những người trong khoảng thời gian xác định điềutra có tổng số giờ lao đông nhỏ hơn thời gian quy định
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm và tình trạng thiếuviệc làm hay thất nghiệp Nhưng dù hiểu theo cách nào thì đều thấy đây là vấn đềđáng lao hàng đầu ở mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển và kém pháttriển Chúng ta không thể và không có cách nào để hoàn toàn xóa bỏ tình trạng thấtnghiệp mà chỉ có thể giảm thất nghiệp bằng cách tạo thêm việc làm cho người laođộng Vậy tạo việc làm là như thế nào?
1.5 Tạo việc làm
Trang 11Tạo việc làm là tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng vàchất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sảnxuất và sức lao động.
Có thể mô hình hóa quá trình tạo việc làm theo phương trình sau:
2 Vai trò của tạo việc làm
Xu hướng của mọi quốc gia hiện nay là chuyển sang nền kinh tế côngnghiệp, vì vậy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấulao động, một số nước lao động mất việc làm dẫn đến thất nghiệp Do vậy, việc tạoviệc làm chính là một giải pháp quan trọng, có ý nghĩa chiến lược để giảm thấtnghiệp góp phần phát triển và ổn định kinh tế xã hội của đất nước
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện để ngườilao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội, làmcho xã hội càng văn minh hơn
Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động còn có ý nghĩa hết sức quan trọngđối với người lao động ở chỗ tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền và nghĩa vụ củamình, trong đó có quyền được làm việc, nhằm nuôi sống bản thân và gia đình, gópphần xây dựng đất nước
III tiÕn tr×nh héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ
1 Khái niệm
hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế vận động tất yếu của nền kinh tế trên thếgiới trong điều kịên hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và quốc tế hoá
Trang 12đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ
Đối với các nước đang và kém phát triển ( trong đó có Việt Nam ) thì hộinhập kinh tế quốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác
và có điều kiện phát huy tối ưu hơn lợi thế so sánh của mình trong phân công laođộng và hiệp tác quốc tế
hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiên từ lâu, nhưng cho đếnnay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế
Có ý kiến cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thểchế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết songphương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơntrong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế
Ý kiến khác lại cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dần cáchàng dào thương mại quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước
Mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm tương đốiphổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: hội nhập kinh tế quốc tế
là sự gắn kết khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có
sự ràng buộc theo những quyết định chung của khối Nói một cách khái quát nhất,hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tựnguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợihoá và tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoài khác
2 Đặc điểm của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữacác nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới
Hội nhập kinh tế quốc tế là qúa trình xoá bỏ từng bước và từng phần các ràocản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh nghiệptrong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới
và hoàn thiện thể chế kinh tế
Trang 13Hội nhập kinh tế quốc tế chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mớicho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ pháttriển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất.
Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lựctrong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ vàcác kinh nghiệm quản lý
3 Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế
Không thể một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển có hiệuquả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt tronglĩnh vực kinh tế Bởi vì ngày nay hai phạm trù thực tiễn tồn tại khách quan đó là:quan hệ hàng hoá tiền tệ và sự trao đổi này đã ra khỏi phạm vi của một quốc gia và
sự tồn tại của các quốc gia độc lập có chủ quyền Cho nên quan hệ kinh tế giữa cácnước mang tính tất yếu khách quan
Đối với các nước phát triển thì mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế ra bên ngoàigiúp cho việc bành trường mau lẹ sức mạnh kinh tế của mình, như tìm kiếm thịtrường mới để giải quyết tình trạng khủng hoảng thừa về háng hoá, để tìm kiếm nơiđầu tư thuận lợi đem lại lợi nhuận cao, giảm được chi phí sản xuất do sử dụng nhâncông và tài nguyên rẻ của các nước chậm phát triển
Đối với các nước đang phát triển: hội nhập kinh tế quốc tế có lợi trong việctiếp nhận kĩ thuật mới tiên tiến làm cho năng suất lao động tăng, và ở các nước đangphát triển việc thiếu vốn trở nên trầm trọng, nên mở rộng quan hệ ra bên ngoài tạođiều kiện thu hút vốn để thực hiện hiện đại hoá quá trình kinh tế diễn ra ở các nướcnày Hơn nữa thị trường trong nước các nước nàh nhỏ và hẹp, không đủ đảm bảo đểphát triển công nghiệp với quy mô hiện đại, sản xuất hàng loạt, do đó không tạođược công ăn việc làm, nạn thất nghiệp ngày càng nghiêm trọng Việc mở rộng quan
hệ kinh tế quốc tế với nước ngoài giúp cho việc tập trung phát triển các thế mànhcủa đất nước
Nắm bắt được vấn đề mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế có ý nghĩa thực tiễn tolớn đặc biệt đối với đất nước Việt Nam chúng ta, nơi đã trải qua bao cuộc chiến
Trang 14tranh giữ nước hào hùng, nhưng đói nghèo, hiểm hoạ đe doạ Muốn đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế, xích lại trình độ phát triển cao của khu vực và thế giới thìphải thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước: “đẩy mạnh hoạt động kinh tếđối ngoại, thực hiện đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá mối quan hệ kinh tế”
Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu:
Thứ nhất là, đàm phán cắt giảm thuế quan;
Thứ hai là, giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan;
Thứ ba là, giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế;
Thứ tư là, điều chỉnh các chính sách thương mại quốc tế;
Thứ năm là, giảm bớt các hạn chế đối với dịch vụ;
Thứ sáu là, triển khai các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế…có tính chất
toàn cầu
4 XKLĐ - 1 hướng tạo việc làm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Lao động và việc làm là vấn đề bức xúc, có tính toàn cầu, là mối quan tâmhàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Đối với nước ta, trong điều kiện phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đẩy mạnh CNH-HĐH vàhội nhập thì vấn đề lao động, việc làm càng trở nên quan trọng, là một trong nhữngchính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm sử dụng hiệu quả và phát huy tối đatiềm năng nguồn nhân lực to lớn của đất nước để thể hiện thắng lợi các mục tiêu,nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 do đại hội X củaĐảng đề ra
Để giải quyết vấn đề việc làm có nhiều biện pháp việc làm khác nhau, trong
đó XKLĐ và chuyên gia là một họat động kinh tế xã hội góp phần tạo việc làm,nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước…Cùng với mục tiêu tạo việc làm trong nước là chính tạo việc làm ngoài nước thôngqua con đường XKLĐ được coi là một định hướng quan trọng, lâu dài, góp phầnphát triển đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH … Và đây cũng là một biện pháp đượcnhiều nước trên thế giới quan tâm và khai thác tối đa
Trang 15Chương II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XKLĐ - HƯỚNG GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ
I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XKLĐ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
1 Giai đoạn 1980-1990
Đây là giai đoạn đầu Việt Nam bắt đầu đưa chuyên gia và lao động ra nướcngoài làm việc, chủ yếu đưa sang các nước thông qua việc nhà nước ký kết các Hiệpđịnh lao động và trực tiếp thực hiện, chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu,gồm Liên Xô (cũ), Cộng hoà dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ) và Bungari Một bộphận lao động với số lượng không nhỏ được đưa đi làm việc ở Iraq, Libya và đưachuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc ở một sốnước châu Phi Trong 10 năm (1980 – 1990) Việt Nam đã đưa được 244.186 laođộng, 7.200 lượt chuyên gia đi làm việc và 23.713 thực tập sinh vừa học vừa làm ởnước ngoài Ngân sách Nhà nước thu được khoảng 800 tỷ đồng (theo tỷ giá rúp/đồng Việt Nam năm 1990), hơn 300 triệu USD; Đồng thời, người lao động vàchuyên gia đã đưa về nước một lượng hàng hoá thiết yếu với trị giá hàng nghìn tỷđồng
2 Thời kỳ 1991 đến nay
2.1 Giai đoạn 1991 - 2000
Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, tại các nước xã hội chủnghĩa Đông Âu, Châu Phi, Iraq có tiếp nhận lao động Việt Nam đều xảy ra nhữngbiến động chính trị và kinh tế Vì vậy, phần lớn các nước này không còn nhu cầutiếp nhận lao động và chuyên gia Việt Nam Trước tình hình đó đặt ra yêu cầu bứcxúc là phải đổi mới cơ chế xuất khẩu lao động và chuyên gia cho phù hợp với tìnhhình trong nước và quốc tế Ngày 9 tháng 11 năm 1991, Chính Phủ đã ban hànhNghị định 370/HĐBT về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ởnước ngoài Theo Nghị định này, Các tổ chức kinh tế được thành lập và được BộLao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy phép hoạt động cung ứng lao động vàchuyên gia cho nước ngoài Việc xuất khẩu lao động và chuyên gia được thực hiện
Trang 16thông qua các hợp đồng do các tổ chức kinh tế đó ký với bên nước ngoài Cho đếntháng 8 năm 1998, nước ta đã có 55 tổ chức kinh tế là doanh nghiệp nhà nước cógiấy phép đang hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia Trong giai đoạn từ
1996 đến 1999, số lượng các doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụxuất khẩu lao động theo Nghị định 07/CP là 77 doanh nghiệp trong đó có 53 doanhnghiệp thuộc Bộ, ngành và 24 doanh nghiệp địa phương
Nhờ đổi mới cơ chế hoạt động xuất khẩu lao động và sự gia tăng số lượngcác doanh nghiệp tham gia vào dịch vụ xuất khẩu lao động làm cho số lượng laođộng và chuyên gia của Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài gia tăngnhanh chóng Năm 1991 là 1.022 người, đến năm 2000 tăng lên 31.500 người, năm
2003 là 75.000 người
Trong giai đoạn này, nước ta đã đưa 320.699 lao động đi làm việc ở nướcngoài Với mức lương bình quân (kể cả làm thêm giờ) của người lao động ở nướcngoài khoảng 400 USD /tháng, ước tính từ năm 1996 đến nay, số lao động vàchuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế mới đã chuyển về nước khoảng 500triệu USD mỗi năm
2.2 Giai đoạn 2000 - 2005
Trong những năm gần đây XKLĐ đã đạt được những thành tựu to lớn, thịtrường ngày càng mở rộng (hiện khoảng 40 thị trường), số lao động đưa đi hàngnăm có xu hướng tăng lên, ngành nghề làm việc đa dạng (Xem Biểu 1)
Biểu 1: Tống số lao động đưa đi theo quốc gia, vùng lãnh thổ giai đoạn 2000 - 2004
Số lượng Cơ cấu (%)
Trang 17đoạn 2001 – 2005 khoảng 3,42% Bình quân hàng năm trên 1 tỷ USD được chuyển
về nước, góp phần đáng kể vào công cuộc xoá đói giảm nghèo
Đã có nhiều doanh nghiệp XKLĐ của nước ta đầu tư thành lập trường dạynghề XKLĐ nhằm đáp ứng nhu cầu về lao động kỹ thuật của các đối tác ở các thịtrường cơ bản: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số thị trường khác
Tỷ lệ lao động có tay nghề trước khi đưa đi xuất khẩu lao động có xu hướnggiảm xuống từ năm 2000 đến 2003, năm 2004 có xu hướng tăng lên từ 34,62% năm
2003, năm 2004 tỷ lệ này là 45,15% và chung cả 5 năm tỷ lệ này là 43,34%
Tỷ lệ lao động có nghề trước khi đi XKLĐ cũng có sự khác nhau đáng kểgiữa các loại hình doanh nghiệp
Trong tổng số lao động đưa đi, tỷ lệ lao động có nghề đi qua các doanhnghiệp XKLĐ Nhà nước là 43,69%, cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệpXKLĐ ngoài nhà nước (13,72%)
2.3 Từ 2006 đến nay
Năm qua trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước XKLĐ trên thị trườngquốc tế diễn ra ngày càng gay gắt, nhưng họat động XKLĐ vẫn thu được nhiềuthành tựu quan trọng Cả nước đã đưa được 78.885 lao động đi làm việc ở nướcngoài, bằng 105% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra gấp 2.5 lần trong 5 năm năm trước
đó, trong đó Malaisia là 37.950 người, Đài Loan 14.120 người, Hàn Quốc 10500người, Nhật Bản gần 5400 người Cho đến thời diểm này đã có khoảng 400 nghìnlao động dang làm việc ở hơn 40 nước trong khu vực và trên thế giới, hàng năm thunhập xấp xỉ 1.6 tỷ USD Dẫn đầu về số lượng là thị trường Malaisia với trên 100nghìn lao động, có thu nhập bình quân khoảng 2-3 triệu đồng / tháng, một số nghềthu nhập từ 5-7 triệu /tháng; Đài Loan có trên 90 nghìn lao động có thu nhập lên tới300-500USD/ tháng; Hàn Quốc có trên 30 nghìn lao động, thu nhập bình quânkhoảng 900-1000 USD/tháng Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên so với những nămtrước, đạt 20% so với 13.4% năm 2001
Quản lý lao động ngoài nước cho biết trong 8 tháng đầu năm 2007 cả nước
đã đưa được 55.501 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 69% kế hoạch năm và